some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

vendredi 5 janvier 2018

Three Billboards Outside Ebbing, Missouri (2017)


Một trong những bộ phim có tựa đề “dị” nhất của năm 2017 là tác phẩm Three Billboards Outside Ebbing, Missouri của đạo diễn người Anh Martin McDonagh – tựa đề với cái nghĩa đơn giản là ba tấm biển quảng cáo bên ngoài thị trấn Ebbing bang Missouri (một địa danh không có thật, bản thân từ “ebbing” trong tiếng Anh có nghĩa là “triều xuống” hoặc “sự suy tàn”). Có lẽ nhiều người sẽ bật cười khi thoạt nghe cái tựa đề rất mộc mạc này, nhưng hẳn cũng có khán giả sẽ vò đầu bứt tai vì không hiểu đây có phải một thách thức lạ lùng đầy triết lý dành cho họ trước khi xem phim hay không. Thực tế thì cái tên đơn giản của phim chẳng phải là câu đố khó hiểu nào, bởi bộ phim mở đầu bằng hình ảnh của chính ba tấm biển quảng cáo tàn tạ đã lâu không có người sử dụng bên ngoài thị trấn bình lặng đang trên đà suy tàn Ebbing. Ba tấm biển quảng cáo chỉ được hồi sinh khi bà Mildred Hayes (Frances McDormand) trên đường lái xe về nhà ở ngay gần đó nảy ra ý định sẽ bỏ tiền túi ra thuê mấy tấm bảng quảng cáo trong vòng 1 tháng. Anh chàng đại diện văn phòng quảng cáo Red Welby (Caleb Landry Jones) tất nhiên rất vui mừng vì có người sẵn lòng bỏ hẳn năm nghìn đô la mỗi tháng để thuê ba tấm biển quảng cáo giữa chốn đồng không quạnh, nhưng điều duy nhất anh không ngờ tới đó là những gì bà Hayes muốn đăng quảng cáo trên đó. 

Chỉ đơn giản là ba dòng chữ ngắn ngủi màu đen khổ lớn trên nền biển quảng cáo màu đỏ máu – “Raped while dying” (“Bị cưỡng bức khi đang hấp hối”), “And still no arrests?” (“Và đến giờ vẫn chưa ai bị bắt”), “How come, Chief Willoughby?” (“Vậy là sao, Cảnh sát trưởng Willoughby?”), hợp đồng thuê quảng cáo của Mildred Hayes đã khiến cả Ebbing phải náo động. Tất nhiên trưởng đồn Bill Willoughby và cấp dưới của ông ta như viên cảnh sát Jason Dixon (Sam Rockwell) đứng ngồi không yên vì nội dung quảng cáo chính là lời chỉ trích của bà Hayes dành cho cả lực lượng cảnh sát Ebbing bất tài không tìm nổi một manh mối nào về vụ cưỡng bức và sát hại Angela (Kathryn Newton) – cô con gái út còn đang tuổi vị thành niên của bày Hayes. Nhưng ba tấm biển quảng cáo cũng gây sốc ngay cả đối với những người dân Ebbing bình thường khác như gã bán xe cũ James (Peter Dinklage), anh thợ vẽ Jerome (Darrell Britt-Gibson), hay chồng cũ của bà Hayes là ông Charlie (John Hawkes). Người ủng hộ cách phản ứng có phần lạ lùng của bà Hayes trước tiến độ chậm chạp của cuộc điều tra cũng có, tuy không nhiều, còn phần lớn người dân Ebbing tỏ ra bất bình vì cho rằng nội dung ba tấm biển như vậy vừa chẳng giúp ích gì cho việc điều tra của cảnh sát, vừa xúc phạm cá nhân cảnh sát trưởng Willoughby – người vốn đang phải trải qua đợt điều trị ung thư giai đoạn cuối, và nhất là đã làm xáo trộn sự bình yên vốn có của thị trấn nhỏ Ebbing. Nhưng liệu Ebbing có thực sự yên bình, khi đồn cảnh sát “toàn da trắng” của Willoughby vẫn còn chứa chấp những viên cảnh sát “ưa thích” bạo lực và tư tưởng phân biệt chủng tộc như Dixon, và khi quán bar của thị trấn vẫn là nơi tụ họp của nhiều gương mặt không lấy gì làm thân thiện? Từng góc khuất của thị trấn này, và những cư dân nơi đây sẽ dần được hé lộ sau sự xuất hiện của ba tấm biển quảng cáo bên ngoài Ebbing, tiểu bang Missouri.

Sớm nổi danh tại Hollywood với giải Oscar phim ngắn xuất sắc nhất cho tác phẩm Six Shooter (2004) nhưng lại dành phần lớn thời gian cho sân khấu kịch, Three Billboards Outside Ebbing, Missouri mới chỉ là phim dài thứ ba trong sự nghiệp điện ảnh của đạo diễn người Anh Martin McDonagh sau In Bruges (2008) và Seven Psychopaths (2012). Ít về số lượng nhưng luôn ấn tượng về chất lượng, cả hai bộ phim đầu tiên do McDonagh viết kịch bản và đạo diễn đều là những tác phẩm được người yêu điện ảnh đánh giá cao với chất hài chua cay đậm đặc thông qua các câu thoại thông minh, dí dỏm, cùng cách xây dựng nhân vật đặc sắc, đa diện vượt ra ngoài khuôn khổ của các nhân vật một chiều thường thấy trong các phim hình sự Hollywood. Vốn nổi tiếng là một biên kịch hàng đầu của sân khấu Anh quốc, McDonagh có cách tiếp cận dòng phim hình sự-tội ác rất đặc sắc, khi mà các nhân vật chính của ông tuy là tội phạm hoặc có từng gây ra tội ác luôn đem đến cho khán giả nhiều khám phá mới mẻ về tâm lý con người và đặc biệt là xu hướng nhân văn vươn tới cái thiện của họ khi phải đối mặt với các tình huống “tội ác và hình phạt”. Tuy có phần nào đó nặng nề và ít chất hài chua cay hơn In Bruges và Seven Psychopaths, Three Billboards Outside Ebbing, Missouri vẫn đem tới cho khán giả những gì tinh tuý nhất trong phong cách của Martin McDonagh về mặt nội dung, chất lượng thoại, và hình ảnh nhân vật. Mở đầu bộ phim, các nhân vật như bà mẹ kiên nghị Mildred Hayes, ông trưởng đồn nhu nhược Willoughby, hay gã cảnh sát ngờ nghệch Dixon được giới thiệu như đúng những hình mẫu nhân vật một chiều của một bộ phim hình sự lấy bối cảnh tỉnh lẻ với vẻ bề ngoài, tính cách và hành xử đơn giản. Nhưng càng xem, khán giả sẽ càng nhận ra rằng đằng sau sự kiên nghị của bà Hayes là nỗi đau khổ tột cùng của một người mẹ đơn độc ngày ngày nhìn những đoàn tàu chạy qua và nghĩ về đứa con gái không bao giờ quay trở lại, họ cũng sẽ hiểu tại sao có vẻ nhu nhược là thế Willoughby lại luôn được người vợ Anne (Abbie Cornish) và hai cô con gái xinh xắn yêu thương hết mực, và tất nhiên Dixon trong mắt khán giả ở cuối phim cũng sẽ là một Dixon hoàn toàn khác so với hình ảnh vô cùng xấu xí đầu tiên của gã. Vì vậy mà tuy là một tác phẩm hình sự-hài chua cay với đối tượng chính là tội phạm, tội ác, và những chi tiết dở khóc dở cười của một xã hội thu nhỏ nơi thị trấn Ebbing, nhưng thực sự “Three Billboards Outside Ebbing, Missouri” lại khiến người xem phải cảm động vì chất nhân văn sâu sắc về tình người, về mối quan hệ giữa người với người ẩn sau bức chân dung đen tối về xã hội ấy.

Tính cách các nhân vật được McDonaugh sáng tạo ra dưới ngòi bút và tài đạo diễn của ông luôn là sự pha trộn của một phần tốt đẹp và một phần xấu xí, một phần thiện và một phần ác, và các nhân vật của Three Billboards Outside Ebbing, Missouri cũng không phải ngoại lệ. Tuy vậy, do tính hài hước trong tác phẩm này có phần nào được gia giảm so với In Bruges và Seven Psychopaths và thế chỗ vào đó là những tình tiết của một bộ phim mang màu sắc bi kịch, khía cạnh phát triển tính cách nhân vật trong tác phẩm mới nhất của đạo diễn Martin McDonaugh này đã được đẩy lên một tầm cao mới, đặc biệt là với diễn xuất cực kì xuất sắc của Frances McDormand (vai Hayes) và Sam Rockwell (vai Dixon). Vừa thể hiện được cái “dị” trong các nhân vật do họ đảm nhiệm, McDormand và Rockwell còn khắc hoạ rất thành công diễn tiến tâm lý của các nhân vật này vốn vừa tự nhiên, dễ hiểu, lại vừa đem đến cho khán giả vô số những bất ngờ về những khía cạnh, tính cách được chôn giấu bên trong tâm hồn các nhân vật. Đã tròn 20 năm kể từ ngày nữ diễn viên gạo cội Frances McDormand được trao tượng vàng Oscar vai nữ chính xuất sắc nhất cho vai diễn của bà trong Fargo (1997), cũng đã hơn 10 năm kể từ ngày khán giả được chứng kiến một vai diễn thực sự đáng kể của bà trong North Country (2006). Nhưng với Three Billboards Outside Ebbing, Missouri, chắc chắn McDormand sẽ lại là ứng cử viên nặng ký tại các lễ trao giải điện ảnh thường niên sắp tới bởi một lần nữa bà đã chứng tỏ tài năng hiếm có của mình trong việc làm bật lên tình cảm ấm áp hết sức nhân văn, hết sức nữ tính từ các nhân vật có bề ngoài khắc khổ, cứng rắn. 

