some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

Affichage des articles dont le libellé est music. Afficher tous les articles
Affichage des articles dont le libellé est music. Afficher tous les articles

samedi 11 février 2023

The Glance of Music (2021)

 



An extremely moving documentary about Ennio Morricone that came out very unfortunately a little bit after Morricone's own passing in 2020, probably due to the notorious long gestion time needed by Giuseppe Tornatore. This is an amazingly emotional film about Morricone's quest to create a new path for music in films, and more importantly his struggle to win approval from his very own teacher and colleagues in classical music, who only until A Fistful of Dollars and especially Once Upon a Time in America could finally admit that Morricone's works for these films are also music at its best, at its purest, and not just another "prostituting work" by a classical maestro for the film industry for "a fistful of dollars". Due to the very moving nature of Morricone's works, this film could easily bring the audience to tears, especially during the special sequences when Morricone and his colleagues retold his writing for the pinnacles of his film music career including the aforementioned A Fistful of Dollars, The Mission, and especially Once Upon a Time in America, or Joan Baez's Here's to You. Too bad that even though this film was directed by Tornatore, he saved very little time for his very own masterpiece Cinema Paradiso, the soundtrack of it - written by Morricone of course is probably among my most favourite (alongside with the music of Once Upon a Time in America). An amazing, amazing film nonetheless, which will stay with me for a long time I am very sure.

mardi 21 janvier 2020

Judy (2019)


Những người yêu âm nhạc và điện ảnh chắc hẳn đa phần đều biết rằng Over the Rainbow luôn được đánh giá là một trong những ca khúc quan trọng nhất trong lịch sử nhạc phim và âm nhạc đại chúng nói chung của Hoa Kỳ thế kỷ 20. Là ca khúc được Harold Arlen và Yip Harburg viết riêng cho bộ phim The Wizard of Oz, Over the Rainbow là mơ ước của cô bé Dorothy – nhân vật chính của phim về một mảnh đất diệu kỳ ở “phía bên kia cầu vồng” nơi "rắc rối tan biến như những viên kẹo ngọt", nơi cô có thể thoát khỏi những rắc rối, u buồn của cuộc đời. Thành công của Over the Rainbow vì thế cũng gắn liền với chất giọng trong trẻo và sau này là cả cuộc đời của nữ diễn viên thủ vai Dorothy trong The Wizard of Oz – Judy Garland. Làm quen với sân khấu từ tuổi lên 2, được ông trùm quyền lực của hãng phim Metro-Goldwyn-Mayer là Louis B. Mayer mời ký hợp đồng độc quyền khi mới 13 tuổi, năm 17 tuổi làm cả nước Mỹ mê đắm qua vai diễn Dorothy trong The Wizard of Oz, tưởng như đường đời của cô gái nhỏ nhắn với giọng ca vàng Judy Garland sẽ chỉ là một thảm hoa hạnh phúc trong những năm tháng trưởng thành. Nhưng áp lực nặng nề trong suốt giai đoạn phải gánh trên mình cái vai “thần đồng điện ảnh” lại đã khiến cuộc đời Judy Garland trở nên bi thảm hơn bao giờ hết. Bà vẫn giữ được giọng hát tuyệt vời, vẫn mang trong mình cái duyên sân khấu không ai có thể lấy đi, nhưng ma me, sự quyến rũ của những viên thuốc ngủ và thuốc giảm cân – những “người bạn” quen thuộc của Garland từ ngày còn phải liên tục đóng phim không ngừng nghỉ dưới chế độ làm việc hà khắc của Louis B. Mayer đã biến cô bé Dorothy dễ thương trở thành một “thảm hoạ” của các ông bầu vì thường xuyên trễ giờ hoặc bỏ xuất diễn. Việc thiếu vắng hơi ấm gia đình thời niên thiếu cũng khiến Judy Garland khi trưởng thành luôn khao khát thứ tình cảm khó kiếm này tới mức đôi khi cô trao gửi niềm tin và trái tim nhầm chỗ cho những người chỉ biết lợi dụng danh tiếng của cô bé Dorothy năm nào và đẩy cô đến chỗ táng gia bại sản. Nghiện ngập, nợ nần, chẳng có nổi một chỗ dựa vững chắc trong đời tư hay công việc, những năm tháng trưởng thành của Judy Garland thật sự quá khác biệt so với những gì cô bé Dorothy năm xưa hằng mong muốn khi cất lên những câu hát thánh thót của Over the Rainbow. 

Judy – tác phẩm mới nhất của đạo diễn Rupert Goold là bộ phim tiểu sử về ngôi sao huyền thoại trong những năm tháng bên kia sườn dốc ấy. Đó là giai đoạn Judy Garland (Renée Zellweger) vừa phải vật lộn với chứng nghiện rượu và thuốc triền miên, vừa phải góp nhặt từng đồng trên sàn diễn để trang trải nợ nần với hy vọng giành lại được quyền nuôi hai đứa con nhỏ Lorna (Bella Ramsey) và Joey (Lewin Lloyd) từ tay người chồng cũ vốn từng một thời hỗ trợ nhiệt thành cho cô trong vai trò người quản lý Sidney Luft (Rufus Sewell). Dù vẫn sở hữu khả năng làm chủ sân khấu và đặc biệt là vẹn nguyên giọng hát trời phú, nhưng vô số bê bối lớn nhỏ bên trong và bên ngoài sân khấu khiến Judy Garland không còn được các ông chủ thính phòng tại Hoa Kỳ chào đón và phải trôi dạt sang tận nước Anh xa xôi để tìm vận may tại hộp đêm Talk of the Town của ông chủ Bernard Delfont (Michael Gambon) với hy vọng rằng công chúng Anh hoài cổ và vẫn còn chưa biết tới những tai tiếng lan tràn của bà của Hoa Kỳ sẽ vẫn tìm tới để được xem, được nghe ngôi sao họ từng hâm mộ từ những năm trước Chiến tranh thế giới. Với sự hỗ trợ tận tuỵ của cô trợ lý nghiêm cẩn người Anh Rosalyn Wilder (Jessie Buckley) và sau đó là sự xuất hiện của anh chàng người yêu kém 12 tuổi Mickey Deans (Finn Wittrock), Judy Garland dần tìm lại được sự tự tin khi đứng trước đám đông và chiếm trọn tình cảm của công chúng Anh quốc khó tính. Nhưng cũng như nỗi ám ảnh vẫn luôn đeo đuổi đến từ những lời đe doạ thấu tim can của Louis B. Mayer (Richard Cordery) “thửa” riêng cho ngôi sao nhí của hãng MGM năm nào, những rắc rối đời tư, và tất nhiên là cả bệnh tật, nghiện ngập, và các vấn đề về tâm lý khác vẫn không buông tha ngôi sao nhỏ bé và yếu đuối đã bắt đầu ở cái tuổi chớm đông của cuộc đời. Càng cố gắng, Judy Garland càng nhận ra rằng có lẽ chốn tươi đẹp “bên kia cầu vồng” chỉ mãi là một thứ gì đó bên kia bờ ảo vọng mà bà chẳng bao giờ có thể vươn tới.

Renée Zellweger từng được coi là một trong những ngôi sao hạng A của Hollywood với nhiều thành công cả ở phòng vé và các lễ trao giải nhờ vào những vai diễn đáng nhớ như Dorothy Boyd trong Jerry Maguire (1996), Bridget Jones trong loạt phim Nhật ký tiểu thư Jones (2001, 2004, 2016), Roxie Hart trong Chicago (2002), và Ruby Thewes trong Cold Mountain (2003) – bộ phim đã đem lại cho Zellweger một giải Oscar cao quý ở hạng mục Vai nữ phụ xuất sắc nhất. Tuy nhiên trong suốt hơn một thập niên vừa qua, cũng như rất nhiều ngôi sao nữ khi đã toan về già ở cái tuổi 40, 50, Zellweger dần bị báo chí và công chúng quên lãng sau nhiều bộ phim không thành công, một giai đoạn rất dài suốt 6 năm trời không xuất hiện trên màn ảnh lớn, và một khuôn mặt ngày càng biến đổi và xơ cứng. Bởi vậy mà khi có tin Renée Zellweger được đạo diễn sân khấu người Anh Rupert Goold mời vào bộ phim điện ảnh hiếm hoi của ông Judy, rất nhiều người hâm mộ đã thầm hy vọng rằng Zellweger có thể lấy lại phong độ thời những năm cuối thập niên 1990, đầu thập niên 2000 của cô qua một vai diễn nặng ký và có chiều sâu về một huyền thoại điện ảnh cũng chạc ở vào cái tuổi của cô khi được đưa lên màn ảnh lớn – Judy Garland. Và những người đặt hy vọng vào sự hồi sinh của Renée Zellweger trong vai diễn này hẳn đã hài lòng khi lại được thấy một Zellweger chưa bao giờ là ngôi sao xinh đẹp nhất nhưng lại luôn là người khéo léo nhất trong việc khắc hoạ những góc cạnh khác nhau của nhân vật. Từ những cử chỉ lúng túng, vụng về, yếu đuối đến đáng thương ngoài đời thường đến sự khéo léo, tinh tế trong từng câu hát và uy lực làm chủ mọi sân khấu lớn, cả hai gương mặt tưởng chừng hoàn toàn trái ngược của Judy Garland được Renée Zellweger thể hiện một cách hoàn hảo bất chấp việc cơ mặt xơ cứng cùng hình thể tương đối khác biệt (Zellweger cao hơn Garland tới 12 cm) là những yếu tố không dễ gì vượt qua cho một diễn viên đã lâu không có những vai diễn đỉnh cao như Zellweger. Cũng đang trải nghiệm những năm tháng khủng hoảng của tuổi 40 – giai đoạn mà chính Judy Garland đã chẳng thể vượt qua, có lẽ Renée Zellweger đã suy nghĩ rất nhiều để chắt chiu tới từng cảnh quay trong “Judy” sao cho khi nhìn vào diễn xuất của cô, khán giả sẽ có thể phần nào đó cảm nhận được những ngày tháng, những nấc thang cuối cùng trước khi bước lên Thiên Đường của Judy Garland thay vì cảm thấy khó chịu vì khuôn mặt không còn thể hiện được nhiều cung bậc cảm xúc như của Renée Zellweger. 

