some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

Affichage des articles dont le libellé est 2008 film. Afficher tous les articles
Affichage des articles dont le libellé est 2008 film. Afficher tous les articles

vendredi 21 mai 2010

2012 (2009), Tropic Thunder (2008)


Như mọi phim thảm họa khác (cụ thể hơn, phim thảm họa khác của Emmerich), 2012 có nội dung đơn giản, dễ hiểu. Cuối thập niên 2010, các nhà khoa học phát hiện ra rằng Mặt Trời bất ngờ hoạt động mạnh khiến cho Trái Đất phải hứng chịu một đợt gió Mặt Trời với mật độ neutrino cực lớn, chúng kích thích hoạt động bên trong lòng Trái Đất tương tự cơ chế gia nhiệt cho nước bằng lò vi sóng, kết quả cuối cùng là các mảng lục địa chuyển động dữ dội, loài người đứng trước thảm họa diệt vong vì siêu sóng thần, động đất và núi lửa. Để cứu vớt loài người và bản thân mình, các lãnh đạo thế giới quyết định họp lại để lên kế hoạch đóng chừng 10 con "thuyền Nô-ê" khổng lồ chống chọi được với cơn đại hồng thủy. Tất lẽ dĩ ngẫu là người thì nhiều mà chỗ trên thuyền thì có hạn, ai muốn sống sót phải hoặc là tinh hoa, lãnh đạo của các quốc gia lớn, hoặc là người đủ giàu để bỏ ra 1 tỷ USD mua vé cho bản thân, và cả những người bằng cách này hay cách khác trốn được lên tàu. Xong phần chủ đề, hay còn gọi là "xương sống" của bộ phim, diễn viên và các chi tiết khác chỉ là phần "thịt" đắp thêm. Tất nhiên, để hoàn thành "bộ xương" cho 2012, Emmerich đã bạo tay dùng tới 200 triệu USD để đầu tư cho phần kĩ xảo, CGI của 2012 quả thực xứng đáng đồng tiền bát gạo, thật, hoành tráng và ấn tượng bậc nhất so với những phim trước đó của ông.

(Lại) như mọi phim thảm họa khác, 2012 có tuyến nhân vật gồm 1 anh hùng - người sẽ cứu hoặc mỹ nhân, hoặc gia đình của anh ta, thoát khỏi thảm họa (trong phim này là anh nhà văn kiêm tài xế Jackson do John Cusack thủ vai), 1 kẻ phản diện chuyên thực hiện những hành động "đê hèn", "mất nhân tính" trong hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng để khán giả có thể trút giận (trong phim này là, dễ hiểu, một tỷ phú Nga tên Yuri), 1 vai người lãnh đạo sẵn sàng hy sinh vì nhân dân (trong phim này là, lại dễ hiểu nữa, tổng thống Mỹ da đen Obama, à quên, Wilson) cộng thêm một số nhân vật phụ khác trong các vai ngây thơ (=> chết), nhát gan quá mức (=> chết), dũng cảm quá mức (=> càng chết) và xinh đẹp (=> thường là chết, trừ phi nhân vật đó may mắn được là người yêu/vợ của nhân vật anh hùng). Nói như vậy là đủ để thấy 2012 cũng không có gì tiến bộ hơn so với các bộ phim trước đây của Emmerich, cũng không thể trách được vì họ (phải) dành phần lớn thời gian để ngụp lặn, la hét, khóc lóc, ôm hôn nhau, trao nhau những lời thắm thiết trước lúc chết, thì lấy đâu ra thời gian để khán giả biết tính cách, bản chất của họ.

Tuy vậy, nếu chỉ xét hơn nửa đầu của phim (cho đến trước khi thuyền đếm ngược để khởi hành) thì tôi sẵn sàng chấm phim 4/5 sao. Lý do vì Emmerich, thật ngạc nhiên, đã tránh được tất cả những cliché hay mắc phải ở dạng phim bom tấn nói chung và phim của chính ông nói riêng. Theo tôi thì phần đầu phim giới thiệu về "Thảm họa 2012" được làm đặc biệt tốt, cắt cảnh gọn, cung cấp thông tin vừa đủ và gây được hứng thú cho người xem. Bên cạnh một số lợn cợn không đáng kể về chuyện chọn tỷ phú Nga làm vilain (sao không phải tỷ phú Mỹ-với tỷ lệ đông gấp 1000 lần?) và anh tổng thống tốt quá mức chịu đựng thì 2012 đã có một phần đầu tiên vượt trội so với các bộ phim trước đó của Emmerich cả về nội dung và kĩ xảo. Các cliché về cảnh sinh ly tử biệt như giữa tiến sĩ địa chất Adrian và bố, Charlies Frost và ... bạn nghe đài, được đạo diễn xử lý rất khéo, tuy vẫn là cliché nhưng không quá bi lụy, vừa đủ để khán giả cảm động, vừa không "phá" tiết tấu nhanh của bộ phim mà anh nhà văn Jackson cùng đại gia đình đã tạo ra cực kì thành công bằng vô số pha hành động đẹp mắt trên limousine, trên máy bay với cái nền là một Los Angeles hoang tàn trong ngày hủy diệt. Ngay từ hồi xem trailer tôi đã thích thú với cách Emmerich "phá hoại" những địa danh quan trọng của Thế giới như Nhà thờ St. Pierre và Nhà nguyện Sistine ở Roma, tượng Chúa Cứu thế ở Rio de Janeiro, Nhà Trắng ở D.C... Phần này trong phim được làm rất giàu cảm xúc, không xúc động sao được khi ta "được" chứng kiến những địa danh tưởng chừng sẽ tồn tại vĩnh viễn như một chỉ dấu (trademark) của quốc gia, của thế giới như vậy đổ sụp. Lần này Tượng Nữ thần Tự Do được Emmerich "tha mạng" nhưng ông lại "quên" mất Tháp Eiffel hay Kim tự tháp Ai Cập (không hiểu do ý muốn chỉ động đến các địa danh liên quan đến đức tin tôn giáo, hết tiền làm CGI hay sợ "đụng hàng" với Transformers II và G.I. Joe - "sợ gì?" vì tuy cùng là blockbuster "rẻ tiền" nhưng 2012 vẫn xứng đáng ngồi "chiếu trên" so với 2 bộ phim kia). Vụ công trình kiến trúc nào rơi vào "tầm ngắm" của Emmerich cũng đã khiến dư luận bàn cãi sôi nổi, nhiều người chỉ trích rằng ông chỉ "nhè" các địa danh của Công giáo (Catholicism) mà "quên" các địa danh của Đạo Hồi (như thánh địa Mecca, cụ thể là hòn đá thiêng Kaba'a), Đạo Do Thái (như Bức tường than khóc) và Đạo Tin lành. Với tôi thì ... miễn là địa danh bị phá hủy phải thật nổi tiếng, thế là được.

Rất, rất tiếc là (non) nửa cuối của phim quá tệ, kịch bản xuống tay trông thấy còn Emmerich thì quá sa đà vào những cảnh cliché đến không thể chịu nổi mà ngay từ thời những phim thảm họa thập niên 1970 như The Towering Inferno, Poseidon đã lặp đi lặp lại và tới Titanic thì đã đạt tới đỉnh cao mà khó phim thảm họa nào ... cliché hơn nổi. Đến đây thì 2012 đã không còn giữ được cái phẩm chất quý giá nhanh, gọn của nó, nhịp phim bị cắt nát bởi những pha "dặn dò trước lúc đi xa", gào thét, la hét, thậm chí cả những cảnh vô lý tới khó tưởng tượng nổi (phim khoa học giả tưởng không có nghĩa là được bịa đặt kiểu gì cũng được, tất nhiên) - 1 thằng cu chừng 10 tuổi mà lặn ngụp như 1 anh hùng để "giúp ông bố", anh tiến sĩ lên tàu "chỉ mang sách không thèm mang bàn chải" trong khi số sách của anh chắc chỉ đáng 10Mb ebook "bản đẹp" trong máy tính?! Phần cuối "dở ẹc" đã kéo lùi chất lượng nói chung của phim xuống rất nhiều và có lẽ cũng khiến nhiều khán giả phải thất vọng sau phần đầu hay và hoành tráng. Nhạc phim theo tôi cũng dở, đoạn đầu thì không để ý lắm (vì phim hay, chi tiết lại dồn dập), nhưng đến đoạn lê thê phía sau thì thực sự phần nhạc chỉ càng khiến người xem phải cầu mong cho phim hết nhanh.

Thôi đành cố tìm thêm một số chi tiết "thú vị" cho phim vậy. Cái thú vị đầu tiên là về cơ sở khoa học, 2012 giải thích ngắn gọn nhưng khá "thật" về neutrino, còn dễ hiểu và gần với thực tế hơn nhiều so với phần nói về phản vật chất trong Angel & Demon. Cái thí nghiệm ở Ấn Độ để đo (detect) neutrino cũng là có thật ngoài đời, cách bố trí với bể nước khổng lồ dưới mỏ sâu là hoàn toàn chính xác, chỉ có điều cái thí nghiệm thật nó nằm ở Nhật Bản chứ không nằm ở "thị trường điện ảnh mới" Ấn Độ như trong phim. 2012 được làm rõ ràng để nhắm tới hai thị trường Trung Quốc và Ấn Độ, Ấn Độ trong phim thì "cứu sống" loài người bằng phát hiện về neutrino tác động tới Trái Đất, còn Trung Quốc trong phim thì là "cái nôi" cho các con "thuyền Nô-ê" thời hiện đại. Lúc đầu xem trailer tôi đã nghĩ có khi Emmerich định lồng tư tưởng tuyên truyền "độc lập cho Tây Tạng" cho phim này, hóa ra không phải, phim không nói gì nhiều tới chính trị (trừ việc, tất nhiên, nhấn mạnh Mỹ là "anh hai" của thế giới) lại tránh việc "nói xấu" các quốc gia khác (ngay cả tay "người xấu" tỷ phú Nga cũng tốt một cách đáng ngạc nhiên so với cách phim Mỹ thường mô tả về người Nga) vì thế chắc chắn 2012 sẽ hốt bạc ở thị trường quốc tế (thực ra là có động tới "tí ti" chuyện Tây Tạng thông qua tên anh nhân vật công nhân người Tây Tạng, anh này tên Tenzin tức là trùng với tên cúng cơm của Đạt-lai-lạt-ma). Ngoại trừ giả thuyết về "năm thảm họa 2012" do người Maya đưa ra (mà oái oăm thay thì nền văn minh của họ đã bị người Tây Ban Nha hủy diệt từ 400, 500 năm trước) thì phim cũng đụng rất nhiều tới các chi tiết tôn giáo, lịch sử và văn hóa khác có liên quan tới ngày tận thế như con tàu mà ông bố anh tiến sĩ Adrian đi là Genesis - trùng tên với Kinh Sáng thế của Công giáo, Noah con trai anh Jackson thì chính là "Nô-ê", con thuyền khổng lồ với muông thú thì hoàn toàn bệ nguyên từ "thuyền Nô-ê" trong Kinh Thánh, rồi cuốn sách có tiêu đề Atlantis gợi nhớ tới lục địa Atlantis từng biến mất trong huyền thoại, cái vết nứt hiện ra trên trần Nhà nguyện Sistine cắt đứt đúng điểm nối giữa ngón tay của Chúa và ngón tay của Adam - khi Chúa truyền sự sống cho Adam (cũng là truyền sự sống cho loài người), con thuyền sau khi thoát nạn hướng về phía Nam Phi tức là hướng về nơi được coi là cái nôi của loài người (Nam Phi là nơi người ta khai quật được bộ xương hóa thạch cổ nhất của tổ tiên người hiện đại),...

Dù sao với nửa phần đầu và nhiều chi tiết thú vị như vậy, 2012 rõ ràng vẫn thuộc "top đầu" của dòng phim blockbuster trong mùa phim thất bát năm nay. Và tất nhiên với những ai hứng thú với kĩ xảo hoành tráng thì chắc chắn không thể bỏ qua bộ phim này, "mother of all disaster movies".