Bối cảnh xơ xác, buồn bã của những thị trấn buồn miền Trung nước Mỹ, các vụ án không có lời giải với sự bất lực của cảnh sát, hình ảnh mạnh mẽ, cương nghị của Frances McDormand, Three Billboards Outside Ebbing, Missouri chắc chắn sẽ khiến nhiều người liên tưởng tới một tác phẩm hình sự-hài chua cay khác là Fargo của anh em đạo diễn-biên kịch nhà Coen – một trong những tác phẩm điện ảnh đáng nhớ nhất của thập niên 1990. Với một kịch bản chắc tay, đạo diễn, và dựng phim xuất sắc, bộ phim mới của đạo diễn Martin McDonagh có lẽ cũng phần nào có thể so sánh được với Fargo về mặt chất lượng nghệ thuật. Nhưng khác với bộ phim của anh em nhà Coen – một tác phẩm hết sức thông minh và tinh tế trong việc xoáy sâu vào những góc tối của con người khi rơi vào những hoàn cảnh trớ trêu, bất ngờ, tác phẩm của McDonagh lại đem tới cho khán giả một chút hi vọng le lói nào đó về cái chất lương thiện ẩn giấu bên trong mỗi cá nhân của xã hội. Cuộc sống có thể khó khăn, thậm chí là bất hạnh, xã hội có thể gai góc với cái xấu vẫn còn lẩn khuất đâu đây, nhưng với bản chất hướng thiện vẫn còn ăn sâu bám rễ, chắc chắn rồi chúng ta cũng sẽ có thể tìm thấy những giây phút thanh thản trong đời, đó có lẽ là lời nhắn rất đẹp mà Martin McDonagh muốn đem lại cho khán giả qua Three Billboards Outside Ebbing, Missouri.

=====

mercredi 3 janvier 2018

The Disaster Artist (2017)



“Dở đến mức không thể bỏ qua được”, “Bộ phim dở vượt trội của mọi thời đại”, “Công dân Kane của phim dở” (Công dân Kane thường được coi là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của điện ảnh thế giới) – đó là những “mỹ từ” giới phê bình và người hâm mộ dành cho The Room của đạo diễn phim độc lập Tommy Wiseau. Công chiếu lần đầu năm 2003, tác phẩm bi kịch này của nhà làm phim bí hiểm Wiseau – người đảm nhận luôn vai chính trong phim nhanh chóng được báo chí và giới phê bình xếp vào danh sách các tác phẩm điện ảnh dở nhất mọi thời đại vì nội dung hỗn độn đến mức khó hiểu và chất lượng diễn xuất cũng như sản xuất khiến người xem chỉ còn nước lắc đầu ngao ngán. Nhưng đúng là “dở đến mức không thể bỏ qua được”, The Room lại nhận được sự hưởng ứng từ một nhóm khán giả trung thành – những người thưởng thức tác phẩm này như một bộ phim … hài và sẵn sàng quay trở lại rạp mỗi năm để xem đứa con điện ảnh đầu tay (và cũng là duy nhất) của Tommy Wiseau như một thứ tín ngưỡng. Động cơ nào đã khiến Wiseau bỏ tiền túi ra làm một thảm hoạ điện ảnh như vậy? Những yếu tố nào đã khiến The Room trở thành một tác phẩm “dở kinh điển”? Và tại sao bộ phim cũng như cuộc đời của Tommy Wiseau lại vẫn giữ được sự hấp dẫn lạ lùng với một số khán giả sau gần 15 năm bất chấp chất lượng tồi tệ của The Room? Đó là những câu hỏi mà đạo diễn-diễn viên James Franco muốn tìm kiếm câu trả lời cho khán giả thông qua bộ phim mới của anh The Disaster Artist (Nghệ sĩ thảm hoạ) với kịch bản chuyển thể từ cuốn tự truyện cùng tên của Greg Sestero – một diễn viên chính khác của The Room và cũng là bạn thân của Tommy Wiseau.

Bối cảnh mở màn của The Disaster Artist là thành phố San Francisco năm 1998, nơi chàng thanh niên 19 tuổi Greg Sestero (Dave Franco) rụt rè, thiếu tự tin đang vật lộn trong các lớp học diễn xuất với giấc mơ một ngày sẽ trở thành một diễn viên thực thụ. Tại một khoá học như vậy, Greg gặp Tommy Wiseau (James Franco – anh ruột ngoài đời của Dave Franco), một diễn viên cũng thiếu tài năng diễn xuất bẩm sinh nhưng lại có thừa sự tự tin và tiền bạc để theo đuổi tham vọng thành sao Hollywood. Dù không chịu tiết lộ tuổi tác hay quê quán nhưng rõ ràng Tommy hơn cậu thanh niên “mặt búng ra sữa” Greg nhiều tuổi, và nếu dựa vào giọng tiếng Anh lạ lùng, khó nghe của Tommy thì nhiều người có thể đoán rằng anh ta thậm chí còn chẳng phải một người Mỹ thực thụ như Greg. Khác nhau về tính cách, xuất thân nhưng hoàn toàn tương đồng trong tình yêu nghệ thuật, lòng hâm mộ với huyền thoại nổi loạn của màn bạc James Dean hay các vở kịch của Tennessee Williams, và giấc mơ trở thành sao điện ảnh, Greg và Tommy nhanh chóng trở thành bạn thân. Bởi vậy ngay khi Tommy ngỏ ý rủ Greg cùng tới Los Angeles – nơi có kinh đô điện ảnh Hollywood (và có một ngôi nhà “để không” của Tommy) để lập nghiệp, Greg lập tức nhận lời bất chấp sự ngăn cản từ bà mẹ (Megan Mullally) vốn không tin tưởng cho lắm vào tài năng của Greg và lo sợ cậu sẽ bị Tommy lợi dụng. Những lo lắng đầy tình mẫu tử này hoá ra chỉ đúng một nửa, khi Tommy không hề lạm dụng việc Greg phải ở nhờ căn hộ nhìn ra chân trời phù hoa với những toà nhà chọc trời nối tiếp của Los Angeles, nhưng quả thực Greg không thể kiếm được một vai diễn ra hồn dù rất điển trai và nhanh chóng được nhận vào công ty quản lý diễn viên có tiếng của Iris Burton (Sharon Stone). Không hơn gì Greg về tài nghệ diễn xuất, lại cộng thêm phong cách thời trang kì dị và chất giọng tiếng Anh lạ lùng chẳng giống ai, tất nhiên Tommy vấp phải hết thất bại này đến thất bại khác trong các cuộc thử vai tại Los Angeles tới mức một nhà sản xuất có tiếng (Judd Apatow) đã phải nói thẳng rằng dù có cả triệu năm hay lâu hơn nữa thì Tommy cũng không có “cửa” nào ở đất Hollywood vốn đã đầy rẫy tài năng này. 

Mất hết niềm tin vào việc được Hollywood trao cơ hội, Tommy Wiseau quyết định tự mình viết kịch bản và bỏ tiền túi ra làm một bộ phim lấy cảm hứng từ câu truyện cuộc đời của Tommy và Greg với hy vọng mình sẽ có đất diễn để thể hiện “tài năng” không được ai thừa nhận. Tommy bỏ hết thời gian, tiền bạc, và tâm sức vào dự án phim đầu tay, nhưng quá trình thai nghén kịch bản và sản xuất của The Room (Căn phòng) cũng một lần nữa chứng tỏ một sự thật rằng anh chàng dị nhân này không có chút kiến thức nào về mặt sản xuất phim và tuyệt đối không sở hữu khả năng diễn xuất ở tầm Hollywood bất chấp sự hợp tác và giúp đỡ của những người có kinh nghiệm làm phim thật sự như giám sát kịch bản Sandy Schklair (Seth Rogen). Sự thiếu chuyên nghiệp của Tommy trong việc chỉ đạo sản xuất và thực hiện đi thực hiện lại các cảnh quay với sự có mặt của anh khiến quá trình quay của The Room bị chậm tiến độ làm giá thành của bộ phim đội lên tới 5, 6 triệu đô la – một con số khổng lồ cho một tác phẩm độc lập kinh phí thấp như The Room. Không chỉ chịu vô số áp lực từ dự án The Room rắc rối quá mức dự đoán, Tommy còn phải đối diện với thực tế rằng chính người bạn thân và là nguồn cảm hứng cho bộ phim Greg cũng dần trở nên xa cách anh sau khi có cô bạn gái mới Amber (Alison Brie). Dù gặp nhiều trở ngại trong đời tư và công việc như vậy, nhưng Tommy vẫn quyết tâm hoàn thành The Room để có thể kể cho mọi người câu truyện của đời anh và chứng tỏ cho Hollywood rằng anh là một diễn viên có năng lực thực sự.