Thật tiếc cho Renée Zellweger là khi so sánh với nỗ lực của cô để thể hiện thành công một vai diễn nặng ký như Judy Garland thì kịch bản của Judy do Tom Edge chắp bút dựa trên vở nhạc kịch End of the Rainbow của tác giả người Anh Peter Quilter lại không thực sự quá ấn tượng. Hầu như tất cả những người có chút am hiểu về điện ảnh hay lịch sử của Hollywood đều đã biết tới cuộc đời rất nhiều bi kịch của Judy Garland, có lẽ bởi vậy mà Judy vừa cố gắng tái dựng lại được những ngày tháng buồn bã cuối đời của huyền thoại Hollywood, nhưng đồng thời cũng muốn truyền tải tới khán giả tinh thần kiên cường, lạc quan bất chấp gian khó bất hạnh của người ca sĩ nhỏ bé gần như cả đời sống dưới ánh đèn của sàn diễn. Tuy nhiên bộ phim lại không có nhiều điểm nhấn với một kịch bản tương đối chậm, truyện phim không có cao trào, và tuyến nhân vật không thực sự được chăm chút ngoại trừ nhân vật trung tâm Judy Garland. Để so sánh, La Môme (2007) của đạo diễn người Pháp Olivier Dahan cũng là một tác phẩm tiểu sử về một nữ danh ca bé nhỏ với số phận nhiều bi kịch là Édith Piaf. Cùng sở hữu nhiều trường đoạn đặc tả ngôi sao của bộ phim trên sân khấu, nhưng khác với Judy, La Môme còn dành rất nhiều thời gian để đem tới khán giả những gương mặt khác ở phía sau cánh gà, những góc khuất trong tâm hồn của nữ ca sĩ huyền thoại thông qua chính lời kể của bà, và thông qua cả tính cách, số phận của những người người Édith Piaf hết mực yêu thương. Bởi vậy mà kể cả khi đã biết rất rõ sự nghiệp và đời tư của Édith Piaf – những chi tiết vốn đã được báo chí và truyền thông khai thác triệt để, người xem vẫn thấy hào hứng với La Môme khi họ được hiểu thêm về những cái tên đã để lại dấu ấn trong cuộc đời người ca sĩ, được hoà nhịp cảm xúc với những câu hát của Piaf cùng lúc với việc dõi theo những khúc quanh trong cuộc đời bà. Judy không có được những nhân vật phụ đáng nhớ như thế, bởi những nhân vật ít nhiều có ảnh hưởng tới Judy Garland trong những năm cuối đời như hai đứa con nhỏ Lorna và Joey, hai hai người chồng một mới một cũ Mickey Deans và Sidney Luft xuất hiện hết sức nhạt nhoà không chỉ bởi một kịch bản thiếu đất diễn mà còn vì diễn xuất cũng không mấy ấn tượng của Finn Wittrock và Rufus Sewell. Ngoại trừ phân đoạn rất cảm động trong tiếng hát của Over the Rainbow ở phần cuối phim, Judy cũng không có được những phân đoạn lồng ghép nhịp nhàng các ca khúc nổi bật trong sự nghiệp của Judy Garland với những thời điểm đáng nhớ trong cuộc đời bà như cái cách Olivier Dahan đã thực hiện một cách rất tài tình cho “La Môme”. Bởi vậy mà sau khi xem xong Judy, hẳn nhiều khán giả sẽ vẫn cảm thấy tiếc nuối và thòm thèm bởi sự thiếu vắng những chi tiết “đắt”, những nhân vật đủ sức năng cho một bộ phim tiểu sử lớn đầu tiên về ngôi sao bi kịch Judy Garland. 

Là ca sĩ của nhiều ca khúc tươi vui, nhưng cuộc đời của Judy Garland, đặc biệt là những năm ở phía bên kia sườn dốc có rất nhiều nốt trầm. Dù không phải là một tác phẩm hoàn hảo, nhưng Judy đã “tròn vai” trong việc đem tới khán giả những nốt trầm ấy nhờ vào diễn xuất tuyệt vời của Renée Zellweger trong một vai diễn đánh dấu sự trở lại của ngôi sao 50 tuổi này. Và quan trọng hơn cả, Judy còn có một nốt cao mà bản thân Judy Garland vẫn luôn lưu giữ trong chiếc cổ họng thần thánh và trong cả trái tim của bà – đó là tình yêu mãnh liệt đối với khán giả, với sân khấu, với niềm tin rằng bà đã, và sẽ luôn có thể đem lại niềm vui, đem lại sự hy vọng cho những khán giả yêu quý bà. Bởi thế mà dù đã tròn nửa thế kỷ kể từ ngày bà từ giã cuộc đời trần tục để đến với chốn thần tiên xứ Oz, những câu hát thánh thót của bà vẫn là niềm động viên, vẫn là sự khích lệ cho những người yêu quý giọng hát Judy Garland rằng ở phía bên kia cầu vồng, quả thực vẫn còn rất nhiều hy vọng, rất nhiều hạnh phúc đợi chờ. 

=========

lundi 5 novembre 2018

Bohemian Rhapsody (2018)


Năm 1970, tại sân bay Heathrow, London người ta chợt thấy sự xuất hiện của một anh chàng công nhân bốc dỡ trẻ tuổi vụng về, gầy gò, răng “hô”, luôn lẩn thẩn cầm theo giấy bút để ghi lại ca từ cho những bài hát tự sáng tác. Đó là Farrokh “Freddie” Bulsara (Rami Malek) – cậu sinh viên kiêm ca sĩ nghiệp dư xuất thân từ một gia đình nhập cư gốc Parsi chạy nạn đến Anh từ mảnh đất xa xôi Zanzibar (nay thuộc Tanzania). Là cậu con trai yêu quý của ông bà Bomi (Ace Bhatti) và Jer Bulsara (Meneka Das) nhưng Freddie luôn làm họ phiền lòng vì không chịu quyết tâm học hành kiếm lấy một nghề nghiệp ổn định mà chỉ quanh quẩn hàng đêm với các câu lạc bộ âm nhạc – sân khấu của các ban nhạc nghiệp dư vô danh. Trong một đêm nhạc như thế, Freddie làm quen được với hai nhạc sĩ nghiệp dư là tay ghi-ta Brian May (Gwilym Lee) và nghệ sĩ trống Roger Taylor (Ben Hardy) của nhóm nhạc vừa tan rã vì thiếu ca sĩ Smile. Bằng tình yêu âm nhạc, và chất giọng cao hiếm có đối với một nam ca sĩ, Freddie đã thuyết phục thành công cậu sinh viên vật lý vũ trụ Brian và nha sĩ tương lại Roger bỏ ngang những môn học nhàm chán để tập trung cho ban nhạc mới với cái tên Queen. Với cá nhân Freddie, anh quyết tâm biến Queen trở thành cuộc đời mới của mình bằng việc thay đổi họ từ Bulsara sang Mercury, và bỏ hết thời gian, tâm sức cho các ca khúc của Queen, và cho người bạn gái mới quen Mary Austin (Lucy Boynton). Tài năng của Freddie Mercury, và sự ăn ý của anh cùng Brian, Roger, và tay ghi-ta bass John Deacon (Joseph Mazzello) đã nhanh chóng biến Queen trở thành ban nhạc được cả thế giới chú ý. Con đường đi tới vinh quang của Freddie Mercury và nhóm Queen mà đỉnh cao là buổi biểu diễn được đánh giá là huyền thoại bậc nhất trong lịch sử nhạc Rock tại nhạc hội Live Aid năm 1985, cùng quá trình thai nghén các nhạc phẩm đáng nhớ của Queen như Bohemian Rhapsody, như Love of My Life là nội dung chính của Bohemian Rhapsody – bộ phim mới nhất của đạo diễn Bryan Singer.

Bohemian Rhapsody là tác phẩm tiểu sử đầu tiên về cuộc đời của Freddie Mercury – một trong những nghệ sĩ nhạc Rock được công chúng hâm mộ nhất trong suốt nửa thế kỷ qua, từ khi ông còn tung hoành trên những sân khấu lớn thập niên 1970, thập niên 1980 cho tới tận ngày hôm nay khi Mercury đã qua đời được hơn một phần tư thế kỷ. Có lẽ bởi vậy mà việc lựa chọn được một gương mặt thật xứng đáng để vào vai thủ lĩnh của nhóm Queen là khó khăn đầu tiên và lớn nhất đối với những nhà sản xuất của Bohemian Rhapsody kể từ khi dự án thực hiện tác phẩm này được Brian May – tay ghi-ta chính của nhóm Queen công bố lần đầu vào năm 2010. Từ tên tuổi lớn của dòng phim hài Anh quốc Sacha Baron Cohen cho tới ngôi sao người Anh của bộ phim Perfume Ben Whishaw được các nhà sản xuất phim cân nhắc mời vào vai Freddie Mercury nhưng rồi cả hai đều bỏ cuộc giữa chừng vì những khác biệt trong cách tiếp cận khi đưa Mercury lên màn ảnh lớn. Tưởng chừng dự án Bohemian Rhapsody sẽ trở nên bế tắc từ khâu chọn lựa diễn viên, nhưng rồi công chúng lại hết sức bất ngờ với tin Rami Malek – một diễn viên người Mỹ vốn chủ yếu được biết tới qua loạt phim truyền hình Mr. Robot lại là cái tên được đạo diễn Bryan Singer chọn mặt gửi vàng cho vai diễn Freddie Mercury. Bất chấp việc vai diễn Elliot Alderson trong Mr. Robot của Malek luôn được coi là một trong những nhân vật đáng chú ý nhất của truyền hình Mỹ từ năm 2015 trở lại đây, những fan trung thành của nhóm Queen và người yêu điện ảnh nói chung ngay lập tức đã tỏ ý lo ngại với lựa chọn của đạo diễn Singer, không chỉ vì Malek là người Mỹ, mà quan trọng hơn cả là vì nam diễn viên này có vẻ ngoài không giống so với Freddie Mercury và anh cũng chưa bao giờ thể hiện được tài năng ca hát trên màn ảnh lớn. Đây là một lo lắng hoàn toàn có cơ sở bởi một trong những điểm thu hút khán giả đầu tiên ở bất cứ bộ phim tiểu sử nào là việc liệu diễn viên trong phim có giống với nhân vật ngoài đời mà họ thủ vai hay không. Những hoài nghi như vậy có lẽ cũng đặt thêm gánh nặng lên vai của Rami Malek, bởi không chỉ bị soi xét về khả năng diễn xuất, anh sẽ bị hàng triệu người yêu nhạc Queen chỉ trích nếu hình tượng Freddie Mercury mà anh mang lên màn ảnh lớn không “giống” với hình ảnh Freddie Mercury mà họ vẫn lưu giữ trong tim suốt nhiều thập niên qua.

