some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

Affichage des articles dont le libellé est sport. Afficher tous les articles
Affichage des articles dont le libellé est sport. Afficher tous les articles

mardi 29 décembre 2020

Diego Maradona (2019)

 


Với người hâm mộ bóng đá nói chung, Diego Maradona luôn được coi là một huyền thoại với cái chân trái huyền ảo và vô số những thành tích, kỷ lục trong lịch sử bóng đá thế giới. Nhưng với người dân Napoli - thành phố biển miền Nam nước Ý, Diego Maradona còn vĩ đại hơn thế - ông là vị Thánh cứu thế đã đưa đội bóng yêu quý của thành phố lên đỉnh cao của nước Ý và thế giới. Là lẽ sống của cả thành phố, là nguồn cảm hứng, là niềm vui cho từng trái tim Napoli trong suốt những năm đeo băng đội trưởng S.S.C. Napoli, để rồi phải cúi đầu ra đi trong sự tủi hận, câu truyện của Diego Maradona với Napoli là một trong những câu truyện giàu cảm xúc và đáng nhớ nhất trong lịch sử bóng đá thế giới, nhưng với người yêu bóng đá nói chung, và đặc biệt là những người trẻ của thiên niên kỷ mới vốn lớn lên với một vầng hào quang mới của bóng đá Argentina - Lionel Messi, thì những cung bậc cảm xúc khó tả của bóng đá Argentina, bóng đá Ý, và bóng đá Napoli thập niên 1980, nguồn cội của sự chia ly giữa Maradona và Napoli, và điểm bắt đầu cho sự sụp đổ của một tượng đài bóng đá như Diego vẫn là một thứ gì đó thực sự mới mẻ. 

Diego Maradona - bộ phim tài liệu mới nhất của đạo diễn người Anh Asif Kapadia chính là lời đáp cho những câu hỏi đó của người hâm mộ bóng đá. Lấy tư liệu từ trên 500 giờ phim chưa từng được công chiếu, Diego Maradona đã đem tới cho người xem một cái nhìn toàn diện về Diego Maradona, từ một cậu nhóc với tài chơi bóng bẩm sinh trên những đường phố của vùng ngoại ô Buenos Aires với ước mơ dùng đôi chân kiếm tiền cải thiện cho cuộc sống khó khăn của gia đình, cho tới một thiên tài trẻ tuổi với khả năng chơi bóng, kiểm soát bóng, và điều khiển trận đấu khiến bất cứ đội bóng nào cũng phải thèm khát, và tất nhiên là cả hình ảnh Diego trong những năm tháng đỉnh cao với màu áo của đội tuyển Argentina và S.S.C. Napoli khi ông sống trong vinh quang sân cỏ, xa hoa phú quý của tiền bạc và ma tuý, và sự soi mói của giới truyền thông cũng như người hâm mộ. 

Asif Kapadia là một cái tên không hề xa lạ với cả giới điện ảnh và người yêu thể thao bởi ông từng giành rất nhiều giải thưởng lớn với bộ phim tài liệu xuất sắc Senna (2010) về huyền thoại của đường đua công thức 1 Ayrton Senna. Ngay sau Senna, Asif Kapadia còn thực hiện một bộ phim tài liệu tiểu sử hết sức thành công khác - Amy (2015) về cuộc đời cô ca sĩ tài hoa nhưng yểu mệnh Amy Winehouse. Chiến thắng giải BAFTA cho phim tài liệu xuất sắc nhất với Senna, và giải Oscar ở cùng hạng mục cho Amy, Kapadia đã chứng minh được rằng bản thân cuộc đời, bản thân góc khuất của những thiên tài yểu mệnh đã là quá đủ để làm nên một câu truyện điện ảnh xuất sắc, những người như Ayrton Senna, hay Amy Winehouse chẳng cần thêm bất cứ thủ pháp kịch tính hoá hay tô hồng nào thêm để người xem nhớ đến họ, cảm nhận được một phần ước mơ, suy tư của họ. Kapadia tiếp cận Diego Maradona theo một cách tương tự. Dù không ra đi ở cái tuổi rất trẻ khi đang ở trên đỉnh cao sự nghiệp như Senna hay Amy, nhưng Diego Maradona có một câu truyện cũng giàu cảm xúc không kém bởi ông có một cuộc đời áo số đầy thăng trầm, trong đó đặc biệt phải kể tới những năm tháng bão tố khi Diego vừa muốn cống hiến cho thành phố yêu quý Napoli nhưng cũng phải sẵn sàng quay lưng với nước Ý để chiến đấu cho tổ quốc Argentina trên đấu trường World Cup. Chẳng cần nhiều dẫn dắt trong vai trò một người kể chuyện, Asif Kapadia đã để chính những hình ảnh tư liệu, những lời bộc bạch của Maradona vẽ lại từng bước đường đời của người danh thủ và thuật lại cho khán giả vô số những mâu thuẫn trong cuộc đời của Diego. Dành tình yêu vô tận cho gia đình từ thủa bé nhưng sẵn sàng từ chối nhận cậu con trai ngoài giá thú, có tài năng thiên bẩm với bóng đá đẹp nhưng cũng chẳng ngần ngại kết thân với giới mafia, trân quý tình cảm của người hâm mộ bóng đá Napoli nhưng căm ghét đến tận xương tuỷ sự soi mói của công chúng, Diego Maradona là một con người của những mâu thuẫn - những mâu thuẫn được Asif Kapadia lặp đi lặp lại xuyên suốt chiều dài 130 phút của bộ phim tài liệu mới nhất của ông. Đi sâu vào đời tư và các góc khuất của Maradona qua rất nhiều thước phim từ chính chiếc máy cầm tay của Diego và người vợ cũ Claudia, nhưng Kapadia cũng không quên nhắc nhớ người xem về bối cảnh lịch sử và xã hội chung đã tạo nên một huyền thoại mang tên Maradona. Có thể kể tới việc Kapadia lồng thất bại của Argentina trong cuộc chiến giành lại hòn đảo Falklands từ tay người Anh bên cạnh những thước phim về hai bàn thắng đã đi vào lịch sử của Maradona, đặc biệt là bàn thắng "Bàn tay của Chúa", trong chiến thắng của tuyển Argentina trước tuyển Anh tại World Cup 1986 để nhấn mạnh với khán giả rằng đây không chỉ là một chiến thắng mở đường cho Argentina của đội trưởng Maradona tới Cúp Vàng, mà còn là sự động viên tinh thần lớn lao, là niềm tự hào cho cả đất nước Argentina - một sự động viên chỉ Maradona mới có thể đem lại. Cũng chính nhờ cách tiếp cận tương tự, Kapadia đã giúp người xem hiểu được rằng tại sao Maradona - từ vị thế của một Thánh bóng đá ở xứ Napoli, lại bị người dân Napoli quay mặt sau World Cup 1990 bởi họ có thể tha thứ cho các bê bối đời tư của Diego nhưng không bao giờ có thể tha thứ một cầu thủ đã "dám" đánh bại nước Ý trên chính sân nhà, trong giải đấu quan trọng nhất của đất nước vốn ham mê bóng đá chẳng kém gì Argentina này. 