Tuy được số đông khán giả biết tới qua các vai diễn trong các phim bom tấn như bộ ba Người nhện (2002-2007) của đạo diễn Sam Raimi, Rise of the Planet of the Apes (2011), tác phẩm giúp anh có được đề cử Oscar đầu tiên 127 Hours (2010), hay các bộ phim hài hước kinh phí thấp nhưng doanh thu cao như Pineapple Express (2008), This Is the End (2013), nhưng James Franco thực ra còn là một đạo diễn-diễn viên chuyên trị dòng phim độc lập với kinh phí thấp. Có lẽ vì chất độc lập chảy trong huyết quản này mà James Franco tái hiện quá trình Tommy Wiseau ấp ủ và hiện thực hoá giấc mơ The Room gần 15 năm trước một cách hết trân trọng, nghiêm túc bất chấp sự hài hước một cách trớ trêu sau “thành công” của The Room. Tất nhiên The Disaster Artist không hề thiếu chất hài, vì quá trình hình thành của một bộ phim “siêu dở” bản thân nó đã là một câu truyện hài hước, hơn thế nữa đứng sau hỗ trợ James Franco lại có hai tên tuổi quen thuộc của dòng phim hài Hollywood thời điểm hiện tại là Seth Rogen và Evan Goldberg – bộ đôi đã tạo nên thành công vang dội về mặt thương mại của một loạt phim hài như Superbad (2007), Pineapple Express, This Is the End, Neighbors (2014), và Sausage Party (2016). Bởi vậy mà chắc chắn khán giả sẽ vẫn được cười ra nước mắt trước sự ngu ngơ khó có thể tin nổi của Tommy Wiseau được khắc hoạ trên phim, và những phân cảnh được James Franco tái hiện lại chính xác đến từng khung hình các trích đoạn “dở kinh điển” của The Room. Nhưng đằng sau mỗi tiếng cười đem lại cho người xem, James Franco cùng bộ đôi biên kịch của các bộ phim lãng mạn xuất sắc như (500) Days of Summer (2009) và The Fault in Our Stars (2014) là Scott Neustadter và Michael H. Weber cũng lại giúp cho khán giả hiểu hơn về suy nghĩ, về những tình cảm buồn vui và những giấc mộng chẳng thành của Tommy Wiseau – vốn là những điều mà ngoại trừ người bạn thân của Tommy là Greg thì chẳng mấy ai quan tâm để mắt. Sự trân trọng này của The Disaster Artist trong việc phát triển tính cách nhân vật thay vì nhấn mạnh vào những sai lầm nực cười trong quá trình sản xuất The Room đã giúp cái tên Tommy Wiseau vượt ra khỏi khuôn khổ của một “đạo diễn phim dở kinh điển” và trở thành một nghệ sĩ như bao nghệ sĩ Hollywood khác luôn cháy bỏng với giấc mơ được chứng tỏ tài năng, được đem câu truyện cuộc đời họ đến với khán giả. Có thể họ trở nên thành công như Mia Dolan (Emma Stone) trong La La Land (2016), vấp váp vì chẳng thể thích nghi với sự thay đổi của Hollywood như George Valentin (Jean Dujardin) trong The Artist (2011), suốt đời phải sống trong ánh hào quang của quá khứ như Norma Desmond (Gloria Swanson) trong Sunset Boulevard (1950), hoặc đơn giản là vỡ mộng vì thiếu tài năng và cơ hội như Tommy Wiseau. Nhưng cũng như những nhân vật kể trên trong các tác phẩm vô cùng đáng nhớ của Hollywood, Tommy cũng yêu nghệ thuật bằng cả tấm lòng và sẵn sàng chia sẻ tình yêu đó với những người xung quanh, đặc biệt là những người thân thiết như Greg. Bởi vậy, tuy chất lượng của The Room – thành quả từ tình yêu nghệ thuật của Tommy Wiseau hoàn toàn xứng đáng là đề tài đàm tiếu của người đời, tâm hồn trong sáng của một người nghệ sĩ đích thực như Tommy luôn là phẩm chất đáng được tôn trọng.

Là một bộ phim về … phim dở, tất nhiên khán giả không thể trông đợi The Disaster Artist có được chất lượng nghệ thuật vượt trội nhất là khi cuộc đời bí ẩn không nhiều sự kiện của Tommy Wiseau không thực sự là chất liệu giàu kịch tính cho một tác phẩm điện ảnh hấp dẫn. Quả thực nếu so sánh với một tác phẩm về phim dở khác là Ed Wood (1994) của Tim Burton, The Disaster Artist có cảm giác thiếu chiều sâu và luôn ở trong trạng thái chênh vênh giữa một bộ phim hài thông thường và một tác phẩm chính kịch về những góc khuất dưới ánh hào quang của Hollywood. Bởi vậy, ngoại trừ sự trân trọng rất đáng được ghi nhận dành cho hình ảnh nhân vật Tommy Wiseau, điểm sáng nhất của The Disaster Artist có lẽ là diễn xuất ấn tượng của James Franco trong vai Tommy. Không chỉ khắc hoạ được điệu bộ, cử chỉ và vẻ ngoài rất “dị” của Tommy Wiseau, James Franco còn thành công trong việc thể hiện được chất giọng tiếng Anh kì dị phảng phất “chất Đông Âu” của Tommy, và nhất là thể hiện được tính cách đa chiều của tác giả bộ phim thảm hoạ The Room. Nếu xem những bài phỏng vấn của James Franco trong quá trình quảng cáo The Disaster Artist, người xem mới lại càng cảm nhận được nhiệt huyết mà anh dành cho vai diễn và tác phẩm này. Thật may cho Tommy Wiseau, và cho khán giả, là đam mê của James Franco đã không biến thành một “thảm hoạ” mới như The Room năm nào. Trái lại, tài năng có thật của ngôi sao phim Người nhện kết hợp cùng sự say mê đối với nhân vật đã giúp James Franco có được một vai diễn hết sức đáng nhớ, và quan trọng hơn là đã giúp khán giả có được một cái nhìn đầy đủ hơn về Tommy Wiseau. 

Ngay cả sau khi xem xong The Disaster Artist, chắc chắn nhiều người xem vẫn sẽ lắc đầu ngán ngẩm tự hỏi tại sao một nghệ sĩ bất tài như Tommy Wiseau lại bỏ cả một gia tài để cho ra đời một tác phẩm tệ hại như The Room. Nhưng có lẽ họ đã quên mất rằng không chỉ có tiền bạc, Tommy còn bỏ vào The Room cả giấc mơ làm nghệ sĩ, cả niềm say mê đầy ngây thơ về môn nghệ thuật thứ bảy, và cả sự nâng niu đối với tình cảm bạn bè, với tư cách chả một nghệ sĩ. Dù rằng Tommy thất bại vì không có đủ tài năng, kiến thức, nhưng chừng ấy đầu tư về cả vật chất và tinh thần chẳng phải đã là quá đủ để khán giả chúng ta ghi nhớ và trân trọng anh, nhất là trong bối cảnh một Hollywood đang ngập tràn những vụ bê bối nơi các nghệ sĩ có tài năng, vị trí thực sự lại sử dụng chúng vì các mục đích không chính đáng?

=====

jeudi 28 décembre 2017

I, Tonya (2017)


Trong số các môn thể thao thuộc hệ thống Thế vận hội, trượt băng nghệ thuật luôn có chỗ đứng riêng trong lòng khán giả bởi chất thanh nhã pha chút quý tộc với các vận động viên ăn vận đẹp đẽ như các chàng hoàng tử, công chúa vừa bước ra từ truyện cổ tích cùng các bài biểu diễn vừa phức tạp, vừa duyên dáng trong tiếng nhạc cổ điển. Vì vậy mà năm 1994 những người yêu trượt băng nghệ thuật Hoa Kỳ đã thực sự choáng váng khi tất cả các hãng truyền thông và báo lớn của nước này đưa tin chồng cũ của Tonya Harding – một trong những nữ vận động viên trượt băng nghệ thuật sáng giá nhất nước Mỹ thời điểm đó đã thuê kẻ xấu đánh gẫy chân đối thủ của vợ cũ tại giải vô địch trượt băng Hoa Kỳ sắp diễn ra là Nancy Kerrigan, người đồng thời cũng là đồng đội của Harding tại đội tuyển quốc gia Mỹ tranh tài tại Thế vận hội mùa đông. Từ đỉnh cao khi được khán giả của bộ môn trượt băng khắp nước Mỹ hâm mộ cuồng nhiệt vì những cú nhảy xoay ba vòng trên không (“triple axel”) độc nhất vô nhị, Tonya Harding nhanh chóng rơi xuống vực sâu của búa rìu dư luận vì cô bị nghi là đồng loã tiếp tay cho người chồng cũ Jeff Gillooly, hoặc ít ra cũng là nhắm mắt làm ngơ trước âm mưu ghê tởm và phi thể thao nhằm loại bỏ đối thủ Nancy Kerrigan khỏi cuộc đua tới một chỗ dự tranh Thế vận hội mùa đông 1994 tại Lillehammer, Na Uy. Chính thức bị toà án kết tội bao che cho chồng phạm tội không lâu sau đó, Tonya Harding không chỉ phải nhận án tù treo và phạt tiền, cô còn bị loại bỏ vĩnh viễn khỏi làng trượt băng nghệ thuật chuyên nghiệp Hoa Kỳ, và có lẽ đau đớn hơn cả là cái tên Tonya Harding đối với người yêu thể thao từ thời điểm đó trở đi đã trở nên đồng nghĩa với những toan tính phi thể thao, với âm mưu làm vấy bẩn một trong những bộ môn thanh nhã, cao quý nhất của thể thao thế giới. 