Nhưng ngoài việc là một bộ phim tiểu sử về một nhân vật có thật thì Bohemian Rhapsody còn là một tác phẩm điện ảnh – nơi các nhà làm phim thể hiện khả năng sáng tạo với những thử nghiệm nghệ thuật khiến công chúng phải ngạc nhiên. Một trong những ví dụ điển hình cho khía cạnh này của các bộ phim tiểu sử là việc đạo diễn Danny Boyle lựa chọn Michael Fassbender – nam diễn viên có vẻ ngoài hoàn toàn không giống Steve Jobs để vào vai người sáng lập hãng Apple trong bộ phim cùng tên Steve Jobs (2015). Chắc chắn bất cứ người xem nào sau những phút đầu của Steve Jobs cũng sẽ cảm thấy “nhột nhạt” vì ngoài phần trang phục và đầu tóc thì hình ảnh Steve Jobs mà Fassbender giới thiệu với họ hoàn toàn không giống một chút nào so với hình ảnh thật của Steve Jobs vốn đã trở nên quá quen thuộc với công chúng qua các buổi giới thiệu sản phẩm của hãng Apple. Nhưng rồi càng xem, họ càng bị cuốn hút bởi một Steve Jobs-điện ảnh với cái thần thái không lẫn đi đâu được của một Steve Jobs-huyền thoại. Không biết có phải được khích lệ từ thành công này của Fassbender hay không mà ngay từ những phút đầu tiên của Bohemian Rhapsody, Rami Malek đã lập tức gạt bỏ được sự nghi ngại của công chúng với diễn xuất nhẹ nhàng, thanh thoát, tràn đầy khí chất yêu nhạc, yêu người, và yêu đời của Freddie Mercury. Từ một cậu thiếu niên nhập cư rụt rè trước cuộc đời đến “nhạc trưởng” của hàng trăm nghìn khán giả trong các buổi biểu diễn của Queen. Từ một chàng thanh niên chỉ biết đến gia đình, cô bạn gái Mary Austin, và bộ ba Brian May – Roger Taylor – John Deacon của nhóm Queen đến ông hoàng của những buổi tiệc thâu đêm suốt sáng với những người bạn đồng tính. Tất cả những sắc thái rất khác nhau đó của Freddie Mercury được Rami Malek thể hiện một cách thuyết phục tới mức khán giả nhanh chóng quên đi rằng quả thực dù có hoá trang đến mấy thì diện mạo của Malek cũng không có nhiều điểm tương đồng với hình ảnh Mercury trên những đoạn băng phỏng vấn mà người ta có thể dễ dàng tìm thấy trên YouTube. Đó là bởi Rami Malek đã đem tới cho người xem cả hai khuôn mặt hết sức khác nhau, hết sức khó thể hiện của Freddie Mercury – đó là khuôn mặt rực lửa, đắm say với sân khấu của một “Bà hoàng” của âm nhạc của công chúng, và khuôn mặt yếu đuối, thèm khát một tình yêu đích thực, thèm khát được sống với chính mình của một ngôi sao chỉ biết làm bạn với những chú mèo trong căn biệt thự xa hoa vắng bóng người. Nụ cười thường trực trên môi trong các buổi phỏng vấn truyền hình, hình ảnh đầy chất anh hùng ca giữa sân vận động Wembley, đó là những gì công chúng thường nhớ tới về Freddie Mercury – huyền thoại âm nhạc. Nhưng để đi vào sâu hơn trong những cung bậc cảm xúc của Mercury, để hiểu hơn những gì ông đã phải trải qua để vươn tới vinh quang, để tìm thấy lại vinh quang trong quãng đời ngắn ngủi, có lẽ họ sẽ phải tìm tới Freddie Mercury của Bohemian Rhapsody qua diễn xuất xuất sắc của Rami Malek.

Tuy có một Rami Malek hết sức xuất sắc nhưng Bohemian Rhapsody khó có thể được coi là một bộ phim trọn vẹn. Không trọn vẹn ngay từ quá trình sản xuất khi đạo diễn chính của tác phẩm này là Bryan Singer bị hãng 20th Century Fox sa thải khi Bohemian Rhapsody đã quay được hơn hai phần ba vì những rắc rối trong đời tư và trong quan hệ với chính các diễn viên của phim như Rami Malek. Không trọn vẹn cũng vì những người thân cận nhất và yêu quý Freddie Mercury bậc nhất như Jim “Miami” Beach – người quản lý lâu năm của nhóm Queen hay tay ghi-ta Brian May có tiếng nói rất lớn đối với kịch bản của Bohemian Rhapsody (Beach cũng là một trong hai nhà sản xuất của bộ phim), bởi vậy họ toàn toàn có lý do để giữ cho hình ảnh của Mercury trên phim là những hình ảnh đẹp đẽ nhất, đáng quý nhất, gần gũi nhất với những gì người hâm mộ vẫn mang theo trong tim của thủ lĩnh nhóm Queen. Chính việc những người thân thiết với Freddie Mercury ngay từ đầu đã muốn Bohemian Rhapsody là một bức chân dung thật đẹp về ông đã khiến Sacha Baron Cohen – một diễn viên có tài và có diện mạo khá gần gũi với Mercury phải bỏ cuộc. Và cũng chính sự chăm chút có phần hơi quá đà này đã khiến Bohemian Rhapsody về tổng thể không thực sự là một bộ phim tiểu sử xuất sắc khi mà hầu hết những chi tiết được giới thiệu trên phim về cuộc đời Freddie Mercury đều là những gì công chúng đã được biết đến qua sách báo, qua các bộ phim tài liệu về Mercury và nhóm Queen. Những ai mong đợi được nhìn thấy một Mercury khác, một Mercury chưa từng được nhắc tới qua báo chí, phim ảnh chắc chắn sẽ cảm thấy thất vọng với Bohemian Rhapsody, đặc biệt là khi những nhân vật được coi là quan trọng trong đời tư của Mercury như cô bạn gái Mary Austin, như người bạn trai cuối đời Jim Hutton, như nghệ sĩ DJ Kenny Everett chỉ được giới thiệu một cách hời hợt qua diễn xuất không nhiều ấn tượng của Lucy Boynton, Aaron McCusker, và Dickie Beau. Đáng tiếc nhất trong số này có lẽ là trường hợp của Mary Austin – người phụ nữ xinh đẹp, thông minh, và hết mực nhạy cảm, người được Freddie Mercury tin tưởng, yêu thương cả cuộc đời tới mức giao phó cho cô việc chôn cất nắm tro tàn của Mercury sau khi ông qua đời. Những ai đã từng xem các bộ phim tài liệu về nhóm Queen và Freddie Mercury như Freddie Mercury, the Untold Story (2000) chắc chắn sẽ không thể quên cái cách Mary Austin nói về Mercury với ánh mắt tràn đầy yêu thương, với giọng nói run run khi nhắc nhớ những giờ phút quan trọng khi Mercury thừa nhận với cô việc mình là người lưỡng tính. Người xem Bohemian Rhapsody khó có thể cảm nhận được những nốt cảm xúc tương tự như vậy từ diễn xuất của Lucy Boynton, một phần vì cô có quá ít đất diễn trong một tác phẩm nhẽ ra nên dành nhiều thời gian hơn cho những tương tác cá nhân vốn đã góp phần tạo dựng nên cuộc đời và sự nghiệp của Freddie Mercury. Và thật ra với những hạn chế về mặt kịch bản từ ngay trong quá trình sản xuất của Bohemian Rhapsody thì việc có thêm đất diễn chưa hẳn đã là điều kiện đủ để các diễn viên phụ toả sáng, bởi nếu so với hình ảnh lấp lánh của Rami Malek trong vai Freddie Mercury thì Gwilym Lee, Ben Hardy, và Joseph Mazzello đều tỏ ra mờ nhạt trong vai bộ ba còn lại của Queen Brian May – Roger Taylor – John Deacon. 

Ngay cả lựa chọn vốn sẽ làm hài lòng nhiều người yêu nhạc Queen của các nhà làm phim là tái dựng lại gần như toàn bộ 21 phút biểu diễn huyền thoại của Freddie Mercury và nhóm Queen trong nhạc hội Live Aid ngày 13 tháng 7 năm 1985 tại sân vận động Wembley cũng không hẳn là một lựa chọn tốt về mặt nghệ thuật. Bởi dù có cố gắng đến mấy thì Malek, hay bất cứ nam diễn viên nào của Hollywood cũng có thể tái hiện hoàn toàn hào quang trên sân khấu của Freddie Mercury – một trong những ca sĩ với uy lực sân khấu mạnh mẽ nhất trong lịch sử dòng nhạc Rock. Và cũng chẳng kỹ xảo điện ảnh nào có thể thực sự mô tả lại sức nóng mãnh liệt của 72 nghìn người xem cuồng nhiệt năm xưa tại sân Wembley khi cuốn theo giọng ca hào hùng của Mercury trong Bohemian Rhapsody hay We Are the Champions. Với 21 phút quý giá trong thời lượng 2 tiếng 14 phút đó của bộ phim, các nhà làm phim hoàn toàn có thể dành nhiều thời gian hơn cho những phút riêng tư của Freddie Mercury, đặc biệt là trong giai đoạn cuối đời nhiều biến động, hay để giới thiệu những ca từ tuyệt đẹp nhưng cũng bi tráng và phần nào phản ánh niềm tin lấp lánh vào cuộc đời của Mercury kể cả khi đã cận kề cái chết của hai bài hát Don’t Stop Me Now và The Show Must Go On – hai khúc ca chỉ được vang lên khi bộ phim đã kết thúc. Tất nhiên dù có chê trách như vậy nhưng khó khán giả nào, đặc biệt là những người yêu nhạc của nhóm Queen, có thể quên được cách bộ phim tái hiện lại quá trình Freddie Mercury và các bạn nhạc của anh thai nghén siêu phẩm Bohemian Rhapsody, hay cái cách những nốt nhạc của Love of My Life gắn chặt với tình yêu và số phận của chính Freddie Mercury. Chừng ấy thôi có lẽ đã là quá đủ để sau khi theo dõi bộ phim người yêu nhạc lại cắm tai nghe để đung đưa theo những giai điệu của Queen, hay để những người trẻ vốn chỉ quen với Rap, với K-Pop lên YouTube tìm kiếm những đoạn phim quay lại các buổi biểu diễn sống với hàng trăm nghìn khán giả nơi Freddie Mercury là nhạc trưởng, là “Bà hoàng”, là vị thánh âm nhạc. 