Nếu so với một bộ phim tài liệu tiểu sử xuất sắc khác về cuộc đời Maradona là Maradona by Kusturica (2008) của đạo diễn người Serbia Emir Kusturica thì Diego Maradona của Asif Kapadia có lẽ chưa vẽ được một bức tranh thực sự tổng thể về cuộc đời Diego bởi tác phẩm mới của đạo diễn người Anh không đề cập tới những năm tháng hậu sân cỏ của Diego, hay có những chia sẻ, suy nghĩ của chính Diego và những cái tên đã gắn liền với cuộc đời anh như người vợ cũ Claudia. Nhưng với bất cứ người mộ điệu điện ảnh hay thể thao nào, Diego Maradona vẫn thực sự là một bộ phim tài liệu hay, và chân thực về cuộc đời của một cầu thủ vĩ đại. Bởi qua Diego Maradona, người xem lại càng hiểu được tại sao sau vô số những bê bối đời tư hay rắc rối với luật pháp, Maradona lại vẫn là một huyền thoại. Đơn giản là vì trong suốt cuộc đời mình, Maradona chưa bao giờ mất đi tình yêu chân thành, thậm chí là có đôi chút ngây thơ với trái bóng, và đã luôn cố gắng hết sức để có được những pha bóng đẹp, có được những vinh quang trên sân cỏ, có được những câu truyện đầy cảm hứng về nỗ lực không ngừng nghỉ để vươn tới đỉnh cao bất chấp khó khăn từ mọi phía. Với Maradona, bóng đá là cuộc đời, nhưng cũng bởi thế cuộc đời ông có quá nhiều khúc quanh chẳng thể ngờ tới. Với người hâm mộ, Maradona là hiện thân cho tình yêu bóng đá, và cũng là bài học cảnh giác về cách bất cứ mộ thiên tài nào cũng có thể rơi từ đỉnh cao xuống vực sâu bởi cám dỗ, bởi sự trớ trêu của số phận. Xin cảm ơn Asif Kapadia vì một tác phẩm hay về Maradona, và xin cảm ơn Maradona, vì tất cả.

=====

Bài đã biên tập trên Zing.

mardi 21 janvier 2020

Ford v Ferrari (2019)


Le Mans 24 Giờ là một trong những cuộc đua danh giá nhất trên thế giới không chỉ bởi lịch sử lâu đời tới gần 100 năm, mà còn vì đây là một trường đua hết sức đặc biệt khi các đội đua phải so tài với nhau trong suốt 24 giờ đua liên tiếp vượt qua nhiều địa hình và điều kiện thời tiết khó khăn, đặc biệt là trong những chặng đua đêm. Bởi vậy mà chỉ cần một lần được đứng trên bục cao nhất của Le Mans thôi thì một tay đua cũng đã xứng đáng được liệt vào sổ vàng của làng đua thế giới, còn đội đua sở hữu chiếc xe đoạt giải cũng sẽ có quyền được ngẩng mặt tự hào sánh ngang với bất cứ ông lớn nào của ngành công nghiệp ô tô. Chính vì những lý do này mà người khổng lồ của ngành sản xuất ô tô Hoa Kỳ là hãng Ford – trong một nỗ lực làm mới hình ảnh và chiếm lại thị phần khách hàng trẻ sau nhiều năm làm ăn bết bát đã quyết định thử sức với trường đua xuyên đêm ở Le Mans. Để đạt được mục tiêu này, Phó Chủ tịch của Ford là Lee Iacocca (Jon Bernthal) đã thuyết phục ông chủ của hãng là Henry Ford II (Tracy Letts) thương thảo để mua lại hãng siêu xe Ferrari của “Bố Già đường đua” Enzo Ferrari (Remo Girone) – hãng sở hữu đội đua bá chủ đường đua Le Mans 24 Giờ trong nhiều năm nhưng lại đang rơi vào cảnh khó khăn tài chính đến mức gần phá sản. Tuy nhiên lòng tự trọng cao hơn núi của Bố Già Enzo và sự can thiệp ở những phút cuối cùng của ông lớn xe hơi Ý là Fiat đã khiến tham vọng của Ford đổ bể. 

Tự ái vì cảm giác bị Ferrari phản bội, và vẫn ấp ủ tham vọng “dời núi lấp bể” – dành chiến thắng trước Ferrari ngay trên chính Thánh địa Le Mans, Ford và Iacocca quyết định nhờ cậy tới Carroll Shelby (Matt Damon) – người từng giành chiến thắng tại Le Mans 24 Giờ năm 1959 nhưng rồi phải từ bỏ nghiệp đua vì bệnh tim đập nhanh và chuyển sang vai trò ông chủ hãng bán xe kiêm ông bầu của các đội đua xe độc lập. Nếu như Ford quan tâm tới doanh thu và danh tiếng bao nhiêu thì Shelby quan tâm tới chiến thắng ở “đường đua số 1” bấy nhiêu. Anh quyết định nhận lời thử thách của Ford với một điều kiện duy nhất, đó là được quyền lựa chọn tay lái chính cho đội đua của mình – yếu tố được Shelby coi là cốt tử cho bất cứ chiến thắng nào, đặc biệt là trên những chặng đua dài và phức tạp như ở Le Mans. Người được Carroll Shelby tin tưởng giao phó trách nhiệm này là Ken Miles (Christian Bale) – một cựu binh lái xe tăng Anh trong Chiến tranh thế giới thứ Hai trước khi di cư sang Mỹ để hành nghề thợ cơ khí ô tô kiêm tay đua nghiệp dư. Chỉ rong ruổi theo những đội đua độc lập eo hẹp về tài chính như của Shelby, Ken Miles không có nhiều cơ hội để dành chiến thắng, bởi vậy mà tình hình tài chính của gia đình nhà Miles cứ dần đi xuống trong sự lo lắng khôn nguôi của cô vợ Mollie (Caitriona Balfe) và cậu con trai Peter (Noah Jupe). Ford có rất nhiều tiền, Shelby có rất nhiều kinh nghiệm, Miles có rất nhiều tài năng. Nhưng chừng ấy cũng là chưa đủ để đội đua của Carroll Shelby đi ngay được đến bục chiến thắng cuối cùng, không chỉ vì những chiếc xe Ford sẽ phải đối đầu với những cỗ máy được chế tác tỉ mỉ chuyên dụng cho đường đua khó của hãng Ferrari, không chỉ vì Ken Miles sẽ phải đối đầu với những tay đua thượng thặng của đội đua Scuderia Ferrari như Lorenzo Bandini (Francesco Bauco), mà còn bởi ngay trong chính nội bộ, Shelby và Miles cũng sẽ phải đối đầu với những trở ngại đến từ những “ông chủ” chỉ biết tới lợi nhuận và vinh quang hào nhoáng như Ford, như Leo Beebe (Josh Lucas).