Hơn hai thập niên sau ngày cái tên Tonya Harding mãi mãi đi vào sổ đen của bộ môn trượt băng nghệ thuật, đạo diễn người Úc Craig Gillespie đã đem đến cho khán giả một góc nhìn mới về cuộc đời Harding và những sự kiện đã dẫn đến hành động bạo lực vô tiền khoáng hậu đối với Nancy Kerrigan năm nào qua bộ phim I, Tonya. Có thể coi là một tác phẩm tiểu sử về Tonya Harding, I, Tonya khắc hoạ lại cuộc hành trình đầy gian nan đến với trượt băng nghệ thuật của Harding qua lời kể của chính Tonya (Margot Robbie) và những người có dính líu đến cuộc đời cô như bà mẹ khắc nghiệt LaVona (Allison Janney), anh chồng cũ với máu bạo lực Jeff (Sebastian Stan) và tay đồng loã ngớ ngẩn Shawn Eckhardt (Paul Walter Hauser), huấn luyện viên trượt băng Diane Rawlinson (Julianne Nicholson), và nhà sản xuất của kênh tin tức lá cải (Bobby Cannavale). Tuy I, Tonya tiếp cận cuộc đời của ngôi sao sân băng một thời theo phong cách hài chua cay (“black comedy”) với vô số những chi tiết mâu thuẫn qua lời kể không thực sự đáng tin của các nhân chứng của cuộc đời Tonya Harding và của chính cô, nhưng qua tác phẩm này, người xem cũng có thể phần nào hình dung được cuộc sống khổ đau và những nhân tố đã tạo nên tính cách và số phận của Tonya Harding. Có một tuổi thơ chẳng mấy êm đẹp bên bà mẹ sẵn sàng hy sinh từng xu cóp nhặt được qua nghề hầu bàn để con gái có thể theo học trượt băng nhưng kèm theo đó là sự hà khắc đến tàn nhẫn vì kì vọng vào tương lai của con, Tonya sớm hình thành trong mình một cá tính mạnh mẽ, nổi loạn, và bùng nổ trái ngược hẳn với những phẩm chất thường được coi trọng của môn trượt băng như sự đằm thắm, dịu dàng, quý phái. Cộng thêm ngoại hình chẳng lấy gì làm bắt mắt với mái tóc xoăn bù xù, căn bệnh hen suyễn kinh niên, và xuất thân nghèo khó tới mức chẳng phải biểu diễn trong những bộ quần áo tự may vá, Tonya Harding nghiễm nhiên trở thành đứa con ghẻ của làng trượt băng Hoa Kỳ bất chấp tài năng thiên phú và nỗ lực luyện tập không kể ngày đêm của cô gái trẻ. Chẳng giám khảo nào muốn một gương mặt “nhà quê” như Tonya trở thành đại diện cho cộng đồng trượt băng nghệ thuật đầy lịch lãm của nước Mỹ, bởi vậy sau nhiều thất bại, cô chỉ được đứng lên bục vinh quang trong giải vô địch trượt băng Hoa Kỳ khi thể hiện một động tác cực khó về mặt kỹ thuật mà trước đó chưa từng có nữ vận động viên nào thực hiện thành công trong các giải thi đấu chuyên nghiệp của Mỹ - cú nhảy xoay ba vòng trên không (“triple axel”). Vấp phải nhiều khó khăn trong việc chứng tỏ tên tuổi trên sân băng, Tonya còn có một cuộc sống riêng trắc trở hơn nhiều lần khi Jeff Gillooly - người chồng cô hết mực yêu thương và chung sống từ năm mới 19 tuổi lại mang trong mình dòng máu vũ phu. Những trận đòn triền miên của Jeff cuối cùng đã khiến Tonya phải đệ đơn ly dị ra toà nhưng rồi cũng chẳng thể thoát nổi vòng tay của gã đàn ông dẻo mồm mà cô đã chót trao tình yêu lớn đầu đời. Dù có khó khăn đến mấy trên sân băng hay đau đớn đến mấy dưới những cú tát như trời giáng của Jeff, nhưng Tonya Harding vẫn luôn cố gắng vượt qua bởi cuộc đời cô gắn liền với sân băng, gắn liền với những cuộc thi đấu và ước mơ về một tấm huy chương Thế vận hội mùa Đông. Như ngọn lửa mong manh giữa băng giá, giấc mơ đó của Tonya càng ngày càng trở nên xa vời với sự xuất hiện của những đối thủ như Nancy Kerrigan – nguyên cớ của âm mưu ngu ngốc của Jeff và gã bạn ngờ ngệch luôn tự xưng là “vệ sĩ của Tonya” Shawn Eckhardt.

Nếu chỉ dựa trên duy nhất nội dung của I, Tonya, khán giả cũng hoàn toàn có thể đánh giá rằng đây là một bộ phim hài chua cay hết sức sáng tạo với nhịp phim hấp dẫn, cốt truyện mạch lạc dễ hiểu bất chấp việc tác phẩm có nhiều tuyến nhân vật và lời kể xung đột lẫn nhau. Không chỉ giúp khán giả cười ra nước mắt vì vụ án hành hung hết sức ngớ ngẩn đối với Nancy Kerrigan của gã chồng cũ của Tonya, đạo diễn người Úc Craig Gillespie còn khiến người xem cảm thấy giật mình chua xót trước tuổi thơ chan chứa nỗi buồn của Tonya Harding và hết bất công này đến khó khăn khác mà cô vấp phải trên đường đời. Năm 2007, Gillespie từng gây dấu ấn với Lars and the Real Girl – một tác phẩm hết sức nhân văn mô tả tình cảm và nỗi cô đơn của anh chàng tỉnh lẻ kì dị Lars Lindstrom (Ryan Gosling). 10 năm sau đó, ông cùng nhà biên kịch Steven Rogers đã lại đem tới cho khán giả một nhân vật tỉnh lẻ cũng hết sức cô đơn và hết mực mong muốn được yêu thương khác – Tonya Harding. Tất nhiên nhiều khán giả có thể cho rằng vì bộ phim dựa trên các cuộc phỏng vấn của những người trong cuộc như Tonya, như Jeff, như LaVona, chẳng ai có thể chắc I, Tonya là một chân dung chân thật về nữ vận động viên tai tiếng bậc nhất trong lịch sử trượt băng nghệ thuật Hoa Kỳ, thậm chí họ có thể nghi ngờ rằng việc Gillespie khắc hoạ một Tonya Harding với vô số những tổn thương về thể chất và tinh thần như trên phim chỉ là cách để biện minh cho hành động bao che tội phạm của Tonya, hay giảm bớt tai tiếng về sự thiếu tinh thần thể thao mã thượng mà cô từng nhiều lần thể hiện trong và ngoài sân băng. Nhưng nếu xem qua những đoạn phim tư liệu về các cuộc thi đấu có sự xuất hiện của Tonya Harding – vốn được Craig Gillespie tái hiện lại chính xác đến từng khung hình, và tham khảo tiểu sử cuộc đời của Tonya – vốn chứa đựng những chi tiết còn gây sốc hơn nhiều lần về những khổ đau mà cô phải gánh chịu trước và sau vụ bê bối Tonya-Nancy, khán giả chắc chắn sẽ phải thừa nhận rằng I, Tonya quả thực là bộ phim quá xuất sắc trong việc dựng nên một chân dung nhiều chiều của một nhân vật bị nhìn nhận hoàn toàn một chiều suốt hai thập niên qua. Phải chăng chúng ta đã quá ngây thơ khi chỉ tin vào những chi tiết giật gân trên báo chí hay các kênh truyền hình lá cải để dựng nên bức chân dung một chiều đen tối đó của Tonya Harding? Phải chăng Tonya đã đúng khi kết tội một cách đau xót rằng chính người hâm mộ, chính những khán giả của các kênh tin tức lá cải chuyên khai thác những điểm tối, những chi tiết đời tư của Tonya bằng mọi giá cũng phải chịu trách nhiệm với bà LaVona, với Jeff, với Shawn về cuộc đời đen đủi của cô?

Sau khi xem xong I, Tonya, hẳn nhiều người sẽ phải ồ lên thán phục tài năng diễn xuất của Margot Robbie trong vai trung tâm của bộ phim – Tonya Harding. Nữ diễn viên đồng hương của đạo diễn Craig Gillespie không phải là cái tên xa lạ ở Hollywood khi vẻ gợi cảm, quyến rũ của cô được coi là một phần không thể thiếu của các bộ phim lớn như The Wolf of Wall Street (2013), The Legend of Tarzan (2016), và Suicide Squad (2016). Nhưng với I, Tonya, Robbie đã dũng cảm vứt bỏ hình tượng gợi cảm quen thuộc của cô để vào vai một cô gái trẻ quê mùa, cục mịch, tài năng trên sân băng nhưng cũng vô cùng xốc nổi trong quan hệ với những người xung quanh. Cuộc đời đầy biến động của Tonya Harding là mảnh đất màu mỡ cho bất cứ diễn viên nào muốn thể hiện năng lực diễn xuất thực sự, và Margot Robbie đã không phụ sự tin tưởng của đạo diễn Gillespie khi cô khắc hoạ hết sức thành công sự lạc lõng cả về bề ngoài và tính cách của Tonya nếu so với những vận động viên thanh nhã theo đúng truyền thống của môn trượt băng. Nhân vật Tonya Harding của Margot Robbie vừa có chất “điên” của một cô gái trẻ phải kiên cường lớn lên trong sự tàn nhẫn của người mẹ ruột và những buổi tập trên sân băng, vừa ngập tràn nỗi cô đơn trong sâu thẳm tâm hồn khi yêu thương mà chẳng mấy khi được đáp lại – một tình yêu nhiều lúc đơn phương với những người thân thiết và cả vẻ đẹp, vinh quanh trên sân đấu của bộ môn trượt băng nghệ thuật. Đặc biệt ở nửa cuối của bộ phim, khi gánh nặng từ những căng thẳng trên sân băng và bất đồng trong đời tư dần đè nặng lên đôi vai của Tonya, Margot Robbie đã thể hiện một cách xuất sắc từng nét mặt, từng cử chỉ, từng biến đổi về mặt tâm lý của nữ vận động viên người Mỹ đang trượt dần xuống vòng xoáy của vực thẳm thất bại. Sự ăn ý giữa Robbie và Sebastian Stan (người thủ vai anh chồng Jeff) và đặc biệt là Allison Janney trong vai bà LaVona cũng góp phần rất lớn vào sự sống động của bộ phim, và tạo cho I, Tonya một tuyến nhân vật phụ dày dặn với đời sống, tính cách riêng thay vì chỉ mang chức năng làm nền cho nhân vật chính Tonya Harding. Tất nhiên phần lớn những động tác trượt khó của Tonya Harding trong phim được các vận động viên trượt băng chuyên nghiệp thực hiện thay cho Margot Robbie, nhưng cô vẫn hoàn toàn xứng đáng với một lời khen ngợi vì những pha biểu diễn có phần ngắn ngủi nhưng rất thuyết phục với sự giúp đỡ của biên đạo nổi tiếng Sarah Kawahara – người từng hỗ trợ về mặt kỹ thuật trượt băng cho các bộ phim đáng chú ý về môn thể thao này như Blades of Glory (2007).