Sau khi công chiếu Bohemian Rhapsody đã vấp phải một số chỉ trích từ giới phê bình vì nội dung nhạt nhoà, và vì cách đề cập thiếu điểm nhấn, thiếu chi tiết phần về giới tính, về quan hệ đồng giới, về căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS của Freddie Mercury. Đó là những chỉ trích hoàn toàn xác đáng vì quả thực kịch bản của Bohemian Rhapsody là quá “hiền lành” so với cuộc đời nhiều biến động của Mercury, và việc “thay ngựa giữa dòng” cho vai trò đạo diễn phim đã làm mạch cảm xúc của phim phần nào thiếu đi hiệu quả cần thiết. Nhưng với những người yêu nhạc, những người muốn tìm những giờ phút yên bình với một tác phẩm về một thiên tài âm nhạc đầy dị biệt, thì Bohemian Rhapsody vẫn là một lựa chọn hoàn toàn hợp lý. Bởi hãy cứ nhìn vào cách Rami Malek hoá thân vào hình tượng Freddie Mercury bùng nổ trên sân khấu khi thể hiện Bohemian Rhapsody, người xem chắc chắn sẽ cảm thấy nhẹ lòng khi nhớ ra rằng dù đã chia tay chúng ta hơn một phần tư thế kỷ, Mercury vẫn có thể truyền cảm hứng sống, truyền cảm hứng yêu đời, yêu người cho người yêu nhạc qua những khúc ca bất hủ của Queen – những bài hát với ca từ “dễ hiểu” có, “khó hiểu” có, nhưng luôn tràn đầy cảm xúc để có thể đi thẳng vào lòng người như Bohemian Rhapsody, như Love of My Life, như Radio Ga Ga.

=====

vendredi 19 octobre 2018

First Man (2018)


Ngày 21 tháng 7 năm 1969, nhà du hành vũ trụ người Mỹ Neil Armstrong trở thành người đầu tiên đặt chân lên Mặt Trăng, một kỳ tích vĩ đại về khoa học và công nghệ của loài người trong thế kỷ 20. Chỉ một năm nữa thôi nước Mỹ và thế giới sẽ kỉ niệm tròn nửa thế kỷ chuyến bay không gian Apollo 11 đã đưa Neil Armstrong, Buzz Aldrin, và Michael Collins tới Mặt Trăng, nhưng có lẽ câu nói của Armstrong "Đây là bước đi nhỏ bé của một người, nhưng là bước tiến khổng lồ của nhân loại" khi đặt chiếc ủng vũ trụ của ông xuống bề mặt cằn cỗi, lạnh lẽo và hoang vắng đến siêu thực của Mặt Trăng vẫn còn nguồn cảm hứng cho những người ham muốn tìm tòi, khám phá những thử thách mới mẻ và khó khăn của loài người. 

Hàng trăm triệu người xem truyền hình đã được chứng kiến những thước phim đen trắng quay lại cảnh Neil Armstrong và Buzz Aldrin cắm lá cờ sao vạch của Hoa Kỳ lên Mặt Trăng. Cũng đã rất nhiều học sinh có cơ hội được đọc những trang sách mô tả cuộc đua quyết liệt vào vũ trụ giữa Liên Xô và Hoa Kỳ những năm 1950, 1960 mà chuyến du hành Apollo 11 của Armstrong, Aldrin, và Collins được coi là một trong những điểm nhấn đáng nhớ nhất. Nhưng có lẽ không nhiều người biết rằng để có được thời khắc vươn tới Mặt Trăng, cá nhân Neil Armstrong và những thành viên của Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Hoa Kỳ NASA đã phải vượt qua vô số thử thách về mặt kỹ thuật và thể chất, cũng như phải trải nghiệm rất nhiều những mất mát về mặt tinh thần khi chứng kiến sự hy sinh của chính những người đồng nghiệp, đồng đội trong các chuyến bay thất bại. Đây cũng chính là nội dung của First Man – bộ phim mới nhất của đạo diễn Damien Chazelle với kịch bản chuyển thể từ cuốn tiểu sử chính thức về Neil Armstrong First Man: The Life of Neil A. Armstrong của tác giả James R. Hansen. Trong First Man, người xem lần đầu tiên được chứng kiến một cách chi tiết trên màn ảnh lớn chuyến bay từ Trái Đất tới Mặt Trăng dài 8 ngày của Neil Armstrong (Ryan Gosling), Buzz Aldrin (Corey Stoll), và Michael Collins (Lukas Haas) trong phi vụ Apollo 11. Nhưng không chỉ dừng lại ở đó, First Man còn đưa tới cho khán giả cuộc hành trình gian nan, vất vả không kém mà Armstrong phải trải qua từ khi còn là một phi công lái thử nghiệm chiếc máy bay North American X-15 năm 1961 cho đến thành công “một nửa” của chuyến bay Gemini 8 năm 1966, và kết thúc là bước chân đầu tiên của loài người trên Mặt Trăng ngày 21 tháng 7 năm 1969. Là “người đầu tiên” không có nghĩa là “người đơn độc”, luôn sát cánh bên Neil Armstrong trong những năm thử thách đó là những người bạn phi hành gia như Ed White (Jason Clarke), như Elliot See (Patrick Fugit), những người đồng nghiệp nhiệt thành như Deke Slayton (Kyle Chandler), và tất nhiên là người vợ luôn hết mực ủng hộ chồng Janet Shearon (Claire Foy). 

Vốn thường chứa đựng những câu truyện phiêu lưu mạo hiểm, đầy tính gợi mở dễ dàng lôi cuốn người xem, các cuộc du hành không gian đã trở thành đề tài quen thuộc ở Hollywood thậm chí từ trước khi Neil Armstrong đặt chân lên Mặt Trăng năm 1969 với tác phẩm kinh điển 2001: A Space Odyssey (1968) của đạo diễn Stanley Kubrick. Nhưng phải chờ tới khi kỹ nghệ đồ hoạ vi tính được các nhà làm phim Mỹ hoàn thiện trong thập niên 1980 và được khích lệ bởi thành công vang dội của hai thương hiệu Star Wars và Star Trek, đề tài thám hiểm vũ trụ mới thực sự cất cánh trên màn ảnh lớn với rất nhiều tác phẩm vừa ăn khách lại vừa được đánh giá cao về mặt nghệ thuật như Apollo 13 (1995) của Ron Howard, Gravity (2013) của Alfonso Cuarón, Interstellar (2014) của Christopher Nolan, và gần đây nhất là The Martian (2015) của Ridley Scott. Nếu xét trên khía cạnh này thì hẳn nhiều người đã cho rằng Damien Chazelle – đạo diễn trẻ hàng đầu của Hollywood ở thời điểm hiện tại sau liên tiếp hai thành công của Whiplash (2014) và La La Land (2016) sẽ rất dễ dàng chinh phục khán giả và giới phê bình với First Man – tác phẩm về một trong những sự kiện đáng nhớ nhất, kỳ vĩ nhất trong lịch sử nước Mỹ và lịch sử chinh phục không gian của loài người. Nhưng thực tế thì hoàn toàn không phải như vậy, bởi nếu nhìn kỹ thì người xem có thể thấy ngay rằng các bộ phim về không gian muốn thành công thường phải viện tới các đề tài hoàn toàn mang tính khoa học viễn tưởng như loạt phim Star Wars, Star Trek, hoặc nếu dựa trên sự kiện có thật thì đó phải là những sự kiện phải có cốt truyện cực kì kịch tính như chuyến bay thảm hoạ Apollo 13. Lựa chọn “ưu tiên” tối đa cho không gian giả tưởng này có một lý do rất đơn giản, đó là vì việc tạo ra các kỹ xảo điện ảnh về không gian “như thật” là hoàn toàn trong tầm tay của một nền điện ảnh vượt trội về mặt kỹ thuật và công nghệ như Hollywood, nhưng làm thế nào để truyền tải tới người xem cảm giác thật của những nhà du hành vũ trụ khi tiếp cận những chân trời mới lại là bài toán khó với bất cứ đạo diễn điện ảnh nào. Việc Chazelle lựa chọn cuốn tiểu sử chính thức về Neil Armstrong của James R. Hansen để chuyển thể lên màn ảnh lớn, và việc anh quyết định hợp tác với nhà biên kịch “chuyên trị” các sự kiện có thật trong lịch sử nước Mỹ là Josh Singer – tác giả kịch bản của các bộ phim đậm chất tài liệu gây tiếng vang như Spotlight (2015) và The Post (2017) cho thấy rằng Damien Chazelle đã quyết tâm chinh phục một mảng đề tài khó nhằn vốn chưa có nhiều tác phẩm đại diện của dòng phim khám phá không gian – các bộ phim về những cuộc thám hiểm vũ trụ “có thật”. Một thử thách khác của Damien Chazelle khi thực hiện First Man đó là việc khác với Apollo 13 – chuyến bay giông tố từng được Ron Howard chuyển thể rất thành công với sự thể hiện của Tom Hanks trong vai đội trưởng chuyến bay Jim Lovell, Apollo 11 của Neil Armstrong là một chuyến du hành vũ trụ tương đối suôn sẻ, không nhiều kịch tính. Hơn thế nữa là khác với nhiều nhà du hành vũ trụ vốn nổi tiếng hoạt ngôn, tích cực tham gia hoạt động xã hội như Buzz Aldrin thì Neil Armstrong lại nổi tiếng là người kín tiếng, không thích biểu lộ tâm trạng, hạn chế tiếp xúc với công chúng tới mức ông được gia đình đặt biệt danh là “người hùng miễn cưỡng của nước Mỹ” (“Reluctant American hero”). Chuyển thể một sự kiện nổi bật nhưng ít kịch tính, và khắc hoạ một nhân vật nổi tiếng nhưng ít cảm xúc như vậy trong một tác phẩm điện ảnh được công chúng đòi hỏi là phải chân thực nhưng vẫn hấp dẫn như First Man rõ ràng là một thử thách lớn kể cả với một đạo diễn từng giành giải Oscar như Damien Chazelle.