Một phim hài ở mức "xem được" với kịch bản tương đối sáng tạo nhưng được làm chưa "tới". Phim xây dựng theo chiều hướng parody cả các phim về chiến tranh Việt Nam và cả giới làm phim Hollywood với rất nhiều đoạn nhại lại một cách thú vị các bộ phim về chiến tranh Việt Nam kinh điển như Platoon, Born on the Forth of July, Fullmetal Jacket và đặc biệt là Apocalypse Now. Tuy nhiên dường như Ben Stiller mất phương hướng trong việc sử dụng "hết công suất" sự sáng tạo của mình vì vậy đoạn cuối của phim trở nên rất không đồng nhất và khiến bộ phim trở thành một tác phẩm hài giải trí hết sức bình thường mà không mang lại được suy nghĩ nào cho khán giả. Khá ngạc nhiên là IMDb trong phần Film Connections lại liệt kê thiếu rất nhiều, ví dụ cảnh đoàn "kỵ binh bay" nhại theo Apocalypse Now, Nick Nolte vốn là một ngôi sao phim hành động nay phải vào một vai ngớ ngẩn, anh chàng đạo diễn người Anh thì có vẻ ngoài giống hệt Paul Greengrass của loạt Bourne (cũng là một đạo diễn Anh),... Phim có mấy đoạn khá "bẩn thỉu" hay nói cách khác là hài tục tĩu, đặc biệt là những cảnh có Jack Black, Black có lẽ chỉ nên chuyên tâm với những vai như trong School of Rock hay Kungfu Panda, những vai làm trò tục tĩu kiểu Nacho Libre hay Tropic Thunder đã hết thời cùng với Mike Myers và Eddie Murphy. Vai của Robert Downey Jr. nhại khá "ngọt" Russell Crowe, nhất là với những ai từng xem Crowe trả lời phỏng vấn trên Inside the Actors Studio thì sẽ thấy là cách diễn của Downey Jr. giống hệt với phong cách ngoài đời của Crowe. Vai của Alpa Chino (cái tên đọc lên đã buồn cười!) rất tiếc là không được khai thác hết mức, anh chàng rapper bị rơi vào tình trạng "dở ông dở thằng" làm nền cho 3 nhân vật chính trong khi đáng ra vai này có thể nhại được rất nhiều từ Al Pacino và nhân vật "cậu bé" lính da đen trong Apocalypse Now do Laurence Fishburne (của The Matrix) thủ vai. Theo tôi thì với số tiền cực lớn (tới 150 triệu USD) này, Châu Tinh Trì thừa sức làm 10 bộ phim hài nhại phim chiến tranh (chủ đề Châu chưa từng chạm tới vì có lẽ không đủ kinh phí) với chất lượng và độ sáng tạo hơn hẳn.

mercredi 31 mars 2010

Suspect X (2008), Sherlock Holmes (2009)


Như tôi đã nói ở entry về Agatha Christie, không hiểu tại sao Agatha chưa bao giờ động đến mô-típ về tác phẩm xác định được cách thức gây án và hung thủ ngay đầu truyện và "việc" của độc giả là tìm hiểu xem làm thế nào mà kẻ thủ ác che giấu được tội ác của mình - một mô-típ mà Conan đã khai thác rất nhiều lần và đều tương đối thuyết phục. Suspect X là một phim trinh thám theo mô-típ này (và cũng theo phong cách sentimentalism không khác gì Conan).

Manabu "Galileo" Yukawa (Masaharu Fukuyama) là một giáo sư Vật lý trẻ cực kì tài năng trong nghiên cứu khoa học và ... phá án giúp cảnh sát, cụ thể là đưa ra gợi ý giúp cho cô điều tra viên non nớt Kaoru Utsumi (Kou Shibasaki, hay Mitsuko Souma của Battle Royale) tìm ra thủ phạm (người Nhật rất tự hào vì cái tên Yukawa - Hideki Yukawa là một trong những nhà Vật lý lý thuyết xuất sắc nhất thế kỷ 20 và là người Nhật đầu tiên được trao giải Nobel). Tuy thường thành công một cách dễ dàng nhờ trí tuệ sắc bén (theo kiểu ... Conan Edogawa) nhưng lần này Yukawa đã gặp đối thủ thực sự - Tetsuya Ishigami (Shinichi Tsutsumi), bạn học đại học của Yukawa và là một nhà Toán học thiên tài (theo nhận xét của chính Yukawa) nhưng không gặp thời nên phải bằng lòng với cuộc sống của một giáo viên Toán cấp III không có bạn bè, gia đình với một căn hộ bừa bộn. Cuộc sống buồn bã của Ishigami thay đổi khi anh có hàng xóm mới - mẹ con nhà Yasuko Hanaoka (Yasuko Matsuyuki). Trong một lần bị chồng cũ đến phá phách vòi tiền, mẹ con Hanaoka lỡ tay giết chết gã chồng vũ phu và đành phải nhờ vào trí tuệ của Ishigami để tìm ra một lối thoát - ở đây là một bằng chứng ngoại phạm mà cảnh sát không thể bác bỏ được. Không hổ danh là một nhà Toán học thiên tài, Ishigami quả thực đã bằng cách nào đó dàn xếp để mẹ con Hanaoka có được chứng cớ ngoại phạm, một bài toán mà cảnh sát không thể giải nổi. Tất nhiên, Yukawa phải nhảy vào cuộc nhưng liệu trong cuộc đối đầu giữa một tư duy trừu tượng của nhà Toán học và tư duy thực nghiệm của nhà Vật lý này ai sẽ chiến thắng?

Suspect X khởi đầu khá hứa hẹn với cách giới thiệu 4 nhân vật chính nhanh, gọn, độc đáo, tuy vẫn mang hơi hướng phim truyền hình (theo đúng kiểu Nhật). Nửa đầu của phim cũng diễn ra không tồi nhưng đến nửa sau thì thật ... khó chấp nhận vì trick của Ishigami rất dễ đoán và với những khán giả đã đoán được trick (từ giữa phim!) thì việc phải ngồi xem các nhân vật trong phim "hoảng loạn" tìm lời giải đáp "bí ẩn" quả thực không khác gì tra tấn. Có thể nói là twist and turn của Suspect X đơn giản hơn nhiều so với ... Conan, nói cụ thể hơn là bất cứ tập nào dùng mô-típ thủ phạm lộ diện đầu truyện. Tất nhiên có thể lập luận rằng twist and turn không phải là điểm cốt yếu của truyện phim mà Suspect X tập trung hơn vào việc mô tả tâm lý, số phận của từng nhân vật và đưa ra lời giải thích về lý do tại sao Ishigami, một nhà Toán học trầm lặng, biết suy nghĩ, lại hành động như vậy. Nhưng ngay cả mặt này thì Suspect X cũng không thể qua mặt được Conan vốn không chỉ là truyện tranh trinh thám hàng đầu mà còn giữ luôn "lá cờ đầu" về sentimentalism trong dòng tác phẩm trinh thám, sự mô tả về tâm trạng cô đơn đến cùng cực của Ishigami cũng khó lòng mà so sánh được với một phim trinh thám (nửa rùng rợn) vốn cũng nói về sự cô đơn của con người giữa xã hội hiện đại - Kairo (Hollywood chuyển thể thành Pulse). Điểm sáng duy nhất giúp cứu vãn lại bộ phim là diễn xuất nhập vai của Shinichi Tsutsumi - người đóng vai Ishigami, Tsutsumi đã làm rất tốt việc khắc họa một Ishigami vừa mang tâm trạng cô đơn xa lánh xã hội, vừa sẵn sàng đánh đổi tất cả để đem lại hạnh phúc cho mẹ con Hanaoka.

Nhìn chung Suspect X sẽ làm mọi người thất vọng vì cách bộ phim khai thác quá nửa vời tuyến nhân vật đặc sắc (có thể nói là đặc sắc không kém bộ nhân vật của The Girl with the Dragon Tattoo). Tuy vậy những ai hâm mộ Conan thì hẳn sẽ thấy hợp với bộ phim này, vì ít ra nó cũng ... hay hơn nhiều lần so với hai tập live action cực kì nhảm nhí của chính Conan.


Phim không ... tệ như mình tưởng tượng, trái lại Sherlock Holmes đáp ứng được đầy đủ những tiêu chí của một phim blockbuster giải trí - kĩ xảo đẹp mắt, nội dung đơn giản dễ hiểu, vừa hài hước vừa hành động kịch tính, và đương nhiên là có cả trai xinh gái đẹp biết diễn (xinh, đẹp thì dễ tìm chứ "biết diễn" thì ngày càng hiếm). Xét về tổng thể thì có lẽ Sherlock Holmes không thực sự là một phim xuất sắc vì twist-and-turn của phim không có gì đặc sắc, đoạn cao trào (climax) lại ... chẳng lấy gì làm cao trào lắm nhưng nói chung khán giả cũng không cần (và không nên) đòi hỏi quá nhiều từ một phim giải trí dạng này. Tất nhiên, phim này chống chỉ định với những "fan cuồng" của bộ truyện gốc, chắc chắn họ sẽ vô cùng tức giận với cách xây dựng bộ đôi Holmes - Watson hơi ... gay gay.

Guy Ritchie sau liên tiếp 3 thất bại Swept Away, Revolver và RocknRolla - những bộ phim có nội dung ... hỗn loạn, thì có vẻ đã quay trở lại được với cách xử lý đề tài, đặc biệt là xử lý chi tiết phim thông minh mà ông từng thể hiện trong giai đoạn đầu sự nghiệp (hay bỏ vợ nên đầu óc thư thái hơn?). Sherlock Holmes chứa đầy những cảnh suy luận nhanh, gọn, thông minh theo kiểu Ritchie (mặc dù chúng có thể bị dè bỉu là "khôn vặt", "suy luận vặt vãnh" bởi người hâm mộ bộ truyện gốc), các cảnh hành động trong phim cũng được xử lý với phong cách tương tự, đẹp mắt, gọn gàng, "đáng đồng tiền bát gạo" - một bất ngờ cho đạo diễn chưa từng làm phim bom tấn như Guy Ritchie. Diễn xuất của dàn diễn viên chính trong phim cũng không thể chê được điểm nào, cách diễn tưng tửng của Robert Downey Jr. tỏ ra quá ăn ý với cách đạo diễn cũng nhiều phần tưng tửng của Ritchie, Jude Law, Mark Strong và cả Rachel McAdams, Kelly Reilly cũng bổ sung rất tốt cho nhân vật chính, các diễn viên nữ trong phim có thể không xinh theo kiểu "bình hoa di động" như phong cách truyền thống của Hollywood (không biết có phải chủ ý không mà Reilly trong phim này bị hóa trang xấu hơn cả chục lần so với Les poupées russes) nhưng toát lên vẻ thông minh, quyến rũ và nhất là không bị sử dụng như một plot device (nhân vật tạo ra chỉ để ... làm vì), Rachel McAdams vẫn chứng tỏ được rằng dù cô có ngoại hình không ấn tượng nhưng cách diễn của cô vẫn có thể khiến khán giả bị quyến rũ bởi nhân vật. Tôi chỉ cảm thấy một chút gợn về giọng (accent) của Holmes vì dù Downey Jr. từng cực kì thành công với vai Chaplin nhưng không hiểu sao tôi cảm giác Holmes "của Downey Jr." nói cứ như người Mỹ, tay người Pháp to lớn trong phim cũng "không Pháp" lắm. Một điểm gợn khác là cách Holmes ... ngửi và nếm hóa chất, táo bạo và ... liều mạng là hai phạm trù hoàn toàn khác nhau, và một người am hiểu hóa học thực nghiệm như Holmes chắc chắn phải biết là không ai phát hiện hóa chất bằng cách gí mũi trực tiếp vào miệng lọ dung dịch cả (trừ phi anh ta muốn tự tử).