Phải khẳng định là dù có xuất sắc đến mấy thì I, Tonya cũng chẳng bao giờ có thể giúp Tonya Harding lấy lại những gì đã mất. Cô mãi mãi là đứa con ghẻ của làng trượt băng nghệ thuật Hoa Kỳ, không bao giờ còn có thể kiếm tìm vinh quang và tiền bạc bằng những cú nhảy xoay ba vòng trên không. Với nhiều người, Tonya cũng mãi mãi là cái tên gắn với những âm mưu hèn hạ, bỉ ổi, phi thể thao của những vận động viên hèn nhát không dám so tài trên sân đấu mà phải viện tới cách triệt hạ sau lưng đối thủ. Nhưng với sự trân trọng của đạo diễn Craig Gillespie và diễn xuất đáng ngợi khen của Margot Robbie, ít ra Tonya Harding cũng có thể an tâm rằng trong số các khán giả có cơ hội được xem bộ phim này, sẽ có nhiều người kiếm tìm lại những đoạn băng tư liệu cũ kỹ về những pha biểu diễn đẹp đẽ của cô, sẽ có những khán giả lên mạng đọc tiểu sử của Tonya để khám phá thêm về xuất thân phức tạp và cuộc đời đầy chông gai của nữ vận động viên một thời số một nước Mỹ này. Có thể họ sẽ vẫn không tha thứ cho những lầm lỗi năm xưa của Tonya Harding, nhưng ít nhất bằng cách ấy họ sẽ có được một hình ảnh đầy đủ hơn về Tonya nếu so với những chân dung hoàn toàn một chiều trên báo chí lá cải. Và có một điều Tonya Harding có thể chắc chắn, đó là chẳng khán giả nào sau khi xem xong phim sẽ quên được pha biểu diễn kì diệu xoay ba vòng trên không của cô – một động tác khó tới mức cho tới nay chỉ mới có tám nữ vận động viên trên thế giới từng thực hiện thành công cú xoay này trong các cuộc thi quốc tế. Có lẽ đó cũng có thể coi là một tấm huy chương an ủi cho giấc mơ dang dở với môn trượt băng nghệ thuật của Tonya Harding – một bi kịch hiện đại của thể thao thế giới.

====

mercredi 27 décembre 2017

Lady Bird (2017)


Tuy được chọn là thủ phủ của tiểu bang California, Sacramento lại chỉ là một thành phố nhỏ, xanh mướt và hiền hoà nếu so với những đại đô thị rộng lớn, đông đúc náo nhiệt khác ở Bờ Tây nước Mỹ như Los Angeles hay San Francisco. Cái chất trầm lắng, yên bình dưới ánh nắng Cali của Sacramento khiến nhiều người mê đắm, nhưng cũng lại làm không ít những cô nhóc cậu nhóc sinh ra và lớn lên ở thành phố nằm ở trái tim tiểu bang California này cảm thấy buồn chán và muốn chạy trốn khỏi sự tĩnh lặng nơi đây. Cô gái mười bảy tuổi Christine McPherson (Saoirse Ronan), hay “Lady Bird” (“Điểu cô nương”) McPherson như cái tên cô tự gọi mình, là một trong số ấy. Lady Bird chẳng may mắn được sinh ra trong nhung lụa khi mà bố mẹ của cô, bà y tá Marion (Laurie Metcalf) và ông Larry (Tracy Letts), luôn phải vật lộn với cuộc sống để nuôi lớn Lady Bird và người anh trai nuôi của cô Miguel (Jordan Rodrigues) trong căn nhà xập xệ thuộc khu phố nghèo của Sacramento, bản thân Lady Bird cũng phải theo học một trường trung học Công giáo với nhiều điều kiện ngặt nghèo để giảm bớt gánh nặng tài chính cho gia đình. Như để bù lại, mỗi ngày của Lady Bird luôn tràn đầy niềm vui và sự yêu thương từ bố mẹ cô, từ người bạn thân “quá khổ” Julie (Beanie Feldstein), hay từ cậu bạn trai rụt rè của những ngày cuối cấp Danny (Lucas Hedges). Nhưng sự bao bọc, che chở của ông bà Larry và Marion, hay những buổi tập kịch, đêm dạ vũ ở trường chỉ càng muốn Lady Bird tung cánh thoát khỏi mảnh đất Sacramento buồn chán, nhất là trong thời khắc lịch sử của một nước Mỹ đang chuyển mình thay đổi sau những biến cố như vụ khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001 hay việc quân đội Hoa Kỳ bắt đầu tấn công Iraq năm 2003. Cô muốn được yêu, muốn trải nghiệm làm “người lớn” với Kyle (Timothée Chalamet) hay Jenna (Odeya Rush) - những người bạn “sành điệu” và thời thượng hơn Julie chất phác của cô, và hơn hết Lady Bird muốn được sống và học đại học ở những thành phố ngập tràn ánh sáng văn minh ở Bờ Đông nước Mỹ như New York. Liệu sự bình yên của Sacramento cùng tình cảm giản dị nhưng đậm sâu của những con người nơi đây có thể giữ được chân Lady Bird? Hay “Điểu cô nương” khi đã đủ lông đủ cánh ở cái tuổi 18 sẽ bay đi mãi mãi chẳng quay đầu trở lại?

Lady Bird là tác phẩm đầu tay của nữ đạo diễn trẻ Greta Gerwig, người đồng thời cũng là tác giả kịch bản của bộ phim này. Tuy đây mới là bộ phim đầu tiên Gerwig giới thiệu với khán giả trên vai trò đạo diễn, từ gần 10 năm trở lại đây cô đã trở thành một gương mặt quen thuộc trong giới làm phim độc lập Hoa Kỳ trong vai trò nàng thơ của đạo diễn phim độc lập nổi tiếng Noah Baumbach trong các bộ phim gây tiếng vang như Greenberg (2010), Frances Ha (2012), hay Mistress America (2015). Không chỉ dừng lại ở việc diễn xuất, Greta Gerwig cũng góp công rất lớn vào chất hài hước vừa đời thường, vừa độc đáo của Frances Ha và Mistress America trong vai trò đồng biên kịch của phim. Tuy vậy, Lady Bird có lẽ mới là dấu mốc quan trọng nhất trong sự nghiệp của Gerwig tính đến thời điểm hiện tại, không chỉ bởi cô lần đầu đứng sau máy quay chỉ đạo diễn xuất thay vì đứng trước máy quay trong vai trò diễn viên, không chỉ bởi cô bỏ hẳn ra một năm để viết bản thảo kịch bản của phim với cái tên ban đầu Mothers and Daughters (“Mẹ và con gái”), mà hơn hết là vì bộ phim phản ánh phần nào đó cuộc sống và suy tư của Greta Gerwig ở thời khắc cô chập chững bước vào đời. Cũng như Lady Bird, Gerwig sinh ra và lớn lên tại chính Sacramento trong tình thương yêu của một bà mẹ làm y tá và những năm tháng học phổ thông tại một trường trung học Công giáo chỉ dành cho nữ. Bối cảnh chính của truyện phim Lady Bird – nước Mỹ những năm 2002, 2003 cũng chính là thời điểm nữ nghệ sĩ sinh năm 1983 Gerwig trải qua những năm tháng đầu tiên của tuổi trưởng thành. Chính sự gần gũi giữa Lady Bird và tuổi trẻ của Greta Gerwig có lẽ đã giúp kịch bản bộ phim giữ được chất sống động từ đầu đến cuối với đủ mọi trạng thái cảm xúc được đặc tả một cách gần gũi, tự nhiên không hề khiên cưỡng. Với thời lượng chỉ 93 phút, sẽ có khán giả cho rằng việc giữ được sự nhịp nhàng, lúc sôi nổi với những cuộc vui tuổi trẻ, lúc trầm lắng trong những tâm sự gia đình của Lady Bird hoàn toàn nằm trong khả năng của một ngòi bút đã được khẳng định như Gerwig. Nhưng nữ đạo diễn-biên kịch 34 tuổi này còn khiến người xem phải thán phục trong việc đưa vào phim một mạng lưới dày đặc nhân vật và tình tiết sống động, trong đó không chỉ Lady Bird có được ước mơ, suy nghĩ và cuộc đời riêng, mà ngay cả những nhân vật phụ với thời lượng xuất hiện trên phim ít hơn cô bé 17 tuổi rất nhiều như ông bố Larry, cô bạn phúc hậu Julie, hay cậu bạn trai rắc rối Danny đều ít nhiều giành được tình cảm của khán giả với sự chân thật và suy nghĩ ấm áp của họ. Đặc biệt, “Lady Bird” đã vượt qua khuôn khổ của một bộ phim hài về lứa tuổi mới lớn thông thường bằng việc khắc hoạ hết sức thành công tình mẹ con sâu nặng, phức tạp, và đầy cảm động giữa Lady Bird và bà y tá Marion. Ai đã trải qua cái tuổi ẩm ương 17, 18 hẳn đều mang trong mình kỉ niệm về những lần hỗn hào, không nghe lời cha mẹ, về những thời khắc hiểu lầm, coi sự nghiêm khắc của cha mẹ là biểu hiện của sự thiếu vắng tình thương từ những người đã mang nặng đẻ đau để rồi chỉ nhận ra tình cảm thật sự của cha mẹ khi đã trưởng thành, khi đã trải nghiệm thất bại trong cuộc đời. Đó chính là hình ảnh của Lady Bird và mẹ cô trên phim – một đứa con sống nội tâm tới mức vô tâm và một bà mẹ cố lấy tấm màn nghiêm khắc để phủ lên tình yêu thương, quan tâm vô bờ bến bà dành cho con gái. Trong một năm của nhiều bộ phim hay về gia đình, có lẽ tình mẹ con giữa Lady Bird và mà Marion trong Lady Bird và tình cha con giữa Elio và ông Perlman trong Call Me by Your Name chính là những chân dung đẹp đẽ nhất về tình cảm, sự hy sinh của cha mẹ dành cho những đứa con thân yêu của họ. Thật tình cờ là người thủ vai Elio trong Call Me by Your Name - Timothée Chalamet cũng rất thành công trong vai Kyle – anh bạn lãng tử và ham triết lý của Lady Bird. 

