some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

mardi 7 février 2017

Jackie (2016)


Ngày 22 tháng 11 năm 1963, tổng thống thứ 35 của Hoa Kỳ John F. Kennedy bị một viên đạn bắn tỉa hạ gục khi ngồi trên xe mui trần vẫy chào người dân Texas tại quảng trường Dealey, thành phố Dallas. Người ngồi cạnh tổng thống Kennedy trong thời điểm định mệnh đó và cũng là người chứng kiến những giờ phút cuối cùng của vị tổng thống trẻ tuổi là đệ nhất phu nhân Jacqueline "Jackie" Kennedy. Năm 1963 quả là một năm định mệnh trong cuộc đời Jackie Kennedy khi chỉ ba tháng trước vụ ám sát tổng thống Kennedy, bà đã phải đau đớn chia lìa đứa con trai út Patrick chết yểu khi mới được 2 ngày tuổi. Khi váy áo vẫn còn vương máu của người chồng quá cố, Jackie Kennedy đã phải đương đầu với một loạt thử thách khó khăn, từ quyết định các chi tiết cho lễ quốc tang của chồng, tới chăm lo cho hai đứa con nhỏ Caroline và John Jr., cũng như gói gém đồ đạc của gia đình Kennedy ở Nhà Trắng để trao trả nó cho chủ nhân mới – vợ chồng tổng thống Lyndon B. Johnson.



Những ngày lịch sử tháng 11 năm 1963 cùng diễn biến tâm lý của Jackie Kennedy sau vụ ám sát chồng bà là chủ đề của Jackie – bộ phim tiểu sử tiếng Anh đầu tiên của đạo diễn người Chile Pablo Larraín. Với trung tâm là cuộc phỏng vấn Jackie Kennedy (Natalie Portman) của nhà báo nổi tiếng của tờ “Life” Theodore H. White (Billy Crudup), Jackie đưa tới khán giả hai hình ảnh rất khác biệt của Jackie Kennedy – một Đệ nhất phu nhân quyền quý, e dè trước ánh mắt của công chúng và trên truyền hình Mỹ, và một người phụ nữ mạnh mẽ phải hy sinh tham vọng, hạnh phúc cá nhân cho thành công của người chồng John F. Kennedy (Caspar Phillipson) và sự bình an của hai đứa con nhỏ Caroline (Sunnie Pelant) và John Jr. (Brody và Aiden Weinberg). Bên cạnh nhân vật chính Jackie Kennedy, Jackie cũng giới thiệu đến khán giả hình ảnh của một loạt cái tên đáng nhớ khác của lịch sử hiện đại Hoa Kỳ và phản ứng của họ đối với cái chết đột ngột của John F. Kennedy, từ em trai vị tổng thống quá cố - Tổng trưởng lý Hoa Kỳ Robert F. Kennedy (Peter Sarsgaard), cho tới thư ký Nhà Trắng và là người bạn thân thiết của Đệ nhất phu nhân Nancy Tuckerman (Greta Gerwig), và cả người kế nhiệm của John F. Kennedy – tổng thống Lyndon B. Johnson (John Carroll Lynch).



