some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

lundi 31 décembre 2018

City on Fire (1987, revised version)



A revision to honor the memory of Ringo Lam (December 8, 1955 - December 29, 2018). The original review.

Thập niên 1980 được coi là thời kỳ hoàng kim của điện ảnh Hồng Kông với rất nhiều tác phẩm điện ảnh và tên tuổi nghệ sĩ đáng nhớ của đủ mọi dòng phim từ hành động, kiếm hiệp, tâm lý xã hội, hài, kinh dị, và thậm chí là cả phim cấp III. Tuy thành công trên nhiều mặt và lôi cuốn sự chú ý của công chúng, đặc biệt là công chúng châu Á, nhưng điện ảnh xứ Cảng Thơm gây tiếng vang ở tầm quốc tế và gây ảnh hưởng tới giới làm phim Hollywood và thế giới chủ yếu qua dòng phim hành động, đặc biệt là thông qua các tác phẩm của bộ đôi đạo diễn-giám chế Từ Khắc và Ngô Vũ Sâm. Trẻ tuổi hơn Từ và Ngô, có sự nghiệp ngắn ngủi hơn hai bậc đàn anh, nhưng được coi là có dấu ấn không kém đối với dòng phim hành động Hồng Kông thập niên 1980 là Lâm Lĩnh Đông (Ringo Lam). Ảnh hưởng này của Lâm Lĩnh Đông có được phần nhiều là bộ phim Long hổ phong vân (City on Fire, 1987) – một trong những tác phẩm đáng nhớ nhất trong lịch sử điện ảnh Hồng Kông.

Long hổ phong vân là câu truyện về Cao Thu (Châu Nhuận Phát), một đặc cảnh chuyên được giao nhiệm vụ thâm nhập các băng đảng xã hội đen của Hồng Kông. Quá chán nản với công việc nội gián vừa hiểm nguy vừa đòi hỏi cách hành xử hai mặt, lại mong muốn được sớm lập gia đình với người bạn gái A Hồng (Ngô Gia Lệ), Cao Thu cố gắng tìm mọi cách từ bỏ công việc cảnh sát chìm này. Tuy nhiên, sau khi một cảnh sát chìm khác (Từ Cẩm Giang) bị bại lộ danh tính khi đang điều tra một vụ cướp trang sức và bị bọn tội phạm sát hại, thượng cấp của Cao là thanh tra Lưu (Tôn Việt) đã thuyết phục Cao Thu thực hiện phi vụ nội gián cuối cùng - luồn vào hàng ngũ một băng cướp để moi thông tin về kế hoạch đánh cướp của chúng nhờ đó giúp cảnh sát bắt được băng cướp đồ trang sức này ngay tại trận. Bằng kinh nghiệm lâu năm, cuối cùng Cao Thu cũng thâm nhập được băng đảng của A Hổ (Lý Tu Hiền). A Hổ khét tiếng là tay anh chị cộm cán, từng thẳng tay giết cảnh sát để yểm trợ đồng bọn. Nhưng càng nằm vùng trong băng đảng của gã, Cao Thu càng nhận ra rằng A Hổ là một tay giang hồ "thứ thật", trọng nghĩa khí và quan tâm chân thành đến đàn em - điều mà chính cấp trên của Cao Thu, những cảnh sát "thứ thật", lại không hề có đối với một điệp viên nằm vùng như Cao Thu. Thật ngược đời khi tuy là cảnh sát, Cao Thu lại chỉ tìm được duy nhất một người ủng hộ từ lực lượng của mình là thanh tra Lưu, một sĩ quan đã già và luôn bị lấn áp bởi tay thanh tra trẻ tuổi họ Trần (Trương Diệu Dương). Thêm vào đó, cuộc sống riêng tư của Cao cũng gặp rắc rối khi A Hồng bày tỏ rằng cô không thể chịu đựng được cuộc sống hai mặt của người bạn trai. Chiếm được lòng tin của A Hổ, dần tiến đến mục tiêu phá án khi băng cướp của gã chuẩn bị tiến hành một phi vụ lớn, nhưng Cao Thu dần nhận ra rằng anh đang đứng trước một lựa chọn sinh tử - hoặc quay lưng lại với tình nghĩa chân thành mà A Hổ dành cho mình để đưa băng cướp vào cái bẫy giăng sẵn của cảnh sát, hoặc theo A Hổ đến cùng để rồi vi phạm nhiệm vụ mà mình được giao. 

Long hổ phong vân sử dụng mô-típ nổi tiếng của phim hình sự Hồng Kông - cảnh sát làm nội gián phải đứng trước tình huống khó xử về mặt đạo nghĩa là làm thế nào để vừa hoàn thành nhiệm vụ để bảo toàn chữ “trung”, vừa đáp lại được tình huynh đệ sống chết có nhau của những “người anh em” trong băng đảng để bảo toàn chữ “nghĩa”. Nhắc tới mô-típ này, nhiều khán giả sẽ nghĩ ngay tới những tác phẩm nổi tiếng khác của điện ảnh Hồng Kông như Lạt thủ thần thám (Hard Boiled, 1992) của Ngô Vũ Sâm (trong đó Lương Triều Vỹ được giao vai cảnh sát nội gián tương tự vai Cao Thu của Châu Nhuận Phát) và Vô gián đạo (Infernal Affairs, 2002) của Lưu Vỹ Cường (bộ phim vẫn với Lương Triều Vỹ trong vai cảnh sát nội gián). Lưu Vỹ Cường chính là nhà quay phim của Lâm Lĩnh Đông trong Long hổ phong vân, có lẽ vì vậy “Vô gián đạo” có một số chi tiết kịch bản khá tương đồng với tác phẩm của đạo diễn họ Lâm. Tuy vậy, nếu so sánh với Vô gián đạo thì nhìn chung kịch bản của Long hổ phong vân chưa thể coi là mang tính đột phá với cấu trúc tuyến tính truyền thống của dòng phim hành động Hồng Kông và có không nhiều những nút thắt mở để thu hút khán giả. Để bù đắp cho điểm yếu về kịch bản, Lâm Lĩnh Đông đem tới cho Long hổ phong vân thế mạnh lớn nhất của ông - những cảnh quay hành động hoành tráng, mang tính biểu tượng cao, đồng thời luôn giữ được nhịp phim dồn dập, cuốn hút mà không cần nhờ tới những "kĩ xảo" về mặt kịch bản. Nhịp phim nhanh, được đẩy dần lên cho tới trường đoạn cao trào đã giúp Long hổ phong vân hoàn toàn lôi cuốn khán giả khi tác phẩm này tránh được những phút bi luỵ không đáng có mà một đạo diễn non tay hơn sẽ rất dễ mắc phải nếu tập trung quá nhiều vào việc khai thác quan hệ giữa Cao Thu và A Hồng.