Làm thế nào để những khán giả đang ngồi trong không gian ấm cúng của rạp phim có thể cảm nhận được sự khắc nghiệt của những cuộc đua – đặc biệt là những cuộc đua xuyên đêm như Le Mans 24 Giờ? Làm sao để họ - những khán giả phần lớn chưa từng được trải nghiệm cảm giác ngồi sau vô-lăng của những chiếc xe siêu tốc có thể hiểu được cảm giác gần như không trọng lượng của những tay đua kiệt xuất như Ken Miles, như Lorenzo Bandini khi vượt qua không gian thời gian bằng những “đôi cánh” động cơ có thể vận hành tới 7000 vòng/phút? Đó là những câu hỏi khó mà các nhà làm phim không dễ gì giải đáp và cũng là lý do vì sao phần lớn các bộ phim ăn khách và được đánh giá cao về đề tài “đua xe” như loạt phim Fast & Furious, Initial D (2005), hay Speed Racer (2008) đều thường chỉ dùng các màn đua xe làm “nhân vật phụ” phục vụ cho các phân đoạn hành động của phim. Những tác phẩm “tinh tuyền” về đề tài đua xe vì thế mà có lẽ chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay, mà một ví dụ gần đây nhất là Rush (2013) của đạo diễn người Mỹ Ron Howard. Trong Rush, Howard đã khiến người xem phải dán mắt lên màn hình lớn để theo dõi cuộc đua trên đường đua F1 giữa hai huyền thoại Niki Lauda và James Hunt bằng cách kết hợp một cách tài tình những góc quay đầy cảm xúc của Anthony Dod Mantle – nhà quay phim từng giành Giải Oscar cho quay phim xuất sắc nhất cho Slumdog Millionaire (2008) với phần kĩ xảo điện ảnh miễn chê và những nốt nhạc trầm bổng hào hùng từ lâu đã là thương hiệu của riêng nhạc sĩ Hans Zimmer. Bản thân Howard và Mantle không thực sự là những “chuyên gia” của dòng phim hành động, nhưng rõ ràng tài năng trong việc đặc tả cảm xúc nhân vật – vốn là nét chủ đạo trong sự nghiệp của cả hai người, cộng thêm công nghệ kỹ xảo điện ảnh ngày một hoàn thiện đã giúp Rush giải được bài toán khó – đó là đem tới cho khán giả những cảm xúc, tình cảm ẩn sau những phút nghẹt thở trên đường đua thể thao mà không phải dùng tới những “gia vị ngoài” như các phi vụ tội ác, hay những cuộc đua trái phép. Có lẽ James Mangold đã tiếp cận Ford v Ferrari với một tâm thế tương tự, bởi thay vì những nhà quay phim đã thành danh trong dòng phim hành động, Mangold lại trung thành với nhà quay phim “ruột” của mình là Phedon Papamichael – người vốn được biết tới nhiều nhất qua các bộ phim tâm lý tình cảm và cực kỳ chậm rãi của Alexander Payne như Sideways (2004), The Descendants (2011), hay Nebraska (2013). Thử nghiệm mới nhất của Mangold và Papamichael cuối cùng đã tỏ ra hết sức thành công khi Ford v Ferrari đã đem lại cho người xem vô số những trường đoạn giàu cảm xúc, đặc biệt là những phân đoạn diễn tả cuộc đua xuyên ngày xuyên đêm của các tay lái thượng thặng trên đường đua Le Mans 24 Giờ. Có thể nói không ngoa rằng các phân đoạn đua xe, đặc biệt là những cảnh quay đêm khi Carroll Shelby và sau đó là Ken Miles phải vượt mưa gió, vượt sương mù, vượt qua nỗi sợ hãi về những hiểm nguy không thể lường trước ở các khúc cua, và trong lòng những chiếc xe đang phải gồng mình vận hành hết công suất mới chính là “nhân vật chính” của Ford v Ferrari. 

Tất nhiên, dù có xuất sắc đến mấy trong phân đoạn hành động nhưng nếu chỉ có một cốt truyện tầm thường thì Ford v Ferrari cũng sẽ chỉ là một tác phẩm giải trí xem một lần rồi quên giống như rất nhiều tác phẩm khác được Hollywood tung ra rạp trong các dịp nghỉ lễ. James Mangold – tác giả của một trong những bộ phim siêu anh hùng có cốt truyện đáng nhớ nhất trong những năm gần đây là Logan (2017) chắc chắn không muốn tác phẩm mới nhất của mình rơi vào lối mòn của những bộ phim thừa giải trí, thiếu nội dung như vậy khi chọn cho Ford v Ferrari hai gương mặt diễn viên thuộc hàng thực lực là Christian Bale và Matt Damon cho hai vai chính Ken Miles và Carroll Shelby. Không phụ sự tin tưởng của Mangold, Damon và đặc biệt là Bale đã đem tới cho khán giả hình ảnh đẹp của hai tay đua gạo cội – hai biểu tượng của tình yêu mãnh liệt với tốc độ. Đặc biệt Bale – ngôi sao hạng A nổi tiếng với thái độ làm việc nghiêm túc luôn cống hiến 110% tâm lực cho mọi vai diễn có lẽ sẽ khiến nhiều khán giả cảm động bởi cách anh hoá thân vào một Ken Miles chất phác trong đời thường nhưng sẵn sàng hy sinh tất cả để chạm được tới giới hạn cuối cùng của nghiệp đua xe – những vòng đua hoàn hảo perfect lap. Bale đã tái hiện một cách tuyệt hảo khí chất của Ken Miles thông qua giọng nói đặc chất gang thép khó nghe của xứ Birmingham – cái nôi của ngành công nghiệp xe hơi Anh Quốc và cặp mắt tinh anh – tài sản quý giá của bất cứ tay đua nào. Nhưng quan trọng hơn thế, Christian Bale còn giúp khán giả hiểu được tình yêu thật sự của Ken Miles dành cho đường đua – đó là tình yêu của một tay đua không coi chiến thắng là ham muốn cao nhất, mà coi việc được tham gia các đường đua khốc liệt như Le Mans 24 Giờ, tranh tài với những đối thủ xứng tầm như Lorenzo Bandini, và đạt được trạng thái thăng hoa của những vòng đua perfect lap mới là cái đích cuối cùng mà họ muốn hướng tới. 

Khác với sự chất phác của Ken Miles, Carroll Shelby của Matt Damon cũng có tình yêu tuyệt đối với đường đua nhưng lại cũng đủ lọc lõi để có thể hiểu được những ngóc ngách của cuộc chiến giành quyền lực trong các tập đoàn ô tô – “nồi cơm” chính của các đội đua, và cả những mánh khoé, chiêu trò của chính các đội đua để “ăn gian” lấy lợi thế tại đường đua – nơi chỉ một vài giây cũng đã đủ để quyết định thành bại và vinh quang cả cuộc đời. Sự xung đột giữa một bên là tình yêu chân thành dành cho tốc độ của một tay đua từng đứng trên đỉnh cao vinh quang của Le Mans 24 Giờ và một bên là đòi hỏi về sự ranh ma cần có ở một người chủ đội đua luôn phải đương đầu với những đòi hỏi vô lý của những gã lãnh đạo hợm hĩnh chỉ quan tâm tới tiền và sự hào nhoáng của chiến thắng biến Shelby, chứ không phải là Miles, mới là nhân vật có nhiều tiềm năng khai phá nhất trong Ford v Ferrari. Thật tiếc là tuy Matt Damon đã thể hiện rất tốt vai diễn này nhưng phần kịch bản tương đối mỏng dành cho việc khắc hoạ những diễn biến tâm lý của Shelby trong những khúc quanh quan trọng của đường đua và đường đời của ông, nhất là khi phải so sánh với hình ảnh tuyệt đẹp của Ken Miles, khiến khán giả phần nào đó vẫn chưa cảm thấy thật “đã” với cái tên đứng đằng sau những thành công vô tiền khoáng hậu của đội đua Shelby American. Tương tự với Carroll Shelby, phần xây dựng hình ảnh các nhân vật phụ của Ford v Ferrari cũng không để lại nhiều ấn tượng khi mà đa số các gương mặt xuất hiện trên phim đều có tính cách tương đối một chiều – hoặc là những người thuộc “phe Thiện” như hai thành viên còn lại của gia đình Miles là Mollie và cậu nhóc Peter, hoặc là những cái tên bị gắn chặt với “phe Ác” như Leo Beebe, Henry Ford II, hay thậm chí là “Bố già đường đua” Enzo Ferrari. Đặc biệt trong thời buổi mà Hollywood đang cố hết sức để loại bỏ những yếu tố bài ngoại, phân biệt chủng tộc, bất bình đẳng giới tính ra khỏi phim để có một môi trường điện ảnh “sạch” hơn thì cách thức Ford v Ferrari xây dựng những người Ý vốn luôn nhiệt thành với khát vọng chiếu đấu và chiến thắng trên những trường đua tốc độ có lẽ sẻ để lại chút gợn nào đó trong lòng người hâm mộ. Việc bớt đất diễn và giảm đầu tư cho những nhân vật phụ như Lee Iacocca hay Lorenzo Bandini tất nhiên giúp James Mangold có nhiều thời gian hơn để nêu bật thông điệp về tình yêu thật sự với bộ môn thể thao đua xe của những người như Ken Miles. Nhưng việc vắng bóng những nhân vật phụ có chất lượng cũng lại khiến Ford v Ferrari không thể trở thành một tác phẩm thự sự nặng kí vượt qua khỏi khuôn khổ của những chặng đua dài đằng đẵng của trường đua Le Mans 24 Giờ. 