Với đa số người Mỹ hoặc những ai ít nhiều am hiểu về lịch sử nước Mỹ hiện đại thì hẳn Jackie Kennedy luôn được nhớ tới với tư cách Đệ nhất phu nhân đầu tiên thổi luồng gió hiện đại vào cuộc sống của Nhà Trắng. Dù lịch sử các đời tổng thống Mỹ trước đó đã ghi nhận nhiều vị Đệ nhất phu nhân có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự nghiệp và suy nghĩ của những người chồng quyền lực của họ như Mary Todd Lincoln (vợ tổng thống Abraham Lincoln) hay Eleanor Roosevelt (vợ tổng thống Franklin D. Roosevelt), nhưng vẻ đẹp trẻ thanh lịch của người phụ nữ 31 tuổi sinh ra trong một gia đình thượng lưu New York cùng sự năng động trong các hoạt động văn hóa xã hội đã giúp Jackie Kennedy được công chúng nhớ tới trong vai trò của một Đệ nhất phu nhân-bà chủ của Nhà Trắng thực sự chứ không chỉ đơn thuần là “bà Kennedy”-vợ tổng thống. Hình ảnh đáng nhớ đó của Jackie Kennedy, cùng cử chỉ và ngữ điệu rất đặc biệt của bà, được truyền tải một cách đầy đủ trong Jackie, nhưng là để làm nền cho một Jackie Kennedy khác mà công chúng chưa hề biết tới. Đó là một Jackie Kennedy đau khổ đến cùng cực vì phải chứng kiến người chồng hết mực yêu thương chết ngay trên vòng tay của mình. Đó là một Jackie Kennedy khát khao hạnh phúc, khát khao quyền lực và danh vọng nhưng phải kìm nén tất cả vì chồng con để rồi phải trở thành cái bóng cô độc giữa Nhà Trắng rộng lớn và hiu quạnh. Những gì được ghi chép lại trong lịch sử chưa chắc đã phản ánh đúng sự thật, Jackie Kennedy đã nhận xét như vậy trong cuộc phỏng vấn thân mật nhưng cũng hết sức căng thẳng với Theodore H. White. Và hình ảnh nào của bà trong Jackie mới là chân dung thật sự của Đệ nhất phu nhân thứ 35, mới phản ánh đúng tâm tư, suy nghĩ của Jackie Kennedy, chắc chỉ có chính Jackie và người nhận lời xưng tội của bà – Đức cha Richard McSorley (John Hurt) mới có thể có câu trả lời cuối cùng. Nhưng không khí căng thẳng đậm màu tư liệu lịch sử của Jackie cùng sự chăm chút của nhà biên kịch Noah Oppenheim và đạo diễn Pablo Larraín đến từng chi tiết trong cử chỉ, lời nói của vị Đệ nhất phu nhân ít ra cũng đã giúp người xem hiểu thêm rất nhiều về Jackie Kennedy trong những ngày tháng đầy bi kịch của bà.



Là một bộ phim tiểu sử về một nhân vật có nội tâm và cuộc đời hết sức phức tạp, sự thành bại của Jackie dựa phần lớn vào tài năng của diễn viên đảm nhận vai Jackie Kennedy. Vì lý do này mà nữ diễn viên từng đoạt giải Oscar Natalie Portman được hãng Fox Searchlight mời tham gia dự án Jackie trước cả khi đạo diễn người Chile Pablo Larraín được giao trách nhiệm cầm lái bộ phim. Ngoại trừ tài năng đã được kiểm chứng, có lẽ Portman được tin tưởng cho vai diễn này bởi cô được trao giải Oscar cũng cho một vai diễn có hai mặt tính cách và hỉnh ảnh hết sức đối lập trong Black Swan (2010), một tác phẩm của Darren Aronofsky – cái tên đầu tiên được hãng Fox Searchlight mời đạo diễn Jackie. Không phụ sự tin tưởng của các nhà làm phim, Natalie Portman đã một lần nữa chứng tỏ được khả năng diễn xuất tâm lý xuất sắc của cô trong một vai diễn với rất nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau như Jackie Kennedy. Trong một tác phẩm hết sức căng thẳng không có lấy một phút trùng lắng, Portman đã khiến người xem phải nín thở theo từng trạng thái tình cảm của vị Đệ nhất phu nhân, khi bà phải tận mắt tận tai làm chứng nhân cho viên đạn oan nghiệt xuyên thẳng qua đầu John F. Kennedy, cho tới những giờ phút đơn độc đến cùng cực của Jackie trong Nhà Trắng trước tang lễ của chồng. Việc Natalie Portman được đề cử giải Oscar cho vai nữ chính xuất sắc nhất – một trong số ba đề cử Oscar của Jackie là sự tưởng thưởng xứng đáng cho vai diễn đánh dấu sự trở lại thực sự của Portman với điện ảnh Hollywood sau gần 5 năm dành phần lớn thời gian cho gia đình.



