some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

mardi 22 janvier 2013

Life of Pi (2012)



Thật khó để bình luận Life of Pi khi chưa đọc qua tiểu thuyết gốc, và thật không may là tôi nằm trong số đó. Nhưng đi thì vẫn cứ muốn đi, vì đã ấp ủ đi xem IMAX từ lâu, và một bộ phim được gần như toàn bộ giới phê bình phim, trong đó có hải đăng Roger Ebert, đánh giá rất rất cao về mặt hình ảnh như Life of Pi thì hẳn sẽ không làm tôi thấy phí khoản tiền vé 3D IMAX gấp đúng 2 lần giá vé thường.

Dù có nhiều tầng ý nghĩa và từng được coi là không thể chuyển thể thành phim - unfilmable, nhưng qua tay của Lý An và biên kịch David Magee, Life of Pi trở nên rất dễ theo dõi, kể cả với những người chưa từng đọc tiểu thuyết gốc như tôi. Piscine Patel hay "Pi" lớn lên giữa vườn thú của gia đình ở Pondichéry, Ấn Độ với câu hỏi thường trực trong đầu - Chúa là ai? Chúa có ý nghĩa thế nào với cuộc đời của cậu? Đúng như cái tên dài bất tận của mình (3,1415....), Pi tìm mọi cách để giải đáp cho câu hỏi của mình và tìm ra ý nghĩa chân thực của cuộc đời, cái ý nghĩa mà cậu chưa thể tìm thấy trong một gia đình pha trộn giữa lý tính khoa học tuyệt đối của ông bố và niềm tin tôn giáo bất diệt của bà mẹ. Cuộc sống bình yên của Pi trở nên xáo trộn khi cả gia đình cậu phải di cư sang Canada, mang theo cả bầy thú, để rồi gặp nạn giữa biển ở nơi sâu thẳm nhất của quả Địa Cầu - Vực Marianna. Kịp bám vào chiếc xuồng cứu sinh, Pi sống sót, nhưng những ngày tháng lênh đênh trên biển của cậu còn là chuỗi ngày đấu tranh sinh tồn khắc nghiệt hơn nhiều, khi đồng hành với cậu trên chiếc xuồng nhỏ là một con hổ dữ có tên Richard Parker. Bộ phim mở đầu bằng cảnh một Pi Patel trưởng thành đang hồi tưởng lại quá khứ, vậy nên khán giả đã biết được kết cục của câu chuyện, nhưng làm thế nào để Pi vượt qua chuỗi ngày tuyệt vọng trên biển, chiến thắng được con hổ dữ thì lại là một câu chuyện dài, một câu chuyện siêu thực.

Một trong những đặc điểm của người Trung Quốc là khả năng giữ gìn bản sắc ở mức tuyệt đối. Nhờ nền tảng văn hóa, lịch sử, tín ngưỡng sâu đậm mà dân tộc Trung Hoa dù trong hoàn cảnh nào cũng không bị đồng hóa, thậm chí họ còn đồng hóa ngược những người thống trị mình (trong trường hợp nhà Nguyên và nhà Thanh). Có lẽ bởi vậy mà đạo diễn người Hoa dù đi đâu cũng mang theo mình những nét rất riêng (tiêu biểu là Ngô Vũ Sâm), và vì thế thông thường họ ... không thể thành công ở bình diện quốc tế vì không có khả năng "quốc tế hóa" ngôn ngữ điện ảnh của mình. TRỪ một người - Lý An. Phim của Lý An cực kì đa dạng, mang nhiều bối cảnh văn hóa đặc thù khác nhau, từ tình phụ tử truyền thống kiểu Hoa trong Ẩm thực nam nữ đến không khí Anh kiểu "Jane Austen" trong Sense and Sensibility hay hơi thở lạnh lẽo miền Tây nước Mỹ trong Brokeback Mountain. Tài năng của Lý An thể hiện ở chỗ dù trong môi trường nào, phim của ông cũng "ra chất", dù chẳng bao giờ sử dụng kịch bản quá bạo liệt nhưng vẫn để lại chút gì đó trong lòng khán giả, kể cả về nội dung, kể cả về cái không khí, hơi thở nhẹ nhàng của bối cảnh phim. Life of Pi cũng không nằm ngoài số đó, phim được đặt trong cái nền văn hóa khá dị biệt, một phần lý trí-hiện đại kiểu Pháp (Pondichéry là thuộc địa của Pháp tại Ấn Độ trong nhiều năm), một phần truyền thống dị biệt kiểu Ấn, và một phần nữa vô cùng vĩ đại và hoang sơ - của thiên nhiên, của mặt biển. Thật tiếc tôi chưa đọc tiểu thuyết nên không hiểu Life of Pi từng được coi là unfilmable vì lý do gì, nhưng cách kể chuyện của Lý An quả thực vẫn dung dị, dễ hiểu như vậy, và ẩn đằng sau cũng lại vẫn là vô số câu hỏi đặt ra cho khán giả, như cái cách mặt biển phẳng lặng ẩn chứa biết bao loài sinh vật và bão tố trong lòng. Phần lớn bối cảnh của phim diễn ra trong một không gian rất đặc thù - con thuyền chật hẹp với chỉ hai nhân vật (một nhân vật thậm chí còn không ... có thoại vì hổ hẳn nhiên không biết nói) được đặt giữa không gian bao la, tuyệt đẹp và khôn lường của biển cả. Lý An đã rất khéo léo xử lý bối cảnh đặc thù này của Life of Pi để vừa làm bật lên cái ngột ngạt, khắc nghiệt của cuộc chiến sinh tồn trên con thuyền nhỏ, vừa đem đến cho khán giả một không gian bao la thoáng đãng của biển-trời. So sánh hơi khập khiễng nhưng xem Life of Pi tôi lại nghĩ tới Cast Away, không rõ có phải vì Tom Hanks quá xuất sắc trong Cast Away không (và vì thế làm lu mờ mọi yếu tố khác của phim) mà tôi cảm giác Robert Zemeckis hoàn toàn dưới tầm Lý An nếu so về khả năng tận dụng bối cảnh phim. Một điểm xuất sắc khác của phim là những yếu tố bất ngờ được trải đều trong phim, từ phút đầu tiên tới phút cuối cùng, đặc biệt đoạn kết của phim hẳn làm nhiều người (những người chưa đọc tiểu thuyết) phải sửng sốt và lật lại cả bộ phim (như cái cách Atonement đã làm được). Nhờ những bất ngờ, từ nhỏ nhỏ như chất hung bạo không hề thay đổi của con hổ Richard Parker đến bất ngờ choáng ngợp như hòn đảo kỳ lạ của loài meerkat, mạch phim của Life of Pi trở nên rất mạch lạc, lôi cuốn khán giả nhưng không bị sa đà vào những tình tiết bi lụy quá mức. Đây có lẽ là một năm đáng mừng của người xem phim "thông thường" vì có rất nhiều những bộ phim xuất sắc được dựng nên từ những kịch bản rất truyền thống dễ hiểu (conventional), từ Life of Pi cho tới Tarantino (vâng, đến Tarantino cũng làm phim "dễ hiểu"!) với Django Unchained.