Rush của đạo diễn Ron Howard có một cái kết mở khi Niki Lauda cuối cùng đã quyết định bỏ cuộc trong khúc đua khắc nghiệt và cũng là quan trọng nhất nhất với James Hunt. Đó là bởi không khán giả nào có thể chắc rằng Lauda đã từ bỏ cuộc đua của đời mình là để tránh khỏi những rủi ro tàn khốc đang đợi anh dưới cơn mưa như trút của đường đua Công thức 1, hay chỉ đơn giản là vì tình yêu của anh dành cho Marlene xứng đáng để trân trọng hơn là danh xưng “Vô địch thế giới”. Với Ford v Ferrari, khán giả có một phần kết tương đối trọn vẹn hơn khi mà rõ ràng cả Shelby và nhất là Miles đều muốn chia sẻ với người xem rằng họ chỉ có một tình yêu lớn duy nhất trong đời, đó là tình yêu với tốc độ, với những đường đua. Vì tình yêu cao thượng ấy, vì ước muốn đạt đến “cảnh giới” 7000 vòng một phút, họ sẵn lòng hy sinh tất cả, sẵn lòng bỏ qua những vinh quang phù phiếm, tầm thường của giải thưởng, của tiền bạc. Đó là những phẩm chất đã biến Ken Miles và Carroll Shelby trở thành những huyền thoại trong lịch sử đua xe thế giới. Và cũng chính cái chân tình dành cho môn đua xe như vậy đã giúp Ford v Ferrari thực sự trở thành một tác phẩm đáng xem đối với khán giả, đặc biệt là những khán giả có chung tình cảm đối với tốc độ như Miles và Shelby.

======

jeudi 28 décembre 2017

I, Tonya (2017)


Trong số các môn thể thao thuộc hệ thống Thế vận hội, trượt băng nghệ thuật luôn có chỗ đứng riêng trong lòng khán giả bởi chất thanh nhã pha chút quý tộc với các vận động viên ăn vận đẹp đẽ như các chàng hoàng tử, công chúa vừa bước ra từ truyện cổ tích cùng các bài biểu diễn vừa phức tạp, vừa duyên dáng trong tiếng nhạc cổ điển. Vì vậy mà năm 1994 những người yêu trượt băng nghệ thuật Hoa Kỳ đã thực sự choáng váng khi tất cả các hãng truyền thông và báo lớn của nước này đưa tin chồng cũ của Tonya Harding – một trong những nữ vận động viên trượt băng nghệ thuật sáng giá nhất nước Mỹ thời điểm đó đã thuê kẻ xấu đánh gẫy chân đối thủ của vợ cũ tại giải vô địch trượt băng Hoa Kỳ sắp diễn ra là Nancy Kerrigan, người đồng thời cũng là đồng đội của Harding tại đội tuyển quốc gia Mỹ tranh tài tại Thế vận hội mùa đông. Từ đỉnh cao khi được khán giả của bộ môn trượt băng khắp nước Mỹ hâm mộ cuồng nhiệt vì những cú nhảy xoay ba vòng trên không (“triple axel”) độc nhất vô nhị, Tonya Harding nhanh chóng rơi xuống vực sâu của búa rìu dư luận vì cô bị nghi là đồng loã tiếp tay cho người chồng cũ Jeff Gillooly, hoặc ít ra cũng là nhắm mắt làm ngơ trước âm mưu ghê tởm và phi thể thao nhằm loại bỏ đối thủ Nancy Kerrigan khỏi cuộc đua tới một chỗ dự tranh Thế vận hội mùa đông 1994 tại Lillehammer, Na Uy. Chính thức bị toà án kết tội bao che cho chồng phạm tội không lâu sau đó, Tonya Harding không chỉ phải nhận án tù treo và phạt tiền, cô còn bị loại bỏ vĩnh viễn khỏi làng trượt băng nghệ thuật chuyên nghiệp Hoa Kỳ, và có lẽ đau đớn hơn cả là cái tên Tonya Harding đối với người yêu thể thao từ thời điểm đó trở đi đã trở nên đồng nghĩa với những toan tính phi thể thao, với âm mưu làm vấy bẩn một trong những bộ môn thanh nhã, cao quý nhất của thể thao thế giới. 