Đóng góp đáng kể vào thành công của Long hổ phong vân là diễn xuất tưng tửng nhưng đầy cuốn hút của Châu Nhuận Phát, anh vừa tỏ ra mình là một tay xã hội đen hạng bét lêu lổng, cợt nhả, lại vừa thể hiện được rằng đằng sau cái mặt nạ "nham nhở" đó là một cảnh sát, đúng hơn là một con người biết trân trọng sứ mệnh được giao và cả nghĩa khí theo kiểu giang hồ. Gây ấn tượng không kém Châu là Lý Tu Hiền – diễn viên “chuyên trị” vai thanh tra cảnh sát nhưng vẫn chứng tỏ được tài năng trong vai tay trùm A Hổ tàn bạo nhưng trọng nghĩa khí. Cao Thu và A Hổ chính là trung tâm của những cảnh hành động mang tính hình tượng rất cao của “Long hổ phong vân” mà sau này nhiều đạo diễn Hollywood nổi tiếng đã gần như áp dụng y nguyên cho các bộ phim hành động của họ. Đó là cảnh đấu súng tay ba mà sau này Quentin Tarantino sử dụng cho Reservoir Dogs (1992), hay hình ảnh đạn xuyên qua vách tôn tạo những lỗ hổng kiểu “thiên hà” cho ánh sáng lọt vào mà sau này Luc Besson lặp lại trong tác phẩm đáng nhớ Léon: The Professional (1994). Tất nhiên, nhiều phim hành động kiểu truyền thống khác của Hồng Kông cũng cố gom hết các yếu tổ "ấn tượng" như vậy vào một tiếng rưỡi phim (thời lượng trung bình của hầu hết phim Hồng Kông) nhưng kết hợp một cách thành công, tránh được những lỗi ngớ ngẩn về quay phim, dựng phim thì có lẽ không ai bằng được Lâm Lĩnh Đông và Ngô Vũ Sâm. 

Kể từ năm 1992 trở lại đây, Quentin Tarantino luôn được coi là một trong những đạo diễn hàng đầu của Hollywood. Sự nghiệp dày dặn, được nhiều người nể phục này của Tarantino được mở đầu một cách vang dội bằng tác phẩm hành động kịch tính với cá tính rất riêng Reservoir Dogs. Nhưng với nhiều người hâm mộ điện ảnh Hồng Kông, Reservoir Dogs chẳng qua chỉ là một phiên bản “bắt chước” hay “làm lại của “Long hổ phong vân”. Quả thực hai tác phẩm này có một vài phân cảnh giống nhau, và nếu áp đặt một cách khiên cưỡng thì người ta cũng có thể nói rằng hình tượng cảnh sát nội gian Cao Thu cũng được Tarantino “xào” lại cho Reservoir Dogs. Tuy nhiên, cách thực hiện, ý tưởng phim của hai tác phẩm hoàn toàn khác nhau, và việc gom chung hai phim làm một như vậy không chỉ làm giảm giá trị cho phong cách làm phim nhiều thoại, nhiều nút thắt mở của Quentin Tarantino, mà cũng làm giảm giá trị của cả phong cách phim hành động rất riêng của Lâm Lĩnh Đông vốn tập trung vào nhịp phim và hành động hoành tráng.

Long hổ phong vân đem lại cho Lâm Lĩnh Đông thành công lớn về thương mại và nghệ thuật khi bộ phim vừa gây tiếng vang trên thị trường vừa đem lại cho Lâm giải thưởng đạo diễn xuất sắc nhất tại Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông năm 1987. Sau tác phẩm này, Lâm Lĩnh Đông còn cho ra đời nhiều bộ phim Phong vân (On Fire) khác như Giam ngục phong vân (Prison on Fire, 1987), Học giáo phong vân (School on Fire, 1988) và gần đây nhất là Trùng thiên hoả (Sky on Fire, 2016) nhưng không tác phẩm nào đạt tới được thành công của bộ phim gốc. Lâm Lĩnh Đông cũng từng thử sức ở Hollywood khi ông hợp tác với ngôi sao phim hành động người Bỉ Jean-Claude Van Damme trong các tác phẩm không mấy thành công là Maximum Risk (1996) và Replicant (2001). Ngay cả tác phẩm được coi là thành công bậc nhất của Lâm Lĩnh Đông cho tới trước khi ông qua đời vào ngày 29 tháng 12 năm 2018 vừa qua là bộ phim hành động “tinh tuyền” Cao độ giới bị (Full Alert, 1997) cũng chưa thể sánh ngang với Long hổ phong vân về mức độ lôi cuốn khán giả. Tuy nhiên có lẽ Lâm Lĩnh Đông cũng chẳng buồn, vì đời làm điện ảnh thường chỉ có một đỉnh cao duy nhất, và nếu cái đỉnh cao ấy là một tác phẩm “phải xem” đối với bất cứ ai yêu điện ảnh Hồng Kông, yêu phim hành động như Long hổ phong vân thì cũng đã là quá đủ để đạo diễn họ Lâm tự hào.  

=====

Roma (2018)


Mexico City của những năm đầu thập niên 1970 là một thành phố đầy ắp biến động và sự kiện, vui tươi sôi động có, mà bạo lực đẫm máu cũng rất nhiều. Tháng 6 năm 1970, người dân thủ đô Mexico City được chứng kiến một trong những trận chung kết đáng nhớ nhất trong lịch sử World Cup khi Brazil đánh bại Ý với tỉ số 4-1 để giành cúp vàng lần thứ ba. Chỉ đúng một năm sau đó, chỉ một ngày trước dịp lễ hội quan trọng của đất nước Mexico sùng đạo là Lễ Mình và Máu Thánh Chúa, cũng chính những người dân Mexico City ấy đã phải chứng kiến một trong những sự kiện đau buồn nhất trong lịch sử nước này khi quân đội và lực lượng bán vũ trang Mexico xả súng giết chết hơn 100 sinh viên diễu hành hoà bình đòi cải cách và dân chủ cho đất nước. 

Mexico City giai đoạn 1970, 1971 nóng bỏng, máu lửa là thế, nhưng ở khu phố cổ Roma trong trung tâm thành phố, có cảm giác dòng đời trong những ngôi nhà khá giả như của gia đình bác sĩ Antonio (Fernando Grediaga) vẫn luôn bình yên trong hạnh phúc. Tuy bác sĩ Antonio thường xuyên vắng nhà, nhưng bà Sofia vợ ông (Marina de Tavira) cũng chẳng có phút giây nào cô đơn trong căn hộ rộng lớn bởi bà còn phải chăm lo cho người mẹ già Teresa (Verónica García) và bốn đứa con nhỏ. Tất nhiên trong một gia đình trung lưu Mexico như của vợ chồng Antonio – Sofia, phần việc nặng nhọc nhất, từ quét dọn nhà cửa, nấu nướng, cho tới chăm lo cho từng miếng ăn giấc ngủ của bọn nhỏ là trách nhiệm của hai cô giúp việc Cleo (Yalitza Aparicio) và Adela (Nancy García). Xuất thân từ một vùng quê khô cằn của Mexico, Cleodegaria "Cleo" Gutiérrez nhỏ bé, hiền lành, chất phác, nhưng hết sức chăm chỉ, chu đáo và yêu thương bọn trẻ nhà Antonio-Sofia. Cuộc sống hàng ngày của Cleo và cô bạn Adela ở khu phố Roma từ sáng sớm đến tối khuya thường chỉ giới hạn trong bốn bức tường nhà Antonio, nhưng hai cô cũng có những phút vui vẻ riêng trong căn phòng nhỏ nơi gác mái, hoặc khi cả hai có những buổi hẹn hò cùng hai anh chàng Ramon (José Manuel Guerrero Mendoza) và Fermin (Jorge Antonio Guerrero). Có một người chủ giàu có, hiểu chuyện, có bốn đứa nhóc nghịch ngợm nhưng luôn miệng “con yêu Cleo”, có người bạn trai Fermin nghèo khó nhưng mạnh mẽ giỏi võ, tường chừng cuộc sống của Cleo sẽ trôi đi phẳng lặng như những mảnh đời khác trong khu phố cổ Roma. Nhưng rồi những sự kiện lịch sử đang làm xáo trộn cả thủ đô Mexico City rồi sẽ tác động đến từng số phận đang sinh sống nơi đây như Cleo theo cái cách chẳng ai ngờ, và phía dưới cái vẻ yên bình của Roma, rất nhiều những biến động, những đổi thay đã ẩn mình từ lâu để chờ ngày phá tan cái sự tĩnh lặng của khu phố cũ.