Ca ngợi lên, ca ngợi xuống, thì trải nghiệm tuyệt vời nhất với Life of Pi vẫn nằm ở phần hình ảnh và kỹ xảo của phim. Thật tiếc (lại thật tiếc!) là tôi chưa được xem Avatar để có sự so sánh, nhưng quả thực xem Life of Pi với định dạng màn hình cong IMAX là vô cùng đáng đồng tiền bát gạo. Cả hiệu ứng 3D và sự hùng vĩ, hoành tráng của thiên nhiên đều được Lý An đẩy lên tới mức xuất sắc. Nếu như những hình ảnh 3D ấn tượng nhất của phim nằm ở ngay ... đoạn mở đầu với vườn thú nhà Patel, thì những cảnh quay hoành tráng theo kiểu phim tài liệu màn ảnh rộng được trải dài suốt phim. Chính cái sự thiếu tinh tế vốn có của bối cảnh chật hẹp nơi con xuồng cứu sinh đã tạo điều kiện để Lý An phát huy hết con mắt điện ảnh của ông với vô số bối cảnh tuyệt đẹp và ấn tượng của mặt biển bao la, từ cảnh quay ngược từ dưới biển cậu bé Pi trôi nổi giữa biển khơi với con tàu đang chìm dần phía xa (gợi nhớ đến cảnh mở đầu của Sunset Boulevard?) đến cảnh quay con xuồng bé nhỏ từ trên xuống với vô vàn sinh vật biển vây quanh (giống hệt với bìa của tiểu thuyết gốc!) cho tới những cảnh quay hết sức giản dị - mặt biển phẳng lặng không một gợn sóng, có thể là màu đen của màn đêm, màu hổ phách của hoàng hôn hay màu xanh thẳm đúng chất biển cả, nhưng trên cái khung cảnh đó chỉ có duy nhất một con xuồng bé nhỏ, với hai sinh linh gắn kết bởi hy vọng sinh tồn và sự cô độc. Tất cả đều được Lý An khắc họa vô cùng đẹp, choáng ngợp và lôi cuối, đủ để khán giả cảm thấy mình nhỏ bé giữa thiên nhiên bao la, nhưng cũng đủ để họ thấy yêu quý hơn thiên nhiên, biển cả với những vẻ đẹp hết sức bất ngờ mà có lẽ đời người chẳng mấy ai có đủ may mắn (hoặc bất hạnh) để chứng kiến - bản thân tôi cũng rất muốn được một lần chứng kiến cảnh cả mặt biển rực sáng bởi những con sứa và sinh vật phù du, nhưng để rơi vào cảnh đắm tàu rồi mới được chứng kiến cảnh đó thì có lẽ là ... hơi quá sức. Hòn đảo kỳ lạ của loài meerkat cũng là một điểm nhấn của phim, chỉ có thể nhận xét là Lý An đã dựng quá xuất sắc bối cảnh này, tự nhiên, sống động, chân thật đến mức có lẽ không một khán giả nào (chưa đọc tiểu thuyết) khi mới xem lại không tin là hòn đảo như thế có thật.Nghĩ đi nghĩ lại thì giờ Hollywood có quá nhiều phim "hoành tráng", nhưng bối cảnh hoành tráng mà lại thực sự tự nhiên, giản dị như của Life of Pi thì liệu có nổi mấy phim?

Năm nay Life of Pi được coi là ứng viên nặng ký cho giải Oscar. Theo cách thống kê thông thường (nặng ký cho Oscar phim hay nhất = có đề cử cho cả phim, đạo diễn, biên kịch, biên tập) thì rõ ràng Life of PiLincoln sẽ là hai đối thủ xứng tầm ở lễ trao giải lần thứ 85 (tôi đã xem Silver Linings Playbook, một phim rất hay nhưng chưa ngang tầm với hai ông lớn này). Tôi hy vọng Life of Pi sẽ thắng giải, vì Oscar cần một tác phẩm nhẹ nhàng và tươi sáng thế này.

(Phim này tôi ch chấm 4(.13) sao vì tôi tin là nếu tước đi định dạng 3D, tước đi màn ảnh rộng thì phim sẽ giảm đi ít nhiều tính hấp dẫn)

(Vừa ngồi viết review Life of Pi vừa cắm tai nghe OST của phim Pi's Lullaby, tự dưng lại thấy khoan khoái như đang xem lại mặt biển mênh mông trong phim)

vendredi 11 janvier 2013

Vài dòng vụn vặt


Tôi đang xem Amour của Haneke, khó xem, như mọi bộ phim khác của Haneke, nhưng khiến người xem phải suy nghĩ. Tự dưng xem phim này của Haneke thấy nhớ Ozu, vì Haneke cũng gần như chỉ dùng góc quay cố định, tầm trung, nhân vật bước vào khung hình và bước ra khỏi khung hình như thể họ đang sống cuộc sống của họ. 

Xem Amour tự dưng nghĩ, một bộ phim hay phải là một bộ phim gợi mở được trí tưởng tượng, suy nghĩ của người xem. Tại sao phim hoạt hình cho trẻ em lại giàu màu sắc, hình ảnh, rất chú trọng tính độc đáo - vì trẻ em cần lượng thông tin, chi tiết lớn để tạo lập những tưởng tượng riêng trong đầu óc non nớt của các em. Còn tại sao phim dành cho người lớn nhiều khi chỉ cần minimalist như Ozu, hay như Amour này, lại là đủ - vì người lớn đã trải qua quá nhiều điều trong cuộc đời, đã tự mình làm đầy bộ óc với đủ hỉ - nộ - ái - ố, họ chỉ cần một sự gợi mở tinh tế (bấm đúng nút/gãi đúng chỗ ngứa) để lấy lại những kỷ niệm, hình ảnh trong kí ức, hay để tưởng tượng ra những giấc mơ họ đã mơ nhiều lần trong đời. Và vì thế những bộ phim "rượu thịt ê hề" kiểu blockbuster, nơi mọi thứ đều được bầy biện, nơi khán giả được chỉ tay, bị thét to vào tai "đây là người xấu", "kia là kẻ ác", "đây là ý nghĩa của bộ phim" bla bla bla, chẳng bao giờ có thể coi là những bộ phim hay (cùng lắm chỉ là phim giàu tính giải trí). Cái concept "phim hay" này hơi giống với một post tôi vừa đọc trên 9gag "The winner of a sad short story contest" http://9gag.com/gag/6303531.