Là tác phẩm mang đậm tính cách Mỹ về một nhân vật quan trọng của lịch sử hiện đại Hoa Kỳ, nhưng sự thành công của Jackie lại cho thấy rằng điện ảnh quả thực là một ngôn ngữ không biên giới khi đội ngũ làm phim hết sức “quốc tế” với một đạo diễn người Chile (Larraín), nữ diễn viên chính người Israel (Portman), quay phim người Pháp (Stéphane Fontaine), và soạn nhạc người Anh (Mica Levi) đã phối hợp hết sức ăn ý để làm nên thành công của bộ phim. Sự đa dạng của đoàn làm phim Jackie cũng phản chiếu sự đa diện trong suy nghĩ và tính cách của Jackie Kennedy, điều mà những tác phẩm chính sử về Nhà Trắng hoặc những bộ phim truyền hình quảng bá về hình ảnh của một Jackie Kennedy-Đệ nhất phu nhân khó lòng truyền tải được. Đã 54 năm kể từ ngày cuối cùng Jackie Kennedy giã biệt những căn phòng tráng lệ của Nhà Trắng mà bà đã góp công tu tạo, và cũng đã 23 năm trôi qua kể từ ngày cựu Đệ nhất phu nhân trút hơi thở cuối cùng tại quê nhà New York. Nhưng với những tác phẩm xuất sắc như Jackie, công chúng sẽ vẫn nhớ tới bà, không chỉ như một chứng nhân của lịch sử nước Mỹ, mà như một người phụ nữ đã góp phần làm nên lịch sử ấy.



=====

Bài đã biên tập trên Zing.

Moonlight (2016)


Chuyển thể từ vở kịch In Moonlight Black Boys Look Blue (Những chàng trai da đen buồn bã dưới ánh trăng) của nhà biên kịch mới nổi Tarell Alvin McCraney, Moonlight của đạo diễn Barry Jenkins là ba lát cắt trong cuộc đời đầy biến cố của Chiron – từ nhóc “Little” nhỏ bé ít nói (Alex Hibbert), tới cậu học sinh nhạy cảm Chiron (Ashton Sanders), và cuối cùng là chàng thanh niên dạn dày với đời “Black” (Trevante Rhodes).

Không cha, “Little” lớn lên với người thân duy nhất trong đời cậu là bà mẹ nghiện ngập Paula (Naomie Harris) trong cảnh túng thiếu điển hình của cộng đồng da đen nghèo thành phố biển Miami miền Nam nước Mỹ. Chẳng tìm thấy niềm vui ở nhà khi mà đến chiếc tivi độc nhất trong nhà cũng bị bà Paula đem đi cầm cố, lại bị chúng bạn thường xuyên bắt nạt vì tính tình dịu dàng chẳng đúng “chất” dân da đen, “Little” phải câm lặng chịu đựng sự trớ trêu của số phận cho đến ngày cậu gặp được Juan (Mahershala Ali) – gã đàn ông kiếm sống bằng nghề buôn ma túy nhưng lại có tính cách cao thượng hiếm có. Có lẽ nhìn thấy ở “Little” hình bóng của chính mình ngày bé, Juan cùng cô bạn gái xinh đẹp Teresa (Janelle Monáe) sẵn sàng dang rộng vòng tay che trở cho “Little” và tiếp cho cậu bé nghị lực sống bằng tình yêu thương, sự trân trọng, và những câu chuyện ý nghĩa về sự kiên cường của cộng đồng người Mỹ gốc Phi. Juan cũng chính là người truyền cho “Little” tình yêu với biển cả qua những bài học bơi trong làn nước ấm Vịnh Caribe dưới ánh trăng sáng. Bên cạnh Juan và Teresa, “Little” còn tìm được người bạn thân đầu đời, đó là “Kev” (Jaden Piner) gan góc – người đã giúp “Little” có đủ dũng cảm để đương đầu với lũ nhóc đầu gấu đồng lứa.