Alfonso Cuarón là đạo diễn người Mỹ Latinh đầu tiên được trao giải Oscar cho đạo diễn xuất sắc nhất với tác phẩm khoa học giả tưởng Gravity (2013). Nhưng trong suốt gần 20 năm qua ông được coi là một nghệ sĩ Hollywood nhiều hơn là một nghệ sĩ Mexico bởi kể từ Y Tu Mamá También (2001), thành quả sáng tạo của Cuarón giới thiệu đến công chúng như Harry Potter and the Prisoner of Azkaban (2004), Children of Men (2006), và Gravity đều là những bộ phim đậm chất Hollywood với kinh phí lớn, nhiều chất hành động-giả tưởng, và luôn khiến khán giả phải thán phục vì chất lượng quay phim và kĩ xảo điện ảnh. Bởi vậy mà tin Roma – tác phẩm thứ 8 trong sự nghiệp của Alfonso Cuarón được hãng Netflix mua quyền công chiếu đã nhanh chót thu hút sự chú ý của khán giả không chỉ vì đây là bộ phim đánh dấu sự trở lại của đạo diễn người Mexico sau năm năm vắng bóng kể từ thành công của Gravity, mà còn vì đây là một tác phẩm đen trắng thuần chất Mỹ Latinh về những con phố của thủ đô Mexico City nơi chính cậu bé Alfonso Cuarón đã lớn lên trong những năm đầu thập niên 1970.

Quả thực Roma là một bộ phim mang đậm dấu ấn cá nhân của Alfonso Cuarón. Bên cạnh vai trò đạo diễn của phim, nghệ sĩ 57 tuổi còn đảm nhiệm cả việc viết kịch bản, biên tập, sản xuất, và thậm chí là cả quay phim – vị trí quan trọng bậc nhất cho sự thành công của một bộ phim và cũng là vị trí mà Cuarón vốn thường tin tưởng trao cho người bạn của ông – nhà quay phim nổi tiếng Emmanuel “Chivo” Lubezki. Phần đề từ ở cuối Roma (“Bộ phim này ra đời để tưởng nhớ tới Libo”) phần nào giải thích cho sự “ôm đồm” của Alfonso Cuarón. Libo Rodríguez là người phụ nữ giúp việc trong gia đình Cuarón tại Mexico City trong suốt những năm thơ ấu của Alfonso Cuarón. Đạo diễn người Mexico lớn lên trong những câu chuyện kể của Libo về một Mexico nghèo khó và cổ xưa – những góc nhìn vốn rất xa lạ về Mexico với một cậu bé có bố mẹ thuộc tầng lớp trung lưu khá giả như Alfonso. Những câu chuyện kể năm xưa của Libo phần nào đó đã giúp nhen nhóm trong ông tình yêu với thiên nhiên và con người Mexico – một tình yêu chân thành được phản ánh một cách hết sức cảm động qua tuyệt phẩm Y Tu Mamá También. Và có lẽ cũng chính những câu chuyện năm xưa ấy đã tạo nguồn cảm hứng để Alfonso Cuarón cho ra đời Roma, bởi chính đạo diễn đã thừa nhận rằng hình ảnh của Cleo – nhân vật trung tâm của bộ phim được ông tạo nên từ chính cuộc đời của Libo năm xưa. 

Tuy là một tác phẩm điện ảnh làm về đất nước Mexico, lịch sử Mexico, và những mảnh đời bình dị của người dân Mexico, nhưng có cảm giác Roma của Alfonso Cuarón gợi nhắc rất nhiều đến những tác phẩm đậm chất nhân văn theo chủ nghĩa tân hiện thực của điện ảnh Ý những năm 1940, 1950. Với những tác phẩm xuất sắc như Ladri di biciclette (1948) của Vittorio De Sica hay Le notti di Cabiria (1957) của Federico Fellini, trào lưu tân hiện thực đã giúp công chúng nhận ra rằng không chỉ sự hào nhoáng, lộng lẫy của những tên tuổi lớn của Hollywood mới là điện ảnh, mà điện ảnh tinh tuý còn là những bộ phim đen trắng có kịch bản đầy ắp những câu thoại giản dị không văn hoa, sử dụng những bối cảnh chân thực bên ngoài trường quay, với các nhân vật do những diễn viên nghiệp dư hoặc kém tên tuổi thủ vai, và về muôn mặt khốn khó của những mảnh đời nghèo khổ. Phần lớn các tên tuổi lớn của dòng phim tân hiện thực Ý như De Sica, như Fellini, như Roberto Rossellini đã qua đời từ lâu, nhưng các tác phẩm lớn của dòng phim này vẫn để lại dấu ấn đậm nét không chỉ trong lòng khán giả, mà còn qua tinh thần nhân văn, sự quan tâm tới những số phận bình thường trong lòng xã hội hiện đại của các bộ phim theo chủ nghĩa hiện thực của Pháp, Ý, Iran, và cả Hollywood đương đại. Roma cũng là một tác phẩm như thế. Tuy khán giả vẫn có thể cảm nhận được những biến động chính trị, xã hội của đất nước Mexico giai đoạn những năm 1960, 1970 thông qua bộ phim, nhưng Roma trước tiên và trên hết vẫn là một bộ phim về cuộc sống và suy tư của Cleo và những người xung quanh cô như Sofia, như Fermin. Dù lớn lên với những câu chuyện kể của Libo – nguồn cảm hứng chính của Cleo, nhưng Alfonso Cuarón trao cho cô nhân vật chính của ông rất ít thoại. Xuyên suốt phần lớn thời gian của Roma, người xem chỉ có thể đoán biết suy nghĩ, tình cảm của Cleo thông qua sự tỉ mỉ, tận tâm khi chăm sóc lũ trẻ nhà Antonio-Sofia của cô, hay qua phản ứng có phần bị động của Cleo trước những nhân vật mạnh mẽ hơn rất nhiều về mặt cảm xúc như Fermin, như Sofia, và kể cả người bạn hầu gái Adela. Vì lý do này mà một số nhà phê bình đã chỉ trích Cuarón khi cho rằng dù luôn nhắc tới tình cảm gần gũi của Libo dành cho ông nhưng đạo diễn người Mexico lại tạo ra một nhân vật chính hết sức “một chiều”, chỉ biết “nghe lời” những nhân vật ở tầng lớp trên mà thiếu đi sức mạnh ý chí của bản thân. Qủa thực sau khi xem xong Roma chắc chắn nhiều khán giả vẫn sẽ thấy Cleo mà một nhân vật bí ẩn vì cô gần như không bao giờ nói về gia cảnh, về suy nghĩ, về ước mơ của mình. Sự kiệm lời của Cleo và nhịp phim tương đối chậm, thiếu vắng cảm xúc đặc biệt là ở nửa đầu của Roma cũng phần nào đó làm bộ phim trở nên khó xem với một số khán giả. Tuy nhiên nhịp phim chậm rãi cùng nhiều khung hình được Alfonso Cuarón lặp đi lặp lại ở phần đầu của phim cũng lại là cơ hội để khán giả chú ý tới những chi tiết nhỏ, những câu nói tưởng chừng bâng quơ nhưng lại bộc lộ rất nhiều về con người của Cleo. Và đến nửa cuối của phim, khi nhịp phim bắt đầu được đẩy dần lên tới cực điểm với điểm nhấn là những sự kiện xoay quanh vụ thảm sát ngày Lễ Mình và Máu Thánh Chúa và chuyến du hành tìm về với biển cả thì những chi tiết tưởng chừng rời rạc ở phần đầu phim ấy sẽ được xâu chuỗi để tạo nên một bức tranh tổng thể đầy cảm xúc và hết mực nhân văn về số phận của Cleo – cô gái hiền lành, nghèo khổ, cam chịu nhưng vẫn luôn khao khát có hạnh phúc riêng của riêng mình. Có thể Cleo không phải là một nhân vật “anh hùng” đại diện cho ý chí vươn lên của tầng lớp lao động nghèo trong xã hội Mexico. Có thể sự kiệm lời của Cleo khiến khán giả không cảm thấy thoả mãn với những câu thoại mang tính tuyên ngôn. Nhưng câu truyện của Cleo trong Roma vì thế mới là câu truyện đầy tính hiện thực về một cá nhân bình thường của xã hội, một cá nhân với số phận riêng vừa mang tính đại diện cho sự khó khăn của người dân quê nghèo xứ Mexico, vừa dễ dàng đem tới cho khán giả một sự đồng cảm, gần gũi mà mô-típ nhân vật “anh hùng” khó lòng làm được.