Hơn hai thập niên sau ngày cái tên Tonya Harding mãi mãi đi vào sổ đen của bộ môn trượt băng nghệ thuật, đạo diễn người Úc Craig Gillespie đã đem đến cho khán giả một góc nhìn mới về cuộc đời Harding và những sự kiện đã dẫn đến hành động bạo lực vô tiền khoáng hậu đối với Nancy Kerrigan năm nào qua bộ phim I, Tonya. Có thể coi là một tác phẩm tiểu sử về Tonya Harding, I, Tonya khắc hoạ lại cuộc hành trình đầy gian nan đến với trượt băng nghệ thuật của Harding qua lời kể của chính Tonya (Margot Robbie) và những người có dính líu đến cuộc đời cô như bà mẹ khắc nghiệt LaVona (Allison Janney), anh chồng cũ với máu bạo lực Jeff (Sebastian Stan) và tay đồng loã ngớ ngẩn Shawn Eckhardt (Paul Walter Hauser), huấn luyện viên trượt băng Diane Rawlinson (Julianne Nicholson), và nhà sản xuất của kênh tin tức lá cải (Bobby Cannavale). Tuy I, Tonya tiếp cận cuộc đời của ngôi sao sân băng một thời theo phong cách hài chua cay (“black comedy”) với vô số những chi tiết mâu thuẫn qua lời kể không thực sự đáng tin của các nhân chứng của cuộc đời Tonya Harding và của chính cô, nhưng qua tác phẩm này, người xem cũng có thể phần nào hình dung được cuộc sống khổ đau và những nhân tố đã tạo nên tính cách và số phận của Tonya Harding. Có một tuổi thơ chẳng mấy êm đẹp bên bà mẹ sẵn sàng hy sinh từng xu cóp nhặt được qua nghề hầu bàn để con gái có thể theo học trượt băng nhưng kèm theo đó là sự hà khắc đến tàn nhẫn vì kì vọng vào tương lai của con, Tonya sớm hình thành trong mình một cá tính mạnh mẽ, nổi loạn, và bùng nổ trái ngược hẳn với những phẩm chất thường được coi trọng của môn trượt băng như sự đằm thắm, dịu dàng, quý phái. Cộng thêm ngoại hình chẳng lấy gì làm bắt mắt với mái tóc xoăn bù xù, căn bệnh hen suyễn kinh niên, và xuất thân nghèo khó tới mức chẳng phải biểu diễn trong những bộ quần áo tự may vá, Tonya Harding nghiễm nhiên trở thành đứa con ghẻ của làng trượt băng Hoa Kỳ bất chấp tài năng thiên phú và nỗ lực luyện tập không kể ngày đêm của cô gái trẻ. Chẳng giám khảo nào muốn một gương mặt “nhà quê” như Tonya trở thành đại diện cho cộng đồng trượt băng nghệ thuật đầy lịch lãm của nước Mỹ, bởi vậy sau nhiều thất bại, cô chỉ được đứng lên bục vinh quang trong giải vô địch trượt băng Hoa Kỳ khi thể hiện một động tác cực khó về mặt kỹ thuật mà trước đó chưa từng có nữ vận động viên nào thực hiện thành công trong các giải thi đấu chuyên nghiệp của Mỹ - cú nhảy xoay ba vòng trên không (“triple axel”). Vấp phải nhiều khó khăn trong việc chứng tỏ tên tuổi trên sân băng, Tonya còn có một cuộc sống riêng trắc trở hơn nhiều lần khi Jeff Gillooly - người chồng cô hết mực yêu thương và chung sống từ năm mới 19 tuổi lại mang trong mình dòng máu vũ phu. Những trận đòn triền miên của Jeff cuối cùng đã khiến Tonya phải đệ đơn ly dị ra toà nhưng rồi cũng chẳng thể thoát nổi vòng tay của gã đàn ông dẻo mồm mà cô đã chót trao tình yêu lớn đầu đời. Dù có khó khăn đến mấy trên sân băng hay đau đớn đến mấy dưới những cú tát như trời giáng của Jeff, nhưng Tonya Harding vẫn luôn cố gắng vượt qua bởi cuộc đời cô gắn liền với sân băng, gắn liền với những cuộc thi đấu và ước mơ về một tấm huy chương Thế vận hội mùa Đông. Như ngọn lửa mong manh giữa băng giá, giấc mơ đó của Tonya càng ngày càng trở nên xa vời với sự xuất hiện của những đối thủ như Nancy Kerrigan – nguyên cớ của âm mưu ngu ngốc của Jeff và gã bạn ngờ ngệch luôn tự xưng là “vệ sĩ của Tonya” Shawn Eckhardt.

Nếu chỉ dựa trên duy nhất nội dung của I, Tonya, khán giả cũng hoàn toàn có thể đánh giá rằng đây là một bộ phim hài chua cay hết sức sáng tạo với nhịp phim hấp dẫn, cốt truyện mạch lạc dễ hiểu bất chấp việc tác phẩm có nhiều tuyến nhân vật và lời kể xung đột lẫn nhau. Không chỉ giúp khán giả cười ra nước mắt vì vụ án hành hung hết sức ngớ ngẩn đối với Nancy Kerrigan của gã chồng cũ của Tonya, đạo diễn người Úc Craig Gillespie còn khiến người xem cảm thấy giật mình chua xót trước tuổi thơ chan chứa nỗi buồn của Tonya Harding và hết bất công này đến khó khăn khác mà cô vấp phải trên đường đời. Năm 2007, Gillespie từng gây dấu ấn với Lars and the Real Girl – một tác phẩm hết sức nhân văn mô tả tình cảm và nỗi cô đơn của anh chàng tỉnh lẻ kì dị Lars Lindstrom (Ryan Gosling). 10 năm sau đó, ông cùng nhà biên kịch Steven Rogers đã lại đem tới cho khán giả một nhân vật tỉnh lẻ cũng hết sức cô đơn và hết mực mong muốn được yêu thương khác – Tonya Harding. Tất nhiên nhiều khán giả có thể cho rằng vì bộ phim dựa trên các cuộc phỏng vấn của những người trong cuộc như Tonya, như Jeff, như LaVona, chẳng ai có thể chắc I, Tonya là một chân dung chân thật về nữ vận động viên tai tiếng bậc nhất trong lịch sử trượt băng nghệ thuật Hoa Kỳ, thậm chí họ có thể nghi ngờ rằng việc Gillespie khắc hoạ một Tonya Harding với vô số những tổn thương về thể chất và tinh thần như trên phim chỉ là cách để biện minh cho hành động bao che tội phạm của Tonya, hay giảm bớt tai tiếng về sự thiếu tinh thần thể thao mã thượng mà cô từng nhiều lần thể hiện trong và ngoài sân băng. Nhưng nếu xem qua những đoạn phim tư liệu về các cuộc thi đấu có sự xuất hiện của Tonya Harding – vốn được Craig Gillespie tái hiện lại chính xác đến từng khung hình, và tham khảo tiểu sử cuộc đời của Tonya – vốn chứa đựng những chi tiết còn gây sốc hơn nhiều lần về những khổ đau mà cô phải gánh chịu trước và sau vụ bê bối Tonya-Nancy, khán giả chắc chắn sẽ phải thừa nhận rằng I, Tonya quả thực là bộ phim quá xuất sắc trong việc dựng nên một chân dung nhiều chiều của một nhân vật bị nhìn nhận hoàn toàn một chiều suốt hai thập niên qua. Phải chăng chúng ta đã quá ngây thơ khi chỉ tin vào những chi tiết giật gân trên báo chí hay các kênh truyền hình lá cải để dựng nên bức chân dung một chiều đen tối đó của Tonya Harding? Phải chăng Tonya đã đúng khi kết tội một cách đau xót rằng chính người hâm mộ, chính những khán giả của các kênh tin tức lá cải chuyên khai thác những điểm tối, những chi tiết đời tư của Tonya bằng mọi giá cũng phải chịu trách nhiệm với bà LaVona, với Jeff, với Shawn về cuộc đời đen đủi của cô?