Trong lát cắt thứ hai của Moonlight, “Little” đã trở thành cậu thiếu niên Chiron mảnh khảnh và nhạy cảm như ngày nào. Cái khí chất “chẳng giống người da đen mạnh mẽ” từng khiến Chiron bị lũ bạn bắt nạt thủa nào hóa ra lại là có một lời giải thích hết sức đơn giản – Chiron là người đồng tính. Sống giữa một cộng đồng nơi đồng tính luyến ái còn là điều gì đó nhơ bẩn đáng xấu hổ, Chiron thực sự phải trải qua những năm tháng còn khó khăn hơn thời thơ ấu khi bà Paula ngày càng chìm sâu trong cảnh nửa tỉnh nửa mê của một con nghiện hạng nặng còn Juan đã rời xa cậu mãi mãi. Bên cạnh Chiron lúc này chỉ còn Teresa và “Kev” – nay đã là cậu nhóc điển trai Kevin (Jharrel Jerome). Thế chỗ cho Juan, Kevin trở thành người duy nhất Chiron có thể chia sẻ vui buồn dưới ánh trắng bên bờ cát trắng Miami. Nhưng cái sự ẩm ương của tuổi mới lớn lại khiến cuộc đời Chiron ngoặt sang một hướng hoàn toàn khác. Trong lát cắt cuối cùng của Moonlight, người xem sẽ được thấy dấu ấn của một số phận chìm nổi ấy in hằn lên khuôn mặt của cả Chiron – nay đã thành người thanh niên với cơ bắp cuồn cuộn “Black” và những giấc mơ dang dở trong đời.

Trong vài năm trở lại đây đề tài xung đột xã hội và sắc tộc với tâm điểm là cộng đồng người Mỹ gốc Phi đã trở thành một đề tài ưa thích của Hollywood với những tác phẩm đề cập tới muôn mặt số phận người Mỹ da màu, cũng như sự kìm kẹp đè nén mà họ phải chịu đựng xuyên suốt chiều dài lịch sử nước Mỹ. Chuyển thể từ một vở kịch của tác giả da màu, do một đạo diễn da màu dàn dựng, và có dàn diễn viên hoàn toàn da màu, chắc chắn khi tới rạp nhiều người sẽ dự đoán Moonlight sẽ lại là một tác phẩm về cuộc đấu tranh đòi quyền bình đẳng cho người da màu tại Mỹ. Quả thực bộ phim sử dụng bối cảnh chính là cộng đồng ngập ngụa trong khốn khó, ma túy, và tội ác của những người da màu tại thành phố nghỉ mát nổi tiếng Miami cùng những tác động của hoàn cảnh sống ngặt nghèo ấy lên tuổi thơ và số phận của những đứa trẻ da đen nơi đây. Nhưng với tác phẩm điện ảnh thứ hai trong sự nghiệp này, đạo diễn Barry Jenkins đã vượt qua khỏi giới hạn của một bộ phim lấy đề tài xã hội thông thường khi số phận của Chiron, của Kevin, của Juan có sức phổ quát rất lớn. Khi nhắc tới sự xa lánh, khinh bỉ của xã hội dành cho những người đồng tính luyến ái, hẳn nhiều khán giả sẽ nhớ ngay tới mối tình cay đắng của cặp đôi Ennis Del Mar (Heath Ledger) và Jack Twist (Jake Gyllenhaal) trong Brokeback Mountain – tác phẩm thuộc loại xuất sắc nhất về đề tài đồng tính trong lịch sử Hollywood với câu chuyện cảm động về những người đi tìm lấy tình yêu, đi tìm lấy lẽ sống cho chính bản thân mình. Moonlight cũng là một bộ phim như thế. Tuy Jack và Ennis da trắng, Chiron và Kevin da màu, tuy Jack và Ennis yêu nhau đến cuồng say bất chấp tất cả, tuy tình cảm giữa Chiron và Kevin chỉ là rung động đầu đời nhẹ nhàng, trong sáng, nhưng Moonlight của Barry Jenkins vẫn đem lại cho người xem sự xúc động và cảm giác đau xót về những cuộc đời với giấc mơ dang dở mà Lý An đã từng làm được 12 năm trước với Brokeback Mountain. Nhờ vào cái ý tứ sâu sắc hết sức điện ảnh ấy mà Moonlight có truyện phim liền mạch, dễ theo dõi, dễ cảm thụ bất chập việc tác phẩm được chia thành ba phần cách biệt với những khoảng lặng không âm nhạc, không lời dẫn và những câu hỏi không được giải đáp như chuyện gì đã xảy ra với Juan, với Kevin, với Paula, và với chính Chiron giữa ba lát cắt cuộc đời ấy.