Tuy dành được rất nhiều vinh quang với Gravity và được đánh giá rất cao về mặt kỹ thuật dàn dựng điện ảnh với Children of Men, nhiều nhà phê bình và người hâm mộ lại cho rằng tác phẩm xuất sắc nhất của Alfonso Cuarón cho đến trước Roma lại là bộ phim “du hành” Y Tu Mamá También. Tác phẩm này được đánh giá rất cao không chỉ vì câu truyện hết sức cảm động về cuộc hành trình về với biển để tìm lại bản thân, để vượt qua những mông lung tuổi đầu đời của hai cậu thanh niên tuổi mới lớn, mà còn vì bức tranh tuyệt đẹp về đất nước Mexico của rất nhiều sự tương phản. Bởi thế bên cạnh người phụ nữ tràn đầy tình yêu cuộc sống Luisa Cortes, những cảnh quay góc rộng đặc tả thiên nhiên và xã hội Mexico cũng có thể được coi là một nhân vật chính của Y Tu Mamá También. Với Roma, Alfonso Cuarón lại một lần nữa đem tới cho người xem không chỉ câu truyện đầy chất nhân văn về những nhân vật đáng nhớ như Cleo, như Sofia, mà khán giả, đặc biệt là những khán giả nước ngoài chưa một lần đặt chân tới Mexico, sẽ còn được thết đãi một bữa tiệc thị giác tuyệt vời về thiên nhiên và xã hội của đất nước Trung Mỹ trong những năm tháng nhiều biến động. Một trong những điều đáng tiếc nhất liên quan tới tác phẩm mới nhất của đạo diễn người Mexico là việc bản quyền bộ phim đã được kênh phim trực tuyến Netflix mua lại – đồng nghĩa với việc sẽ có rất ít khán giả được thưởng thức những hình ảnh đẹp đẽ của bộ phim trên màn ảnh lớn – điều kiện xem phim tối ưu nhất cho một tác phẩm đẹp như “Roma”. Tất nhiên cái cách người xem thưởng thức điện ảnh và truyền hình đang ngày một thay đổi do sự phát triển nhanh chóng của những kênh phim trực tuyến như Netflix, nhưng có lẽ khó gì có thể thay đổi được cảm giác choáng ngợp đến cảm động khi chứng kiến những góc quay rộng đặc tả những đường phố đông đúc, náo nhiệt của thủ đô Mexico City, hay những khu nhà lụp xụp, lầy lội ở các vùng quê Mexico qua màn ảnh lớn của những rạp phim điện ảnh truyền thống.

Là một trong những khu phố cổ của Mexico City, Roma và những cư dân sinh sống nơi đây phần nào đó có thể coi là một bức tranh thu nhỏ của xã hội thủ đô đất nước Mexico City. Và Roma của Alfonso Cuarón chính là bức tranh thu nhỏ ấy với bối cảnh cụ thể là những ngày tháng đầy biến động của Mexico giai đoạn 1970-1971. Trên bức tranh ấy người xem có thể tìm thấy rất nhiều những mảng tối u ám, những nỗi buồn đến thắt ruột xảy đến không chỉ với những người dân nghèo mà còn cả với những cá nhân của tầng lớp trung lưu. Nhưng cũng trên bức tranh ấy, đặc biệt là thông qua những khung hình cuối cùng của Roma, người xem cũng lại tìm thấy được rất nhiều hy vọng, hy vọng của những con người nhỏ bé chỉ mong muốn có một cuộc no đủ, hạnh phúc bên những người thân yêu nhất của họ. Có thể đó không hẳn là một bức tranh mang tính đại diện cho lịch sử, đất nước, hay con người Mexico, nhất là vì Roma đối với Alfonso Cuarón là một bộ phim mang tính cá nhân, một tác phẩm được làm ra để đạo diễn người Mexico có thể đưa đến cho khán giả một Mexico, một Libo trong ký ức của cậu bé Alfonso năm nào. Nhưng đó vẫn là một bức tranh vừa giàu chất hiện thực, vừa đậm tính nhân văn mà bất cứ ai sở hữu một tài khoản Netflix cũng nên dành thời gian để thưởng thức. 

======

lundi 10 décembre 2018

BlacKkKlansman (2018)


Trong lịch sử nước Mỹ, cuộc nội chiến đẫm máu từ năm 1861 đến 1865 được coi là một trong những cột mốc đáng nhớ nhất trong nỗ lực bãi bỏ chế độ nô lệ, đặc biệt là ở các bang miền Nam nơi nhiều người da đen phải sống suốt đời phục vụ các ông chủ da trắng trong các dinh thự xa hoa hay các cánh đồng bông vải bao la mà không có nổi lấy một phút tự do, bình đẳng. Với thất bại của các bang miền Nam trong cuộc nội chiến, tưởng như nạn phân biệt chủng tộc, đặc biệt là đối với người da đen và các chủng tộc ít người như dân Do Thái, dân châu Á, sẽ theo đó mà biến mất. Nhưng non sông dễ đổi mà bản tính thì khó dời, những kẻ mang danh nước Mỹ đòi phân biệt đối xử với người da đen lại tiếp tục tập hợp nhau lại dưới trướng của của Ku Klux Klan – một hội kín nửa mang tính tôn giáo, nửa mang tính chính trị với mục đích tối thượng lấy cảm hứng từ bộ phim The Birth of a Nation (1915) của D. W. Griffith là biến nước Mỹ trở thành một quốc gia riêng của người da trắng theo đạo Thiên chúa – nơi không có chỗ cho những nhóm người khác biệt về sắc da, tôn giáo. Chính Ku Klux Klan, hay đảng KKK, cùng những bộ óc bị mê muội bởi thuyết ưu sinh về vị thế “vượt trội” của người da trắng đã kích động và trực tiếp gây ra vô số tội ác chống lại người da đen ở nước Mỹ xuyên suốt thế kỷ 20, từ những vụ hành hình tập thể, công khai với mức độ man rợ khó có thể tin nổi trong một xã hội cận và hiện đại như vụ tra tấn và thiêu chết cậu thanh niên da đen mới có 17 tuổi Jesse Washington tại Waco, Texas năm 1916 trước sự chứng kiến của hơn mười nghìn người, những vụ xử oan các bị cáo da đen bởi bồi thẩm đoàn chỉ toàn người da trắng, hay nạn cảnh sát phân biệt đối xử với người da đen vốn vẫn còn tồn tại cho tới tận ngày nay.