Vậy Damien Chazelle đã giải quyết thế nào bài toán chuyển tải cảm xúc khám phá không gian của những nhà du hành vũ trụ có thật, trong những chuyến bay có thật đến với khán giả? Câu trả lời nằm ở phần hình ảnh và âm nhạc tuyệt đỉnh của First Man. Chịu trách nhiệm cho phần hình ảnh của First Man là nhà quay phim người Thuỵ Điển Linus Sandgren – người từng giành giải Oscar cho quay phim xuất sắc nhất ngay trong lần hợp tác đầu tiên với Damien Chazelle qua bộ phim ca vũ La La Land. Nếu như nếu như La La Land tràn ngập những bối cảnh rực rỡ, đa dạng, và tươi vui của thành phố đông đúc, chật chội Los Angeles, thì phần hình ảnh của First Man lại là sự kết hợp một cách nhịp nhàng giữa các bối cảnh chật hẹp, rung lắc đến ngột thở của buồng lái tàu vũ trụ với không gian rộng lớn, bao la đến choáng ngợp từ tầng bình lưu của Trái Đất cho tới bề mặt Mặt Trăng. Chính sự tương phản về mặt không gian này đã giúp khán giả cảm nhận được phần nào cảm giác của chính những phi hành gia như Neil Armstrong trong khoảnh khắc vượt khỏi sự đeo bám của lực hấp dẫn Trái Đất để vươn tới những chân trời loài người chưa từng chạm tới. Chính cái cảm giác vươn cao, vươn xa để được thấy mình thực sự nhỏ bé trước sự vô tận của không gian, để được thấy mình chạm tới những thế giới mà qua hàng ngàn, hàng vạn năm con người mới chỉ có thể quan sát bằng mắt thường và kính viễn vọng đã giúp Neil Armstrong và các đồng đội của ông vượt qua những bài tập mệt mỏi đến nôn mửa với máy ly tâm, đã đem lại cho họ sức mạnh để “nhồi nhét” 600 trang sách động lực học tên lửa chỉ trong một tiết học, đã tạo cho họ niềm tin vào tương lai của các chuyến bay vũ trụ đầy bất trắc sau sự hy sinh của chính những người bạn đồng cam cộng khổ trong NASA. Dưới những góc máy xuất sắc của Sandgren, khán giả cũng đã có thể phần nào hiểu được cái cảm giác này qua First Man, đặc biệt là qua những cảnh quay đắt giá và có thể coi là xúc động nhất trong phim như khi Neil Armstrong lái chiếc X-15 vươn tới ranh giới giữa khí quyển Trái Đất và khoảng không vũ trụ, hay khi mô-đun mang tên đại bàng (“Eagle”) chở Neil Armstrong và Buzz Aldrin chạm xuống bề mặt trắng toát và bụi bặm của Mặt Trăng.

Nhắc tới dòng phim du hành vũ trụ không ai có thể quên được 2001: A Space Odyssey – tác phẩm đã khiến nhiều thế hệ khán giả trở nên mê đắm với không gian và những cuộc chinh phục vũ trụ nhờ vào vô số những đột phá về mặt kĩ xảo và hình ảnh của đạo diễn huyền thoại Stanley Kubrick. Bên cạnh phần hình ảnh thì một trong những khía cạnh thường được nhắc tới của 2001: A Space Odyssey là cách Kubrick sử dụng âm nhạc, và khoảng lặng, để giúp khán giả cảm thấy mình được là một phần của cuộc hành trình tới Mặt Trăng của các phi hành gia trong phim. Nếu như các bản nhạc cổ điển hùng tráng như Dòng Danube xanh của Johann Strauss II và đặc biệt là khúc mở đầu “Mặt Trời mọc” trong Also sprach Zarathustra của Richard Strauss được Kubrick vang lên trong phim để đem lại cho người xem cảm giác về sự bao la vô tận của vũ trụ, thì tại rất nhiều thời điểm trong 2001: A Space Odyssey, bao trùm lại là sự im lặng đến run người để nhắc nhớ họ một điều rằng những hình ảnh mà họ đang được chứng kiến thuộc về một thế giới khác, thuộc về một khoảng không khác nơi con người chỉ là những tạo vật xa lạ, nhỏ bé, và mỏng manh. Bởi vậy, hẳn những người từng yêu quý 2001: A Space Odyssey sẽ cảm thấy xúc động khi xem First Man của Damien Chazelle, bởi âm nhạc, và những khoảng lặng cũng chính là một điểm nhấn của bộ phim về một chuyến du hành có thực tới Mặt Trăng này. Vốn thành danh từ hai bộ phim về âm nhạc là Whiplash và La La Land, Damien Chazelle và người bạn lâu năm Justin Hurwitz – nhà soạn nhạc cho tất cả các tác phẩm của Chazelle kể từ ngày hai người còn ngồi chung giảng đường ở Đại học Harvard chắc hẳn đã đặt nhiều hy vọng vào việc tái hiện được cảm xúc mà 2001: A Space Odyssey đem lại cho khán giả qua cách sử dụng âm thanh. Và quả thực, dù có thể chê First Man vì thời lượng dài hay kịch bản thiếu điểm nhấn nhưng chắc chắn không khán giả nào không cảm thấy xúc động khi nghe những âm thanh hoài cổ của bản Lunar Rhapsody cất lên trong khoang tàu chật hẹp của Apollo 11, hay khi những nốt nhạc da diết của Justin Hurwitz cuốn theo những bước đi chậm rãi của Neil Armstrong trên bề mặt Mặt Trăng – một hình ảnh gợi nhớ tới phân đoạn nổi tiếng của 2001: A Space Odyssey khi các phi hành gia tiếp xúc với phiến đá đen bí ẩn lần đầu tiên trong một hố thiên thạch rộng lớn của vệ tinh duy nhất này của Trái Đất. Và cũng như 2001: A Space Odyssey, xen kẽ giữa các bản nhạc trong First Man cũng là vô số những khoảng tĩnh lặng cần thiết để người xem có thời gian bình tâm suy ngẫm về sự nhỏ bé của con người và Trái Đất giữa Vũ trụ bao la, suy ngẫm về khát khao chinh phục của những nhà du hành như Neil Armstrong, suy ngẫm về giá trị của những hy sinh về thời gian, về của cải, về cả tính mạng mà loài người đã bỏ ra để vươn được tới những địa điểm hoàn toàn xa lạ và chẳng có lấy một sự sống như Mặt Trăng. 

Tất nhiên, dù là phim tiểu sử nhưng First Man không phải là một phim tài liệu, bởi vậy chỉ thành công về mặt hình ảnh và âm thanh chưa thể là đủ nếu tác phẩm mới nhất của Damien Chazelle không kể được một câu truyện lôi cuốn khán giả về Neil Armstrong. Về khía cạnh này, sự miễn cưỡng trong giao tiếp với công chúng và bộc lộ tâm tư, tình cảm của Neil Armstrong được Chazelle và nhà biên kịch Josh Singer bù đắp bằng một loạt các nhân vật phụ xoay quanh cuộc đời Armstrong, và những bi kịch đời tư và bi kịch trong công việc vốn không hẳn trung thành 100% với cuộc đời nhà du hành vũ trụ huyền thoại. Nếu so sánh với hiệu quả cảm xúc về phần nhìn và phần nghe của phim thì việc xây dựng nhân vật trong phim chưa hẳn đã là điểm thành công nhất của First Man khi thời lượng phim không thể đủ để từng nhân vật phụ tạo dựng được chỗ đứng trong lòng khán giả bởi vai trò của họ thường xuyên bị khoả lấp bởi các phân đoạn dài và kịch tính hơn nhiều về những trục trặc kĩ thuật mà NASA gặp phải khi hướng tới Mặt Trăng. Kể cả hình tượng Neil Armstrong trong First Man tuy đem lại cảm hứng cho người xem với lòng khao khát khám phá không gian cũng không hẳn là một nhân vật ấn tượng về chiều sâu cảm xúc, một phần vì sự cô độc trong im lặng vốn là đặc trưng cho một nhà du hành kinh nghiệm đã chai sạn vì vô số những tai nạn và mất mát, một phần vì mạch cảm xúc của phim thường xuyên bị ngắt quãng giữa những bi kịch đời tư và những thành công trong sự nghiệp của Armstrong, và một phần bởi diễn xuất không thực sự có nhiều đột phá của Ryan Gosling nếu so sánh với các vai diễn xuất sắc khác của anh trong Drive (2011) và La La Land. Bởi vậy mà kể cả khi bộ phim khép lại với một phân đoạn hết sức xúc động, hết sức riêng tư của Neil Armstrong trên Mặt Trăng, hiệu quả cảm xúc mà cảnh phim này mang lại có lẽ cũng không hẳn được như ý muốn của Chazelle và Singer bởi cảm giác thiếu tự nhiên, thiếu mạch cảm xúc của cảnh phim với cuộc hành trình dài đằng đẵng từ chiếc X-15 đến Mặt Trăng của Armstrong. Điểm sáng lớn nhất trong dàn diễn viên của First Man có lẽ là Claire Foy – nữ diễn viên thủ vai người vợ giàu sức chịu đựng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ của Neil Armstrong. Vốn đã được coi là nữ diễn viên hàng đầu của màn ảnh nhỏ Anh-Mỹ trong vài năm trở lại đây với các vai diễn xuất sắc trong Wolf Hall và The Crown, Claire Foy mới chỉ thực sự “chào sân” Hollywood trong năm 2018 với một loạt vai diễn trong First Man, Unsane và sắp tới là vai diễn quan trọng Lisbeth Salander trong The Girl in the Spider's Web. Nhưng chỉ với riêng vai Janet Shearon trong First Man, Foy cũng đã khiến khán giả phải ngả mũ thán phục vì cô thậm chí còn toả sáng hơn cả bạn diễn Ryan Gosling bằng diễn xuất hết sức mạnh mẽ, đặc biệt là qua cặp mắt xanh ngắt giàu cảm xúc. Qua sự thể hiện của Claire Foy, người xem thực sự cảm nhận được những xung đột về mặt cảm xúc của một người vợ vừa muốn chồng mình làm nên lịch sử trong vai trò “Người đầu tiên”, vừa muốn người mình hết mực thương yêu ấy tránh khỏi những hiểm nguy rình rập của các cuộc du hành đầy chết chóc để mãi là “Người đàn ông của gia đình”. Chỉ nhìn vào ánh mắt sâu thẳm của Claire Foy thôi khán giả cũng phần nào có thể hiểu được rằng tại sao dù có cách xa Trái Đất hàng trăm nghìn cây số giữa khoảng không tĩnh lặng mênh mông của vũ trụ thì Neil Armstrong vẫn luôn cảm thấy bình yên nhất là khi được nghe những bản nhạc gắn liền với người vợ phương xa.