Sau thành công vang dội với vai diễn Eilis Lacey trong Brooklyn năm 2015, nữ diễn viên trẻ người Ireland Saoirse Ronan được đánh giá là một trong những ngôi sao đang lên của điện ảnh Hollywood. Tuy vậy cô lại dành cả năm 2016 để tham gia sân khấu kịch và chỉ trở lại với màn ảnh lớn trong năm 2017 với một tác phẩm nhỏ thuộc dòng phim độc lập Lady Bird. Nhưng chỉ một vai diễn Lady Bird cũng đã là quá đủ để Saoirse Ronan chứng tỏ với khán giả rằng vô số đề cử và giải thưởng cô giành được cho vai diễn trong Brooklyn không phải là may mắn hay thành công nhất thời, mà là vì cô thực sự có tài năng với sự nhạy cảm tuyệt vời ẩn dưới một vẻ đẹp mong manh nhưng vẫn trẻ trung đầy sức sống. Có lẽ chính Greta Gerwig cũng phải hài lòng với việc “để” Ronan vào một vai diễn phần nào đó phản ánh tuổi trẻ của chính Gerwig, khi mà nữ diễn viên 23 tuổi đã thể hiện hoàn toàn thuyết phục không chỉ những nụ cười, giọt nước mắt, hay sự ngốc ngếch của một cô bé sắp tròn 18 tuổi, mà còn cả phút giây rung động đầu đời hay những thời khắc tuyệt vọng, cô đơn trong tâm hồn một thiếu nữ mà Gerwig đã dùng chính trải nghiệm đời mình để đưa vào kịch bản. Đối lập với sự ngây thơ, trẻ trung của Saoirse Ronan trong vai Lady Bird là sự chín chắn, ý nhị đậm màu thời gian của Tracy Letts trong vai ông Larry và đặc biệt là Laurie Metcalf trong vai bà Marion. Vốn được biết tới chủ yếu qua các vai diễn sân khấu và truyền hình, nữ diễn viên gạo cội Laurie Metcalf đã giúp nâng tầm Lady Bird với một vai diễn có chiều sâu không thua kém gì nhân vật chính do Ronan đảm nhiệm nếu không nói là có phần còn khó khăn hơn bởi Saoirse Ronan được vào vai một thiếu nữ sẵn sàng bộc lộ mọi suy nghĩ, tình cảm, trong khi vai Marion của Laurie Metcalf lại luôn phải kìm nén cảm xúc dưới vỏ ngoài tưởng chừng chai sạn, cứng rắn của một người phụ nữ phải bôn ba lo toan cho cả gia đình. Sự ăn ý giữa Lady Bird và bà Marion thực sự đã biến bộ phim của Greta Gerwig trở thành một bộ phim nữ quyền tiêu biểu cho Hollywood những năm gần đây, khi mà các nhân vật nữ trong phim luôn chủ động với ước muốn định đoạt tương lai, số phận của họ, nhưng cũng không vì thế mà mất đi những tình cảm sâu sắc, chân thành mà họ luôn lưu giữ trong tim cho những người yêu quý. 

Là một tác phẩm thuộc dòng độc lập với kinh phí chỉ khoảng 10 triệu đô la, Lady Bird có thể được xếp vào loại phim “nhỏ” với bối cảnh đơn giản, đời thường, nhiều màu xanh thiên nhiên cỏ cây, vắng bóng đại cảnh hay kĩ xảo. Nhưng dưới vẻ ngoài dung dị ấy, Lady Bird lại chứng đựng một truyện phim vô cùng đa dạng và cảm động về những trăn trở đầu đời của cô thiếu nữ Lady Bird đang tìm cho mình một chân trời mới, về sự vô giá của tình yêu thương giữa những người trong gia đình – thứ tình cảm duy nhất vĩnh viễn đi theo ta dù ở bất cứ nơi đâu, và về mối dây liên hệ vô hình giữa mỗi người và nơi chôn rau cắt rốn của họ. Bởi thế, Lady Bird hoàn toàn xứng đáng được coi là một tác phẩm “lớn”, nơi mỗi khán giả sau khi thưởng thức bộ phim đều có thể tìm cho mình một câu truyện, một chi tiết nào đó nhắc nhớ tới quá khứ của chính họ. Con chim chỉ có thể đủ lông đủ cánh để bay đi tìm chân trời mới từ một chiếc tổ vững chãi. Con người chỉ có thể thực sự vươn lên phía trước, thực sự hướng tới tương lai nếu họ biết trân trọng nguồn cội, trân trọng quá khứ. Đó có lẽ là một phần thông điệp Greta Gerwig muốn gửi đến khán giả. Một thông điệp đẹp đến từ một tác giả nữ tài năng, một người chắc chắn sẽ góp phần làm nên gương mặt của điện ảnh Hollywood trong những năm sắp tới.

======

dimanche 24 décembre 2017

Call Me by Your Name (2017)


Gia đình giáo sư khảo cổ gốc Do Thái Perlman (Michael Stuhlbarg) sở hữu một căn biệt thự tuyệt đẹp ở vùng đồng quê nước Ý, nơi ông nghiên cứu những di vật và phế tích của nền văn minh Hy Lạp-La Mã và tận hưởng cuộc sống an nhàn bên người vợ Annella (Amira Casar) và cậu con trai 17 tuổi Elio (Timothée Chalamet). Báu vật của ông bà Perlman – Elio là cậu nhóc mới lớn không chỉ được mọi người yêu quý vì tài năng âm nhạc, vì sở thích đọc sách đến mê mỏi, mà còn sở hữu vẻ đẹp mỏng manh, đầy chất nội tâm gợi nhớ đến những bức tượng thành hình dưới bàn tay của các nghệ nhân Hy Lạp thời cổ đại. Có lẽ tuổi mới lớn của Elio sẽ tiếp tục êm đềm và yên bình như những thị trấn cổ kính của nước Ý nếu không có sự xuất hiện giữa mùa hè Địa Trung Hải của Oliver (Armie Hammer), anh chàng sinh viên người Mỹ vạm vỡ, đẹp trai cũng mang trong mình dòng máu Do Thái. Được giáo sư Perlman mời tới biệt thự của ông để trợ giúp việc nghiên cứu, Oliver nhanh chóng gây ấn tượng và chiếm được tình cảm từ vợ chồng ông giáo sư, từ những cô bạn gái cũng đang tuổi mới lớn của Elio, và cuối cùng là từ chính Elio vì sự tự nhiên, chủ động đầy chất “Mỹ”. Một đang ở cái tuổi vô lo vô nghĩ, một đang đau đầu với những câu hỏi về sự nghiệp, về việc lập gia đình. Một sống nội tâm, khép kín, lãng đãng với những nốt nhạc, đoạn thơ, một trưởng thành, quảng giao, chủ động trong việc làm quen, thu hút cảm tình của mọi người. Một mang vẻ đẹp mềm mại có phần nữ tính của đàn ông Địa Trung Hải, một toát ra vẻ đàn ông mạnh mẽ gây ấn tượng từ cái nhìn đầu tiên đặc trưng cho xứ cờ hoa. Elio và Oliver dường như là hai mảnh ghép với hình dạng hoàn toàn khác nhau, nhưng trong mùa hè rực rỡ của nước Ý đầu thập niên 1980 ấy, họ lại chợt nhận ra rằng đó là hai mảnh ghép vừa khớp trong cuộc đời của mỗi người.