Một trong những trang sử của cuộc chiến chống lại nạn phân biệt chủng tộc đối với người da đen ở Mỹ, cũng như cách thức KKK tìm cách tồn tại bằng cách thu hút đảng viên mới thông qua những thông điệp giả tạo, dối trá được kể lại trong tác phẩm mới nhất của đạo diễn Spike Lee – bộ phim BlacKkKlansman. BlacKkKlansman kể lại câu truyện có thật về cuộc thâm nhập đảng KKK trong những năm đầu thập niên 1970 của Ron Stallworth (John David Washington) – sĩ quan cảnh sát da đen đầu tiên của thành phố Colorado Springs,  bang Colorado. Thông minh, cương quyết, yêu nghề, Stallworth có gần như đầy đủ mọi điều kiện để trở thành một thanh tra cảnh sát thành công. Nhưng màu da ngăm đen khoẻ khoắn cùng kiểu tóc xù “afro” của Stallworth không chỉ là cái gai trong mắt những tay cảnh sát biến chất như Andy Landers (Fred Weller) mà còn khiến những viên lãnh đạo sở cảnh sát ở Colorado Springs như Cảnh sát trưởng Bridges (Robert John Burke) e ngại tới mức công việc đầu tiên của Stallworth ở nơi làm việc mơ ước lại là cái ghế trông phòng lưu trữ. 

Cơ hội chứng tỏ tài năng chỉ đến khi Ron Stallworth được giao trà trộn theo dõi cuộc họp mặt của các sinh viên da đen ở Colorado với thủ lĩnh đấu tranh đòi quyền bình đẳng Kwame Ture (Corey Hawkins). Không chỉ có thêm cái nhìn rõ ràng hơn về những căng thẳng sắc tộc ở nước Mỹ và khao khát đòi bình quyền, kể cả bằng bạo lực, của những nhà hoạt động da đen thông qua bài nói chuyện của Ture, phi vụ trà trộn bất đắc dĩ này còn tạo cho Stallworth cơ hội làm quen với cô sinh viên xinh đẹp nhưng đầy nhiệt huyết chính trị Patrice Dumas (Patrice Dumas), và giúp anh có đủ sự tin tưởng từ Cảnh sát trưởng Bridges để được chuyển sang Tổ tình báo để làm việc cùng hai người đồng nghiệp vui tính Flip Zimmerman (Adam Driver) và Jimmy Creek (Michael Buscemi). 

Tại vị trí mới, Stallworth nảy ra ý tưởng thâm nhập chi nhánh của đảng KKK ở Colorado Springs để nắm rõ hơn âm mưu và thủ đoạn của tổ chức vốn chuyên kích động bạo lực và hận thù này. Tất nhiên với bề ngoài của mình thì Ron Stallworth không thể đích thân đăng ký tham gia các hoạt động của KKK, anh chỉ có thể đứng sau chiếc điện thoại để đánh lừa các đảng viên KKK bằng chất giọng đặc sệt “Mỹ trắng”. Vào vai “Ron Stallworth da trắng” trực tiếp đi vào hang ổ của những kẻ-ghét-người-da-đen là Flip Zimmerman – viên thanh tra vốn ban đầu cũng không hào hứng lắm với vở kịch do Stallworth đạo diễn bởi anh có gốc Do Thái – nhóm người bị lũ KKK căm ghét không kém gì dân da đen. Nhưng sự dũng cảm, và tinh quái của cặp “Stallworth da đen” và “Stallworth da trắng” rồi cũng dần chinh phục được lòng tin của các đảng viên KKK ở Colorado Springs như gã trưởng nhóm Walter Breachway (Ryan Eggold), cặp vợ chồng KKK với giấc mơ tiêu diệt người da đen Felix và Connie Kendrickson (Jasper Pääkkönen và Ashlie Atkinson) để rồi cái tên Ron Stallworth thậm chí đến tai của David Duke (Topher Grace) – Đảng trưởng KKK toàn nước Mỹ. Có cơ hội tiếp xúc với Breachway, với Kendrickson, với Duke, Stallworth và Zimmerman dần nhận ra rằng KKK không chỉ có những âm mưu ngắn hạn khủng bố người da đen về mặt thể xác và tinh thần, mà còn hướng tới mục tiêu dài hạn là khôi phục vị thế trong xã hội Mỹ của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và thuyết thượng đẳng da trắng từ đống tro tàn bởi ngọn lửa của cuộc nội chiến và phong trào đấu tranh đòi quyền bình đẳng của Mục sư Martin Luther King và các nhà hoạt động xã hội Mỹ trong thập niên 1960. 