Sau khi xem xong I, Tonya, hẳn nhiều người sẽ phải ồ lên thán phục tài năng diễn xuất của Margot Robbie trong vai trung tâm của bộ phim – Tonya Harding. Nữ diễn viên đồng hương của đạo diễn Craig Gillespie không phải là cái tên xa lạ ở Hollywood khi vẻ gợi cảm, quyến rũ của cô được coi là một phần không thể thiếu của các bộ phim lớn như The Wolf of Wall Street (2013), The Legend of Tarzan (2016), và Suicide Squad (2016). Nhưng với I, Tonya, Robbie đã dũng cảm vứt bỏ hình tượng gợi cảm quen thuộc của cô để vào vai một cô gái trẻ quê mùa, cục mịch, tài năng trên sân băng nhưng cũng vô cùng xốc nổi trong quan hệ với những người xung quanh. Cuộc đời đầy biến động của Tonya Harding là mảnh đất màu mỡ cho bất cứ diễn viên nào muốn thể hiện năng lực diễn xuất thực sự, và Margot Robbie đã không phụ sự tin tưởng của đạo diễn Gillespie khi cô khắc hoạ hết sức thành công sự lạc lõng cả về bề ngoài và tính cách của Tonya nếu so với những vận động viên thanh nhã theo đúng truyền thống của môn trượt băng. Nhân vật Tonya Harding của Margot Robbie vừa có chất “điên” của một cô gái trẻ phải kiên cường lớn lên trong sự tàn nhẫn của người mẹ ruột và những buổi tập trên sân băng, vừa ngập tràn nỗi cô đơn trong sâu thẳm tâm hồn khi yêu thương mà chẳng mấy khi được đáp lại – một tình yêu nhiều lúc đơn phương với những người thân thiết và cả vẻ đẹp, vinh quanh trên sân đấu của bộ môn trượt băng nghệ thuật. Đặc biệt ở nửa cuối của bộ phim, khi gánh nặng từ những căng thẳng trên sân băng và bất đồng trong đời tư dần đè nặng lên đôi vai của Tonya, Margot Robbie đã thể hiện một cách xuất sắc từng nét mặt, từng cử chỉ, từng biến đổi về mặt tâm lý của nữ vận động viên người Mỹ đang trượt dần xuống vòng xoáy của vực thẳm thất bại. Sự ăn ý giữa Robbie và Sebastian Stan (người thủ vai anh chồng Jeff) và đặc biệt là Allison Janney trong vai bà LaVona cũng góp phần rất lớn vào sự sống động của bộ phim, và tạo cho I, Tonya một tuyến nhân vật phụ dày dặn với đời sống, tính cách riêng thay vì chỉ mang chức năng làm nền cho nhân vật chính Tonya Harding. Tất nhiên phần lớn những động tác trượt khó của Tonya Harding trong phim được các vận động viên trượt băng chuyên nghiệp thực hiện thay cho Margot Robbie, nhưng cô vẫn hoàn toàn xứng đáng với một lời khen ngợi vì những pha biểu diễn có phần ngắn ngủi nhưng rất thuyết phục với sự giúp đỡ của biên đạo nổi tiếng Sarah Kawahara – người từng hỗ trợ về mặt kỹ thuật trượt băng cho các bộ phim đáng chú ý về môn thể thao này như Blades of Glory (2007).

Phải khẳng định là dù có xuất sắc đến mấy thì I, Tonya cũng chẳng bao giờ có thể giúp Tonya Harding lấy lại những gì đã mất. Cô mãi mãi là đứa con ghẻ của làng trượt băng nghệ thuật Hoa Kỳ, không bao giờ còn có thể kiếm tìm vinh quang và tiền bạc bằng những cú nhảy xoay ba vòng trên không. Với nhiều người, Tonya cũng mãi mãi là cái tên gắn với những âm mưu hèn hạ, bỉ ổi, phi thể thao của những vận động viên hèn nhát không dám so tài trên sân đấu mà phải viện tới cách triệt hạ sau lưng đối thủ. Nhưng với sự trân trọng của đạo diễn Craig Gillespie và diễn xuất đáng ngợi khen của Margot Robbie, ít ra Tonya Harding cũng có thể an tâm rằng trong số các khán giả có cơ hội được xem bộ phim này, sẽ có nhiều người kiếm tìm lại những đoạn băng tư liệu cũ kỹ về những pha biểu diễn đẹp đẽ của cô, sẽ có những khán giả lên mạng đọc tiểu sử của Tonya để khám phá thêm về xuất thân phức tạp và cuộc đời đầy chông gai của nữ vận động viên một thời số một nước Mỹ này. Có thể họ sẽ vẫn không tha thứ cho những lầm lỗi năm xưa của Tonya Harding, nhưng ít nhất bằng cách ấy họ sẽ có được một hình ảnh đầy đủ hơn về Tonya nếu so với những chân dung hoàn toàn một chiều trên báo chí lá cải. Và có một điều Tonya Harding có thể chắc chắn, đó là chẳng khán giả nào sau khi xem xong phim sẽ quên được pha biểu diễn kì diệu xoay ba vòng trên không của cô – một động tác khó tới mức cho tới nay chỉ mới có tám nữ vận động viên trên thế giới từng thực hiện thành công cú xoay này trong các cuộc thi quốc tế. Có lẽ đó cũng có thể coi là một tấm huy chương an ủi cho giấc mơ dang dở với môn trượt băng nghệ thuật của Tonya Harding – một bi kịch hiện đại của thể thao thế giới.

====

lundi 6 juin 2016

Ali (2001)




Michael Mann là một trong những đạo diễn nổi bật nhất của dòng phim hành động tại Hollywood với các tác phẩm gây tiếng vang lớn như Người Mohican cuối cùng (The Last of the Mohicans, 1992) hay Heat (1995). Năm 2001, lần đầu tiên Mann thử sức với thể loại phim tiểu sử với Ali, tác phẩm nói về cuộc đời của huyền thoại vĩ đại nhất trong lịch sử môn quyền Anh – Muhammad Ali. Tên tuổi của Mann, tầm vóc của Muhammad Ali, thêm vào đó là việc ngôi sao hành động hàng đầu của Hollywood Will Smith được tin tưởng giao vai diễn trung tâm của bộ phim, tất cả đã biến Ali trở thành một trong những món quà Giáng Sinh được mong đợi nhất khi tác phẩm được công chiếu vào đúng ngày 25 tháng 12 năm 2001.


Với Ali, đạo diễn Michael Mann tập trung khắc họa 10 năm đầu sự nghiệp thi đấu chuyên nghiệp của Muhammad Ali giai đoạn 1964-1974. Đây cũng là giai đoạn đáng nhớ nhất trong cuộc đời của huyền thoại quyền Anh, từ khi ông mới chỉ là tay đấm nghiệp dư Cassius Clay, Jr. muốn giành ngôi vô địch hạng nặng thế giới từ tay võ sĩ “bất khả chiến bại” thời điểm đó là Sonny Liston (Michael Bentt) cho tới “Cuộc đấu trong rừng rậm” (“The Rumble in the Jungle”) – trận đấu có lẽ là đáng nhớ nhất trong sự nghiệp của Ali với một huyền thoại quyền Anh khác là George Foreman (Charles Shufford) tại Kinshasa, Zaire năm 1974. Xen giữa hai cuộc đấu đáng nhớ đó, Ali còn đưa tới khán giả rất nhiều sự kiện quan trọng khác trong cuộc đời người võ sĩ vĩ đại, từ việc ông cải đạo sang Đạo Hồi và lấy tên Muhammad Ali, tới giai đoạn ông bị cấm thi đấu, thậm chí là đứng trước nguy cơ phải vào tù vì Ali đã dám đứng lên chống lại lệnh gọi nhập ngũ của Chính phủ Mỹ vì ông tuyên bố mình không muốn tham gia vào những hành động bạo lực vô nghĩa của Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam khi mà bất công, phân biệt chủng tộc vẫn còn đầy rẫy ngay trên chính mảnh đất quê hương của ông. Giai đoạn 1964-1974 cũng đánh dấu những năm sôi động nhất của phong trào đấu tranh đòi bình đẳng xã hội cho người da màu tại Hoa Kỳ. Người xem phần nào cũng có thể cảm nhận thấy không khí của những năm tháng nóng bỏng đó qua những thước phim của Ali khắc họa các sự kiện quan trọng trong lịch sử nước Mỹ thời điểm này như vụ ám sát hai lãnh tụ hàng đầu của cộng đồng da màu là Malcolm X (Mario Van Peebles) và Martin Luther King, Jr. (LeVar Burton), hay vai trò của chính Muhammad Ali trong cộng đồng người da màu theo Đạo Hồi ở Hoa Kỳ “Nation of Islam”. Tuy nhiên phần lớn thời lượng hai tiếng rưỡi của bộ phim được dành để khắc họa những suy nghĩ, tâm tư của Ali trong những năm thăng trầm này, cũng như cá tính và tình cảm nồng nhiệt mà ông dành cho người hâm mộ và những người thân thiết.