Điểm trừ lớn nhất của phim có lẽ là phần cao trào (climax) không được hấp dẫn và "hoành tráng" lắm. Phần giới thiệu của phim được làm tốt, nhanh, hấp dẫn, "khúc giữa" của suy luận và hành động cũng diễn biến không tồi nhưng đoạn hạ màn thì chắc chắn sẽ khiến nhiều người không cảm thấy thỏa mãn vì cách xử lý đơn giản và dễ dãi của Ritchie. Nhưng dù sao thì một bộ phim 2 tiếng thì "hay một tiếng rưỡi" cũng có thể đánh giá là ... tương đối rồi, nhất là khi khán giả lại được chứng kiến một London hoành tráng nhưng ... bẩn thỉu chưa từng thấy (theo phong cách của chính Ritchie và của Das Parfüm) - phần quay phim, kĩ xảo và nhạc phim đều đáng khen ngợi. Tôi cũng thích cách xây dựng mối quan hệ giữa Holmes và Irene Adler, khá lãng mạn mà không bị sến (nhờ vào diễn xuất rất ngọt của Downey Jr. và Rachel Adams).

jeudi 18 mars 2010

Copying Beethoven (2006), The Visitor (2008)


Copying Beethoven là một phim tiểu sử mô tả lại giai đoạn cuối đời của Ludwig van Beethoven khi ông phải vật lộn với chứng điếc để cho ra đời tác phẩm vĩ đại nhất của mình - Bản giao hưởng số 9. Hình ảnh thiên tài của Beethoven (Ed Harris) trong phim được nhìn qua con mắt của một cô gái yêu nhạc cổ điển có tên Anna Holtz (Diane Kruger). Là sinh viên xuất sắc nhất của Nhạc viện Viên, Anna được chọn làm người chép nhạc (copyist) cho Beethoven, thiên tài số một của thành Viên nói riêng và giới sáng tác nhạc cổ điển nói chung. Tràn ngập niềm vui sướng được làm việc cho thần tượng, Anna tìm tới căn phòng tồi tàn và bừa bãi của Beethoven và phát hiện ra bộ mặt thứ hai của nhà soạn nhạc - một người khó chịu, trái tính trái nết, thường xuyên làm mất lòng người khác và nhất là đã ở cuối sườn dốc của sự nghiệp khi hào quang đã qua và chẳng còn ai muốn nghe những bản nhạc do thiên tài một thời ấy sáng tác. Beethoven không chỉ gần như điếc đặc, ông còn chẳng bao giờ muốn lắng nghe những mong muốn của người khác mà luôn xét đoán mọi việc theo ý của mình, kết quả là nhà soạn nhạc trở thành con người cô độc khi mà chính cháu trai của Beethoven, người ông hết mực yêu quý, cũng ghét bỏ ông chú và chỉ tìm tới căn hộ của nhà soạn nhạc mỗi khi thiếu tiền.

Nhưng chính trong giờ phút khó khăn nhất, Beethoven mới bộc lộ hết tư chất của một thiên tài âm nhạc, một nhạc sĩ không chỉ có sức cảm thụ phi thường "những âm thanh của Thượng Đế" mà còn sẵn sàng dốc hết sức lực để lao động sáng tạo. Người ta không bao giờ thấy Beethoven ngủ, vì mỗi khi buồn ngủ ông lại tự dội lên đầu vài gáo nước lạnh (một trong những nguyên nhân dẫn đến căn bệnh điếc của Beethoven) để có thể tiếp tục làm việc. Kết quả của những giờ phút lao động miệt mài ấy là Bản giao hưởng số 9 - tác phẩm vĩ đại nhất của Beethoven, một trong số ít những bản giao hưởng có đời sống vượt ra bên ngoài khuôn khổ của nhạc cổ điển (Bản giao hưởng số 9 đã được EU chọn làm "Liên quốc ca" của cộng đồng này). Trường đoạn Beethoven chỉ đạo dàn nhạc giao hưởng cùng dàn đồng ca trình diễn Bản giao hưởng số 9 chắc chắn là trường đoạn hoành tráng, xúc động và ấn tượng nhất của phim.


Trường đoạn xúc động nhất phim

Ý tưởng thì hay là vậy nhưng Copying Beethoven thực tế chỉ dừng lại ở mức một phim trung bình khá. Lý do đầu tiên là vì đạo diễn đã quá tham khi cố gắng khắc họa rõ cả hình ảnh của một Beethoven-thiên tài nhưng đầy tật xấu, và một Anna Holtz-đam mê âm nhạc bất chấp thân phận phụ nữ, và kết quả cuối cùng là ... "dở ông dở thằng", chẳng nhân vật nào để lại ấn tượng trong lòng khán giả. Cũng vì cố công miêu tả nhân vật Anna nên Copying Beethoven đã bỏ qua một chi tiết rất quan trọng liên quan đến việc sáng tác Bản giao hưởng số 9 của Beethoven, đó là việc ông thực sự gần như điếc hẳn khi sáng tác bản giao hưởng này chứ không chỉ hơi điếc, vẫn nghe loáng thoáng được nhạc và người khác nói như mô tả trong phim. Thật đáng tiếc cho Copying Beethoven vì đó mới thực sự là chi tiết đắt giá và thường xuyên được nhắc lại trong các sách tiểu sử của Beethoven như một minh chứng cho thiên tài và nghị lực phi thường của ông. Bên cạnh đó, do chỉ xoay quanh việc Beethoven sáng tác nhạc thế nào, Anna vật lộn với những tính xấu của ông ra sao, thành ra Copying Beethoven không có điểm nhấn và lại càng thiếu cảm xúc - cái cần nhất ở một bộ phim xoay quanh âm nhạc như thế này. Để so sánh thì có thể thấy Copying Beethoven kém rất xa Amadeus, bộ phim tiểu sử về cuộc đời đầy bất hạnh của một thiên tài nhạc cổ điển khác - Wolgang Amadeus Mozart. Amadeus tràn ngập cảm xúc, kịch tính (hơi nhiều quá mức) và dàn diễn viên thì diễn xuất tuyệt vời, Copying Beethoven thì chẳng có lấy một điểm nào khiến tôi hài lòng ngoại trừ trường đoạn biểu diễn Bản giao hưởng số 9 như đã nói ở trên. Thật tiếc cho một cái tứ hay đã không chuyển thể được thành những hình ảnh đẹp.


Một bộ phim quá chậm rãi và não nề. Phim nói về Walter Vale, một giáo sư đại học nhạt nhẽo và gần như không "sống" kể từ sau khi vợ ông, một nghệ sĩ dương cầm, qua đời. Walter bắt đầu tìm lại được giá trị cuộc sống nhờ cuộc gặp gỡ bất ngờ với Tarek, một tay trống người Syria, cùng vợ anh. Trong một lần giúp Walter tại ga tàu điện ngầm, Tarek bị cảnh sát New York bắt và đứng trước nguy cơ bị trục xuất vì là người nhập cư trái phép. Walter, giờ đã là một con người hoàn toàn khác, không còn cách nào khác ngoài việc bỏ dạy để lo cho Tarek và mẹ của anh.

Đạo diễn kiêm biên kịch của phim hóa ra chính là diễn viên đóng vai ông bố dượng trong 2012. Thomas McCarthy có vẻ rất hào hứng với đề tài người già cô đơn (dù anh mới chỉ tầm 40), ngoài The Visitor, McCarthy còn viết kịch bản cho Up. Nhìn chung thật khó nói The Visitor hay dở thế nào vì phim quá chậm, xem rất nản, lại mắc phải những hình mẫu (leimotif) cũ rích kiểu Hollywood khiến tôi rất khó chịu - người nhập cư tại sao cứ phải là nhập cư vì chính trị và đến từ Syria? Sống tốt nhưng sống bất hợp pháp thì làm sao có cảm giác "hòa nhập" trong xã hội được?... Với một kịch bản đầy những triết lý đi theo lối mòn như The Visitor thì không lạ khi Up cũng không thể có một kịch bản sáng tạo từ cùng một tác giả.

dimanche 31 janvier 2010

Ima, Ai ni Yukimasu (2004), Hachiko monogatari (1987), The Sky Crawlers (2008)


Old entries from my very old blog:

====

Cái tên Yuko Takeuchi có gợi lên cho bạn điều gì không? Có lẽ là không, vậy hay xem thử poster phía trên. Hy vọng là khuôn mặt này "quen quen" với các bạn, đây là Yuko Takeuchi, diễn viên đóng vai Asuka trong loạt phim truyền hình nhiều tập Asuka, chiếu vào 12h trưa các ngày trong tuần trên VTV3 năm ... chả nhớ nữa. Hồi chiếu phim này, mẹ tôi và cả tôi đã trở thành fan hâm mộ vô điều kiện của em Asuka nhí nhảnh nhưng đầy nghị lực và sáng tạo, người đã tạo ra không biết bao nhiêu loại bánh (chẳng biết ăn có ngon không) nhưng rất rất đẹp, cả bộ phim gần trăm tập (hay hơn ý nhỉ) là xã hội Nhật thu nhỏ suốt một giai đoạn dài sau chiến tranh Thế giới thứ II thể hiện qua ... những chiếc bánh truyền thống, và đương nhiên là qua em Asuka xinh tươi do Yuko thủ vai.

Vậy mà không ngờ lại được gặp Yuko, bây giờ không còn trẻ trung như hồi đóng Asuka nữa, nhưng vẫn rất xinh, xinh kiểu phụ nữ, qua bộ phim Ima, Ai ni Yukimasu - tên tiếng Anh là Be with you, dịch ra tiếng Việt (có lẽ) sẽ là Gần bên anh, hay Gần bên nhau (cái sau thì hợp với ý nghĩa phim hơn).

Bộ phim bắt đầu bằng ngày sinh nhật lần thứ 18 của Yuji Aio, cậu nhận được chiếc bánh sinh nhật như thường lệ từ người đưa bánh, cho dù cửa hàng của ông thực ra đã đóng cửa, và ông đưa nó chỉ để giữ lời hứa của mình. Sau đó Yuji đạp xe đến cánh rừng gần nhà, để nhớ lại 6 tuần kì diệu trong đời cậu.

Đó là mùa mưa 12 năm về trước, Yuji và bố cậu, Takumi Aio, vừa mất đi người thân yêu nhất của họ, người phụ nữ duy nhất của gia đình, Mio Aio - mẹ của Yuji và vợ của Takumi. Cuộc sống của hai bố con thực sự khó khăn khi Takumi, tuy rất thương con, nhưng lại bị mắc chứng yếu thần kinh và luôn tự dằn vặn vì đã không thể mang lại hạnh phúc cho người vợ đã mất, còn Yuji, luôn tỏ ra khích lệ bố khi vui vẻ ăn những món rất dở do Takumi nấu, lại cũng luôn nghĩ cậu đã làm cho mẹ qua đời. Cuộc sống hai người chỉ có một điểm sáng nhỏ nhoi, đấy là câu chuyện về ngôi sao Akaibu, nơi người mẹ đã mất của Yuji tạm dừng chân trước khi quay trở lại với hai bố con, khi mùa mưa đến.

Cuối cùng mùa mưa cũng bắt đầu trên khu rừng gần nhà Aio, hai bố con lại thơ thẩn trong ngôi nhà đổ nát ở bìa rừng, và trong làn mưa, hai người chợt nhận thấy một bóng người, Mio! Người phụ nữ - giống hệt Mio ấy - không may lại chẳng nhớ chút gì về bản thân mình, cái tên của của cô là gì, họ là ai - người đàn ông và đứa trẻ đang tỏ ra sung sướng khôn tả và luôn miệng gọi cô là Mio. Nhưng chỉ cần sự xuất hiện của cô thôi, niềm vui, sự sống cũng đã quay trở lại, chỉ có một việc "nhỏ", đấy là cô phải nhớ lại được quá khứ của mình.

Có Mio, cuộc sống của hai bố con Takumi khác hẳn, Yuji không còn phải ăn món trứng rán cháy của bố, căn nhà nhỏ cũng không còn bừa bộn với quần áo chăng dọc ngang mà đã ngăn nắp, đầy tiếng cười, tất cả như bừng sáng giữa những ngày mưa u ám. Mio cũng dần dần lấy lại được "quá khứ" của mình qua những câu chuyện của Takumi, từ mối tình đơn phương của anh chàng Takumi rụt rè ngày cấp III đến buổi hẹn hò đầu tiên của hai người sau hai năm rưỡi quen biết nhau với lý do là ... một cái bút. Nhưng cả hai bố con, trong những ngày vui tưởng chừng như vô tận, vẫn canh cánh một nỗi lo, đấy là trong lời hứa sẽ quay trở lại của Mio trước khi mất, cô cũng nói rằng mình sẽ phải ra đi khi mùa mưa kết thúc. Còn Mio, sau khi tìm thấy quyển nhật kí của chính mình, cô cũng tỏ vẻ lo âu và bắt đầu dạy Yuji cách chăm lo cho ông bố yếu đuối của cậu, phải chăng cô sẽ ra đi, đột ngột như cách cô đã đến?