Đó, chỉ cần 2 câu, 4 chữ ngắn ngủi, vậy mà nỗi buồn cũng đã đủ sâu đậm để lan tỏa sang người đọc. 

Đây cũng là lý do vì sao những diễn viên nổi tiếng, có tài năng thực sự, thường có khuôn mặt, ánh mắt hoặc ám ảnh đến kinh người, hoặc lập tức mang lại cho khán giả một cảm giác bình yên, thanh thản, kể cả khi họ ở ngoài đời thực. Vừa xem mấy bức ảnh "đời thường" của Hồng Ánh, cô không phải người thuộc dạng xinh đẹp tuyệt trần, nhưng xem ảnh thôi cũng đủ thấy ở cô toát ra một vẻ đẹp dịu rất điện ảnh. Vậy mới biết người làm nghề casting phải có con mắt tinh tường đến thế nào.

jeudi 10 janvier 2013

Best Hong Kong Films Ever

No kiddingFuture Cops (Siêu cấp học giáo bá vương, 1993) của Vương Tinh quả thực có tên trong danh sách này.

(Viện hàn lâm vừa công bố các ứng viên cho giải Oscar 2013, nhưng chủ đề này hay hơn)

Tình hình điện ảnh Hồng Kông có vẻ ảm đạm, phim ăn khách hiếm, mà phim "đỉnh cao" lại càng hiếm hơn, một phần vì thế hệ vàng 80, đầu 90 chẳng có người thay thế (Nhất đại tông sư của Vương Gia Vệ vừa công chiếu ngày hôm qua - 9/1, có lẽ đây lại là một tuyệt phẩm nữa của họ Vương, nhưng những tác phẩm kén người xem, kém doanh thu như của Vương Gia Vệ thì chưa, và có lẽ sẽ không bao giờ có thể là cứu cánh cho cả nền điện ảnh Cảng Thơm), một phần quan trọng nữa là vì điện ảnh Hồng Kông giờ đang đứng vào cái thế lỡ dở, cố gắng giữ vững bản sắc "Hồng Kông" nhưng cũng lại phải cố hòa mình vào dòng chảy điện ảnh Trung Quốc để tận dụng thị trường khổng lồ với nguồn tài chính và khán giả vô tận của người "anh cả" Đại lục.

Có lẽ vì cái sự ảm đạm ấy mà trang web tôi rất yêu thích - Lovehkfilm, quanh đi quẩn lại chỉ sôi nổi nhất có hoạt động bầu "Best film", hết của thập niên 2000, 1990, 1980 và bây giờ là "Best Hong Kong Films Ever". Nghe tiêu đề thì oai nhưng chưa bầu thì cũng biết phần đông những người sẽ bầu toàn dạng fanboy từ thủa bé của những Ngô Vũ Sâm, Từ Khắc, Vương Gia Vệ, thế nên kết quả quanh đi quẩn lại sẽ chỉ xoay quanh những bộ phim đã xuất hiện trong các cuộc bầu chọn trước kia. Và kết quả cuối cùng thì ... đúng thế thật.

Dưới đây là top 10:


10. Đội bóng Thiếu Lâm (Shaolin Soccer, 2001, Châu Tinh Trì)
9. Đao Mã Đán (Peking Opera Blues, 1986, Từ Khắc)
8. Thiến nữ u hồn (A Chinese Ghost Story, 1987, Trình Tiểu Đông)
7. Câu chuyện cảnh sát (Police Story, 1985, Thành Long)
6. Lạt thủ thần tham (Hard Boiled, 1992, Ngô Vũ Sâm)
5. Điệp huyết song hùng (The Killer, 1989, Ngô Vũ Sâm)
4. Tâm trạng khi yêu (In the Mood for Love, 2000, Vương Gia Vệ)
3. Bản sắc anh hùng (A Better Tomorrow, 1986, Ngô Vũ Sâm)
2. Vô gian đạo (Infernal Affairs, 2002, Lưu Vỹ Cường & Mạch Triệu Huy)
1. Trùng Khánh Sâm Lâm (Chungking Express, 1994, Vương Gia Vệ)

Nhìn vào Top 10 có thể thấy một điều rằng phim võ hiệp (wuxia) tinh tuyền hoàn toàn vắng bóng! Phim võ hiệp xếp cao nhất trong danh sách này là Túy quyền 2 (Drunken Master 2, 1994, Lưu Gia Lương) chỉ xếp thứ 14. Điều này chứng tỏ là ngay cả trong đội ngũ fanboy phim Hồng Kông thì tâm lý đánh giá thấp phim võ hiệp vẫn tồn tại, đây quả thực là điều đáng tiếc vì trong số 4 thể loại "tinh tuyền" của điện ảnh Hồng Kông (võ hiệp - cảnh sát/xã hội đen - hài - tình cảm lãng mạn, không tính phim cấp III) thì võ hiệp mới chính là thể loại lâu đời và có sức sống bền bỉ nhất, có lẽ kết quả này cũng phản ánh một điều rằng dù Chân Tử Đan vẫn chăm chỉ đóng phim nhưng võ hiệp chẳng còn được vị thế như xưa. 

Ngoài bất ngờ của phim võ hiệp thì các kết quả còn lại có lẽ không có gì ... đáng bàn vì những bộ phim đã được đứng ở đây đều đã được thời gian thử thách, phim "mới nhất" là Vô gian đạo ra đời cách đây cũng đã 11 năm. Vị trí đầu tiên của Trùng Khánh Sâm Lâm cũng là điều không ai có thể bàn cãi, một phần vì phim quá hay, một phần nữa là vì tất cả phiếu bầu cho bộ phim này có lẽ đều chất chứa sự tiếc nuối đối với điện ảnh Hồng Kông của một thời "tinh tuyền" đã qua mà Trùng Khánh Sâm Lâm là đại diện tiêu biểu nhất, một bộ phim của những câu thoại lãng đãng, u uất, của những gương mặt thoảng nét buồn, của những ngôi sao đã mãi đi vào quá khứ (Lâm Thanh Hà).