Tuy được coi là cái tên hút khách hàng đầu Hollywood những năm đầu thập niên 2000 nhưng việc Will Smith được lựa chọn vào vai Muhammad Ali có lẽ đã khiến không ít người lo ngại bởi anh có khuôn mặt rất khác Ali và dáng vóc rắn rỏi nhưng có phần mảnh khảnh của Smith cũng không thực sự phù hợp cho việc thủ vai một tay đấm quyền anh hạng nặng. Tuy nhiên những nỗ lực tăng cân và tập luyện của Will Smith đã giúp anh phần nào gợi nhớ được tới hình ảnh của Muhammad Ali trong những năm tháng đỉnh cao. Đặc biệt trong những phân đoạn mô tả các trận đấu lịch sử của Ali, Will Smith đã thực sự giúp người xem cảm nhận được phong cách thi đấu rất riêng của Muhammad Ali “Lướt nhanh như bướm lượn, đấm mạnh như ong đốt” (“Float like a butterfly, sting like a bee”). Tuy nhiên, với một kịch bản phim tương đối dàn trải và thiếu điểm nhấn, Will Smith đã không thực sự thể hiện được cá tính ấn tượng bên trong và bên ngoài sàn đấu của Muhammad Ali. Bởi vậy mà tuy phần thoại của Smith tràn đầy những câu nói bất hủ của Ali nhưng người xem khó lòng cảm nhận được sức hút của hình tượng Muhammad Ali qua diễn xuất chưa đủ nhiệt của Will Smith.


Cũng rơi vào tình trạng chỉ thành công một nửa như diễn xuất của Will Smith là phần kịch bản và biên tập của phim. Là một bộ phim dày đặc sự kiện, Ali đã đưa tới cho người xem hầu như toàn bộ những sự kiện và gương mặt quan trọng nhất đối với Muhammad Ali trong quãng đời mười năm của ông từ 1964 tới 1974. Từ các cuộc đấu bốc tới tay đấm kì phùng địch thủ Joe Frazier (James Toney), từ những mối tình liên tiếp của Ali với ba đời vợ của ông là Sonji (Jada Pinkett Smith, vợ ngoài đời thực của Will Smith tại thời điểm quay bộ phim), Belinda (Nona Gaye), và Veronica (Michael Michele) tới mối quan hệ nửa công việc, nửa bạn bè của huyền thoại quyền Anh với nhà báo thể thao Howard Cosell (Jon Voight), tất cả đều được khắc họa đầy đủ và rõ ràng trong Ali. Tuy nhiên chính việc chăm chút tới từng chi tiết trong cuộc đời nhiều sự kiện của Muhammad Ali đã khiến bộ phim thiếu đi điểm nhấn cần thiết cho chính nhân vật trung tâm của phim, bởi vậy mà dù đã rất cố gắng nhưng Will Smith đã không thể thực sự làm thỏa mãn người xem về một hình ảnh chân thực và sống động nhất có thể của tay đấm vĩ đại nhất mọi thời đại. Truyện phim dàn trải, thiếu tính kết nối của Ali cũng khiến nhịp phim bị đứt đoạn và không tạo được âm hưởng cần thiết về mặt cảm xúc cho khán giả. Ngay cả điểm sáng của phim – những trường đoạn mô tả các trận đấm bốc đáng nhớ của Muhammad Ali qua phần quay phim xuất sắc của Emmanuel Lubezki cũng không thực sự đem lại cảm giác thỏa mãn cho khán giả khi mà các đối thủ của Ali, vốn cũng là những cái tên vô cùng đáng nhớ của làng quyền Anh như Frazier hay Foreman, bị khắc họa hết sức mờ nhạt tới mức làm giảm đi phần nào giá trị của những cuộc đấu lịch sử này.


Là một bộ phim mang theo nhiều hy vọng của người hâm mộ điện ảnh và thể thao, Ali đã không thực sự thành công trong việc đem lại cho người xem một cái nhìn toàn diện, sâu sắc nhất có thể về Muhammad Ali, một trong những tên tuổi vĩ đại nhất trong lịch sử thể thao Hoa Kỳ. Tuy nhiên, những nỗ lực của đạo diễn Michael Mann và diễn viên Will Smith ít nhất cũng đã đem lại cho những khán giả trẻ, những người vốn đã quá quen với việc thương mại hóa triệt để môn quyền Anh, một cái nhìn khác về giá trị chân thực của môn thể thao này, đó là tinh thần cao thượng, nỗ lực hết mình trên sàn đấu và tư tưởng dấn thân, dám đấu tranh chống lại bất công xã hội bên ngoài sàn đấu. Đại diện cho giá trị chân thực ấy của quyền Anh, không ai khác chính là Muhammad Ali, người đã dám sống và chiến đấu hết mình cho những lý tưởng sống của ông.





=======

Bản đã được biên tập trên Zing.

dimanche 6 mars 2016

Foxcatcher (2014)




Tháng Một năm 1996, ngay trước thềm Thế vận hội mùa hè sẽ được tổ chức tại Atlanta, cả nước Mỹ chấn động vì cái chết của Dave Schultz, đô vật đương kim vô địch thế giới tại thời điểm đó và là ngôi sao sáng của làng vật nước Mỹ cả trên vai trò vận động viên và huấn luyện viên. Điều còn kinh ngạc hơn trong vụ án mạng này đó là kẻ thủ ác lại không phải ai khác ngoài John du Pont, người thừa kế của dòng họ du Pont giàu có bậc nhất nước Mỹ và là người tài trợ chính cho đội tuyển vật Hoa Kỳ và câu lạc bộ vật Foxcatcher nơi Dave Schultz tham gia huấn luyện và thi đấu. Bị kết án 30 năm tù, John du Pont chết trong trại giam ở tuổi 72 vào năm 2010 và được an táng trong chiếc áo đồng phục của đội vật Foxcatcher theo đúng ý nguyện của ông ta. Cho đến những giờ phút cuối cùng, du Pont cũng không hé răng một lời về lý do tại sao năm đó ông ta lại xả 3 phát súng vào người Dave Schultz và cũng không ai có thể giải thích nổi một học giả có tiếng, một nhà tài trợ được các vận động viên yêu quý, một cổ động viên nhiệt thành của môn vật như John du Pont lại có thể hành động một cách tàn nhẫn đến vậy.