Điều gì sẽ xảy ra? quyển nhật kí của Mio chứa đựng những bí mật gì? Mời mọi người ... đi thuê DVD về xem, chứ phim cũng cũ rồi, từ năm 2004, vả lại Việt Nam ngoài phim Holywood, chỉ chuộng phim Hàn xẻng, nên cũng chẳng hy vọng phim này được chiếu ngoài rạp, chỉ có một lời khuyên cho mọi người, phim này đáng xem, và đừng vội đoán trước kết cục làm gì, hãy ngắm nhìn cuộc sống hạnh phúc của gia đình nhà Aio, và những câu chuyện về quá khứ của Takumi, bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc.

Be with you không chỉ đáng xem với nội dung rất hay của mình, mà còn có những cảnh quay rất đẹp (hãy xem poster cánh đồng hoa hướng dương của phim), nhạc phim cũng rất hay (theme song của phim, bài hát Hana của rock band Orange Range là đĩa đơn bán rất chạy năm 2005 ở Nhật), và đương nhiên là một dàn diễn viên không thể chê được. Ngoài Yuko Takeuchi vai Mio, người đóng vai anh chồng khù khờ Takumi là Shido Nakamura cũng rất đạt (anh này là người đóng vai kiếm sĩ Nhật trong Hoắc Nguyên Giáp - Fearless của Lý Liên Kiệt), còn phải kể đến Akashi Takei, cậu bé Yuji 6 tuổi với giọng nói rất dễ thương, thậm chí chỉ một vai rất nhỏ trong phim, vai cô giáo của Yuji ở trường tiểu học, do diễn viên Ehara Yukiko thủ vai, cũng để lại nhiều ấn tượng.

Khi yêu thương nhau, hãy tìm đến với nhau, đấy là lời nói của Mio, cũng là thông điệp của bộ phim dành cho mọi người.

====

This one is for my very dear Midori:


Một bộ phim không có gì đặc biệt ngoại trừ ... cốt truyện đặc biệt của nó.
Hachiko monogatari nói về cuộc đời của một ... con chó có tên Hachiko kể từ giây phút chú lọt lòng mẹ cho tới giây phút Hachiko từ giã cuộc đời, cả hai đều diễn ra trong những cơn bão tuyết trắng trời trắng đất. Tất nhiên để trở thành nhân vật của không chỉ một, mà nhiều bộ phim (trong đó có một phim vừa ra đời năm 2009 do Richard Gere thủ vai chính) thì Hachiko không thể là một con chó bình thường, để có mục từ trên Wikipedia thì lại càng phải là một con chó đặc biệt, và sự thực thì Hachiko hoàn toàn xứng đáng với cái sự đặc biệt mà loài người nghĩ về chú.

Hachiko sinh năm 1923, chú được một ông giáo sư nông học khả kính nhận nuôi để thay thế con chó yêu của ông vừa mất. Con gái duy nhất vừa lấy chồng, ông giáo sư dành hết thời gian rỗi để chăm sóc Hachiko, tắm cho chú, dắt chú đi dạo và thậm chí còn có lần ngủ cùng chú. Và như mọi chú chó thuộc giống Akita trung thành khác, Hachiko cũng hết sức yêu quý ông chủ của mình, chú chó luôn quấn quýt lấy ông giáo sư và ngày ngày theo chân ông ra ga tàu đi làm buổi sáng và đến chiều lại tự động ra ga tàu chờ ông trở về, chính xác và đều đặn mà chẳng cần tới bất cứ loại đồng hồ nào. Nhưng rồi một ngày hè năm 1925, ông giáo sư đã không còn trở về ga tàu quen thuộc, ông đã qua đời ngay trên bục giảng sau một cơn đau tim đột ngột. Dù muốn hay không thì mọi người trong gia đình, bạn bè, người thân của ông giáo sư cũng dần dần phải chấp nhận sự mất mát để tiếp tục cuộc sống thường nhật, trừ Hachiko. Chú chó vẫn ngày ngày ra sân ga vắng để đợi chủ, rồi lại quay trở về mà không hiểu ông chủ của mình đã đi đâu. Ngay cả khi ngôi nhà cũ bị bán đi, Hachiko được gửi nuôi cho một gia đình mới, chú vẫn thường xuyên giật đứt xích để tới đón người chủ đã không bao giờ quay trở về. Tất nhiên chẳng ai có thể nuôi một con chó thường xuyên lêu lổng như vậy, Hachiko trở thành chó hoang, nhưng cuộc sống ngoài đường khắc nghiệt cũng không thể ngăn cản chú tiếp tục cuộc chờ đợi bất tận của mình. Thực ra là cũng không "bất tận" cho lắm vì Hachiko chỉ trụ vững được tới năm 1935, chú gục ngã ngay trên sân ga nơi 10 năm liên tục không ngừng nghỉ chú đã đứng chờ người chủ mãi mãi không bao giờ quay về của mình.

Hachiko monogatari là một bộ phim tear-jerker (lấy nước mắt) đúng như câu chuyện vừa kể trên, vì vậy nó sẽ thích hợp cho ai yêu quý chó hoặc ... thích bị lấy nước mắt. Và chắc con số đó ở Nhật cũng đủ đông để biến bộ phim trở thành một tác phẩm ăn khách ở Nhật năm 1987. Có lẽ ai bỏ tiền mua vé xem phim cũng đều mang một mong muốn: "Giá mà trong đời mình có một người trung thành và thân thiết như Hachiko". Vậy hãy cứ chờ đợi như chú chó Hachiko đợi chủ đi đã.

Đây là một tác phẩm của Mamoru Oshii - "cha đẻ thật sự" của siêu phẩm The Matrix (vốn có thể coi là phiên bản live action của anime Ghost in the Shell do Oshii làm đạo diễn). Có thể tóm tắt The Sky Crawlers bằng công thức: The Sky Crawlers = 1984 + Never Let Me Go. Đặt trong bối cảnh thế giới bê nguyên xi từ 1984, bộ phim nói về những đứa trẻ, đúng hơn là những người-máy, được "sinh" ra chỉ với mục đích duy nhất - trở thành phi công chiến đấu và rồi bị bắn rụng trên bầu trời. Bộ phim mang cái không khí buồn man mác như trong Never Let Me Go, khi mà các nhân vật chính biết rõ số phận của mình trong tương lai, biết rõ sự vô nghĩa của cuộc sống mình đang sống, nhưng vẫn cứ phải sống vì đó là nghĩa vụ của họ. Đây là những mâu thuẫn, xung đột nội tâm mà Oshii đã khai thác rất sâu (và rất thành công) trong loạt GitS. Nói là thành công vì cái không khí tâm lý nặng nề của phim được "pha loãng" bằng vô số pha hành động đẹp mắt và sáng tạo đến bất ngờ, The Sky Crawlers cũng có nhiều pha không chiến đẹp theo kiểu anime nhưng không thể bù lại được cho nội dung chậm của phim, nhất là với những ai không quen thuộc với 1984 thì có lẽ xem phim sẽ khó lòng tiếp nhận được cái bối cảnh thế giới "quái dị" ấy. Vì thế không lạ khi The Sky Crawlers thua Ponyo tại giải phim hoạt hình xuất sắc nhất của Viện Hàn lâm Nhật Bản.


samedi 19 décembre 2009

Die Welle (2008)


Rainer Wenger là một giáo viên trung học phổ thông trẻ, yêu đời, yêu nhạc rock và có một cô người yêu kiêm đồng nghiệp dễ thương. Cuộc sống yên ả của anh bắt đầu thay đổi khi Wenger được phân công giảng bài Chế độ chuyên chế (autocracy) cho môn Chính trị vốn luôn ám ảnh học sinh bởi sự nhàm chán và tẻ ngắt. Để thay đổi phong cách, Wenger quyết định cho học trò của mình thực hành luôn mô hình Chuyên chế trong lớp học, anh đề nghị học sinh gọi mình là "Ông/Ngài Wenger" (Herr Wenger) thay vì cái tên Rainer thân mật, những đặc điểm khác của một nhà nước chuyên chế như đồng phục (sơ mi trắng), kỷ luật, trật tự hay tính tập thể đều được mang ra thử nghiệm. Sáng kiến của Wenger thành công đến không ngờ khi lũ học trò của anh, vốn đã quá chán ngán với cuộc sống thường nhật không thể thỏa mãn trí óc mới lớn của các em, cảm thấy cực kì hứng thú với "Nhà nước của Ngài Wenger" và bắt đầu dồn toàn tâm toàn ý để củng cố cho mô hình ấy. Và rồi cái gì đến cũng phải đến, một mô hình chuyên chế, dù là ở quy mô tế bào như "Nhà nước của Ngài Wenger" cũng tiến tới chỗ biến dạng khỏi mục đích tốt đẹp ban đầu của nó, nhất là khi người lãnh đạo mô hình - Wenger, lại không lường trước được hậu quả từ "sáng kiến" của anh, trong khi cái thế hệ nòng cốt của mô hình lại là thanh niên mới lớn - lứa tuổi nổi loạn và sẵn sàng làm tất cả mọi thứ để bảo vệ cái mà các em cho là lý tưởng của mình.

Có thể nói Die Welle là một phim sư phạm hoàn hảo về nguyên nhân và tác hại của chế độ chuyên chế. Bằng một ví dụ cực kì đơn giản, gần gũi là một lớp học bình thường với những cô cậu thanh niên hết sức bình thường với đủ cả những giây phút sáng suốt và vô số thời khắc khác nổi loạn, Die Welle đã cho người xem thấy được cả mầm mồng, cách thức lây lan và tác hại khôn lường của một mô hình chuyên chế: Khi một tầng lớp hoặc một xã hội cảm thấy mất phương hướng về lý tưởng sống, mất niềm tin vào môi trường sống xung quanh của họ, thì chỉ cần một người lãnh đạo có khả năng, cả cái tầng lớp, cái xã hội ấy sẽ hòa nhịp để tạo thành một đợt sóng (die welle) rồi lớn dần thành cơn sóng thần cuốn phăng đi tất cả. Bộ phim cho ta thấy mối nguy hiểm tiềm tàng của một chế độ phát xít mới khi mà mầm mống của nó luôn luôn hiện hữu trong một tầng lớp mất phương hướng và khao khát lý tưởng như thanh niên mới lớn. Và cái mầm mống ấy càng có khả năng nảy mầm thành cây độc khi mà xã hội, hay cụ thể là bố mẹ lại bỏ mặc các em "tự lớn", tự đối phó với những bế tắc về suy nghĩ, về cách nhìn cuộc sống.