Dưới đây là Top 20 phim do tôi bầu chọn, trong ngoặc là vị trí thực tế của phim trong "bảng phong thần" cuối cùng (tôi là fan ruột của Châu Tinh Trì nên bầu cho họ Châu hơi bị nhiều, và vì thế bỏ qua nhiều phim của Ngô Vũ Sâm, thực ra tôi vẫn bầu theo kiểu phim "đáng nhớ" nhất chứ có lẽ chưa chắc đã phải phim hay nhất, nếu bầu phim hay nhất thì Hứa An Hoa đã phải có vài phim trong list):

20. 2046 (2004, Vương Gia Vệ) (51)
19. Bạch phát ma nữ truyện (The Bride with White Hair, 1993, Vu Nhân Thái) (62)
18. Người trong giang hồ (Young and Dangerous, 1996, Lưu Vỹ Cường) (110)
17. Tân Tây Du Ký (A Chinese Odyssey, 1995, Lưu Trấn Vỹ & Châu Tinh Trì) (22)
16. Thần ăn (God of Cookery, 1996, Châu Tinh Trì & Lý Lực Trì) (24)
15. Thập tam thái bảo (Shanghai 13, 1984, Trương Triệt) (-)
14. Cương thi tiên sinh (Mr. Vampire, 1985, Lưu Quan Vĩ) (37)
13. Tuyệt đỉnh công phu (Kungfu Hustle, 2004, Châu Tinh Trì) (20)
12. Hoàng Phi Hồng 2: Nam nhi đương tự cường (Once upon a Time in China II, 1991, Từ Khắc) (23)
11. Kế hoạch A (Project A, 1983, Thành Long) (30)
10: Hắc xã hội (Election, 2005, Đỗ Kỳ Phong) (34)
09. Bản sắc anh hùng (A Better Tomorrow, 1986, Ngô Vũ Sâm) (3)
08. Tâm trạng khi yêu (In the Mood for Love, 2000, Vương Gia Vệ) (4)
07. Lâm Thế Vinh (The Magnificent Butcher, 1979, Viên Hòa Bình) (148)
06. Đội bóng Thiếu Lâm (Shaolin Soccer, 2001, Châu Tinh Trì) (10)
05. Vô gian đạo (Infernal Affairs, 2002, Lưu Vỹ Cường & Mạch Triệu Huy) (2)
04. Thiến nữ u hồn (A Chinese Ghost Story, 1987, Trình Tiểu Đông) (8)
03. Câu chuyện cảnh sát (Police Story, 1985, Thành Long) (7)
02. Thiếu Lâm tam thập lục phòng (The 36th Chamber of Shaolin, 1978, Lưu Gia Lương) (41)
01. Trùng Khánh Sâm Lâm (Chungking Express, 1994, Vương Gia Vệ) (1)

Dưới đây là một số thống kê từ 200 bộ phim trong danh sách bầu chọn. Thật bất ngờ là Đỗ Kỳ Phong có tới 20 phim trong danh sách, chiếm 1/10 tổng số phim và gấp đúng hai lần số phim của đạo diễn đứng thứ hai là Từ Khắc. Nhưng MVP của danh sách này có lẽ phải là Vương Gia Vệ vì trong cả sự nghiệp chậm chạp của mình ông mới cho ra đời được 8 phim, và cả 8 đều đã nằm trong danh sách (không kMy Blueberry Night không được tính là phim Hồng Kông).





Và cuối cùng là danh sách đầy đủ:


1. CHUNGKING EXPRESS (1994), directed by Wong Kar-Wai
2. INFERNAL AFFAIRS (2002), directed by Andrew Lau and Alan Mak
3. A BETTER TOMORROW (1986), directed by John Woo
4. IN THE MOOD FOR LOVE (2000), directed by Wong Kar-Wai
5. THE KILLER (1989), directed by John Woo
6. HARD BOILED (1992), directed by John Woo
7. POLICE STORY (1985), directed by Jackie Chan
8. A CHINESE GHOST STORY (1987), directed by Ching Siu-Tung
9. PEKING OPERA BLUES (1986), directed by Tsui Hark
10. SHAOLIN SOCCER (2001), directed by Stephen Chow
11. THE MISSION (1999), directed by Johnnie To
12. DAYS OF BEING WILD (1991), directed by Wong Kar-Wai
13. BULLET IN THE HEAD (1990), directed by John Woo
14. DRUNKEN MASTER II (1994), directed by Lau Kar-Leung
15. RUNNING OUT OF TIME (1999), directed by Johnnie To
16. COMRADES, ALMOST A LOVE STORY (1996), directed by Peter Chan
17. ONCE UPON A TIME IN CHINA (1991), directed by Tsui Hark
18. ASHES OF TIME (1994), directed by Wong Kar-Wai
19. FALLEN ANGELS (1995), directed by Wong Kar-Wai
20. KUNG FU HUSTLE (2004), directed by Stephen Chow
21. EXILED (2006), directed by Johnnie To
22. A CHINESE ODYSSEY PART I: CINDERELLA (1995) and A CHINESE ODYSSEY Part II: PANDORA’S BOX (1995), directed by Jeff Lau and Stephen Chow
23. ONCE UPON A TIME IN CHINA 2 (1992), directed by Tsui Hark
24. GOD OF COOKERY (1996), directed by Stephen Chow
25. THROWDOWN (2004), directed by Johnnie To
26. A MOMENT OF ROMANCE (1990), directed by Benny Chan
27. FIST OF FURY (1972), directed by Lo Wei
28. CROUCHING TIGER HIDDEN DRAGON (2000), directed by Ang Lee
29. GOD OF GAMBLERS (1989), directed by Wong Jing
30. PROJECT A (1983), directed by Jackie Chan
31. HERO (2002), directed by Zhang Yimou
32. FONG SAI YUK (1993), directed by Corey Yuen Kwai
33. RED CLIFF (2008) and RED CLIFF II (2009), directed by John Woo
34. ELECTION (2005), directed by Johnnie To
35. AN AUTUMN’S TALE (1987), directed by Mabel Cheung
36. INFERNAL AFFAIRS 2 (2003), directed by Andrew Lau and Alan Mak
37. MR. VAMPIRE (1985), directed by Ricky Lau Koon-Wai
38. COME DRINK WITH ME (1966), directed by King Hu
39. HAPPY TOGETHER (1997), directed by Wong Kar-Wai
40. FIST OF LEGEND (1994), directed by Gordon Chan
41. THE 36TH CHAMBER OF SHAOLIN (1978), directed by Lau Kar-Leung
42. ELECTION 2 (2006), directed by Johnnie To
43. SWORDSMAN II (1991), directed by Ching Siu-Tung
44. THE PRIVATE EYES (1976), directed by Michael Hui
45. CITY ON FIRE (1987), directed by Ringo Lam
46. BEAST COPS (1998), directed by Gordon Chan and Dante Lam
47. MADE IN HONG KONG (1997), directed by Fruit Chan
48. ROUGE (1988), directed by Stanley Kwan
49. PEDICAB DRIVER (1989), directed by Sammo Hung
50. EASTERN CONDORS (1987), directed by Sammo Hung
51. 2046 (2004), directed by Wong Kar-Wai
52. ONE NITE IN MONGKOK (2004), directed by Derek Yee
53. KING OF COMEDY (1999), directed by Stephen Chow
54. IP MAN (2008), directed by Wilson Yip
55. DRUNKEN MASTER (1978), directed by Yuen Woo-Ping
56. SHANGHAI BLUES (1984), directed by Tsui Hark
57. NEEDING YOU… (2000), directed by Johnnie To and Wai Kai-Fai
58. RUNNING ON KARMA (2003), directed by Johnnie To and Wai Kai-Fai
59. ZU: WARRIORS FROM THE MAGIC MOUNTAIN (1983), directed by Tsui Hark
60. MAD DETECTIVE (2007), directed by Johnnie To and Wai Kai-Fai
61. THE PRODIGAL SON (1981), directed by Sammo Hung
62. THE BRIDE WITH WHITE HAIR (1993), directed by Ronny Yu
63. A SIMPLE LIFE (2011), directed by Ann Hui
64. PROJECT A PART II (1987), directed by Jackie Chan
65. IRON MONKEY (1993), directed by Yuen Woo-Ping
66. FULL CONTACT (1992), directed by Ringo Lam
67. DANGEROUS ENCOUNTER - 1ST KIND (1980), directed by Tsui Hark
68. FLIRTING SCHOLAR (1993), directed by Lee Lik-Chi
69. THE BLADE (1995), directed by Tsui Hark
70. DRAGON INN (1992), directed by Raymond Lee - 48.5 points
71. LOST IN TIME (2003), directed by Derek Yee
72. LONG ARM OF THE LAW (1984), directed by Johnny Mak
73. BOAT PEOPLE (1982), directed by Ann Hui
74. ON THE RUN (1988), directed by Alfred Cheung
75. THE LONGEST NITE (1998), directed by Patrick Yau
76. HE’S A WOMAN, SHE’S A MAN (1994), directed by Peter Chan
77. THE WAY WE ARE (2008), directed by Ann Hui
78. CRIPPLED AVENGERS (1978), directed by Chang Cheh
79. DIRTY HO (1979), directed by Lau Kar-Leung
80. LUST, CAUTION (2007), directed by Ang Lee
81. PRISON ON FIRE (1987), directed by Ringo Lam
82. SPL (2005), directed by Wilson Yip
83. THE WAY OF THE DRAGON (1972), directed by Bruce Lee
84. CENTRE STAGE (1992), directed by Stanley Kwan
85. LIFE WITHOUT PRINCIPLE (2011), directed by Johnnie To
86. FROM BEIJING WITH LOVE (1994), directed by Stephen Chow and Lee Lik-Chi
87. THE BIG BOSS (1971), directed by Lo Wei
88. THE MILLIONAIRES’ EXPRESS (1987), directed by Sammo Hung
89. THE LOVE ETERNE (1963), directed by Li Han-Hsiang
90. BODYGUARDS AND ASSASSINS (2009), directed by Teddy Chen
91. ALL ABOUT AH LONG (1989), directed by Johnnie To
92. HE AIN’T HEAVY, HE’S MY FATHER! (1993), directed by Peter Chan and Lee Chi-Ngai
93. LOVE ON DELIVERY (1994), directed by Lee Lik-Chi
94. THE WILD, WILD ROSE (1960), directed by Wong Tin-Lam
95. TOO MANY WAYS TO BE NO. 1 (1997), directed by Wai Ka-Fai
96. DRAGONS FOREVER (1988), directed by Sammo Hung
97. THE HEROIC TRIO (1993), directed by Johnnie To and Ching Siu-Tung
98. A HERO NEVER DIES (1998), directed by Johnnie To
99. SNAKE IN THE EAGLE’S SHADOW (1978), directed by Yuen Woo-Ping
100. WHEELS ON MEALS (1984), directed by Sammo Hung
101. GREEN SNAKE (1993), directed by Tsui Hark
102. PTU (2003), directed by Johnnie To
103. NAKED KILLER (1993), directed by Clarence Fok
104. FULL ALERT (1997), directed by Ringo Lam
105. ONCE A THIEF (1991), directed by John Woo
106 (TIE). POLICE STORY 2 (1988), directed by Jackie Chan
106 (TIE). SPOOKY ENCOUNTERS (1980), directed by Sammo Hung
108. ENTER THE DRAGON (1973), directed by Robert Clouse
109. THE ARCH (1968), directed by Cecile Tang Shu-Shuen
110. YOUNG AND DANGEROUS (1996), directed by Andrew Lau
111. FEARLESS (2006), directed by Ronny Yu
112. PERHAPS LOVE (2005), directed by Peter Chan
113. AS TEARS GO BY (1988), directed by Wong Kar-Wai
114. TIME AND TIDE (2000), directed by Tsui Hark
115 (TIE). JULY RHAPSODY (2001), directed by Ann Hui
115 (TIE). THE FIVE VENOMS (1978), directed by Chang Cheh
115 (TIE). WILD SEARCH (1991), directed by Ringo Lam
118. SONG OF THE EXILE (1990), directed by Ann Hui
119. OUR SISTER HEDY (1957), directed by Tao Qin
120. HEROES OF THE EAST (1978), directed by Lau Kar-Leung
121. CURSE OF THE GOLDEN FLOWER (2006), directed by Zhang Yimou
122 (TIE). CHICKEN AND DUCK TALK (1988), directed by Clifton Ko
122 (TIE). MY LEFT EYE SEES GHOSTS (2002), directed by Johnnie To and Wai Kai-Fai
124. FORBIDDEN CITY COP (1996), directed by Vincent Kok and Stephen Chow
125. POLICE STORY 3: SUPERCOP (1992), directed by Stanley Tong
126. DUEL TO THE DEATH (1983), directed by Ching Siu-Tung
127. DR. MACK (1995), directed by Lee Chi-Ngai
128. ALL’S WELL END’S WELL (1992), directed by Clifton Ko
129. THE YOUNG MASTER (1980), directed by Jackie Chan
130. THE CHINESE FEAST (1995), directed by Tsui Hark
131 (TIE). LOST AND FOUND (1996), directed by Lee Chi-Ngai
131 (TIE). MEN SUDDENLY IN BLACK (2003), directed by Pang Ho-Cheung
133. FINAL VICTORY (1986), directed by Patrick Tam
134. MIRACLES (1989), directed by Jackie Chan
135. WU XIA (2011), directed by Peter Chan
136. CHINESE ODYSSEY 2002 (2002), directed by Jeff Lau
137. PROTÉGÉ (2007), directed by Derek Yee
138. A FIGHTER’S BLUES (2000), directed by Daniel Lee
139. ROYAL TRAMP I & ROYAL TRAMP II (1992), directed by Wong Jing
140. JIANG HU: THE TRIAD ZONE (2000), directed by Dante Lam
141. C’EST LA VIE, MON CHERI (1993), directed by Derek Yee
142. THE BEAST STALKER (2008), directed by Dante Lam
143. AH YING (1983), directed by Allen Fong
144. THE DEAF AND MUTE HEROINE (1971), directed by Wu Ma
145. THE EAGLE SHOOTING HEROES (1993), directed by Jeff Lau
146. THE BIG HEAT (1987), directed by Johnnie To and Andrew Kam
147. METADE FUMACA (1999), directed by Riley Yip
148. THE MAGNIFICENT BUTCHER (1979), directed by Yuen Woo-Ping
149. EXPECT THE UNEXPECTED (1998), directed by Patrick Yau
150. ONE-ARMED SWORDSMAN (1967), directed by Chang Cheh
151. ALL FOR THE WINNER (1990), directed by Jeff Lau
152. JUSTICE, MY FOOT! (1992), directed by Johnnie To
153. GOD OF GAMBLERS 2 (1991), directed by Wong Jing
154 (TIE). MY HEART IS THAT ETERNAL ROSE (1989), directed by Patrick Tam
154 (TIE). NOMAD (1982), directed by Patrick Tam
156. FUTURE COPS (1993), directed by Wong Jing
157. BIG BULLET (1996), directed by Benny Chan
158. WINNERS AND SINNERS (1983), directed by Sammo Hung
159. MAMBO GIRL (1957), Evan Yang
160. INTIMATE CONFESSIONS OF A CHINESE COURTESAN (1972), Chor Yuen
161. FULLTIME KILLER (2001), directed by Johnnie To and Wai Ka-Fai
162. BOXER FROM SHANTUNG (1972), directed by Chang Cheh and Pao Hsueh-Li
163. SCHOOL ON FIRE (1988), directed by Ringo Lam
164. MCDULL, PRINCE DE LA BUN (2004), directed by Toe Yuen
166 (TIE). THE TAI-CHI MASTER (1993), directed by Yuen Woo-Ping
166 (TIE). YOUNG AND DANGEROUS 3 (1996), directed by Andrew Lau
168. AIR HOSTESS (1959), directed by Evan Yang
168 THE STOOL PIGEON (2010), directed by Dante Lam
169 (TIE). A BETTER TOMORROW 2 (1987), directed by John Woo
169 (TIE). SUMMER SNOW (1995), directed by Ann Hui
171. THE BARE-FOOTED KID (1993), directed by Johnnie To
172. YOUNG AND DANGEROUS: THE PREQUEL (1998), directed by Andrew Lau
173. ODD COUPLE (1979), directed by Lau Kar-Wing
174. THE BLOOD BROTHERS (1973), directed by Chang Cheh
175 (TIE). ACCIDENT (2009), directed by Soi Cheang
175 (TIE). JUST ONE LOOK (2003), directed by Riley Yip
175 (TIE). THE ODD ONE DIES (1997), directed by Patrick Yau
178. REIGN OF ASSASSINS (2009), directed by Su Chao-Bin
179. JULIET IN LOVE (2000), directed by Wilson Yip
180. THE TWINS EFFECT (2003), directed by Dante Lam
181. SO CLOSE (2002). directed by Corey Yuen
182. THE EIGHT DIAGRAM POLE FIGHTER (1983), directed by Lau Kar-Leung
183. MY YOUNG AUNTIE (1981), directed by Lau Kar-Leung
184. SEX AND ZEN (1991), directed by Michael Mak
185. SPARROW (2007), directed by Johnnie To
186. GALLANTS (2010), directed by Derek Kwok and Clement Cheng
187 (TIE). CAGEMAN (1992), directed by Jacob Cheung
187 (TIE). THE CASE OF THE COLD FISH (1995), directed by Jamie Luk Kin-Ming
187 (TIE). THE MAGIC BLADE (1976), directed by Chor Yuen
190. KING BOXER (1972), directed by Jeng Cheong-Woh
191. MY LIFE AS MCDULL (2001), directed by Toe Yuen
192. OUT OF THE DARK (1995), directed by Jeff Lau
193. STORY OF RICKY (1992), directed by Lam Nai-Choi
194. HONG KONG 1941 (1984), directed by Leung Po-Chi
195. AFTER THIS, OUR EXILE (2006), directed by Patrick Tam
196. OVERHEARD (2009), directed by Alan Mak and Felix Chong
197. THE DIARY OF A BIG MAN (1988), directed by Chor Yuen
198 (TIE). LAST HURRAH FOR CHIVALRY (1979), directed by John Woo
198 (TIE). LEGENDARY WEAPONS OF CHINA (1982), directed by Lau Kar-Leung
200. IN THE LINE OF DUTY 4 (1989), directed by Yuen Woo-Ping