Cuối những năm 1980, đầu những năm 1990 Spike Lee từng được coi là một trong những đạo diễn xuất sắc nhất trong đội ngũ các nhà làm phim da màu của Hollywood với các bộ phim xuất sắc đậm chất văn hoá của người Mỹ gốc Phi và tinh thần đấu tranh bình quyền như Do the Right Thing (1989) hay Malcolm X (1992). Nhưng suốt trong hai thập niên sau đó, Spike Lee có một sự nghiệp không thực sự ấn tượng khi ông chỉ cho ra đời được đôi ba tác phẩm đáng nhớ như 25th Hour (2002) hay Inside Man (2006) và không ít thất bại cả về mặt doanh thu và chất lượng nghệ thuật như Oldboy (2013). Với việc phong trào đấu tranh đòi quyền bình đẳng cho người da đen quay trở lại như một đề tài nóng bỏng của nước Mỹ và Hollywood trong vòng 3, 4 năm trở lại đây với phong trào Black Lives Matter và sự chống đối của một bộ phận dân chúng Mỹ đối với tổng thống mới đắc cử Donald Trump, nhiều người đã hy vọng rằng Spike Lee có thể “nhớ nghề” để quay về thể hiện khả năng thực sự với một bộ phim nói lên tiếng nói của những người da màu như ông – những người Mỹ gốc Phi. BlacKkKlansman chính là câu trả lời mạnh mẽ của Spike Lee cho sự mong đợi đó từ phía công chúng. Dựa trên cuốn tự truyện cùng tên của Ron Stallworth – một viên cảnh sát có thật, với cuộc thâm nhập có thật vào hang ổ của đảng KKK của những kẻ không mong muốn gì hơn là cái chết của những người Mỹ gốc Phi như ông, BlacKkKlansman vừa là câu truyện chân thực về một giai đoạn có thật trong lịch sử nước Mỹ khi người da đen còn đang phải đấu tranh đòi lấy những quyền cơ bản nhất, nhưng cũng lại mang hơi thở thời đại của Black Lives Matter, của phong trào phản đối tổng thống Donald Trump để duy trì sự bình đẳng về tôn giáo, về sắc tộc trong lòng nước Mỹ hiện đại. Có lẽ khi mới đọc qua phần tóm tắt cốt truyện, hay xem các đoạn phim quảng cáo cho BlacKkKlansman nhiều người sẽ nghĩ rằng Spike Lee sẽ khai thác tối đa sự “trớ trêu” của tình huống viên thanh tra da đen Stallworth tìm cách xâm nhập vào tổ chức của những kẻ da trắng-ghét-dân-da-đen để biến bộ phim mới nhất của ông trở thành một tác phẩm hình sự-hài được thêm nếm gia vị chính trị và xã hội. Quả thực BlacKkKlansman có nhiều giờ phút hài hước, đặc biệt là trong các phân đoạn về sự tương tác giữa hai viên thanh tra Ron Stallworth và Flip Zimmerman, hay giữa Flip và gã đảng viên KKK phục phịch ngớ ngẩn Ivanhoe (Paul Walter Hauser). Nhưng những phút hài hước, hay thậm chí là chất hình sự của phi vụ thâm nhập trong BlacKkKlansman chỉ là phần gia vị bổ sung thêm vào nội dung chủ đạo của bộ phim – tệ phân biệt chủng tộc ăn sâu bám rễ trong lòng xã hội nước Mỹ, và sự nguy hại của những tư tưởng phân biệt chủng tộc ngu ngốc nhưng đầy lôi cuốn với một nhóm người Mỹ của đảng KKK. Không chỉ bằng lòng với các hình ảnh ẩn dụ, các câu truyện ngầm chỉ về tình cảnh của người da đen trong một xã hội Mỹ còn nhiều bất công, Spike Lee còn tăng tối đa thời lượng cho các đoạn đối thoại nhắc đi nhắc lại đối với khán giả một cách trực tiếp về khối u nhức nhối này, và về sự mâu thuẫn giữa giới chức, giữa những người có quyền lực trong tay nhưng lại sợ trách nhiêm như Cảnh sát trưởng Bridges và những nhà hoạt động không quản ngại vất vả gian lao nhưng trong tay lại chẳng có lấy một gram thực quyền như Patricia Dumas. Tiến thêm một bước nữa, với sự cộng tác của nhà quay phim Chayse Irvin, Spike Lee còn sử dụng rất nhiều cảnh quay cận mặt mang đầy tính sắp đặt để nhấn mạnh hơn nữa thông điệp của bộ phim, để cảnh tỉnh khán giả về nạn phân biệt chủng tộc vẫn còn lan tràn ngay trong lòng nước Mỹ hiện đại, và từ đó kêu gọi họ suy ngẫm về tác hại lâu dài của KKK đối với xã hội nước Mỹ. Không suy ngẫm sao được khi BlacKkKlansman có một đoạn kết khác tông nhưng mang thông điệp chính trị mạnh mẽ hiếm có trong số các bộ phim điện ảnh của Hollywood năm 2018. 

Thành công tuyệt đối về mặt thông điệp chính trị và xã hội, nhưng xét trên khía cạnh một tác phẩm điện ảnh – bởi xét cho cùng BlacKkKlansman vẫn là một bộ phim điện ảnh với kịch bản do chính Spike Lee chắp bút cùng ba nhà biên kịch khác – thì tác phẩm mới nhất của đạo diễn người New York chưa hẳn đã vượt trội. Việc cán cân kịch bản nghiêng hẳn về khía cạnh chính trị - xã hội khiến BlacKkKlansman bỏ lỡ cơ hội trở thành một tác phẩm hấp dẫn trong dòng hình sự về “điệp viên tay trong” như The Departed (2006) của Martin Scorsese, và lôi cuốn khán giả nhờ chất hài châm biếm về đề tài phân biệt chủng tộc như Django Unchained (2012) của Quentin Tarantino. Tất nhiên, lựa chọn của Spike Lee – một đạo diễn luôn đề cao tinh thần “nhập thế” là hoàn toàn có thể hiểu được khi xét tới bối cảnh chính trị đầy nóng bỏng của nước Mỹ ở thời điểm hiện tại, nhưng việc bỏ lỡ bối cảnh đắt giá của BlacKkKlansman vốn cực kì thuận lợi cho dòng phim hình sự-hài đã biến tác phẩm mới nhất của Spike Lee mất đi phần nào sự hấp dẫn với một kịch bản không đồng đều về nhịp phim, một cốt truyện bị ngắt quãng và thiếu cao trào, và nhiều chi tiết không được khai thác một cách triệt để. Việc xây dựng nhân vật trong phim vì thế mà cũng bị ảnh hưởng phần nào, bởi nếu so với các bộ phim xuất sắc cùng đề tài xung đột sắc tộc như 12 Years a Slave (2013) của Steve McQueen hay Loving (2016) của Jeff Nichols thì BlacKkKlansman không thực sự có nhiều nhân vật đáng nhớ, bất chấp diễn xuất không tồi của John David Washington và đặc biệt là Adam Driver trong vai bộ đôi “Stallworth da đen” và “Stallworth da trắng”. Đây là một khía cạnh tương đối đáng tiếc của BlacKkKlansman không chỉ bởi cả Washington và Driver đều là những diễn viên tài năng, mà còn vì mảnh đất màu mỡ cho những nhân vật đáng nhớ đối với khán giả của BlacKkKlansman – đó là những xung đột về mặt tư tưởng, tinh thần, về định nghĩa thế nào là một người có ích của các nhân vật bị đặt trong bối cảnh đầy mâu thuẫn của một người da đen bị coi là đại diện cho quyền lực của người da trắng, của một người Do Thái phải làm bạn với những kẻ luôn phủ nhận nạn diệt chủng người Do Thái trong Thế chiến thứ hai là câu truyện không có thật. 

Trong một giai đoạn đầy biến động của xã hội nước Mỹ, khi bóng ma của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, của tư tưởng da trắng thượng đẳng từ những nhóm chuyên kích động hận thù bạo lực như KKK đang có nguy cơ quay trở lại ám ảnh nước Mỹ, thì những bộ phim với thông điệp chính trị mạnh mẽ như BlacKkKlansman là hết sức cần thiết. Tất nhiên, người xem sẽ còn cảm thấy hào hứng hơn nếu tác phẩm mới nhất của đạo diễn Spike Lee là một bộ phim xuất sắc của dòng phim hình sự-hài, nhưng đôi khi một cốc nước lạnh với không nhiều hương vị giải trí như BlacKkKlansman lại có hiệu quả hơn trong việc nhắc nhớ mọi người về việc dù Nội chiến Mỹ đã kết thúc cách đây hơn 150 năm, cuộc chiến chống tệ phân biệt chủng tộc vẫn còn hết sức nóng bỏng, và bình quyền cho những người da đen, cho những nhóm người thiểu số về sắc tộc, về tôn giáo ở nước Mỹ vẫn còn cần sự chung tay của tất cả chúng ta. 

vendredi 7 décembre 2018

Widows (2018)


Chicago là một trong những thành phố giàu có và năng động nhất của nước Mỹ với vô số các toà nhà chọc trời và cơ hội làm giàu rộng mở ở mọi nơi, mọi lúc. Nhưng cũng chính tại Chicago, khoảng cách giàu-nghèo ngày một lớn, cùng nạn bạo lực đến từ các băng đảng hoành hành bởi luật quản lý súng lỏng lẻo đã biến cuộc sống của nhiều người dân, đặc biệt là những người da đen nghèo ở các khu phố ngoại ô Chicago trở thành cuộc vận lộn mưu sinh không lấy gì làm dễ chịu. Nếu so sánh với những mảnh đời khốn khó đó của các cư dân người Mỹ gốc Phi của Chicago thì rõ ràng Veronica Rawlings (Viola Davis) có thể được coi là một phụ nữ may mắn. Có một công việc chẳng thể đem lại nhiều tiền bạc – đại diện cho nghiệp đoàn giáo viên nhưng Veronica lại tận hưởng một cảnh đời giàu sang trong căn hộ cao cấp ngay trung tâm Chicago cùng chú cún cưng và đặc biệt là người chồng Harry (Liam Neeson) vốn luôn hết mực yêu thương, chiều chuộng vợ.