Nếu khắt khe thì người xem vẫn có thể chê Die Welle vì tính "kịch" của bộ phim khá cao bất chấp việc dàn diễn viên, đặc biệt là các diễn viên trẻ thủ vai học trò, của phim diễn rất tự nhiên và nhập vai, nhưng khó có thể trách được đạo diễn trong trường hợp này vì muốn truyền tải cái "thí nghiệm" của Wenger thì không còn cách nào khác đạo diễn phải "bắt" đa số các nhân vật trong lớp học phải biến thành "người tượng", không có quan điểm và phản ứng riêng trước sự hình thành của die welle trong khi đáng ra đặc điểm nổi bật nhất của giới trẻ phải là sự phản kháng, chống đối (anarchy - vô chính phủ). Die Welle quả xứng đáng được sinh ra trong lòng nước Đức, "tổ quốc" của chế độ chuyên chế cao độ bậc nhất - Đức Quốc Xã và cũng là quốc gia chịu thương tổn nặng nề nhất từ chế độ này. Die Welle đề cập tới Đức Quốc Xã thông qua những hình ảnh ẩn dụ hết sức tài tình, mà không tài tình sao được khi một lớp học hết sức bình thường lại có thể trở thành tấm gương phản chiếu trung thực những gì đã xảy ra trong xã hội Đức giai đoạn giữa hai cuộc thế chiến. Tôi còn hết sức hài lòng vì Die Welle không hề động tới Holocaust - thứ chủ đề "bắt buộc" trong mọi phim Hollywood nói về, hoặc động tới Đức Quốc Xã, vì thực chất Diệt trừ Do Thái chỉ là một bộ phận cấu thành nên học thuyết (doctrine) của nhà nước Đức Quốc Xã chứ chưa bao giờ là giáo điều (dogma) của chế độ này. Theo tôi, Die Welle xứng đáng được đưa vào bất cứ chương trình học phổ thông nào về lịch sử hoặc chính trị vì sự chính xác, dễ hiểu và gần gũi với học sinh của nó - muốn để "làn sóng" không biến thành cơn sóng thần hủy diệt, hãy cho mỗi tế bào cấu thành của làn sóng đó thấy được cái cách làn sóng dị dạng thành sóng thần thế nào.

Nói thêm là nhạc phim rất hay và hợp với không khí phim, toàn nhạc rock.


Ending theme

vendredi 20 novembre 2009

My Sister's Keeper (2009), Man on Wire (2008)


Không biết có phải do sinh ra từ một mối tình nổi tiếng của Hollywood giữa John Cassavetes và Gena Rowlands hay không mà Nick Cassavetes, con trai của John Cassavetes-nghệ sĩ tiên phong trong dòng phim indie và cinéma-vérité lại không theo con đường cha mình đã chọn mà chỉ tập trung vào những bộ phim có mức độ lãng mạn và mơ mộng cao, hay nói vui là "phim Hàn xẻng". Tiêu biểu nhất cho các bộ phim Hàn xẻng của Nick chính là The Notebook, tác phẩm đã lấy nước mắt của không biết bao nhiêu chị em phụ nữ vì những cảnh quay lãng mạn dưới mưa, trong sương mù,... Và năm nay Nick lại cho ra đời một tác phẩm không hề kém cạnh The Notebook trong nghệ thuật "lấy nước mắt", đó là My Sister's Keeper.

Nhân vật chính của My Sister's Keeper là gia đình nhà Fitzgerald, một gia đình bình thường, hạnh phúc như bao gia đình Mỹ (trong phim Hollywood) khác trước khi tai họa ập xuống - Kate Fitzgerald, cô con gái út trong nhà, bị chẩn đoán mắc ung thư máu, căn bệnh mà y học hiện đại hoàn toàn không có khả năng chữa lành. Để chăm sóc Kate, mẹ cô bé, Sara-một luật sư giỏi, quyết tâm bỏ việc ở nhà, cô dành nhiều thời gian chăm sóc con gái tới mức gần như bỏ quên mất đứa con trai cả Jesse, vốn cũng là một đứa trẻ gặp nhiều khó khăn trong cuộc đời vì mắc chứng khó đọc. Căn bệnh ung thư máu khiến thận của Kate dần bị thải loại, cô bé sẽ không thể sống nổi nếu không được ghép thận trong tương lai từ một người hiến tạng cực kì phù hợp. Và nghe theo lời bác sĩ, Sara cùng chồng, Brian-một anh lính cứu hỏa trầm lặng, quyết định thụ tinh nhân tạo để cho ra đời người hiến tạng cần thiết-Anna, con gái út của gia đình Fitzgerald. Cô bé út ít Anna lớn lên trong tình thương yêu hết mực của cả gia đình, đôi lúc bé phải thực hiện những cuộc lấy máu, lấy tủy sống cực kì đau đớn để phục vụ việc điều trị của Kate, nhưng có hề gì, vì Anna yêu thương chị trong khi Sara và Brian, dù biết con gái út đau đớn, vẫn mặc nhiên coi đó là việc cần làm và nên làm. Nhưng thời hạn ghép thận cận kề cũng là lúc Anna đủ lớn để nhận ra rằng dường như mình đang phải làm một việc quá sức và ảnh hưởng tới cả cuộc đời sau này của cô bé, mất đi một quả thận, cô sẽ mãi mãi không thể chơi bóng đá, làm cheerleader như những bé gái bình thường khác. Cuối cùng Anna quyết định nhờ tay luật sư Campbell Alexander ... kiện Sara và Brian ra tòa để giành quyền kiểm soát các tác động y học tới bản thân. Những rạn nứt dưới sức ép từ căn bệnh quái ác của Kate và quyết tâm có phần thái quá của Sara, vốn âm ỉ từ lâu trong gia đình Fitzgerald nay có cơ hội bùng phát và không thể cứu vãn nổi.

Phút yên bình hiếm hoi của nhà Fitzgerald

Thật ngạc nhiên là hai căn bệnh tác động lớn nhất tới xã hội Mỹ hiện đại - béo phì và ung thư, lại rất hiếm khi được các đạo diễn đưa lên màn ảnh lớn, hoặc có đưa lên thì cũng hạ thấp đi rất nhiều sự đau đớn và rắc rối do căn bệnh đó gây lại như trong The Bucket List (cuối cùng thì năm nay cũng có một bộ phim về căn bệnh béo phì ra mắt công chúng, Precious). My Sister's Keeper không phải một tác phẩm phi hiện thực như The Bucket List, dù là đạo diễn theo típ lãng mạn nhưng trong bộ phim này, Nick Cassavetes đã miêu tả cực kì tỉ mỉ, chính xác và không hề né tránh bất cứ chi tiết đau đớn khủng khiếp nào của căn bệnh ung thư máu giai đoạn cuối. Bộ phim, dù không hề có chút bạo lực nào, vẫn khiến khán giả nhiều phen nhăn mặt, rùng mình khi phải chứng kiến sự đau đớn đến tột bậc của các bệnh nhân ung thư trong quá trình hóa trị, xạ trị và nhất là những giờ phút đau đớn tột bậc mà họ phải trải qua. Người ta thấy Kate từ một cô bé đáng yêu, tóc dài mượt mà, dần biến thành một bệnh nhân đầu trọc, da dẻ phù nề, môi khô khốc và thường xuyên ho ra máu trong đau đớn. Có lẽ chỉ bằng những hình ảnh chân thực như vậy Nick Cassavetes mới giúp người xem phần nào cảm nhận được sức ép tâm lý nặng nề mà gia đình Fitzgerald nói riêng và những gia đình có người thân mắc ung thư nói chung, phải chịu đựng.

Đương nhiên, nội dung chính của My Sister's Keeper không phải là căn bệnh ung thư, mà là cái cách mọi người đương đầu và chống lại nó thế nào. Bộ phim tràn ngập những hình ảnh cảm động về gia đình nhà Fitzgerald trong cuộc chiến của họ chống lại căn bệnh của Kate và chống lại chính những xung đột tâm lý của bản thân, có thể nói những trường đoạn "lấy nước mắt" trong tác phẩm này của Nick Cassavetes còn đậm đặc hơn The Notebook. Thông thường "nhiều" dễ dẫn đến "nhàm", "sến", nhưng My Sister's Keeper không hề rơi vào cái bẫy dễ mắc đó, Nick Cassavetes đã rất tài tình trong việc xây dựng nhân vật, mỗi người đều có một tính cách, hình ảnh rõ ràng và hoàn toàn khác biệt, thậm chí ngay cả những nhân vật "phụ" trong phim như bà thẩm phán DeSalvo, tay luật sư Campbell hay Taylor, anh chàng người yêu ngắn ngủi của Kate, đều cực kì đặc sắc và có cuộc sống riêng, bí ẩn riêng của họ. Tôi thực sự thích các nhân vật của My Sister's Keeper, họ rất "thật" nhưng cũng lại rất dễ gây thiện cảm từ người xem, điển hình như nhân vật Campbell do Alec Baldwin đóng, nhân vật tưởng như đứng về "phe ác" này cuối cùng lại gây được thiện cảm rất lớn từ phía người xem vì cách hành xử của ông trong vụ kiện tụng đầy rắc rối.

Một hình ảnh "rất The Notebook"

Tuyến nhân vật "không có người xấu" đã khiến My Sister's Keeper trở nên dễ xem hơn nếu so với cốt truyện bi thương của nó, bộ phim cũng chứa đựng những twist và bất ngờ dễ chịu hiếm khi gặp ở những bộ phim bi dạng này. Hơn nữa cũng phải nói rằng My Sister's Keeper không chỉ "có mỗi việc" "mua nước mắt" của khán giả, bộ phim còn đề cập tới một vấn đề hết sức nóng bỏng hiện nay ở xã hội Mỹ, đó là sự xung đột giữa hai trường phái "pro-choice" và "pro-life" trong quan điểm về cách ứng xử với các căn bệnh thuộc dạng vô phương cứu chữa. "Pro-life" xuất phát từ đức tin có gốc rễ tôn giáo, đặc biệt là Công giáo (Catholicism), cho rằng tính mạng là thứ quý giá (của Chúa ban tặng) nên con người phải giữ lại nó bằng mọi cách và không có quyền tự kết liễu cuộc đời mình, vì vậy các bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối dù đau đớn đến đâu, vô phương cứu chữa đến đâu, cũng phải tìm mọi cách để duy trì sự sống để chờ phương thuốc mới hoặc chờ thời điểm sự sống tự thoát ra khỏi cơ thể họ. "Pro-choice" lại gắn liền với chủ nghĩa tự do (Liberalism) vốn rất phổ biến từ lâu ở Tây Âu nhưng lại khá mới mẻ ở "mảnh đất tự do" Mỹ (vốn không "tự do" như người ta tưởng - trừ tự do kinh tế) lại cho rằng quyền quyết định sống hay chết là tùy thuộc vào mỗi cá nhân, vì đó mới là chủ sở hữu thực sự của sự sống, nếu họ cảm thấy không thể chịu nổi những đau đớn hoặc đã quá tuyệt vọng vì căn bệnh vô phương cứu chữa thì họ hoàn toàn có quyền tự kết thúc sự sống (đúng hơn là sự sống trong đau đớn) của chính họ. Tất nhiên, cuộc tranh luận thực sự về vấn đề này phức tạp hơn rất nhiều vì nó còn liên quan tới vô vàn mâu thuẫn trong luật pháp và đạo đức y học. My Sister's Keeper cũng không có tham vọng lái độc giả theo phe "pro-life" hoặc "pro-choice", Nick Cassavetes chỉ bằng những hình ảnh chân thực, cảm động của ông khiến cho khán giả phải tự mình đặt ra câu hỏi: "Ta phải làm gì trong hoàn cảnh đó?". Theo tôi đó là cách xử lý tác phẩm khá tinh tế và khiến cho My Sister's Keeper thực sự trở thành một bộ phim đáng xem và đáng suy ngẫm thay vì dừng lại ở một tác phẩm lãng mạn "kiểu Hàn Quốc" thông thường.

Cameron Diaz với "kiểu tóc" lạ lẫm

Tương tự như cái poster ở trên, My Sister's Keeper có phần hình ảnh đẹp và thơ mộng, cái cách mà Nick Cassavetes miêu tả mối tình ngắn ngủi giữa Kate và Taylor - hai bệnh nhân ung thư, hai cái đầu trọc, hai cặp môi nứt nẻ vì hóa trị liệu, chắc chắn sẽ khiến khán giả quên đi những "mối tinh ung thư" đẹp nhưng phi hiện thực trong phim Hàn Quốc. Dàn diễn viên trong phim tuy không phải là những tên tuổi lớn (của phim tâm lý) nhưng họ đều diễn rất nhập vai, người xem chắc chắn sẽ phải bất ngờ trước một Cameron Diaz, vốn chỉ nổi bật trong dòng phim hành động và hài hước, lại diễn xuất đạt đến vậy vai bà mẹ kiên cường Sara, Jason Patric-nỗi thật vọng của Speed 2 cũng nhập vai không kém với hình ảnh ông bố Brian ít nói và chỉ thể hiện tình yêu với con gái qua ánh mắt biết nói, tất nhiên không thể bỏ qua Sofia Vassilieva, một phát hiện mới trong vai diễn khó, nhưng cực kì ấn tượng-vai cô bé Kate. Đáng ngạc nhiên là một lần nữa diễn viên khiến tôi thất vọng lại là Abigail Breslin, "Little Miss Sunshine" lại một lần nữa chọn được một kịch bản rất tốt nhưng diễn xuất thì không thuyết phục chút nào (như Definitely, Maybe). Tất nhiên đó chỉ là hạt sạn rất nhỏ trong món ăn ngon, và có thể khẳng định My Sister's Keeper là một món ăn tinh thần đặc sắc.