Trong Thần thoại Hy Lạp, Chiron là vị Nhân Mã được kính trọng bậc nhất nhờ tài năng, nhân cách, và công lao dạy dỗ các anh hùng Hy Lạp. Chẳng có tài năng gì đặc biệt, nhưng Chiron của Moonlight cũng có một tâm hồn hết sức trong sáng, vị tha với tình cảm chân thành không bao giờ đổi thay dành cho những người thân thiết bất chấp sự vùi dập của phong ba bão táp cuộc đời. Với sự chăm chút đến từng chi tiết nhỏ nhất của đạo diễn Barry Jenkins xuyên suốt ba lát cắt của Moonlight, sẽ là không ngoa khi cho rằng Chiron là một trong những nhân vật da đen đáng nhớ nhất của điện ảnh Hollywood những năm gần đây và cũng là một trong những hình tượng nhân vật đồng tính luyến ái được xây dựng đẹp đẽ nhất, gần gũi nhất của điện ảnh Mỹ đương đại. Không cần gò ép nhân vật vào những bi kịch của bạo lực hay nước mắt, Barry Jenkins vẫn khiến khán giả phải dõi theo từng bước đi trong đời của Chiron, phải nhói đau mỗi lần phải chứng kiến tâm hồn trong sáng, nhạy cảm của Chiron bị tổn thương bởi định kiến, bởi bất hạnh của cuộc đời. Tất nhiên thành công này của Moonlight có sự đóng góp rất lớn của bộ ba Hibbert-Sanders-Rhodes – ba diễn viên được giao thể hiện ba gương mặt của Chiron trong ba giai đoạn cuộc đời. Với Hibbert, đó là một “Little” ngây thơ trong sáng, với Sanders, đó là một Chiron chập chững bước vào đời, và với Rhodes, đó là một “Black” mạnh mẽ nhưng chưa bao giờ mất đi sự nhạy cảm. Barry Jenkins đã rất tài tình khi quay riêng rẽ từng phân đoạn với bộ ba diễn viên này và cũng không để họ tiếp xúc với nhau trong quá trình làm phim, bởi vậy cách ứng xử và điệu bộ của Hibbert-Sanders-Rhodes trở nên hết sức khác nhau, giúp tạo dựng rõ nét hơn tác động của những giấc mơ lần lượt tan vỡ đến cuộc đời của Chiron từ tuổi thơ ấu đến khi trưởng thành.