Người chắp bút chuyển thể tiểu thuyết Call Me by Your Name của nhà văn Mỹ André Aciman thành kịch bản điện ảnh là nhà làm phim 89 tuổi James Ivory – người đồng thời đảm nhiệm vai trò sản xuất của bộ phim. Với nhiều khán giả trẻ có lẽ cái tên James Ivory không thực sự gây nhiều ấn tượng, nhưng với người yêu điện ảnh giai đoạn thập niên 1980 và 1990 thì chắc chắn bộ ba Ismail Merchant - James Ivory - Ruth Prawer Jhabvala sẽ gợi nhớ cho họ nhiều kỉ niệm điện ảnh đáng nhớ. Là bởi bộ ba nhà sản xuất-đạo diễn-biên kịch này của hãng phim lừng danh một thủa Merchant Ivory Productions chính là tác giả của những bộ phim xuất sắc lấy đề tài tình cảm lãng mạn trong khung cảnh lịch sử như A Room with a View (1985), Howards End (1992), hay The Remains of the Day (1993). Lấy bối cảnh là miền đồng quê và những thị trấn châu Âu cổ kính, các sản phẩm điện ảnh của Merchant Ivory Productions thường lôi cuốn khán giả bằng truyện phim đầy cảm xúc, phảng phất hơi hướng hoài cổ, và các nhân vật dù hạnh phúc hay đau khổ vẫn luôn giữ được cốt cách thanh lịch. Merchant qua đời năm 2005, tám năm sau đó đến lượt nữ biên kịch Jhabvala, tưởng chừng chỉ một mình James Ivory vốn cũng đã ở cái tuổi gần đất xa trời sẽ chẳng thể tiếp tục phong cách rất đặc trưng của Merchant Ivory Productions. Bởi vậy, Call Me by Your Name quả thực là một bất ngờ thú vị cho giới mộ điệu điện ảnh nói chung, và cho những người từng yêu thích phim của hãng Merchant Ivory Productions nói riêng, khi tác phẩm do James Ivory chắp bút này đã lại một lần nữa khiến người xem phải mê đắm với không gian lãng mạn, hoài cổ của miền quê nước Ý đầu những năm 1980 và những nhân vật thanh lịch, phóng khoáng nhưng không kém phần sâu sắc. 

Gây ngạc nhiên trong việc lưu giữ hơi thở cổ kính, lịch lãm theo phong cách Merchant Ivory Productions, nhưng Call Me by Your Name vẫn giữ được sự tươi mới, đột phá trong cách xử lý đề tài truyền thống của điện ảnh – khao khát tình cảm trong tâm hồn mỗi người. Thành công này của Call Me by Your Name tất nhiên phần lớn xuất phát từ tài năng của đạo diễn bộ phim – nhà làm phim người Ý Luca Guadagnino. Đạo diễn Guadagnino coi Call Me by Your Name là tác phẩm mới nhất trong bộ ba phim mô tả mong muốn được yêu thương của mỗi người sau I Am Love (2010) và A Bigger Splash (2015). Tiếp nối thành công lớn về mặt nghệ thuật của I Am Love và A Bigger Splash trong việc đặc tả những con người đang mong mỏi được cho, và nhận tình cảm ẩn sâu trong tâm hồn họ, Call Me by Your Name đã đem đến cho người xem chân dung hết sức chân thật và cảm động của hai người trẻ đang ngập ngừng tìm đến với nhau với đầy khao khát tình yêu nhưng cũng ẩn giấu những lo sợ, rụt rè trước định kiến của xã hội, trước những hoài nghi có thể có từ chính những người thân thiết xung quanh họ. Không chỉ xuất sắc trong việc khắc hoạ cá tính, suy tư, tình cảm của Elio và Oliver, đạo diễn Guadagnino còn khiến người xem phải ngả mũ vì cách kể chuyện mộc mạc, hé lộ từng chi tiết trong tính cách nhân vật cùng tương tác giữa họ một cách chậm rãi nhưng vẫn đầy lôi cuốn và bất ngờ. Hơn thế nữa, tuy Call Me by Your Name là câu chuyện mối tình đầu của Elio với Oliver, nhưng đạo diễn người Ý không vì thế mà lãng quên những nhân vật phụ của phim – những người thân thiết của Elio và góp phần tạo nên tính cách, cuộc đời của chính cậu nhóc đang tuổi mới lớn này như ông bà Perlman hay cô bạn gái Marzia (Esther Garrel). Thậm chí nhân vật trung tâm của phân đoạn có lẽ là xuất sắc nhất, cảm động nhất, đi vào lòng người nhất của Call Me by Your Name – một bộ phim đầy ắp những phân đoạn cảm động lại được đạo diễn Guadagnino dành cho một trong số những nhân vật phụ ấy thay vì Elio hay Oliver. Góp phần vào hiệu quả cảm xúc của phim cũng phải kể tới sự đóng góp của nhà quay phim người Thái Lan Sayombhu Mukdeeprom – tác giả phần hình ảnh của bộ phim Thái từng giành giải Cành cọ vàng Uncle Boonmee Who Can Recall His Past Lives, và đặc biệt là của nhạc sĩ-ca sĩ Sufjan Stevens – người đã hỗ trợ Guadagnino thổi hơi thở hoài cổ, lãng đãng của thập niên 1970, 1980 vào Call Me by Your Name qua phần nhạc phim pha trộn giữa nhạc cổ điển và các bản nhạc đương đại. 

Sau thành công sớm qua vai diễn phụ trong The Social Network (2009), Armie Hammer được coi là một trong những tên tuổi triển vọng của điện ảnh Hollywood với tài năng diễn xuất được thừa nhận và vẻ ngoài đẹp trai hết sức ăn hình. Tuy vậy, suốt những năm sau đó Hammer luôn phải loay hoay tìm chỗ đứng cho mình với không nhiều vai diễn đáng nhớ và cả những thất bại lớn như vai diễn trong bộ phim thua lỗ kỉ lục The Lone Ranger (2013). Với vai diễn Oliver trong Call Me by Your Name, cuối cùng Armie Hammer đã lại có thể chinh phục khán giả và giới phê bình khó tính bằng diễn xuất đầy cảm xúc và đa diện, vừa mạnh mẽ, vừa rụt rè mong manh. Hammer xuất sắc, nhưng phát hiện mới Timothée Chalamet có lẽ còn gây ấn tượng nhiều hơn bằng một vai diễn với chiều sâu tâm hồn đáng nể với biến hoá cảm xúc khó lường đúng với hình tượng của một cậu nhóc 17 tuổi. Chứng kiến diễn xuất phóng khoáng nhưng cũng đầy ẩn ức của Chalamet trong vai Elio, chắc chắn nhiều khán giả sẽ tìm thấy một phần nào đó của chính họ khi ở vào độ tuổi ẩm ương như cậu thiếu niên đẹp trai giữa mùa hè nước Ý. Và tất nhiên, sau khi xem xong Call Me by Your Name, khán giả sẽ chẳng thể quên được hai gương mặt ấm áp, nồng hậu của Michael Stuhlbarg và Amira Casar trong vai bố mẹ của Elio. Với riêng diễn viên tài năng Stuhlbarg, có lẽ là không ngoa khi cho rằng đây là diễn xuất ấn tượng nhất của anh kể từ A Serious Man (2009) – vai diễn từng đem lại nhiều giải thưởng và đề cử cho nam diễn viên có đôi mắt hút hồn người xem này.

Việc khắc hoạ những mối tình đồng tính trên màn ảnh lớn luôn ít nhiều khiến khán giả phải xì xào, đặc biệt là khi một nửa của mối tình ấy lại chỉ là một cậu nhóc mới lớn còn chưa bước qua ngưỡng vị thành niên như Elio. Vì vậy, thật ngạc nhiên khi Call Me by Your Name lại chẳng khiến người xem cảm thấy phải băn khoăn, suy nghĩ vì những cung bậc cảm xúc của hai nhân vật nam chính được lột tả hết sức chân thực xuyên suốt bộ phim. Có lẽ thành công này xuất phát từ cách kể chuyện nhẹ nhàng, dung dị của đạo diễn Guadagnino và biên kịch Ivory, hoặc từ diễn xuất có hồn của Hammer và Chalamet. Nhưng có lẽ sự lôi cuốn của phim còn xuất phát từ một lý do đơn giản hơn thế, đó là vì thông điệp phổ quát nhưng cũng lại dễ đi vào lòng người của bộ phim – người ta chỉ sống một lần trên đời, bởi vậy hãy dành tuổi trẻ để yêu và sống hết mình trước khi thời khắc ấy trôi qua và mãi mãi không trở lại. Với thông điệp đầy ý nghĩa ấy, dù chưa chắc có thể chiến thắng tại các giải thưởng lớn, nhưng chắc chắn Call Me by Your Name sẽ được coi là một trong những tác phẩm điện ảnh đáng nhớ nhất của năm 2017.