Đây là phim tài liệu được đánh giá cao nhất của năm 2008 và đoạt hầu hết các giải thưởng về phim tài liệu trong năm. Phim kể về Philippe Petit, một nghệ sĩ đi trên dây (funambule) người Pháp với kế hoạch không tưởng là thực hiện cuộc biểu diễn đi trên dây từ nóc của 2 tòa nhà World Trade Center ở New York (cao 417 mét). Vốn có "máu liều" và chất nghệ sĩ như truyền thống của người Pháp (đồng hương của Petit là Alain Robert, biệt danh "người nhện" vì chuyên nhà chọc trời bằng tay không, cũng là tiêu biểu cho tính cách "càn rỡ" này của người Pháp), Philippe Petit ngay từ khi còn rất trẻ đã yêu thích biểu diễn đi trên dây từ đỉnh của những công trình nổi tiếng như Nhà thờ Đức Bà Paris hay Cầu cảng Sydney. Ngay khi World Trade Center mới bắt đầu được xây dựng, Petit đã nảy sinh quyết tâm thực hiện cuộc biểu diễn có một không hai trên nóc nhà mới của thế giới. Và Man on Wire kể lại cho cho khán giả về việc làm thế nào Petit có thể thực hiện được "âm mưu" không khác gì một vụ ... ăn trộm này.

Man on Wire nhìn chung không làm tôi ấn tượng. Trừ một số đoạn phỏng vấn mà Petit bộc lộ ước mơ từ bé của mình hoặc trường đoạn trên đỉnh của World Trade Center thì phim không để lại cảm xúc gì đáng kể, ngay cả những người được phỏng vấn cũng có vẻ không còn quá hào hứng và xúc động vì sự kiện đặc biệt này, có lẽ vì thời gian đã trôi qua quá lâu (34 năm). Thật ngạc nhiên là phim được đánh giá cao đến thế, không biết có phải vì nó gắn với hai cái biểu tượng đau thương của người Mỹ hay không (chắc là vậy, dù phim không hề nhắc gì tới sự kiện 11 tháng 9). Tôi cũng không đánh giá cao cách dựng lại quá khứ "như một vụ trộm" của Man on Wire, vì nó cũng chỉ na ná các bộ phim tài liệu của Discovery Channel chứ không có gì đột phá. Theo tôi thì một phim tài liệu làm về Alain Robert có lẽ sẽ gây cảm xúc mạnh hơn nhiều vì anh chàng "Người nhện Pháp" này vẫn đang ngày ngày leo lên đỉnh của những tòa nhà cao nhất thế giới.

He isn't Spider-Man, he's Alain Robert

lundi 9 novembre 2009

Away We Go (2009), Julie & Julia (2009), Il divo (2008)

Sau một loạt bốn phim tâm lý nặng nề (American Beauty, Road to Perdition, Jarhead, Revolutionary Road), Sam Mendes lần đầu tiên thử sức với một phim hài kinh phí thấp - Away We Go. Đây là một roadmovie (phim nói về những cuộc hành trình, rong ruổi với rất nhiều gương mặt khác nhau, tiêu biểu cho dạng phim này thời gian gần đây là Into the Wild của Sean Penn và My Blueberry Nights của Vương Gia Vệ) đậm chất indie, diễn viên không phải ngôi sao nhưng đóng rất nhập vai, thoại nhẹ nhàng mà vẫn sâu sắc, bối cảnh phim mộc mạc và phần nhạc ngẫu hứng. Tuy vậy thì phim vẫn mang phong cách quen thuộc của Mendes, đó là ẩn chứa rất nhiều bi kịch của những con người bình thường, phần thoại đôi khi hơi triết lý quá (hay nói cách khác là được "kịch hóa" - ngoài đời chẳng ai nói được đến như vậy) và phần hình ảnh của phim có tông màu đồng nhất từ đầu tới cuối.

Nội dung của Away We Go khá giản dị - một cặp tình nhân sắp có đứa con đầu lòng thực hiện chuyến hành trình dài đằng đẵng để tìm một nơi thích hợp cho tổ ấm mới, mỗi một thành phố họ đi qua, cặp tình nhân lại gặp một bi kịch khác nhau của cuộc sống gia đình, để rồi họ dần tìm thấy được ý nghĩa đích thực của chính tình yêu giữa hai người và cuối cùng là tìm được cho mình một chỗ dừng chân, một mái nhà đích thực. Bộ phim tràn ngập bi kịch gia đình, bi kịch của một bà mẹ foul-mouthed sẵn sàng xỉ vả con cái và chồng tới mức không thể tin được, bi kịch của bà mẹ trẻ yêu con nhưng lại xa rời với cái gọi là cuộc sống đích thực, bi kịch của một cặp vợ chồng trẻ cố thuyết phục nhau rằng họ đang sống hạnh phúc trong sự bất hạnh, và bi kịch của một ông bố trẻ cùng cô con gái bị người vợ bỏ rơi. Chính những bi kịch đó đã giúp cặp tình nhân phát hiện ra rằng tình yêu của họ lớn hơn tất cả các đôi tình nhân mà họ từng ngưỡng mộ khác, cuộc hành trình càng dài, họ lại càng được tiếp thêm sức mạnh để gắn kết với nhau trong cuộc đời (dù cô gái nhân vật chính nhất quyết không chịu cưới anh chàng ngố bạn trai mình).

Dàn diễn viên của phim không nổi tiếng, ba cái tên ít ỏi mà tôi biết đến trong phim là Melanie Lynskey của Heavenly Creatures trước đây (không hiểu có phải vợ Mendes - Kate Winslet, đã giới thiệu Lynskey - bạn diễn của cô trong Heavenly Creatures cho chồng không), Maya Rudolph (vì là .... người yêu của đạo diễn tôi yêu thích Paul Thomas Anderson) và Maggie Gyllenhaal. Nhìn chung dàn diễn viên của Away We Go đóng tốt, bề ngoài giản dị và cái chất diễn tưng tửng của họ rất hợp với không khí của phim. Vì vậy về tổng quát Away We Go là một phim xem được, nhưng vẫn hơi khó "nuốt" vì chất bi kịch của phim vẫn hơi đậm đặc, không hề dành cho những người mong đợi được xem một bộ phim hài.


Thật sai lầm khi chọn xem Julie & Julia, phim này đúng là chỉ dành cho "chị em phụ nữ" chứ con trai xem quả thực không thể mê được. Phim nói về 2 bà nội trợ Mỹ mê nấu món ăn Pháp là Julia Child và Julie Powell, cả hai đều là nhân vật có thật ngoài đời. Tuy thuộc 2 thế hệ hoàn toàn khác nhau (Julia sinh năm 1912 còn Julie sinh năm 1973) nhưng cả hai đều sử dụng niềm vui nấu nướng và khám phá ẩm thực Pháp để vượt qua những khó khăn, thử thách trong cuộc sống - với Julia đó là nỗi buồn của một phụ nữ không có con phải theo chồng, một nhân viên ngoại giao, rong ruổi khắp thế giới, với Julie đó là sự khủng hoảng tâm lý của một phụ nữ bước vào tuổi 30 với công việc hết sức nhàm chán. Một điều may mắn nữa của hai người là cả Julie và Julia đều có những đức lang quân tốt bụng, hy sinh hết mình để giúp đỡ vợ trên con đường nấu nướng. Phim thuộc loại feel-good-movie cho chị em gái nên nội dung nhẹ nhàng, không có bi kịch hoặc xung đột thực sự, chủ yếu tập trung miêu tả tâm lý (vô cùng rắc rối và ... không thể chịu được) của hai phụ nữ, một chuẩn bị bước vào tuổi trung niên và một vừa kết thúc tuổi trung niên. Diễn xuất của hai ngôi sao nữ trong phim - Amy Adams và Meryl Streep, theo tôi là bình thường, không có gì đột phá mà cũng chẳng có gì đáng nhớ, Adams diễn giống hệt vai của cô trong Sunshine Cleaning (một phim cũng chẳng lấy gì làm xuất sắc), Streep thì vẫn cái vẻ vui tươi, xởi lởi nhưng có gì đó hơi thô kệch như trong Mamma Mia!, thực sự tôi thích Streep đóng những vai bi và đứng đắn như trong Out of Africa, Devil Wears Prada hay Doubt hơn là những vai hài hước kiểu này, vì giọng của Streep không hợp và cách bà diễn những pha hài hước cũng không thuyết phục cho lắm. Phần ẩm thực trong phim cũng không thực sự hấp dẫn, một phần vì ẩm thực Pháp không phải dạng màu mè và đòi hỏi kỹ năng chế biến cao như ẩm thực Trung Quốc, phần khác vì phim chỉ tập trung vào những món tương đối phổ biến và dễ làm của Pháp nên Julie & Julia khó lòng mà kích thích được cái dạ dày của người xem. Tóm lại tôi thấy phim này thua xa một phim khác cũng mượn chuyện ẩm thực để miêu tả tâm lý, đó là Nam nữ ẩm thực của Lý An.

Phải nói luôn là phim Il divo không liên quan gì đến boyband Il Divo của Anh cả. Divo (số nhiều: Divi, giống cái: Diva) trong tiếng Ý nghĩa là thần thánh, trong âm nhạc có thêm nghĩa là ngôi sao của sân khấu. Il divo là bộ phim tiểu sử về Giulio Andreotti, biệt danh "Divo Giulio" ("Giulio thần thánh"), người từng ba lần làm thủ tướng Ý, ba lần giữ chức bộ trưởng quan trọng (Nội vụ, Ngoại giao, Quốc phòng), một lần ứng cử viên Tổng thống Ý, nghị sĩ trọn đời của Thượng viện Ý, và một lần bị kết án 20 năm tù vì âm mưu ám sát một nhà báo (sau rất nhiều phiên tòa xử lại được kết luận vô tội) cộng thêm rất nhiều lần bị báo chí chỉ đích danh vì những mối liên hệ chặt chẽ với mafia. Andreotti có thực sự cộng tác với mafia hay không, người ta không bao giờ biết, chỉ biết rằng sau mấy chục năm trên chính trường Ý, lần lượt những cộng sự thân tín của Andreotti bị kết án vì nhiều loại tội khác nhau, bản thân đảng do Andreotti gây dựng nên là Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo Ý - từng là thế lực mạnh nhất ở Ý những năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đã phải giải tán vì vô số bê bối liên quan đến tham nhũng. Chỉ riêng mình Giulio Andreotti vẫn lừng lững giữa xã hội Ý như một biểu tượng của quyền lực vừa được nhiều người kính phục nhưng cũng bị vô số người khác dè bỉu, một hình tượng "rất Ý".