Tuy “ánh trăng” của Moonlight phần lớn được dành cho Chiron, nhưng điều đáng khen là đạo diễn Jenkins không vì thế mà bỏ qua việc xây dựng hình ảnh, tính cách cho các nhân vật phụ xoay quanh cuộc đời chàng trai đồng tính. Với một kịch bản không quá nhiều thoại nhưng rất chú trọng tới từng cử chỉ, ánh mắt của từng nhân vật để họ có được chỗ đứng trong tâm trí người xem, Moonlight đã hoàn toàn thành công trong việc tạo dựng nên những cuộc đời riêng biệt, những hình ảnh riêng biệt cho tuyến nhân vật phụ như Teresa, như Paula, như Juan bất chấp thời lượng xuất hiện hết sức hạn chế của các nhân vật này. Dàn diễn viên không “sao” của Moonlight cũng xứng đáng một tràng vỗ tay từ khán giả khi họ đã tận dụng được tối đa thời gian xuất hiện trên màn ảnh để hóa thân vào các nhân vật, trong đó đáng nhớ nhất có lẽ là Mahershala Ali trong vai Juan và André Holland trong vai Kevin tuổi trưởng thành.

Bất chấp kinh phí hạn hẹp 5 triệu USD của một bộ phim độc lập, Moonlight còn có một điểm khác khiến khán giả phải ngưỡng mộ đó là phần hình ảnh và âm nhạc vào loại đáng nhớ nhất của điện ảnh Hollywood năm 2016. Tuy được quay bằng máy quay kỹ thuật số, nhưng với sự cộng tác của nhà quay phim và bạn thân lâu năm James Laxton, Barry Jenkins đã tạo dựng cho Moonlight những góc quay rộng với màu sắc ấm áp gợi nhớ tới các bộ phim được quay bằng phim điện ảnh truyền thống. Đối với mỗi lát cắt của Moonlight, tông màu và độ tương phản của hình ảnh cũng được Laxton và Jenkins điều chỉnh để phản chiếu sự thay đổi trong cuộc đời của Chiron, với những khung hình cuối cùng có gam màu trầm buồn, u tối trái ngược hoàn toàn với sự tươi sáng của những giờ phút khởi đầu bộ phim. Cũng như những thông điệp tế nhị, nhẹ nhàng không gượng ép của kịch bản Moonlight, sự thay đổi về mặt hình ảnh của phim cũng được điều chỉnh tinh tế, vừa đủ để khán giả thấy sự khác biệt giữa ba phần, nhưng cũng không đột ngột đến mức cắt đứt mạch cảm xúc của tác phẩm. Hòa nhịp cùng sự ăn ý giữa kịch bản và hình ảnh của Moonlight là phần nhạc phim hết sức ấn tượng của nhạc sĩ Nicholas Britell với sự pha trộn sáng tạo giữa dòng nhạc đặc trưng cho văn hóa da màu – hip hop và những bản nhạc cổ điển giúp tạo sức nặng tình cảm cho Moonlight, đặc biệt là trong nửa đầu bộ phim.

Có thể nói Moonlight là một thành công trọn vẹn về mặt nghệ thuật của điện ảnh Hollywood trong năm vừa qua, bộ phim hoàn toàn xứng đáng với giải Quả Cầu vàng cho phim chính kịch hay nhất vừa giành được cũng như vị thế ứng cử viên hàng đầu cho Giải Oscar phim hay nhất. Tuy nhiên, điều đáng quý nhất của bộ phim là việc đạo diễn Barry Jenkins đã vượt qua được những lo toan chủ đạo về sắc tộc, về tự do, về công bằng của dòng phim da màu để chạm tới những suy nghĩ về nhân sinh quan, về thế giới quan mà bất cứ xã hội nào, thời đại nào con người cũng vấp phải bất kể màu da, xuất thân của họ. Với Moonlight, thay vì khác thác những bi kịch, xung đột sắc tộc của xã hội Mỹ đương đại, Barry Jenkins đã chia sẻ với khán giả một cách nhẹ nhàng, sâu lắng những suy tư về cách bảo vệ sự trong sáng của các tâm hồn thơ bé trước định kiến xã hội, về cách tìm thấy lẽ sống để vượt qua những sóng gió cuộc đời, vượt qua những giấc mơ chẳng bao giờ thành hiện thực. Có lẽ ông muốn nói với họ rằng, hãy nghĩ đẹp, và sống đẹp như ánh trăng sáng trên biển đêm, như Moonlight – một trong những bộ phim đẹp nhất của điện ảnh 2016.