Ngay sau khi ra mắt công chúng, First Man đã vấp phải sự chỉ trích từ một số chính trị gia hoặc khán giả quá khích bởi họ cho rằng việc Damien Chazelle bỏ qua một trong những hình ảnh mang tính biểu tượng nhất của cuộc thám hiểm Mặt Trăng của Neil Armstrong và đồng đội là một hành động “không yêu nước”, không trân trọng thành quả nước Mỹ đạt được với chương trình Apollo trong bối cảnh ganh đua quyết liệt với Liên Xô. Ở chiều ngược lại, một số cũng lại cho rằng First Man là một bộ phim ca ngợi quá mức thành tựu khoa học kỹ thuật của nước Mỹ trong thập niên 1950, 1960 mà quên đi vô số những bi kịch mà nước Mỹ phải đối mặt trong cùng giai đoạn đó về mặt xung đột sắc tộc, xã hội, về những bước đầu sa lầy của nước Mỹ tại Việt Nam. Đó quả thực là những lời chỉ trích hết sức không cần thiết, bởi First Man đầu tiên và trên hết là bộ phim về Neil Armstrong, và về khát khao khám phá, chinh phục khoảng không của loài người chứ không phải một tác phẩm điện ảnh giới hạn về một thời điểm nhất định trong lịch sử của nước Mỹ. Có lẽ những người chỉ trích First Man đã quên rằng câu nói đầu tiên của Neil Armstrong – một người nổi tiếng dè dặt và ít phát biểu hoa mỹ khi đặt chân xuống bề mặt Mặt Trăng lại là "Đây là bước đi nhỏ bé của một người, nhưng là bước tiến khổng lồ của nhân loại". Chúng ta có thể cảm nhận được rằng Armstrong coi thành công của chuyến bay Apollo 11 và của cả chương trình không gian của NASA xứng đáng được coi là thành công chung của loài người sau nhiều thiên niên kỷ chỉ có thể ngắm nhìn “chị Hằng” từ một khoảng cách tưởng chừng chẳng bao giờ có thể khoả lấp. Chỉ khi coi thành công của Neil Armstrong là thành tựu chung như vậy, chúng ta mới có thể khuyến khích tất cả các quốc gia cùng chung tay trong công cuộc khám phá không gian nhiều vinh quanh nhưng cũng đầy rẫy nguy hiểm. Bởi đã hơn nửa thế kỷ sau những hy sinh lớn lao, thậm chí phải trả bằng máu và sinh mạng của Neil Armstrong và đồng đội, chỉ mới đây thôi chúng ta lại phải chứng kiến những cuộc chuyến bay vào vũ trụ thất bại như của tai nạn của cuộc phóng tên lửa Soyuz MS-10 ngày 11 tháng 10 năm 2018 vốn suýt chút nữa đã cướp đi sinh mạng của hai nhà phi hành một người Nga, một người Mỹ. Sau mỗi thất bại như thế, con người sẽ có thêm kinh nghiệm và bài học cần thiết để bay cao hơn, bay xa hơn vào trong vũ trụ. Nhưng điều đó chỉ có thể xảy ra nếu loài người vẫn mãi giữ trong mình khao khát chinh phục khoảng không, và tình yêu với những vẻ đẹp siêu thực ngoài không gian mà Neil Armstrong, mà Buzz Aldrin và đồng đội của họ luôn mang trong tim, và luôn sẵn sàng chia sẻ với cả thế giới. Tình yêu với không gian đó có lẽ cũng là thứ quan trọng nhất Damien Chazelle muốn truyền tải tới khán giả qua First Man. Và ở khía cạnh đó, chẳng ai có thể chỉ trích First Man, một bộ phim xứng đáng được coi là món quà kỉ niệm cho cả người yêu điện ảnh và không gian hướng tới dịp kỉ niệm nửa thế kỷ ngày Neil Armstrong đặt chân lên Mặt Trăng trong năm 2019.

========

lundi 5 mars 2018

Phantom Thread (2017)






Thủ đô nước Anh Luân Đôn những năm sau chiến tranh thế giới thứ hai vẫn là một đô thành cổ kính với vẻ đẹp quý tộc, đài các và những con người hết mực thanh lịch, hết mực trân trọng vẻ đẹp truyền thống. Đại diện tiêu biểu nhất cho tính cách người Luân Đôn những năm 1950 ấy là nhà tạo mẫu nổi tiếng Reynolds Woodcock (Daniel Day-Lewis) – tác giả của vô số những bộ váy đẹp tới ngột thở và là niềm mơ ước của không chỉ giới quý tộc Anh mà cả những công nương, công chúa từ các hoàng gia châu Âu khác. Thừa hưởng từ người mẹ quá cố tình yêu thời trang và sự chăm chút cho từng đường kim mũi chỉ ngay từ tuổi niên thiếu, Woodcock luôn đem đến cho khách hàng của ông những bộ váy vừa sang trọng một cách cổ điển, vừa đủ tinh tế để tôn lên vẻ đẹp riêng của người khoác lên mình bộ váy đó. Để có được những sản phẩm thời trang đầy chất nghệ thuật ấy, Reynolds Woodcock chọn cho mình một cuộc sống đẹp nhưng nhiều phần đơn độc. Ông dành phần lớn thời gian thu mình trong không gian sáng tạo và phó mặc việc quản lý nhà mốt Woodcock lẫn cuộc đời riêng của chính ông cho người thân duy nhất là bà chị gái Cyril (Lesley Manville). Nhưng dù có muốn tách mình khỏi cuộc sống trần tục đến mấy thì Woodcock vẫn cần có những nàng thơ trong đời – những cô gái trẻ với dáng hình cân đối có thể giúp ông ướm thử những ý tưởng sáng tạo trước khi đem chúng đến với khách hàng. Tất nhiên rất nhiều cô gái trẻ khó lòng cưỡng lại lời mời gọi trở thành nàng thơ trong nhà mốt Woodcock, không chỉ bởi tài năng và sự nổi tiếng của nhà tạo mốt hàng đầu Luân Đôn, mà còn vì ông thực sự là một người đàn ông tế nhị, và chu đáo với phụ nữ. Nhưng rồi họ nhanh chóng nhận ra rằng Woodcock trân trọng các nàng thơ của ông theo cái cách những người thợ may chăm chút cho các ma-nơ-canh bằng gỗ của họ - sự trân trọng hoàn toàn mang tính chất nghề nghiệp lạnh lẽo và hoàn toàn thiếu vắng tình cảm yêu thương giữa con người với con người. Hơn thế nữa, bà chị gái khó tính Cyril Woodcock cũng luôn sẵn lòng giúp Reynolds loại bỏ những nàng thơ như Johanna (Camilla Rutherford) khi họ có ý muốn vượt khỏi ranh giới nghề nghiệp ấy để lại gần hơn với tâm hồn tinh tế của bậc thầy thời trang. Một trong những cô gái trẻ đã phải lòng Reynolds Woodcock như vậy là cô hầu bàn Alma Elson (Vicky Krieps). Yêu Reynolds ngay từ cái nhìn đầu tiên, Alma nhanh chóng nhận lời trở thành nàng thơ mới nhất của nhà mốt Woodcock để được sống bên ông, để được ông hàng ngày khoác lên cơ thể cân đối của cô những bộ váy giúp tôn lên vẻ đẹp ngây thơ đến nao lòng của Alma. Nhưng khác với những nàng thơ “cũ” của Reynolds, Alma quyết tâm dùng tình cảm và sự mạnh mẽ của cô để tìm ra con đường đi vào trái tim của nhà tạo mẫu bất chấp cái nhìn dò xét của bà Cyril và quyết tâm hi sinh cả đời cô độc vì nghệ thuật của chính Reynolds Woodcock. Liệu Alma có trở thành một nạn nhân “mới” trên bước đường sáng tạo của Reynolds? Hay tình yêu mãnh liệt của cô sẽ giúp Elma mở được cánh cửa tâm hồn đóng chặt của nhà tạo mẫu danh tiếng?