Il divo chủ yếu xoay quanh thời gian hoạt động của Andreotti ngay trước khi ông bị rút quyền miễn tố và phải ra hầu tòa vì tội dàn xếp dẫn tới cái chết của một nhà báo nổi tiếng. Để "xứng đáng" với nhân vật đặc biệt mà bộ phim miêu tả, đạo diễn Paolo Sorrentino không sử dụng cách làm phim tiểu sử thông thường, tức là đi theo trình tự "leo núi" phấn đấu => thành công => sụp đổ, trái lại Il divo sử dụng cách kể chuyện phi tuyến tính xen kẽ giữa những tội ác mà Andreotti có dính líu trong quá khứ với những hình ảnh của một Andreotti lạnh lùng, điềm tĩnh đối mặt với tòa án, báo chí trong hiện tại. Xem Il divo, người ta dễ dàng liên tưởng đến một hai bộ phim xuất sắc khác về quyền lực đen, đó là Bố già và Bố già phần II của Francis Ford Coppola, cả hai (loạt Bố già và phim Il divo) đều tập trung khắc họa tính "hai mặt", tốt có nhưng xấu cũng có và còn nhiều hơn, của nhân vật chính-ông trùm, nếu như bố con Corleone chỉ là ông trùm của thế giới ngầm thì Andreotti "oai phong" hơn nhiều, ông ta là trùm của thế giới chính trị-một Bố già đứng ngoài ánh sáng. Nhưng khác với Bố già vốn như một vở kịch Shakespeare bi tráng, Il divo lại mang hơi hướng của một vở opera theo phong cách baroque với nhiều cung bậc cảm xúc và màu sắc khác nhau, từ sự đẫm máu, tàn bạo của các vụ ám sát đến nét châm biếm hài hước của giới chính trị gia và cả sự hối day dứt tội lỗi của những phụ tá thân cận trong "triều đình" Andreotti. Màu sắc đa dạng của "vở opera" này còn được nhấn mạnh bằng phần nhạc được đạo diễn Sorrentino sử dụng rất tài tình, nhạc nền của Il divo đủ cả metal, opera, nhạc giao hưởng, nhạc trữ tình Ý và thậm chí là nhạc Rap, tất cả được lồng một cách rất tài tình vào những trường đoạn khác nhau giúp cho khán giả càng thêm choáng ngợp vì không khí hỗn loạn đến nghẹt thở của phim. Và trong cái không khí ấy, Toni Servillo đã thể hiện tuyệt vời hình ảnh của một "Divo" Giulio Andreotti luôn lạnh lùng, châm biếm và không bao giờ bộc lộ cảm xúc thật, cuộc sống chính trị nước Ý có thể hỗn loạn vì các vụ thanh trừng, mưu sát, nhưng Andreotti thì luôn đứng đó, vững chãi giống như cách đạo diễn sử dụng rất nhiều góc quay cận cảnh để mô tả nhân vật này trong phim.

Il divo theo tôi là một phim chính trị xuất sắc, đạo diễn không hề áp đặt quan điểm của mình trong phim, thay vào đó ông chỉ tập trung khắc họa nhiều bộ mặt khác nhau của cùng một con người để khán giả có thể tự rút ra kết luận cho câu hỏi: "Andreotti có tội hay vô tội?". Tuy nhiên với những người ít am hiểu chính trị và lịch sử hiện đại của Ý như tôi thì phim có một điểm trừ lớn, đó là nhịp phim quá nhanh cùng cách dựng phim phi tuyến tính khiến khán giả rất khó theo dõi, thậm chí là khó bắt kịp hết phần thoại (được các nhân vật nói cực nhanh) và các dòng chữ chú thích gắn trực tiếp trên phim, kết quả là phim trở thành hơi khó hiểu và tính giải trí của tác phẩm thì bị giảm đi rất nhiều. Có lẽ phải đọc thêm nữa thì mới có thể hiểu tại sao năm 2008 người ta lại đánh giá tác phẩm này không thua kém gì Gomorra, bộ phim được coi là Bố già thật sự của Ý.

lundi 26 octobre 2009

Up (2009), Public Enemies (2009), Mamma Mia! (2008), Haeundae (2009)


Phim này có tạo hình thằng cu Russell dễ thương không chịu được, dù sao đây cũng là phim đầu tiên của Pixar làm về người "bình thường" vì ngay cả The Incredibles cũng toàn siêu nhân phi phàm. Nhìn chung Up xem cũng được, độ giải trí cao, có 10 phút đầu rất cảm động, tạo hình nhân vật dễ thương, có thêm tí mắm muối triết lý.

Ngôi nhà bóng bay
...
và
...

Ảnh tôi chụp

Giờ chuyển sang phần "nhưng". Tuy có sáng tạo về ngôi nhà bóng bay nhưng "nhân vật" gây bất ngờ nhất này càng về cuối phim càng không được tận dụng, thay vào đó là những pha hành động "thót tim" như truy đuổi bên bờ vực thẳm, lơ lửng giữa không trung hoàn toàn chẳng khác gì Monster, Inc., đến phần kết cũng dạng dạng thế, xem lại thì hóa ra ông đạo diễn Monster, Inc. chính là đạo diễn của Up, và cũng phải nói thêm là Monster, Inc. là cái phim theo tôi có chất lượng thấp nhất của Pixar cho đến giờ (phim về quái vật mà tạo hình nhân vật quá thiếu độ sáng tạo), nên hậu quả là Up cũng đi theo lối mòn của công thức phim hoạt hình Mỹ kiểu cũ, tóm lại là nhạt. Bỏ qua phần triết lý được lồng vào phim rất thô (hình như Pixar vẫn chưa quen với việc phải làm một phim hoạt hình "cho cả người lớn" - WALL-E cũng đã mắc phải sự thô thiển này ở phần sau của nó) thì Up còn một "tội" nữa là sức sáng tạo quá tồi! Xem phim mà tôi chẳng có lấy một phút nào ngạc nhiên (trừ lúc ngôi nhà bóng bay bay lên giời - mà cái này lại bị spoil trong trailer rồi), xem mà chỉ nghĩ đến Laputa, Totoro của Miyazaki và Doraemon (cụ thể là Bí mật pho tượng thần khổng lồ). Ai từng xem Laputa hẳn sẽ thấy những cảnh phim trên không trung của Up là quá tầm thường, lặp đi lặp lại, ai từng đọc Bí mật pho tượng thần khổng lồ sẽ thấy Up quá tệ trong việc tận dụng chi tiết chó được huấn luyện cử xử như người. Tất nhiên, trẻ em xem phim này sẽ rất thích vì nó dễ thương, "cu-te", nhưng trí tưởng tượng của các em sẽ chẳng thể "Vút bay" (hình như đây là tên phim này ở Việt Nam) nhờ Up được. Một điểm trừ trừ nữa của Up là mô tả cảnh thiên nhiên quá tệ (giờ mới nhận ra là Pixar làm rất ít phim có bối cảnh thiên nhiên rộng lớn, quanh đi quẩn lại cũng chỉ mấy phim khai thác các nhân vật "cu-te"), thác nước Paradise Falls trong phim chỉ là một bản sao xấu xí của thác nước cao nhất thế giới - thác Thiên thần (Angel Falls) ở Venezuela, các cảnh còn lại thì không có chút nào gọi là đặc sắc, kể cả những cảnh về mặt đất hoặc không trung, trời mây.

Tóm lại tôi rất mừng vì phim này tệ, nó sẽ giúp ... nâng khả năng chiến thắng Oscar Phim hoạt hình cho Ponyo của Miyazaki. Tất nhiên bỏ tiền đi xem phim để giải trí thì Up hoàn toàn không phải một lựa chọn tồi.


Bạn Michael Mann đã không phụ công mình ... chê bai bạn ý hết lời. Tất nhiên Public Enemies không đến nỗi quá tồi, "kép" đẹp, có vài pha cliché mua nước mắt của chị em, vài pha cliché khác thể hiện sự "anh hùng mã thượng" của John Dillinger và Melvin Purvis (sao phim nào của Mann cungx chả bao giờ phân biệt nổi bên nào là antagonist, bên nào là protagonist, nhân vật kiểu gì cũng bị nửa mùa), các pha bắn súng cũng tương đối giống thật (100 triệu USD chả nhẽ bỏ ra chỉ để đốt). (chấm hết)

Nhược điểm đầu tiên của Public Enemies là việc Mann chọn quay phim bằng máy kĩ thuật số, nước phim kiểu kĩ thuật số khiến Public Enemies trông giống ... phim truyền hình hoặc các chương trình reality show (cộng thêm một vài pha quay shaking, out-of-focus loạn xị), làm giảm "ép phê" cần thiết của một phim tiểu sử kiểu này. Nhưng cái đó chỉ là chuyện nhỏ, nhược điểm lớn nhất của Public Enemies là chuyện ... không có cốt truyện: He robbed banks, he was chased by the police, he loved a woman, finally he died, euhhh... what's the point of this movie? Xem xong phim người ta chẳng đọng lại được bất cứ điều gì về Dillinger, về Purvis hay về Frechette chứ đừng nói là về ý nghĩa của cả bộ phim. Mà thực tế thì Mann vẫn luôn thế, trừ The Insider khá xuất sắc thì còn lại Mann chỉ mạnh về từng đoạn phim lẻ chứ khi ráp các đoạn đó lại với nhau phim bị rời rạc, nói nặng thì là vô nghĩa.

Tóm lại phim này tệ, người muốn xem phim sâu sắc cũng sẽ thất vọng mà người ưa phim hành động cũng sẽ thất vọng (vì các cảnh hành động trong phim không có gì đặc sắc hoặc hấp dẫn), người hâm mộ Depp/Bale/Cotillard còn thất vọng nữa vì ngôi sao của họ bị giao những vai nhợt nhạt, thiếu tình cách khiến họ dù có "quẫy" đến mấy thì nhân vật vẫn cứ chìm dần theo phim.


Phim này cả làng chê nhưng hóa ra hấp dẫn phết (hoặc có thể vì xem với bạn vui nên tôi thấy phim hay hơn). Xuất sắc nhất là phần ngoại cảnh của phim, biển xanh Egée của Hy Lạp chỉ có thể dùng hai từ: Tuyệt vời. Nội dung phim không có gì, diễn xuất của mọi người bình thường, hát cũng bình thường (hóa ra Meryl Streep hát không hay như mình nghĩ còn Pierce Brosnan thì hát "như bò rống" đúng như wikipedia mô tả) được cái lồng nhạc vào phim rất hay, nhạc của ABBA đã hay sẵn, biết cách lồng hợp lý vào phim cũng đủ nâng cao nhiều lần giá trị cho cả hai tác phẩm. Tiếc là phim không thấy xuất hiện Fernando, có lẽ phải chờ tới Mamma Mia! 2, lúc đó chắc sẽ có cả Fernando, cả Happy New Year.

Tóm lại phim này xem vui, rất thích hợp để xem cùng tập thể đông, vừa xem vừa tán chuyện, hát theo phim, không cần để ý tới chi tiết nội dung phim.


Haeundae hay Hải vân đài hóa ra do bác đạo diễn của Sex is Zero, thảo nào Ha Ji-won được đóng vai chính. Nhờ phim này mới biết Hàn Quốc có cái bãi biển đẹp như ... Rio de Janeiro của Brasil, đúng là Hàn Quốc có chính sách tuyên truyền quảng bá văn hóa, du lịch hiệu quả thật!

Tuy là phim về thảm họa sóng thần nhưng phải đến hơn nửa thời gian đầu Haeundae chỉ xoay quanh việc mô tả những số phận khác nhau ở Haeundae trước cơn địa chấn, còn "nhân vật chính" của phim - cơn sóng thần thì chỉ xuất hiện, khá mờ nhạt, ở phần cuối thông qua phần kỹ xảo khá đẹp, tuy vẫn chưa được "nuột" như phim thảm họa của Roland Emmerich. Và chính ra theo tôi thì phần đầu của phim ... mới là hay, vì tuy nó khá lê thê dài dòng nhưng lại đậm chất Hàn Quốc, diễn viên có đất diễn, quen vai diễn nên các pha cliché cùng những đoạn hài hước kiểu Hàn nhiều vô kể, xem rất dễ và gần gũi, đặc biệt với "fan phim sến Hàn" như tôi. Phần thảm họa của phim hóa ra lại còn nhạt hơn phần giới thiệu đầu, đương nhiên so với phim thảm họa của Emmerich thì quá khập khiễng, nhưng phần này của Haeundae thực sự không có gì đặc sắc, các pha hành động nghẹt thở quá bình thường trong khi những pha cliché vẫn tiếp tục bị lạm dụng, bất kể bối cảnh phim đã thay đổi, kết quả là khán giả xem những cảnh thảm họa mà còn thấy chậm rãi hơn những cảnh đánh nhau cãi nhau ở đầu phim. Cũng khó thể trách đạo diễn trong việc dùng các cảnh cliché như hy sinh cứu người, tưởng sống cuối cùng lại chết, tưởng chết cuối cùng lại sống,... để câu khách, vì thực ra ở dòng phim thảm họa này tôi chưa thấy (chưa biết thì đúng hơn) phim nào thoát khỏi dạng pure action hoặc melodrama để vươn lên thành epic-movie thực sự, nhưng "tận dụng" quá đáng như trong Haeundae thì quả thực không nên-hay đạo diễn sợ không đủ tiền để làm các pha kĩ xảo hành động cho ra trò nên đành phải dùng cliché để "lấp chỗ trống"?