====

lundi 6 février 2017

Sing Street (2016)




Trong những năm đầu thập niên 1980, Dublin, thủ đô đảo quốc Ireland, là một thành phố u buồn. Bầu trời xám xịt quen thuộc của quốc gia phương Bắc không chỉ ngăn những tia nắng Mặt Trời ấm áp đến với người dân Dublin mà dường như còn tước đi tương lai của những người trẻ của thành phố cằn cỗi này, khiến họ hoặc phải vượt biển sang nước Anh – nơi London sẵn sàng chào đón họ với những cơ hội đổi đời, hoặc sống mòn ở quê hương với những giấc mơ không bao giờ thành hiện thực. Đại diện cho không khí u ám và những mơ ước không thành của Dublin là gia đình nhà Lawlor. Sự nghiệp thất bại và xích mích triền miên của hai vợ chồng Robert (Aidan Gillen) và Penny Lawlor (Maria Doyle Kennedy) khiến ba đứa con của họ Brendan (Jack Reynor), Ann (Kelly Thornton), và cậu út nghệ sĩ Conor (Ferdia Walsh-Peelo) rơi vào trạng thái trầm cảm triền miên. Là con út trong nhà, Conor là người chịu tác động lớn nhất từ những xáo trộn của gia đình khi cậu vừa phải đối mặt hàng ngày với những cuộc cãi vã của bố mẹ mà không có sự động viên của anh chị - những người vốn đã chọn cách buông xuôi với số phận từ lâu, vừa phải chuyển sang học tại trường Công giáo miễn phí Synge Street để giảm bớt gánh nặng kinh tế cho cả nhà. “Công giáo” đồng nghĩa với hà khắc, “miễn phí” đồng nghĩa với môi trường phức tạp, việc hòa nhập vào ngôi trường mới của Conor – cậu thiến niên với tâm hồn lãng mạn là chẳng hề dễ dàng nhất là khi cậu ngay lập tức phải đối diện với ông thầy hiệu trưởng khắc kỷ Baxter (Don Wycherley) và gã bạn học đầu gấu Barry (Ian Kenny). Bao vây bốn phía bởi nỗi buồn gia đình và kỷ luật hà khắc nơi trường học, nhưng Conor chẳng hề nản lòng, bởi bên cậu còn có tình yêu âm nhạc. Cậu nhanh chóng tìm được những người bạn có cùng niềm đam mê với những nốt nhạc và lời hát như mình, đó là “nhà quản lý” Darren (Ben Carolan), là cậu bạn đa tài Eamon (Mark McKenna), tay trống da đen Ngig (Percy Chamburuka), và bộ đôi Larry (Conor Hamilton) và Garry (Karl Rice). Với cái tên rất kêu “Sing Street” – “Con phố ca hát”, ban nhạc thiếu niên của các cậu bé trở thành nơi Conor trút hết mọi tâm tư vào từng bài hát, và cũng là “chú bồ câu đưa thư” để Conor bày tỏ những rung động đầu đời của cậu với cô bạn gái cá tính Raphina (Lucy Boynton). 