vendredi 4 janvier 2013

Les Misérables (2012)




Les Misérables có cái poster quá đẹp.

Thú thực mà nói thì tôi ít khi được xem phim HAY ở rạp, phim mình thích thì toàn phim cũ, down "trộm" về ngồi xem một mình trên máy tính, còn đâu ra rạp thì thể nào cũng đi với bạn bè (trừ thời kỳ tôi ở nước ngoài) đâm toàn phải "chiều theo ý đám đông" mà chọn phim đa phần không vừa lòng lắm. Thế nên hôm nay tôi cảm thấy thật sự thỏa mãn khi được xem một bộ phim hay đến thế ở ngoài rạp, với đủ âm thanh vòm và màn ảnh rộng - Les Misérables.

Trước tiên phải nói luôn là tôi không thích phim nhạc kịch (musical) hoặc phim lồng rất nhiều ca hát nhảy múa vào như phim Ấn Độ Bollywood, lại cũng chẳng hâm mộ gì Tom Hooper (đạo diễn Les Misérables) mặc dù từng đánh giá cao The Damned United của ông này với lý do khá buồn cười là Hooper không xứng đáng với Oscar cho The King's Speech, nhất là khi so với một ứng viên khác năm đó là David Fincher, đạo diễn tôi rất yêu thích. Nhưng tôi rất chờ đợi Les Misérables, đơn giản vì phim có một trailer cực hay, và một cái poster không kém phần ấn tượng. Tất nhiên tôi từng bị lừa nhiều lần bởi những phim dở nhưng trailer lại rất hay kiểu Law Abiding Citizen, nhưng lại vẫn hy vọng là Tom Hooper sẽ "chuộc lỗi" với khán giả bằng Les Misérables, thật may là tôi đã đặt hy vọng đúng chỗ, phim hay, thậm chí hay hơn cả cái trailer.