So với một phim Hàn Quốc khác tôi xem gần đây là Speedy Scandal thì Haeundae không hay bằng (mặc dù so sánh thế này hơi khập khiễng vì hai phim khác thể loại), tuy nhiên nó cũng đáng cho fan phim Hàn xem vì phim ... rất Hàn, như đã nói ở trên. Hình như điện ảnh Hàn Quốc đang đi xuống về mặt phim dành cho khán giả đại chúng? Hai sở trường của phim Hàn là sến và hài lâu lắm rồi chưa thấy có phim nào gọi là tầm cỡ như thời đầu thập niên 2000 nữa.

samedi 24 octobre 2009

Låt den rätte komma in (2008)


Tên tiếng Anh của phim này được dịch nguyên nghĩa, Let the Right One In, không hiểu sao ở Pháp phim lại được dịch thành Morse (mật mã Morse). Låt den rätte komma in là một phim xuất sắc của cả ba thể loại, phim cho tuổi mới lớn, phim ma cà rồng (vampire) và phim tình cảm, xuất sắc thực sự chứ không phải "xuất sắc" theo kiểu chick flick như Twilight (ở Pháp cũng phát điên vì cái tiểu thuyết/phim này, thật không thể hiểu nổi?!). Låt den rätte komma in kể về tình bạn (và hơn tình bạn một chút) giữa Oskar, một cậu bé Thụy Điển tóc vàng 12 tuổi và Eli, một con ma cà rồng cũng 12 tuổi (nhưng đã từ lâu lắm rồi). (spoiled!) Trong truyện thì Eli được mô tả như một cậu bé bị "thiến" và dần biến thành con gái vì bị "thiến", còn trong phim thì Eli thực sự là một cô bé dù đạo diễn vẫn để ngỏ đôi chút hint về giới tính nhì nhằng của Eli thông qua mẩu đối thoại: "Oskar, I'm not a girl". Thật mừng vì đạo diễn đã "cho" Eli được làm bé gái ở ngay đầu phim, điều này giúp phim giảm được một tuyến tình tiết khó xử lý, qua đó trở nên đơn giản hơn với người xem và cũng giúp đạo diễn rảnh tay hơn để tập trung vào cốt truyện chính - tình cảm mới lớn của Oskar dành cho Eli. Đọc wiki thấy đạo diễn còn bỏ đi khá nhiều tuyến tình tiết khác như việc ông lão Håkan "đệ tử ruột" của Eli thực tế là một gã pédophile, dường như tiểu thuyết này thuộc dạng tiểu thuyết rùng rợn-ma cà rồng thực sự với nội dung dầy dặn, phức tạp, nhiều lớp nghĩa. May là đạo diễn của Låt den rätte komma in đã không tham lam giải quyết hết những nội dung đó mà chỉ tập trung vào một nội dung chính duy nhất, nhất nghệ tinh, nhất thân vinh có khác, phim đã rất thành công (end spoiled). Thường các bộ phim về ma cà rồng hay xoáy sâu vào cái dilemma của các con ma cà rồng, đó là muốn sống như một con người nhưng lại không thể sống như một con người - để tồn tại nó vẫn phải đi giết và hút máu người, vẫn phải lẩn tránh ánh sáng và đặc biệt, vẫn phải bất tử vì ai đã dính chút máu ma cà rồng vào người thì người đó sẽ forever young trừ phi bị kẻ khác giết chết. Eli là một con ma cà rồng như thế, cô bé sống cô độc giữa thế giới loài người ở cái xứ Thụy Điển quanh năm tuyết trắng, người thân thiết nhất của cô là lão già Håkan, một con ma cà rồng "già", hậu đậu tới mức không thể giết nổi nạn nhân để lấy máu về cho Eli, nhưng cũng lại thương yêu cô tới mức vẫn cố đi tìm nạn nhân mới bất chấp việc lão có thể bị lộ, bị bắt, bị giết. Nhưng rồi cuối cùng Håkan cũng chết, chết vì một "tai nạn nghề nghiệp", Eli thực sự trở thành con ma cà rồng cô độc trong bóng đêm, giữa màu trắng tĩnh lặng và lạnh lùng của mùa đông Thụy Điển.

Ở căn hộ chung cư bên cạnh của Eli, Oskar là một cậu bé hoàn toàn bình thường, cậu sống trong nửa thế giới loài người mà Eli không có cơ hội sống, nhưng Oskar cũng lại là một cậu bé cô độc. Bố mẹ cậu bé ly dị, và chẳng ai trong số họ gần gũi với cậu (dù đều rất yêu thương Oskar) để biết rằng con mình ở trường chỉ là một thằng bé nhút nhát, bị bạn bè bắt nạt bằng những biện pháp tàn nhẫn và phi trẻ em nhất. Vốn nhút nhát, Oskar chỉ có thể trút giận bằng những nhát dao đâm lên thân cây hoặc đâm vào bóng đêm khi cậu chỉ có một mình, và một trong những lần ấy cậu đã gặp người duy nhất, à không, sinh vật duy nhất, biết đồng cảm với mình, Eli.

Thực sự về mặt nội dung, Låt den rätte komma in cũng không hẳn đã ở tầm đột phá vượt bậc vì nó vẫn xoay quanh những dilemma thường thấy của những con ma cà rồng, cái chính là cách đạo diễn lồng ghép cái dilemma ấy vào tình cảm trong sáng, ngây thơ của cậu bé Oskar đã làm người xem rất xúc động (phim này chắc sẽ mua được khối nước mắt của chị em - một date movie cực kì hiệu nghiệm cho các anh em). Phim có rất nhiều mẩu đối thoại trong sáng, đầy tình cảm giữa Oskar và Eli: "When's your birthday?" - "I don't know" ... "Then you don't get any birthday presents, do you?" - "No" - "You can have it, if you want." hay "Do you want to be my girlfriend?" - "Oskar... I'm not a girl" - "But do you want to go steady or not?" ... "Do you want anything special when we go steady?" - "No" - "Then everything's the same, isn't it?" - "Yeah" - "Then we'll go steady." Xem đến đoạn này tự dưng tôi nhớ đến Chó hoang Đin-gô hay Câu chuyện mối tình đầu, cũng là những cô bé, cậu bé bước sang tuổi dậy thì với những cách bày tỏ tình cảm mà không người lớn nào có thể nghĩ ra như nằm phơi nắng để in dòng chữ thổ lộ lên giữa ngực. Tình cảm nồng ấm giữa một con người và một con ma cà rồng trong Låt den rätte komma in còn nổi bật hơn khi nó được đặt trong một bối cảnh lạnh lẽo phương Bắc, lạnh từ ngoài thiên nhiên tới vào trong sâu thẳm tâm hồn mỗi con người, thậm chí những con người lạnh lẽo, tàn nhẫn nhất của phim lại chính là những đứa bé học cùng trường, ngồi cùng lớp với Oskar, những đứa bé lạnh lùng, tàn bạo tới mức không một người xem nào có thể ngăn sự thỏa mãn khi thấy Oskar giáng cho thằng bé cùng lớp một gậy vào đầu. Thực sự phải rơi vào hoàn cảnh cô đơn mới cảm nhận được hết niềm vui, niềm hy vọng của Oskar khi tìm thấy một nơi chia sẻ, một chỗ dựa như Eli. Cậu "hỏi ý kiến" Eli xem cô bé có muốn làm bạn gái mình không, nhưng có lẽ Oskar coi Eli còn lớn hơn một người bạn gái đầu đời nhiều, vì chỉ có bên cạnh Eli (một con ma cà rồng), cậu mới không cảm thấy cô độc giữa thế giới loài người, mới cảm thấy ánh lên chút niềm vui mà lẽ ra một đứa trẻ ở cái tuổi 12 như cậu phải tràn đầy. Còn Eli, mấy trăm năm (có lẽ vậy) lăn lộn trong bóng đêm tìm máu tươi cùng bản năng sát thủ của một con ma cà rồng đã khiến cô bé luyện được cho mình khả năng che dấu tình cảm (Lina Leadersson diễn tuyệt vời!) phía sau gương mặt nhỏ nhắn, xinh xắn nhưng lạnh lùng (và tàn bạo khi cần thiết), ấy thế mà cô bé cũng không thể ngăn nổi mình ôm chặt lấy Oskar sau khi cậu cứu sống cô bé, chắc Eli cũng cảm nhận được rằng hai người, bất chấp cái xuất thân dị biệt từ hai nửa thế giới, là bạn đồng hành duy nhất của nhau trong cuộc đời. Tình cảm đẹp ấy giữa Oskar và Eli được nối dài bằng những cú gõ morse qua tường nhà và kết thúc bằng một nụ hôn lạ lùng đến khó tin khi Eli đặt môi mình lên môi Oskar khi miệng cô bé vẫn còn vương vãi máu từ vụ tấn công liền trước đó.

Mặc dù phim dành chủ yếu thời gian cho 2 nhân vật chính là Eli và Oskar nhưng tuyến nhân vật phụ của phim cũng có nhiều nhân vật rất đáng chú ý. Đó là lão già Håkan hậu đậu, bất tài nhưng ánh mắt luôn tràn đầy sự quan tâm, hy sinh đối với Eli, đó là Virginia, người phụ nữ nhỡ bị Eli cắn nhưng không chết để rồi phải đau khổ với quyết định sống hay chết trong thân xác một con ma cà rồng, đó còn là Lacke, gã đàn ông cục mịch thô thiển nhưng trong giờ phút khó khăn lại bộc lộ tình yêu chân thành sâu sắc với Virginia. Hình như các nhân vật của Låt den rätte komma in càng xấu xí, nhút nhát bên ngoài bao nhiêu thì tâm hồn họ càng đẹp đẽ, dũng cảm bấy nhiêu?

Nội dung đẹp của Låt den rätte komma in được thể hiện qua những hình ảnh cũng cực kì stylish. Bối cảnh tuyết trắng mênh mông cùng cách xử lý đặc biệt, gothic của phim khiến tôi nghĩ đến Lady Vengeance của Park Chan-Wook, nhưng nếu Lady Vengeance còn có chút gì đó hơi baroque thì gam màu của Låt den rätte komma in hoàn toàn u tối, lạnh lẽo theo kiểu gothic (chắc fan gothic rock sẽ rất thích phần hình ảnh của phim này). Tuy không phải phim Mỹ nhưng phần kĩ xảo của phim được làm xuất sắc, không phải xuất sắc về độ tinh xảo mà xuất sắc vì cách đạo diễn đưa các cảnh kĩ xảo vào phim, ít nhưng cực kì tự nhiên, chân thật và không làm nhạt đi một chút nào vẻ gần gũi với thực tế của toàn bộ tác phẩm. Yếu tố "tuyết trắng" cũng được đạo diễn sử dụng tài tình và làm toát lên được sự lạnh lẽo về thiên nhiên, về tình người ở xứ sở phương Bắc, theo tôi thì yếu tố tuyết trong Låt den rätte komma in có thể coi như sự kết hợp của yếu tố tuyết-tàn bạo, dữ dội trong Frozen River và yếu tố tuyết-nồng ấm, lãng mạn trong Eternal Sunshine of the Spotless Mind.

Với những phim mà ngay từ đầu đã ẩn chứa những mầm mống bi kịch thế này, người ta thường trông đợi một cái kết phim bi thương (hay bi tráng). Vậy mà tôi vẫn hoàn toàn bất ngờ với cách kết Låt den rätte komma in của đạo diễn (và tiểu thuyết?), một phần kết máu me nhưng sáng tạo tới khó tin (và đương nhiên, rất stylish). Phần kết của phim xứng đáng là mảnh ghép cuối cùng hoàn hảo cho Låt den rätte komma in -món quà điện ảnh đến từ xứ lạ.