Phantom Thread là bộ phim mới nhất của Paul Thomas Anderson – một trong những đạo diễn có phong cách riêng biệt nhất của Hollywood đương đại. Tính cho đến trước tác phẩm về thế giới thời trang này thì đạo diễn 47 tuổi Anderson đã cho ra đời 7 bộ phim khác nhau về bối cảnh, cốt truyện, và thể loại nhưng luôn có sức hút rất riêng nhờ tuyến nhân vật luôn sở hữu tính cách độc đáo, cấu trúc phim mở với phần kết thường chứa đựng những câu hỏi chưa lời giải đáp, và những bi kịch cá nhân được khai thác một cách hết sức nhân văn, thấm thía. Với truyện phim chủ yếu diễn ra trong không gian chật hẹp của nhà mốt Woodcock hay căn biệt thự chốn đồng quê của nhà tạo mẫu, và chỉ xoay quanh bộ ba Reynolds, Cyril, và Elma, Phantom Thread có thể coi là một trong những kịch bản giới hạn nhất về mặt bối cảnh và tuyến nhân vật của Paul Thomas Anderson – người luôn chắp bút cho tất cả các bộ phim ông đạo diễn. Nhưng sự hạn chế về mặt không gian và nhân vật như vậy không hề làm ảnh hưởng tới chất lượng nghệ thuật hay chất Paul Thomas Anderson của bộ phim, bởi ở Phantom Thread người xem vẫn được chứng kiến cách đạo diễn người Mỹ khắc họa hết sức sống động và tinh tế cách những tâm hồn đồng điệu tìm đến với nhau, hay sự biến đổi tâm lý bên trong những con người tưởng chừng lạnh lùng nhưng lại vô cùng nhạy cảm và dễ bị tổn thương vì sự cô độc. Trong thế hệ đạo diễn cùng thời ở Hollywood thì có lẽ khó ai có thể vượt qua được Paul Thomas Anderson về khía cạnh phân tích tâm lý nhân vật. Bất kể đó là những tác phẩm có rất nhiều số phận như Boogie Nights (1997), Magnolia (1999), The Master (2012) hay chỉ tập trung vào một vài nhân vật như Punch-Drunk Love (2002), There Will Be Blood (2007), Paul Thomas Anderson đều khiến khán giả phải rung động vì cách ông bóc tách từng lớp tâm hồn của mỗi nhân vật, gợi mở cho người xem những bi kịch trong tim các nhân vật đó qua những chi tiết, tuyến truyện lúc nhẹ nhàng, lúc bạo liệt nhưng luôn mang giá trị nhân văn gần gũi với khán giả. Với Phantom Thread, người xem lại một lần nữa có được may mắn ấy khi họ được Paul Thomas Anderson đem đến từng góc cạnh trong tâm hồn đẹp đẽ nhưng đầy phức tạp của Reynolds và Elma và những sợi chỉ tình cảm vô hình dần kết nối hai số phận rất khác biệt này. Theo từng nốt nhạc tuyệt phẩm của Jonny Greenwood – thành viên nhóm nhạc rock nổi tiếng Radiohead và là nhà soạn nhạc quen thuộc trong các bộ phim của Paul Thomas Anderson, tính cách và suy nghĩ của Reynolds và Elma dần biến đổi trước mắt khán giả bởi sự xuất hiện của những xung đột giữa sự hy sinh và lòng ích kỉ, giữa tình yêu cô độc với nghệ thuật, nghề nghiệp và khao khát được sẻ chia những khoảnh khắc hạnh phúc với người mình yêu. Phantom Thread là tác phẩm đầu tiên của Paul Thomas Anderson sau 7 bộ phim đậm chất Mỹ lấy bối cảnh nước Anh và các nhân vật người Anh, và chắc chắn những người dân của xứ đảo sương mù nổi tiếng với tính cách lạnh lùng cao ngạo nhưng tinh tế “phớt Ăng-lê” sẽ rất hài lòng khi thấy Paul Thomas Anderson xử lý những xung đột tình cảm như vậy một cách nhẹ nhàng, tế nhị, vừa đủ để gợi mở cho khán giả chứ không đầy ắp thoại và những cảm xúc sôi động “kiểu Mỹ”.

Một bộ phim tinh tế như Phantom Thread tất nhiên cần tới những diễn viên đủ nhạy cảm và tài năng để đưa cảm xúc, suy nghĩ của các nhân vật tới khán giả mà không cần phải dùng tới quá nhiều thoại hoặc cách diễn thậm xưng. Bộ ba được Paul Thomas Anderson trao niềm tin trong Phantom Thread là hai diễn viên gạo cội người Anh Daniel Day-Lewis và Lesley Manville và gương mặt mới người Luxembourg Vicky Krieps với vai diễn “chào sân” Hollywood. Đặc biệt sự hiện diện của Daniel Day-Lewis trong Phantom Thread thậm chí là đề tài được nhiều người quan tâm hơn việc một đạo diễn nổi tiếng như Anderson có tác phẩm mới đầu tiên sau 3 năm, bởi ngôi sao từng giành tới 3 tượng vàng Oscar cho vai nam chính xuất sắc nhất đã tuyên bố rằng đây sẽ là bộ phim cuối cùng trước khi ông giải nghệ điện ảnh. Day-Lewis được coi là một diễn viên cực kì kén phim vì ông luôn phải bỏ hết tâm sức và trí tuệ để hoàn toàn nhập vai vào từng nhân vật – ông chỉ có vỏn vẹn 7 vai diễn trên màn ảnh lớn trong vòng 20 năm qua với phần nhiều trong số đó được đánh giá là những vai diễn xuất sắc, thậm chí được xếp vào hàng kinh điển như trong Gangs of New York (2002), There Will Be Blood, hay Lincoln (2012). Bởi vậy người xem đã hết sức mong đợi Phantom Thread để được chứng kiến Daniel Day-Lewis cúi chào khán giả lần cuối với một vai diễn như thế nào. Quả thực, với vai diễn Reynolds Woodcock, Day-Lewis đã đáp lại sự kì vọng của khán giả và niềm tin của Anderson – đạo diễn bộ phim đem lại giải Oscar thứ hai cho ông là There Will Be Blood. Khác hẳn với vai diễn Daniel Plainview bùng nổ và bạo liệt trong There Will Be Blood, Reynolds Woodcock qua diễn xuất của Daniel Day-Lewis lại là hiện thân của sự tinh tế và tâm hồn yêu cái đẹp kiểu Anh khi mà ngay từ những giây phút đầu tiên của Phantom Thread, Day-Lewis đã khiến khán giả phải nín thở vì những cử chỉ và lời nói vô cùng nhẹ nhàng, ý nhị nhưng luôn chứa đựng ý nguyện sắt đá hy sinh tất cả vì nghệ thuật của Reynolds. Và cùng với sự tiến triển của truyện phim, sự sắt đá trong tâm hồn đó của Reynolds Woodcock được Daniel Day-Lewis dần biến đổi thành những giờ phút mỏng manh trong tâm hồn chỉ bằng ánh mắt biết nói, chỉ bằng sự im lặng đầy do dự đến từ kĩ năng diễn xuất khó ai sánh bằng của ngôi sao hàng đầu Hollywood. Nếu so với những nhân vật có sẵn sức nặng của lịch sử mà Daniel Day-Lewis từng hóa thân như Christy Brown trong My Left Foot (1989), Bill Đồ Tể trong Gangs of New York, Daniel Plainview trong There Will Be Blood, hay tổng thống Lincoln trong Lincoln thì rõ ràng một nhà tạo mẫu với tính cách có phần kì dị như Reynolds Woodcock khó có thể sánh được về mặt tạo ấn tượng đối với khán giả. Nhưng với kịch bản xuất sắc của Paul Thomas Anderson và diễn xuất đã đến tầm tuyệt phẩm của Daniel Day-Lewis, ngay cả những người xem bình thường nhất cũng có thể tìm thấy một phần tâm hồn mình khi chứng kiến Reynolds Woodcock loay hoay trong cuộc tìm kiếm hạnh phúc đích thực trong cuộc đời ông, nhất là sau khi bức tường lạnh lùng bao quanh trái tim của nhà tạo mẫu dần tan chảy trước tình cảm nồng nhiệt của cô gái trẻ Alma. Thật khó có thể nói rằng Day-Lewis có cơ hội giành tượng vàng Oscar thứ 4 trong sự nghiệp khi mà hạng mục vai nam chính trong mùa giải thưởng điện ảnh năm nay chứng kiến sự thống trị gần như là tuyệt đối của Gary Oldman với vai diễn thủ tướng Winston Churchill trong Darkest Hour. Nhưng nếu như Daniel Day-Lewis vẫn quyết tâm từ giã nghiệp diễn viên điện ảnh như ông đã nói, thì Reynolds Woodcock hoàn toàn xứng đáng là vai diễn khép lại một trong những sự nghiệp xuất sắc nhất trong lịch sử Hollywood của Day-Lewis bởi ở vai diễn này người xem có thể cảm nhận được tất cả sự nhạy cảm, tinh tế, và nhập vai đến quên mình vốn đã làm nên thương hiệu của ngôi sao đã đến tuổi lục thập người Anh này.