Nội dung của Les Misérables thì hẳn nhiều người đã biết, dù sao Những người khốn khổ cũng từng là một trong những tiểu thuyết phổ biến nhất ở Việt Nam ("từng" cùng với cái thời của Tam quốc diễn nghĩa, Thủy hử, chứ giờ chắc thua Chạng vạng hay Đấu trường sinh tử các kiểu rồi). Câu chuyện của Les Misérables xoay quanh nhân vật Jean Valjean (Hugh Jackman), một cựu tù khổ sai 19 năm, cố gắng làm lại cuộc đời và cứu giúp người đời theo tiếng gọi của Thiên Chúa, nhưng lại chẳng thể thoát khỏi sự truy đuổi của Thanh tra Javert (Russell Crowe), một viên cảnh sát mẫn cán quá mức luôn bị ám ảnh bởi "nhiệm vụ" phải tìm và bắt bằng được gã "cặn bã" Jean Valjean (cuối phim Javert có giải thích với Jean Valjean lý do vì sao ông ta luôn có nỗi ám ảnh như vậy - Javert sinh ra giữa chốn cặn bã, và vì thế ghét đến cũng cực nhưng kẻ mà Javert coi là loại cặn bã, như Jean Valjean). Trên con đường gập ghềnh và dài đằng đẵng tìm lại cuộc đời tưởng chừng đã mất, Jean Valjean gặp rất nhiều mảnh đời khác nhau, có người trở thành cứu tinh và mở ra cho anh một con đường sống cho ra sống, đó là Cha Myriel (Colm Wilkinson, người đầu tiên thủ vai Jean Valjean trong chuỗi nhạc kịch Les Misérables), có người lại cho anh thấy rằng cuộc đời còn có những số phận bất hạnh hơn mình rất nhiều, đó là Fantine (Anne Hathaway, Anne xứng đáng có ít nhất là một đề cử Oscar cho vai diễn này, dù thời gian xuất hiện trên màn ảnh của cô rất ngắn), và có người lại trở thành niềm hy vọng, niềm vui cho cuộc đời cằn cỗi của Jean Valjean - Cosette (Isabelle Allen - cô bé trên poster, và Amanda Seyfried, hơi tiếc cho Amanda vì nhân vật của cô thuộc loại "nhạt" nhất Les Misérables nên cô cũng chẳng có chỗ để thể hiện khả năng diễn xuất hay khoe giọng hát rất tốt của mình). Tất nhiên cuộc đời, nhất là cuộc đời trong một xã hội đang rên xiết trong những giờ phút hấp hối của chế độ phong kiến Pháp, cũng chẳng thiếu kẻ xấu, vợ chồng nhà Thénardier (Sacha Baron Cohen và Helena Bonham Carter) là hai đại diện tiêu biểu cho "đội ngũ" này, độc ác, thủ đoạn, tham lam, lật lọng và giả dối, những "phẩm chất" đáng buồn thay lại tiêu biểu cho cái xã hội ngập ngụa trong bùn đen của Les Misérables.

Lý do đầu tiên khiến tôi không thích phim nhạc kịch là vì những bài hát, điệu nhảy được xen kẽ trong phim tưởng như đem lại cho phim thêm màu sắc, nhịp điệu nhưng thực tế lại ngắt đứt mạch cảm xúc của người xem và giết chết tình cảm của người xem đối với nhân vật bị kịch hóa. Theo cá nhân tôi, nhược điểm thứ hai của phim nhạc kịch chính là việc phải hy sinh những cảnh close-up quay cận miêu tả tâm trạng nhân vật qua ánh mắt, đôi môi cho những cảnh diễn xuất nhảy múa, ca hát của nhân vật. Tom Hooper tránh được cả hai điều đó, vì Les Misérables của ông xét cho cùng, lại là một sung-through film, trong đó không có nhảy múa, không có diễn cương kiểu nhạc kịch, những bài hát trải dài từ đầu đến cuối phim được sử dụng như toàn bộ phần thoại của Les Misérables, và vì thế đạo diễn tận dụng được tối đa các cảnh close-up với DOP rất sâu làm mờ toàn bộ bối cảnh, chỉ còn người diễn viên với khuôn mặt, dáng đứng, và giọng hát truyền cảm xúc tới người xem. Les Misérables có rất nhiều trường đoạn quay close-up như vậy, trong đó xuất sắc nhất phải kể tới trường đoạn Fantine hát I Dreamed a Dream, một trong những cảnh quay xúc động nhất mà tôi được xem trong năm nay (2012), hay các trường đoạn của Éponine (Samantha Barks, một lựa chọn tuyệt vời của Tom Hooper), diễn viên phụ có nhiều đất diễn nhất Les Misérables. Việc tận dụng cảnh close-up đòi hỏi đạo diễn phải chọn được những diễn viên thực sự tài năng, không chỉ hát hay mà còn phải diễn giỏi, đặc biệt là phần cơ mặt và đôi mắt, đây có lẽ là phần thành công nhất của Tom Hooper, ông chọn được dàn diễn viên rất đều, từ diễn viên chính như Hugh Jackman, Russell Crowe cho đến những vai nhỏ nhỏ như vai cậu bé Gavroche (Daniel Huttlestone) hay anh chàng thủ lĩnh Enjolras (Aaron Tveit), tất cả đều để lại ấn tượng và tạo được dấu ấn riêng cho riêng mình (tất nhiên cũng phải nhờ công của tiểu thuyết và kịch bản phim Les Misérables đã tạo được màu sắc riêng cho từng nhân vật, kể cả nhân vật phụ, đây là điều mà The Hobbit: An Unexpected Journey - bộ phim tôi cũng vừa xem, tiếc thay lại không làm được). Tất nhiên Les Misérables chưa hẳn đã hoàn hảo về mặt diễn xuất, tôi cảm giác Russell Crowe không thực sự thoải mái lắm với việc phải vừa diễn vừa ... hát, mặc dù bản thân là ca sĩ chuyên nghiệp (!) nhưng Crowe chưa bao giờ đóng phim musical và tính cách trầm lắng của anh có lẽ cũng thích hợp hơn với việc biểu lộ tâm trạng qua cặp mắt xanh thẳm thay vì ... đi lại trên thành tường và hát dưới mưa như trong Les Misérables