Có lẽ một phần nào đó muốn đưa ra câu trả lời cho vụ án mạng năm 1996, bộ phim Foxcatcher của đạo diễn Bennett Miller mang tới cho khán giả chân dung của kẻ thủ ác – John du Pont, nạn nhân – Dave Schultz, và cầu nối giữa hai người – Mark Schultz, em trai của Dave và cũng là một đô vật nổi tiếng của lò Foxcatcher. Sinh ra trong một gia đình tan vỡ, hai anh em Dave (Mark Ruffalo) và Mark (Channing Tatum) gắn bó với nhau từ tuổi thơ khó khăn bất định tới những giờ phút vinh quang trên sới vật (cả hai anh em đều giành huy chương vàng tại Thế vận hội mùa hè năm 1984). Nhưng khác với Dave-con người của gia đình với hình xăm “KIDS” (lũ trẻ con) trên mu bàn tay, Mark sống tuềnh toàng, cô độc với hy vọng một ngày kia sẽ trở thành đô vật giỏi nhất thế giới cho dù hàng ngày anh vẫn phải tập luyện dưới cái bóng che chở của người anh Dave. Cơ hội đổi đời đến với Mark Schultz khi anh được John du Pont (Steve Carell) ngỏ lời tài trợ với lý do những đô vật như anh xứng đáng được nước Mỹ tôn trọng và đãi ngộ. Không chỉ được trang bị điều kiện tập luyện và ăn ở tốt hơn trước kia gấp nhiều lần tại trang trại Foxcatcher rộng mênh mông của John du Pont, Mark còn tìm thấy ở du Pont một người có cùng cảnh ngộ, cùng chí hướng vươn tới đỉnh cao. Tuy giàu có hơn Mark ngàn vạn lần với đủ người hầu kẻ hạ nhưng về cơ bản John du Pont cũng là một kẻ cô độc. Jean du Pont (Vanessa Redgrave), mẹ của John vẫn còn sống, nhưng bà chỉ quan tâm tới lũ ngựa quý và bỏ mặc đứa con út với những bộ sưu tập tem, chim chóc, hay môn đấu vật mà bà chỉ coi là thứ thể thao “hạ cấp”. Cũng như Mark, John du Pont chưa bao giờ có bạn bè và có lẽ cái hoàn cảnh hết sức dị biệt ấy đã tạo nên một nhà triệu phú giàu có về mặt tiền bạc nhưng vô cùng nghèo nàn về mặt tình cảm với một khuôn mặt cứng đờ không có khả năng bộc lộ cảm xúc.



Niềm vui chẳng tày gang, Mark nhận ra rằng đối với John du Pont, anh và cả đội vật Foxcatcher chẳng qua cũng như những con ngựa của bà mẹ ông ta – chỉ là công cụ để nhà triệu phú cô độc tìm cho mình chút phù hoa ảo ảnh. Sự phù phiếm của du Pont khiến tinh thần và thành tích của Mark nhanh chóng đi xuống, tới mức ông ta buộc phải mời Dave Schultz về huấn luyện và vực dậy đội vật Foxcatcher. Sự chín chắn và kinh nghiệm lão luyện của Dave đã kéo Mark trở lại, nhưng đồng thời lại đẩy John du Pont về với thực tại rằng ông ta không thể làm “con đại bàng” (John tự gọi mình là “Eagle”) của đội vật Foxcatcher, nhất là với sự hiện diện của con đại bàng thực sự Dave Schultz. Cùng với việc bà mẹ già qua đời, John du Pont dần thu mình thành ông vua cô độc của cái vương quốc phù hoa không một tiếng động, không một bóng người ở trang trại Foxcatcher. Với những tham vọng phù phiếm nay bị kìm hãm trong cái nhà tù tinh thần ấy, John du Pont giờ đây chẳng khác gì thùng thuốc súng trực chờ ngày bùng nổ như bao thùng thuốc súng trong quá khứ đã từng đem lại danh vọng và tiền bạc cho nhà du Pont danh tiếng của ngành công nghiệp vũ khí.   



Nếu không đọc bảng phân vai của Foxcatcher có lẽ hiếm ai có thể nhận ra rằng người thủ vai John du Pont lạnh lùng với đôi mắt nhiều ẩn ức lại chính là Steve Carell, diễn viên hài từng cực kì thành công với chuỗi phim truyền hình The Office và rất nhiều vai hài ấn tượng trong The 40-Year-Old Virgin, Date Night hay Despicable Me (Carell lồng tiếng cho vai Gru). Trong Foxcatcher, người xem được chứng kiến một Carell thay đổi hoàn toàn cả về ngoại hình và phong cách diễn xuất. Thay vào một Carell luôn mang lại tiếng cười, người xem chỉ thấy một John du Pont vô cảm, cô đơn tới mức đau đớn, nhân vật mà chỉ riêng khuôn mặt không cảm xúc với cặp mắt buồn bã và dáng đi lầm lũi thôi đã đủ mang lại cảm giác thương cảm nhưng cũng có chút gì đó lành lạnh đáng sợ cho người xem. Nhân vật đối trọng với John du Pont là Mark Schultz được giao cho một diễn viên cũng nổi tiếng chủ yếu với các bộ phim hài như Magic Mike và 21 Jump Street là Channing Tatum. Và xuất sắc không kém Steve Carell, Channing Tatum đã hoàn toàn biến thành Mark Schultz - luôn mạnh mẽ trên sới vật, luôn hừng hực quyết tâm tập luyện, thi đấu để chiến thắng nhưng lại yếu đuối và ngây thơ ngoài đời thường. Dave Schultz, nhân vật mang lại sự cân bằng giữa hai trạng thái cực độ về cả thể chất và tinh thần ấy được giao cho Mark Ruffalo, người vốn luôn được khán giả yêu quý vì phong cách diễn xuất và vẻ ngoài điềm đạm, chắc chắn và đầy tin tưởng. Bộ ba Carell-Tatum-Ruffalo mỗi người mỗi vẻ đã biến Foxcatcher trở thành một trận đấu vật căng thẳng tới cực độ giữa những trạng thái cảm xúc đối lập, giữa tham vọng và nhân tính, giữa danh vọng phù phiếm và khát khao chiến thắng thật sự. 

Nếu như trong thể thao, một trận đấu vật chắc chắn sẽ có kẻ thắng người thua, thì ở sới vật Foxcatcher chẳng ai có thể là người thắng cuộc, bởi những tổn thương về mặt tinh thần thường không bao giờ lành. Và ở giữa cái bối cảnh rộng lớn và u buồn của trang trại Foxcatcher, người xem được chứng kiến những tổn thương ấy ngày một lớn lên, ngày một toác ra báo hiệu những bi kịch khó lòng tránh khỏi. Không ai có thể nói được rằng cách tiếp cận của đạo diễn Bennett Miller trong Foxcatcher là đúng với những gì đã xảy ra trong quá khứ với John du Pont, với anh em Dave-Mark, hay Foxcatcher đã giải thích được động cơ thật sự khiến John hạ sát Dave. Nhưng xét trên phương diện điện ảnh, Bennet Miller đã rất thành công trong việc xây dựng nhân vật cho Foxcatcher với những số phận, tính cách và bề ngoài hết sức riêng biệt. Có thể xem xong phim khán giả sẽ quên những đoạn đối thoại giữa bộ ba John du Pont và anh em Dave, Mark Schultz, nhưng có ai có thể quên ánh mắt ám ảnh của John du Pont ngồi trên chiếc “ngai vàng” của ông ta giữa căn phòng trống hay những giờ phút thất vọng đến cùng cực của Mark khi thua cuộc. Đây chính là lý do vì sao bộ phim xuất hiện trong rất nhiều danh sách “phim hay nhất năm 2014” dù kịch bản không quá phức tạp với một cái kết hầu như người xem nào cũng đã biết trước khi xem phim. Đôi khi những bộ phim “đơn giản” nhưng khắc họa được sâu sắc những tính cách, tâm trạng khác nhau của con người lại là những bộ phim “phức tạp” nhất, và Foxcatcher xứng đáng là một bộ phim như thế.

====