Nếu như những lời khen cho Daniel Day-Lewis có thể coi là “đương nhiên” bởi tài năng đã được kiểm chứng của ông, thì khán giả cũng nên dành sự trân trọng cho Lesley Manville và đặc biệt là Vicky Krieps vì hai nữ diễn viên này vẫn tìm được chỗ đứng trong bộ phim với những vai diễn xuất sắc không hề bị phủ bóng bởi sức hút điện ảnh mãnh liệt của Day-Lewis. Trong tiếng Anh, cụm từ stiff upper lip (“môi trên không mấp máy”)  thường được dùng để ví von cho tính cách “phớt Ăng-lê” của người dân xứ đảo sương mù – luôn kiên định và không biểu lộ cảm xúc ra bên ngoài dù trong bất cứ tình huống nào. Qua sự thể hiện của Manville, Cyril Woodcock có lẽ chính là một trong những hiện thân xuất sắc nhất của stiff upper lip trên màn ảnh lớn vài năm trở lại đây khi mà bà chị khó tính của Reynolds Woodcock không chỉ là cái neo với thực tại cho nhà tạo mẫu vốn luôn bay bổng với những hình vẽ và chi tiết, mà Cyril còn chính là chỗ dựa về mặt tinh thần cho Reynolds trong những phút yếu lòng. Tuy không thực sự là một gương mặt quen thuộc ở Hollywood nhưng Lesley Manville được coi là một trong những tên tuổi lớn trong giới diễn xuất điện ảnh và sân khấu của Anh, vì vậy sự xuất sắc của bà trong vai Cyril Woodcock cũng đã nằm trong dự đoán của báo giới và người yêu điện ảnh. Bởi vậy ngạc nhiên lớn nhất của Phantom Thread có lẽ là sự xuất hiện của cái tên mới Vicky Krieps trong vai Alma Elson. Không hề lép vế trước tên tuổi của Day-Lewis với nhân vật giàu chiều sâu Reynolds Woodcock, cô gái trẻ Alma của Krieps nhanh chóng chiếm được cảm tình từ khán giả nhờ vẻ đẹp ngây thơ, khỏe khoắn ở phần đầu phim, rồi từ đó khiến họ đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác với sự biến đổi đầy ấn tượng về tính cách, về những câu thoại và cử chỉ thông minh đến từ “nàng thơ” mới nhất của nhà mốt Woodcock. Sự chủ động, nhiệt thành trong tình yêu của Alma đã bổ sung một cách hoàn hảo cho sự bị động, do dự, và thu mình của Reynolds để làm nên một bức tranh sống động về tình yêu, về cách thức những con người đang yêu tìm đến với nhau qua những sợi chỉ vô hình của sự đồng điệu. Một Reynolds tinh tế và dị biệt, một Cyril lạnh lùng và quyết đoán, một Alma sôi nổi, nhiệt thành, chỉ ba nhân vật đó thôi cũng đã giúp Phantom Thread sở hữu tuyến nhân vật xuất sắc bậc nhất trong số các tác phẩm điện ảnh của Hollywood năm 2017, và hoàn toàn có thể sánh ngang với những bộ phim với tuyến nhân vật hết sức dày dặn khác của Paul Thomas Anderson như Boogie Nights, Magnolia, hay The Master.
 
Phantom Thread là một tác phẩm điện ảnh đẹp. Bộ phim đẹp vì những bộ váy tuyệt hảo gợi nhớ về cái chất quý tộc vốn đã phai nhạt rất nhiều trong những năm 1950 ở nước Anh. Bộ phim đẹp vì phần nhạc phim lôi cuốn của Jonny Greenwood và những góc quay đặc tả các góc cạnh ấn tượng của từng nhân vật do chính Paul Thomas Anderson góp tay thực hiện. Nhưng trên hết, bộ phim đẹp vì những nhân vật với tính cách đặc sắc, vì những sợi chỉ tình cảm vô hình kết nối họ thông qua nỗi sợ sự cô đơn, thông qua lòng khát khao được yêu, được ở bên người mình yêu. Và xin khán giả hãy đừng quên rằng, khi xem bộ phim đẹp ấy, họ cũng đã được chứng kiến vai diễn cúi chào màn ảnh lớn lần cuối cùng của Daniel Day-Lewis – một trong những tên tuổi lớn nhất và xuất sắc nhất của điện ảnh Hollywood.

======

Bản đã biên tập trên Zing.

lundi 6 février 2017

Sing Street (2016)




Trong những năm đầu thập niên 1980, Dublin, thủ đô đảo quốc Ireland, là một thành phố u buồn. Bầu trời xám xịt quen thuộc của quốc gia phương Bắc không chỉ ngăn những tia nắng Mặt Trời ấm áp đến với người dân Dublin mà dường như còn tước đi tương lai của những người trẻ của thành phố cằn cỗi này, khiến họ hoặc phải vượt biển sang nước Anh – nơi London sẵn sàng chào đón họ với những cơ hội đổi đời, hoặc sống mòn ở quê hương với những giấc mơ không bao giờ thành hiện thực. Đại diện cho không khí u ám và những mơ ước không thành của Dublin là gia đình nhà Lawlor. Sự nghiệp thất bại và xích mích triền miên của hai vợ chồng Robert (Aidan Gillen) và Penny Lawlor (Maria Doyle Kennedy) khiến ba đứa con của họ Brendan (Jack Reynor), Ann (Kelly Thornton), và cậu út nghệ sĩ Conor (Ferdia Walsh-Peelo) rơi vào trạng thái trầm cảm triền miên. Là con út trong nhà, Conor là người chịu tác động lớn nhất từ những xáo trộn của gia đình khi cậu vừa phải đối mặt hàng ngày với những cuộc cãi vã của bố mẹ mà không có sự động viên của anh chị - những người vốn đã chọn cách buông xuôi với số phận từ lâu, vừa phải chuyển sang học tại trường Công giáo miễn phí Synge Street để giảm bớt gánh nặng kinh tế cho cả nhà. “Công giáo” đồng nghĩa với hà khắc, “miễn phí” đồng nghĩa với môi trường phức tạp, việc hòa nhập vào ngôi trường mới của Conor – cậu thiến niên với tâm hồn lãng mạn là chẳng hề dễ dàng nhất là khi cậu ngay lập tức phải đối diện với ông thầy hiệu trưởng khắc kỷ Baxter (Don Wycherley) và gã bạn học đầu gấu Barry (Ian Kenny). Bao vây bốn phía bởi nỗi buồn gia đình và kỷ luật hà khắc nơi trường học, nhưng Conor chẳng hề nản lòng, bởi bên cậu còn có tình yêu âm nhạc. Cậu nhanh chóng tìm được những người bạn có cùng niềm đam mê với những nốt nhạc và lời hát như mình, đó là “nhà quản lý” Darren (Ben Carolan), là cậu bạn đa tài Eamon (Mark McKenna), tay trống da đen Ngig (Percy Chamburuka), và bộ đôi Larry (Conor Hamilton) và Garry (Karl Rice). Với cái tên rất kêu “Sing Street” – “Con phố ca hát”, ban nhạc thiếu niên của các cậu bé trở thành nơi Conor trút hết mọi tâm tư vào từng bài hát, và cũng là “chú bồ câu đưa thư” để Conor bày tỏ những rung động đầu đời của cậu với cô bạn gái cá tính Raphina (Lucy Boynton). 

Trong vòng 10 năm trở lại đây, John Carney có lẽ là một trong những cái tên đáng chú ý hiếm hoi của dòng phim ca nhạc với những bộ phim xuất sắc như Once (2007) và Begin Again (2013). Vượt khỏi khuôn khổ những bộ phim ca nhạc thông thường, các tác phẩm của Carney không chỉ sở hữu nhạc phim ấn tượng mà còn luôn khiến khán giả phải xúc động với nội dung lãng mạn, đậm tính nhân văn về số phận những người nghệ sĩ trăn trở với sự nghiệp và lẽ sống. Tương tự như hai bộ phim tuyệt vời về âm nhạc đó, Sing Street cũng nói lên sức mạnh của âm nhạc trong việc giúp những tâm hồn lãng mạn vượt qua khó khăn vật chất của cuộc sống để tìm thấy tình yêu và hy vọng. Nhưng với nhân vật chính là những cô bé, cậu bé đang sống trong những năm tháng niên thiếu đẹp đẽ nhất, đạo diễn Carney đã tạo nên sự khác biệt cho Sing Street bằng một bầu không khí lạc quan, tươi mới xuyên suốt bộ phim. Có thể sẽ có khán giả cảm thấy tiếc khi John Carney không khai thác hết tiềm năng của bối cảnh khắc nghiệt rất “điện ảnh” của phim –tầng lớp lao động Dublin trong những năm 1980 đầy khó khăn, nhưng kịch bản nhẹ nhàng, đơn giản và sáng sủa của ông có lẽ lại là một lựa chọn phù hợp hơn cho một tác phẩm lấy âm nhạc làm chủ đạo như Sing Street.

Về phần âm nhạc, chắc chắn Sing Street sẽ khiến những người yêu dòng nhạc pop-rock thập niên 1970-1980 cảm thấy xúc động bởi bộ phim tràn ngập hơi thở sắc màu, lạc quan đến ngạo nghễ của âm nhạc giai đoạn này. Với sự cộng tác của nhạc sĩ người Scotland Gary Clark – thành viên của ban nhạc nổi tiếng những năm 1980 Danny Wilson, Sing Street thực sự là một bữa tiệc của pop-rock với những khúc hát quen thuộc của các ban nhạc từng làm mưa làm gió trong làng nhạc Anh-Mỹ thời kỳ hậu Beatles như A-ha, Motorhead, Duran Duran, The Jam hay The Cure, cùng những bản nhạc mới được sáng tác riêng cho phim nhưng cũng mang đậm tinh thần tự do phá cách nhưng vẫn đầy lãng mạn của những năm 1980. Đặc biệt hơn nữa, bộ phim còn đem đến cho khán giả những video âm nhạc “nhà làm” thô sơ nhưng đầy cảm hứng của ban nhạc “Sing Street” với những màu sắc và góc quay gợi nhớ đến những năm tháng đầu tiên khi video âm nhạc thực sự trở thành một phần không thể thiếu của các bài hát và tạo nền tảng cho sự phát triển của kênh MTV trên toàn thế giới.

Trong thành công của Sing Street tất nhiên không thể không kể tới diễn xuất tuyệt vời của dàn diễn viên trẻ tuổi của phim. Tuy John Carney không thực sự chú trọng vào việc phát triển tính cách hoặc khai thác nội tâm các nhân vật của ông, nhưng nhờ vào diễn xuất trong sáng, tự nhiên của những gương mặt trong ban nhạc "Sing Street” – vốn phần lớn là những diễn viên lần đầu làm quen với màn ảnh lớn, khán giả vẫn có thể cảm nhận được tình yêu âm nhạc và cuộc sống tràn đầy trong tâm hồn các nhân vật của bộ phim. Được công chiếu từ ngay đầu năm 2016 và bởi thế không xuất hiện trong nhiều danh sách giải thưởng điện ảnh cuối năm ngoại trừ hạng mục nhạc phim, nhưng Sing Street vẫn có thể coi là một tác phẩm quan trọng của năm 2016 và là một bước tiến mới của John Carney bởi bộ phim đã cho người xem thấy rằng, sau tất cả những u phiền – thứ mà năm 2016 cả thế giới đã phải chứng kiến quá nhiều, chúng ta vẫn có thể lại gần bên nhau để giữ vững tình yêu cuộc sống và tìm thấy hy vọng trong tương lai nhờ thứ ngôn ngữ không biên giới – âm nhạc.