Dù rất rất thích Les Misérables nhưng tôi cũng phải nói là phim còn vài hạt sạn. Như đã nói ở trên, Tom Hooper dùng rất nhiều, và rất thành công, các cảnh close-up, có lẽ một phần để ... che bớt hạn chế của ông trong việc đạo diễn đại cảnh (long shot - distance shot). Hai phim trước của ông mà tôi xem (The Damned UnitedThe King's Speech) gần như không có đại cảnh nên tôi không nhận ra điều này, nhưng gần như toàn bộ đại cảnh trong Les Misérables đều dở hơn nhiều nếu so với các cảnh quay close-up. Trường đoạn đầu tiên ở âu tàu trông hoành tráng bao nhiêu thì càng về sau các đại cảnh (ở chiến lũy của những người trẻ, ở đám tang Lamarque) trông lại càng lộn xộn và ... tủn mủn (như sân khấu nhạc kịch thật!) bấy nhiêu, bối cảnh của phim cũng không đa dạng (khung hình với mái vòm Điện Panthéon và Quảng trường Panthéon xuất hiện đi xuất hiện lại ở phần cuối của phim) đã làm giảm đi ít nhiều tầm vóc của Les Misérables, phần đáng lẽ được coi là cao trào của phim - Cách mạng 1848 và Chiến lũy phố Valette, cũng ... khá qua loa khiến Les Misérables khó lòng có thể được xếp vào hàng phim lịch sử-sử thi đúng với tầm cỡ của Những người khốn khổ của Victor Hugo. Trước khi xem tôi hy vọng là sẽ được chứng kiến Tom Hooper phục dựng bức tranh nổi tiếng của Eugène Delacroix Nữ thần tự do dẫn dắt nhân dân (La Liberté guidant le peuple) với hình ảnh cậu bé cầm súng dẫn đầu đoàn người - lấy cảm hứng từ Gavroche, rất tiếc bộ phim này đã không tận dụng được hình ảnh đẹp đó, tuy rằng Gavroche trong phim vẫn rất đẹp và mang nhiều tính biểu tượng. Tất nhiên cũng có thể hiểu là Tom Hooper muốn tập trung vào nhóm nhân vật của mình (với kết quả theo tôi là mỹ mãn) và lược bớt tính chất sử thi của Les Misérables, nhưng quả thực với chất liệu giàu có như vậy mà Tom Hooper không tận dụng thì cũng là điều đáng tiếc. Điểm yếu khác của phim là phần mở đầu giới thiệu Jean Valjean khá rời rạc, cảnh phim bị vụn, ngay cả về sau thì các phần chuyển cảnh, chuyển đoạn của Les Misérables cũng rời rạc, thiếu sự kết nối cần thiết cho cảm xúc của khán giả, rất may phim càng về cuối càng mượt, và chỉ riêng phần nhạc phim tuyệt vời cũng đã đủ phần nào thay thế cho cái cầu nối về cốt truyện này.

Kể tội Les Misérables là thế nhưng tôi vẫn chấm phim này 5/5 sao, vì Tom Hooper thực sự đã thành công trong một nhiệm vụ cực kì khó khăn - đem lại cảm xúc thật sự cho các nhân vật của một phim nhạc kịch, thứ cảm xúc mà khán giả có thể cảm nhận được, và vì thế có thể khóc, có thể cười cùng nhân vật. Các nhân vật của Les Misérables được kịch bản và dàn diễn viên khắc họa quá tốt, sự tương tác giữa họ (các nhân vật) chỉ được thể hiện qua các câu hát (cả phim gần như không có một câu thoại nào) nhưng là tương tác rất thật, rất con người và vì thế dễ dàng chạm tới cảm xúc của khán giả, có lẽ nhiều người sẽ không thể kiềm chế được nước mắt trong những trường đoạn có những tương tác rất-người như thế giữa Fantine và Jean Valjean, giữa Éponine và Marius, giữa Gavroche và Javert. Suy cho cùng, mục tiêu của điện ảnh là tạo ra thứ ngôn ngữ có thể chạm tới cảm xúc của khán giả (hay gọi nôm na là "đi vào lòng khán giả"), và Les Misérables đã rất thành công trong nhiệm vụ khó khăn ấy, nhất là khi bộ phim phải mang một hình hài rất khó lấy-cảm-xúc là nhạc kịch. Cảm ơn Tom Hooper về một bộ phim hay, có lẽ giờ tôi đã có thể "tha thứ" cho ông vì đã "cướp" Oscar của David Fincher.

======

On a second thought

- Thực ra nghĩ lại thì đại cảnh cuối cùng ở chiến lũy phố Valette được Tom Hooper dựng tốt, hoành tráng và ngùn ngụt khí thế, nhưng tựu trung đại cảnh có lẽ vẫn chưa phải sở trường của Tom Hooper.
- Sau khi tìm hiểu về vở nhạc kịch tôi mới biết là Tom Hooper (hoặc biên kịch của Les Misérables) đã tráo vị trí của một số ca khúc đinh (như I Dreamed a Dream), đây là một động tác rất tinh tế để vun đắp cảm xúc cho các cảnh quay đinh đó được trọn vẹn hơn, vì xét cho cùng trên phim người xem cần cả diễn xuất và giọng hát chứ không chỉ tập trung vào giọng hát và bối cảnh như ở nhạc kịch. Có thể thấy rõ sự khác biệt này qua hai phiên bản phim và nhạc kịch của trường đoạn Éponine cất tiếng hát đau đớn On My Own, Samantha Barks thực sự đã rất xuất sắc trong việc chuyển hóa từ sân khấu lên màn ảnh:





- Anne Hathaway thực sự diễn rất tốt và xứng đáng với ít nhất là một đề cử Oscar cho vai diễn của cô. Vai diễn này của cô tuy ngắn nhưng cũng đủ để làm tôi nhớ đến vai diễn để đời Edith Piaf của Marion Cotillard trong La Môme.
- Cách Tom Hooper khắc họa nhóm cách mạng trẻ tuổi ABC khiến tôi rất thích thú. Tuy mang trong mình hoài bão rất tốt đẹp nhưng sự nông nổi của tuổi trẻ đã khiến cuộc "cách mạng" đỏ-đen của nhóm ABC chỉ như một đốm lửa vụt sáng giữa đêm đen trước khi tắt phụt vì sự sợ hãi hèn nhát của cả xã hội và cái kế hoạch bồng bột, chủ yếu dựa trên "lòng tin" của mấy anh chàng nhóm ABC. 
- Sau một hồi đọc ... Wikipedia, tôi thật sự không ngờ Les Misérables lại chính là một sản phẩm khác của nền nhạc kịch Pháp. Tôi thích nhiều vở nhạc kịch Pháp vì nhạc rất hay, lời ý nghĩa và ... diễn viên đẹp, từ Notre-Dame de Paris, Roméo et Juliette, de la haine à l'amour đến gần đây là Mozart, l'opéra rock. Rất tiếc tôi chưa tìm được bản gốc tiếng Pháp của Les Misérables vì thực sự muốn nghe âm nhạc này, trong một ngôn ngữ "nghệ thuật" hơn tiếng Anh, và lại là ngôn ngữ gốc của tác phẩm, nó sẽ thế nào (xem phim cứ đến đoạn Gavroche cất tiếng là tôi lại thấy hơi ... nhột vì hình ảnh cậu nhóc người Pháp này đã quá nổi tiếng ở Việt Nam rồi, vậy mà giờ cậu cất lên toàn thứ ... tiếng Anh Manchester - hoặc đâu đó mạn miền Bắc gần Ireland, Scotland, tôi không dám chắc, thì quả thực hơi ... ngoài sức tưởng tượng).