Nhưng Veronica chẳng thể ngờ được rằng cuộc sống sung sướng của bà lại bắt nguồn từ những đồng tiền bẩn thỉu từ các vụ trộm cướp của Harry. Là người đàn ông hào hoa, lịch lãm trước mặt vợ nhưng trong bóng đêm của thành phố Chicago, Harry lại là tay tướng cướp quỷ quyệt chịu trách nhiệm vạch ra đường đi nước bước cho ba tay đàn em là Carlos (Manuel Garcia-Rulfo), Florek Gunner (Jon Bernthal), và Jimmy Nunn (Coburn Goss). Nhưng đi đêm lắm rồi cũng có ngày gặp ma, trong một phi vụ ăn trộm 2 triệu đô la tiền vận động tranh cử của tay trùm băng đảng chuyển hướng sang làm chính trị Jamal Manning (Brian Tyree Henry), chiếc xe chở bộ tứ Harry, Carlos, Florek, và Jimmy bị nổ tung sau cuộc truy đuổi và đấu súng quyết liệt với cảnh sát Chicago. Vốn trước đó đã mất đi người con trai Marcus vì bị cảnh sát bắn nhầm trên đường, chỉ trong khoảnh khắc Veronica Rawlings lại mất đi nốt người chồng yêu thương và trở thành người goá phụ cô độc trong căn hộ xa hoa với chú chó trắng.

Sau cái đêm định mệnh cướp đi sinh mạng của băng cướp Harry, không chỉ có mình Veronica trở thành goá phụ. Carlos ra đi không chỉ bắt cô vợ người gốc Mỹ Latinh Linda Perelli (Michelle Rodriguez) rơi vào cảnh một mình nuôi con mà còn buộc Linda phải gánh lấy món nợ đến từ thói máu mê cờ bạc của chồng. Tuy là gã vũ phu thường động chân tay với vợ nhưng cái chết của Florek vẫn làm cô vợ trẻ Alice (Elizabeth Debicki) trở nên hụt hẫng vì không nghề nghiệp, không kinh nghiệm, không tương lai, và cũng chẳng có nổi một chỗ dựa tử tế khi mà bà mẹ người gốc Ba Lan của cô (Jacki Weaver) chỉ luôn toan tính mang thân xác của chính con gái mình ra để kiếm tiền. Và cũng như Linda, vợ của Jimmy là Amanda (Carrie Coon) còn chẳng có nổi thời gian để khóc thương cho chồng khi mà đứa con mới sinh của hai người vẫn còn đang luôn miệng đòi vòng tay của mẹ. 

Không phải đối mặt với cuộc sống khó khăn, cũng không rơi vào cảnh con cái nheo nhóc, nhưng cái chết của Harry lại đem đến cho Veronica một rắc rối chết người khác. Đó là khoản tiền 2 triệu đô Harry ăn cắp từ tay Jamal và gã em trai Jatemme (Daniel Kaluuya) – hai tay trùm băng đảng người da đen đang ấp ủ tham vọng lật đổ “đế chế” chính trị của bố con Tom (Robert Duvall) và Jack Mulligan (Colin Farrell) thông qua cuộc bầu cử hội đồng khu vực dân cư nghèo của Chicago. Ở xứ sở dân chủ tự do như nước Mỹ, ứng cử viên nào có càng nhiều tiền để quảng cáo vận động tranh cử thì càng có cơ hội thắng cử lớn, bởi vậy khi đối đầu với một gia đình người da trắng có truyền thống trong chính quyền, lại nổi tiếng là nhiều tiền “lại quả” từ các dự án xây dựng ở khu vực, thì món tiền 2 triệu đô là cả cơ hội đổi đời của Jamal và Jatemme. Sau vụ nổ cướp đi sinh mạng của Harry và biến chỗ tiền ăn cắp trở thành tro bụi, tất nhiên Jamal và Jatemme gán trách nhiệm lấy lại tiền cho Veronica. Hai gã cho bà đúng 1 tháng để trả lại chỗ tiền vận động tranh cử - một nhiệm vụ bất khả đối với một phụ nữ chưa bao giờ phải đối diện với khó khăn và cả đời sống ngay thẳng với nghề đại diện nghiệp đoàn giáo viên như Veronica. Tình cảnh trớ trêu này buộc Veronica phải tính đến giải pháp cuối cùng – “tiếp bước” Harry tiến hành một phi vụ trộm để có tiền trả nợ đời. Hỗ trợ cho Veronica trong vụ trộm “thế kỷ” này không ngoài ai khác mà chính là hai bà goá phụ Linda và Alice, cùng cô thợ cắt tóc kiêm vú em Belle (Cynthia Erivo). 

Bộ phim về băng trộm goá phụ Widows là tác phẩm mới nhất của đạo diễn người Anh Steve McQueen dựa trên loạt phim truyền hình cùng tên được hãng ITV của Anh phát sóng vào giữa thập niên 1980. Trước Widows, đạo diễn 49 tuổi người da màu mới chỉ có trong tay 3 phim điện ảnh là Hunger (2008), Shame (2011), và 12 Years a Slave (2013). Nhưng chỉ từng ấy tác phẩm cũng đã là quá đủ để Steve McQueen khẳng định tài năng trong dòng phim tâm lý và bi kịch tại Hollywood, đặc biệt là với giải Oscar phim hay nhất cho 12 Years a Slave. Bởi vậy mà khi khi đoạn phim quảng cáo đầu tiên của Widows ra mắt công chúng, nhiều người đã tỏ ra ngạc nhiên không chỉ vì tác phẩm mới nhất này của McQueen vắng bóng Michael Fassbender – diễn viên thể hiện một cách xuất sắc vai chính trong cả bộ ba Hunger, Shame và 12 Years a Slave, mà còn vì Widows mang màu sắc phim hành động – dòng phim hoàn toàn mới mẻ đối với một đạo diễn “chuyên trị” phim tâm lý như Steve McQueen. Sự ngạc nhiên, thậm chí là có phần nghi ngại đó là hoàn toàn có cơ sở, bởi dù có tài năng đã được kiểm chứng, lại có sự giúp sức của nhà văn nữ Gillian Flynn – tác giả tiểu thuyết và sau đó là kịch bản phim hình sự xuất sắc Gone Girl (2014), nhưng để chuyển từ các bộ phim đặc tả tâm lý, đi sâu vào nội tâm nhân vật và khá kén người xem như Hunger hay Shame sang dòng phim đòi hỏi nhịp phim nhanh, nhiều trường đoạn hành động lôi cuốn khán giả là một nhiệm vụ không hề dễ dàng đối với Steve McQueen.