Trong vòng 10 năm trở lại đây, John Carney có lẽ là một trong những cái tên đáng chú ý hiếm hoi của dòng phim ca nhạc với những bộ phim xuất sắc như Once (2007) và Begin Again (2013). Vượt khỏi khuôn khổ những bộ phim ca nhạc thông thường, các tác phẩm của Carney không chỉ sở hữu nhạc phim ấn tượng mà còn luôn khiến khán giả phải xúc động với nội dung lãng mạn, đậm tính nhân văn về số phận những người nghệ sĩ trăn trở với sự nghiệp và lẽ sống. Tương tự như hai bộ phim tuyệt vời về âm nhạc đó, Sing Street cũng nói lên sức mạnh của âm nhạc trong việc giúp những tâm hồn lãng mạn vượt qua khó khăn vật chất của cuộc sống để tìm thấy tình yêu và hy vọng. Nhưng với nhân vật chính là những cô bé, cậu bé đang sống trong những năm tháng niên thiếu đẹp đẽ nhất, đạo diễn Carney đã tạo nên sự khác biệt cho Sing Street bằng một bầu không khí lạc quan, tươi mới xuyên suốt bộ phim. Có thể sẽ có khán giả cảm thấy tiếc khi John Carney không khai thác hết tiềm năng của bối cảnh khắc nghiệt rất “điện ảnh” của phim –tầng lớp lao động Dublin trong những năm 1980 đầy khó khăn, nhưng kịch bản nhẹ nhàng, đơn giản và sáng sủa của ông có lẽ lại là một lựa chọn phù hợp hơn cho một tác phẩm lấy âm nhạc làm chủ đạo như Sing Street.

Về phần âm nhạc, chắc chắn Sing Street sẽ khiến những người yêu dòng nhạc pop-rock thập niên 1970-1980 cảm thấy xúc động bởi bộ phim tràn ngập hơi thở sắc màu, lạc quan đến ngạo nghễ của âm nhạc giai đoạn này. Với sự cộng tác của nhạc sĩ người Scotland Gary Clark – thành viên của ban nhạc nổi tiếng những năm 1980 Danny Wilson, Sing Street thực sự là một bữa tiệc của pop-rock với những khúc hát quen thuộc của các ban nhạc từng làm mưa làm gió trong làng nhạc Anh-Mỹ thời kỳ hậu Beatles như A-ha, Motorhead, Duran Duran, The Jam hay The Cure, cùng những bản nhạc mới được sáng tác riêng cho phim nhưng cũng mang đậm tinh thần tự do phá cách nhưng vẫn đầy lãng mạn của những năm 1980. Đặc biệt hơn nữa, bộ phim còn đem đến cho khán giả những video âm nhạc “nhà làm” thô sơ nhưng đầy cảm hứng của ban nhạc “Sing Street” với những màu sắc và góc quay gợi nhớ đến những năm tháng đầu tiên khi video âm nhạc thực sự trở thành một phần không thể thiếu của các bài hát và tạo nền tảng cho sự phát triển của kênh MTV trên toàn thế giới.

Trong thành công của Sing Street tất nhiên không thể không kể tới diễn xuất tuyệt vời của dàn diễn viên trẻ tuổi của phim. Tuy John Carney không thực sự chú trọng vào việc phát triển tính cách hoặc khai thác nội tâm các nhân vật của ông, nhưng nhờ vào diễn xuất trong sáng, tự nhiên của những gương mặt trong ban nhạc "Sing Street” – vốn phần lớn là những diễn viên lần đầu làm quen với màn ảnh lớn, khán giả vẫn có thể cảm nhận được tình yêu âm nhạc và cuộc sống tràn đầy trong tâm hồn các nhân vật của bộ phim. Được công chiếu từ ngay đầu năm 2016 và bởi thế không xuất hiện trong nhiều danh sách giải thưởng điện ảnh cuối năm ngoại trừ hạng mục nhạc phim, nhưng Sing Street vẫn có thể coi là một tác phẩm quan trọng của năm 2016 và là một bước tiến mới của John Carney bởi bộ phim đã cho người xem thấy rằng, sau tất cả những u phiền – thứ mà năm 2016 cả thế giới đã phải chứng kiến quá nhiều, chúng ta vẫn có thể lại gần bên nhau để giữ vững tình yêu cuộc sống và tìm thấy hy vọng trong tương lai nhờ thứ ngôn ngữ không biên giới – âm nhạc.