Một tin mừng cho những người yêu phim của Steve McQueen là Widows có thể được coi là một thử nghiệm thành công của đạo diễn người Anh trong dòng phim mới. Trung thành với một tác phẩm hành động truyền thống, Widows có nhịp phim tương đối nhanh với nhiều pha hành động hồi hộp, kịch tính và đặc biệt là có nhiều bất ngờ với những nút thắt mở rất phù hợp với một bộ phim lấy đề tài “trộm cướp”. Đặc biệt là dù lấy trung tâm là những người phụ nữ mạnh mẽ có, yếu mềm có nhưng nhìn chung không quen với súng ống, bạo lực, Widows lại có rất nhiều cảnh phim gây bất ngờ về mức độ bạo lực, nhất là trong những phân đoạn có sự xuất hiện của Jatemme Manning – một vai diễn xuất sắc khác của Daniel Kaluuya, diễn viên được coi là phát hiện mới của Hollywood sau Get Out (2017) và Black Panther (2018). Widows là một bộ phim rất ít “người tốt” khi mà Chicago trong phim luôn phải oằn mình chịu đựng sự hoành hành của những tên tội phạm ưa thích bạo lực như Jamal, Jatemme, và những chính trị gia có bề ngoài hào nhoáng nhưng bên trong mục ruỗng như cha con nhà Mulligan. Trong một xã hội không có “người tốt” như vậy, tất nhiên những người phụ nữ phải đứng lên để bảo vệ bản thân, để đấu tranh cho tương lai của chính họ và những người họ yêu thương. Bởi thế Widows là một bộ phim về những phụ nữ mất mát, nhưng cũng là bộ phim về những người phụ nữ tìm thấy sức mạnh không chỉ về thể chất mà còn cả về tinh thần để có thể đương đầu với sóng gió cuộc đời mà không phải nấp sau hình bóng của bất cứ người đàn ông nào. Sự tương phản giữa một Veronica dịu dàng, lịch lãm ở đầu phim với “nữ tướng” Veronica đầy cơ bắp với tinh thần sắt thép ở cuối phim chính là hình ảnh tiêu biểu nhất cho chất nữ quyền đậm nét này của Widows. Bên cạnh Veronica, sự chuyển hoá đến bất ngờ của Alice từ cô nàng đỏng đảnh chỉ biết nằm dài trên giường tới một người phụ nữ độc lập tự tin ở nửa cuối phim qua diễn xuất nhiều màu sắc của Elizabeth Debicki cũng là một điểm sáng khác của Widows trong việc đưa các nhân vật nữ trở thành trung tâm, trở thành sức mạnh thật sự của tác phẩm thay vì chỉ mang tính “trang trí” như trong đa phần các bộ phim Hollywood của dòng phim hành động. 

Là đạo diễn xuất sắc của dòng phim tâm lý, tất nhiên Steve McQueen không thể bỏ qua thế mạnh đặc trưng này của ông trong Widows – và chất tâm lý đậm nét cũng chính là nhân tố tạo sự khác biệt cho Widows khi so sánh với những bộ phim hành động, phim “trộm cắp” truyền thống khác của Hollywood như Ocean's 8 (2018) – một tác phẩm cũng nói về một băng trộm “toàn nữ” phải đối mặt với một nhiệm vụ bất khả. Thậm chí là sau khi xem Widows, chắc chắn nhiều khán giả sẽ có cảm giác rằng khía cạnh tâm lý của phim có sức nặng, và còn để lại nhiều ấn tượng hơn cả những pha hành động hay những nút thắt mở bất ngờ của phim. Qua diễn xuất xuất sắc của dàn diễn viên nữ, đặc biệt là Viola Davis và Elizabeth Debicki, Widows đem đến cho khán giả một cái nhìn rất sâu về quá trình tìm lại mình của những người phụ nữ khi vấp phải nỗi đau khổ đến tột cùng – đó là cái chết của người thân yêu nhất. Thậm chí là đối với nhân vật trung tâm của phim Veronica, quá trình tìm lại mình này lại còn có nhiều khúc quanh không ai ngờ tới mà nếu không gây dựng cho mình một tinh thần mạnh mẽ, một ý chí tự lực thì khó có ai, bất kể là nam hay nữ có thể vượt qua được. Dòng phim hành động Hollywood không phải không có những nhân vật nữ đáng nhớ, từ Ellen Ripley của loạt phim Alien, Sarah Connor của loạt phim The Terminator, tới Cô Dâu trong Kill Bill (2003), rất nhiều bóng hồng đã khiến khán giả phải trầm trồ vì cách họ chiếm lĩnh màn ảnh và làm chủ những pha hành động ngẹt thở. Nhưng hiếm có ngôi sao hành động nào có được chiều sâu về mặt tâm lý, có quá trình tìm lại bản thân được mô tả sâu sắc, nhạy cảm, và chân thật như Veronica của Widows. Không chỉ Steve McQueen – đạo diễn nổi danh trong việc tạo dựng nhân vật có thể tự hào vì thành công của Veronica, mà việc hình ảnh “nữ tướng cướp ôm chó” của Widows đi được vào lòng người xem cũng là một thành công mới của Viola Davis – người thể hiện một cách xuất sắc cả hai bộ mặt nhẹ nhàng, nhạy cảm và cứng rắn, gai góc của Veronica trong phim. 

Tuy thành công trên nhiều mặt, đặc biệt là việc truyền hơi thở nữ quyền vào một tác phẩm hành động về đề tài “trộm cắp”, nhưng bộ phim ít nhiều mang tính thử nghiệm này của Steve McQueen có lẽ vẫn chưa sánh được với những bộ phim chặt chẽ và hoàn chỉnh trước đây của ông như 12 Years a Slave hay Shame. Do cố gắng chú trọng cả khía cạnh tâm lý và hành động nên kịch bản Widows chưa tạo được cảm giác mượt mà, thống nhất, đặc biệt là ở phần cuối của phim khi trường đoạn được coi là cao trào của phim – vụ trộm của băng “goá phụ” lại không thực sự gây nhiều ấn tượng từ quá trình “chuẩn bị” cho đến khi nút thắt mở cuối cùng được đem tới cho khán giả. Với nhiều nút thắt mở phải giải quyết, nhiều chi tiết về mặt tâm lý muốn đề cập, kịch bản của Widows vì thế mà cũng trở nên thiếu đất cho các nhân vật phụ. Ngoại trừ Veronica, Alice, Belle, hay Jatemme, các nhân vật khác của Widows không để lại nhiều dấu ấn, kể cả những vai do các diễn viên thực lực đảm nhận như vai Linda của Michelle Rodriguez hay Jack Mulligan của Colin Farrell. 

Một bộ phim hay không nhất thiết phải là một tác phẩm hoàn hảo, nhưng luôn phải là một tác phẩm lôi cuốn khán giả, khiến họ phải suy nghĩ về số phận các nhân vật trong phim, khơi gợi họ liên hệ bản thân đối với những số phận đa chiều ấy. Với người yêu phim, đặc biệt là các khán giả nữ, thì chắc chắn Widows là một tác phẩm như thế. Dù vẫn còn thiếu sót, Steve McQueen hoàn toàn có thể tự hào rằng ông đã cho ra đời một tác phẩm hành động xuất sắc nhưng lại đậm chất nữ quyền – yếu tố vốn ít được đề cập tới trong dòng phim hành động nhưng lại là đề tài nóng bỏng được cả Hollywood và xã hội Mỹ quan tâm trong thời gian gần đây.

========