===


mardi 12 décembre 2017

mother! (2017)


Giữa đống tro tàn của toà biệt thự bị thiêu rụi bởi một đám cháy không rõ nguyên cớ, Nhà thơ (Javier Bardem) chỉ lặng cười đặt báu vật của ông - viên đá pha lê góc cạnh lên giá, để rồi tro tàn lại tái sinh thành căn nhà còn thơm mùi vữa, và trên giường của Nhà thơ, người vợ xinh đẹp quyến rũ của ông (Jennifer Lawrence) lại hồi sinh trong ánh nắng buổi sớm để cất tiếng gọi chồng. Ngoại trừ việc dòng sáng tác vẫn đang tắc trong đầu Nhà thơ khiến ông chẳng thể viết ra một dòng thơ mới mẻ nào, cuộc sống của ông và người vợ trẻ dường như chẳng thể êm đềm hơn với toà biệt thự rộng rãi nhưng luôn vẫn ấm cúng giữa đồng cỏ xanh mướt, với nhất là với tình yêu đượm nồng hai người dành cho nhau. Nhưng mọi thứ bắt đầu đảo lộn khi một đêm khuya vắng, một người đàn ông lạ mặt (Ed Harris) tự xưng là bác sĩ gõ cửa toà biệt thự của Nhà thơ vì tưởng đây ngôi nhà của hai người là một quán trọ - giữa đồng không mông quạnh. Bất chấp sự phản đối của vợ, Nhà thơ vẫn quyết định mời người đàn ông lạ mặt kia ngủ lại qua đêm mà không ngờ rằng sự hiện diện của ông ta, và sau đó là bà vợ (Michelle Pfeiffer), hai đứa con của lão (Domhnall Gleeson và Brian Gleeson), và rất nhiều người khác nữa sẽ vĩnh viễn tước đi sự yên bình trong cuộc sống của Nhà thơ và vợ ông – người phụ nữ hoài thai đang chờ đón những năm tháng trở thành người mẹ của đứa con đầu lòng.

Phần mở đầu nói trên của mother!” hẳn sẽ khiến nhiều khán giả bất ngờ bởi nó chẳng hề mang màu sắc kinh dị, rùng rợn như đoạn quảng cáo trailer của phim được phát cách đây vài tháng. Quả thực, khó ai có thể gọi đây là một bộ phim kinh dị, khi mà tác phẩm mới nhất này của đạo diễn nổi tiếng Darren Aronofsky có thể coi là sự tiếp nối của dòng phim tác giả về sự cô đơn, về tôn giáo, và về ranh giới nhạt nhoà giữa hiện thực và mộng tưởng của ông với những tác phẩm gây nhiều tiếng vang như Pi (1998), Requiem for a Dream (2000), The Fountain (2006), và mới đây nhất là Black Swan (2010). Khác với các tác phẩm có cốt truyện tương đối tuyến tính và dễ nắm bắt khác của Aronofsky là The Wrestler (2008) và Noah (2014), những bộ phim thuộc dòng phim tác giả, đậm chất cá nhân kể trên của đạo diễn 48 tuổi lôi cuốn khán giả bởi kịch bản nhiều lớp lang và tuyến nhân vật đa dạng, phức tạp. Tác phẩm mới nhất của Aronofsky không nằm ngoài xu hướng này khi bộ phim có bối cảnh hết sức đơn giản – chỉ gói gọn bên trong toà biệt thự của Nhà thơ với chỉ hai nhân vật chính – Nhà thơ và người mẹ trẻ, nhưng lại chứa đựng vô số câu hỏi không dễ giải đáp đối với khán giả. Tại sao người mẹ trẻ luôn hết mực yêu thương, chăm sóc chồng nhưng Nhà thơ dường như chỉ hờ hững đáp lại tình cảm của vợ? Tại sao viên pha lê với hình thù kì dị lại được dùng để làm điểm khởi đầu cho cả bộ phim? Tại sao ngọn lửa đỏ dưới tầng hầm căn nhà lại chẳng bao giờ tắt? Liên tiếp những câu hỏi như vậy được đặt ra cho khán giả xuyên suốt bộ phim và chỉ một phần trong số đó thực sự được giải đáp bởi phần kết hết sức bất ngờ của mother!. Cô vàn chi tiết và bí ẩn như vậy có thể giúp bộ phim trở nên đa nghĩa, giàu tính biểu tượng, nhưng chúng cũng dễ dàng làm khán giả trở nên mất phương hướng, thậm chí là rối loạn khi theo dõi tác phẩm, nhất là khi cốt truyện chính của mother! có thể coi là tương đối rời rạc với nhiều nhân vật phụ và phân cảnh riêng rẽ, thiếu đi một mạch phim giúp dẫn dắt khán giản. Rất may cho mother! là tuy thiếu đi sự mạch lạc, dễ tiếp cận đối với số đông khán giả, bộ phim lại được biên tập hết sức chắc tay với nhịp phim được thay đổi rất uyển chuyển từ chậm rãi sang dồn dập, từ êm đềm sang bùng nổ khiến khán giả dù có thể không hiểu hết ý tứ của đạo diễn nhưng vẫn cảm thấy bị cuốn theo không khí ma mị của phim và số phận của những nhân vật bí ẩn trong phim.

Nếu xét về mặt bố cục và tuyến nhân vật chính thì mother! có phần nào đó giống với The Fountain – tác phẩm lãng mãn-khoa học giả tưởng của Darren Aronofsky ra đời năm 2006. Cũng xoay quanh tình yêu bất tận của hai nhân vật chính (do Hugh Jackman và Rachel Weisz thủ vai), The Fountain có lẽ đã khiến trái tim của nhiều người xem phải rung động bởi mối tình truyền kiếp được Jackman và Weisz thể hiện một cách tuyệt vời trong phim, nhưng chắc chắn cũng khiến nhiều người phải vò đầu bứt tai vì kịch bản phi tuyến tính hết sức rắc rối của tác phẩm này. Tuy cũng sở hữu một cặp đôi diễn viên thực lực như Jackman và Weisz là Javier Bardem và Jennifer Lawrence, nhưng có lẽ mother! không thực sự gây được ấn tượng lớn với khán giả về mặt diễn xuất của dàn diễn viên khi mà Bardem không có quá nhiều đất diễn còn ngôi sao nữ hàng đầu Hollywood Lawrence – nữ diễn viên được biết tới với qua những nhân vật mạnh mẽ, kiên cường lại phải đảm nhận một vai diễn tương đối bị động và một màu. Dù việc Aronofsky tước đi sự chủ động của các nhân vật bằng cách liên tiếp đặt họ vào những tình huống khó xử là hoàn toàn nằm trong chủ ý của đạo diễn người Mỹ, nhưng lựa chọn này cũng lại khiến Bardem và Lawrence không phát huy được sở trường diễn xuất của họ như cách bộ đôi Jackman-Weisz trong The Fountain, Mickey Rourke trong The Wrestler, hay Natalie Portman trong Black Swan đã làm được dưới sự chỉ đạo diễn xuất của Aronofsky. Một điểm đáng chú ý là tuy cùng được giới phê bình đánh giá tương đối tích cực như The Fountain, nhưng sau hơn một thập kỉ làm phim có lãi, Darren Aronofsky với mother! lại lập lại thất bại về mặt doanh thu của The Fountain, một phần vì bị hãng Paramount marketing “hỏng”, nhưng cũng một phần vì truyện phim khó hiểu không phù hợp thị hiếu khán giả của mother!.

Là một tác phẩm thuộc dòng phim tác giả, mother! là một bộ phim mở với nhiều chi tiết, bí ẩn để ngỏ cho khán giả có cách lý giải cho riêng mình. Nhiều người cho rằng đây là một bộ phim về đề tài môi trường-tôn giáo, trong đó nhân vật người mẹ là tượng trưng cho Trái Đất luôn mở rộng vòng tay yêu thương với những gì do Đấng tạo hoá mang lại như con người, nhưng cũng lại phải chịu đựng vô số những tổn thương do chính con người mang lại. Nếu nhìn vào sự ích kỷ của Nhà thơ vô cảm trong căn nhà trống bất chấp tình yêu của người mẹ trẻ, khán giả cũng lại có thể tìm thấy trong đó sự khốc liệt, thậm chí là tàn nhẫn trong quá trình thai nghén ra những tác phẩm để đời của các tác giả lớn – những người phải hy sinh cảm xúc, hy sinh những quan hệ gần gũi để có thể có được chất liệu viết nên những đoạn văn, câu thơ in dấu trong tâm hồn độc giả. Và nếu chỉ đơn giản là ngồi lặng nghe giọng ca của huyền thoại Patti Smith thể hiện ca khúc mộc mạc về tình yêu The End of the World ở đoạn kết của phim, chắc hẳn nhiều người xem cũng sẽ lại nhận ra rằng cũng như Requiem for a Dream, như The Fountain, như The Wrestler, mother! cũng lại là một lời trân trọng của Darren Aronofsky dành cho tình cảm giữa những người thân thiết, dành cho những người dám hy sinh vì những người họ yêu thương. Bởi những lớp ý nghĩa sâu sắc ấy, nên dù có khó hiểu và gây mất phương hướng ở nửa đầu phim, nhưng mother! vẫn hoàn toàn xứng đáng để khán giả ngồi xem cho đến những giây phút cuối cùng. 

=====


lundi 16 octobre 2017

The Big Sick (2017)


Không chỉ là một quốc gia Hồi giáo, Pakistan còn là đất nước với hàng nghìn năm lịch sử và bề dày truyền thống không thua kém bất cứ nền văn hóa lâu đời nào khác trên thế giới. Bởi vậy mà người Pakistan dù ở bất cứ nơi đâu cũng luôn mang trong mình tinh thần tự hào dân tộc, tình yêu gia đình, và lòng trân trọng những giá trị vững bền của tổ quốc mình. Không nằm ngoài truyền thống quý báu ấy của người Pakistan, gia đình ông bà Azmat (Anupam Kher) và Sharmeen (Zenobia Shroff) dù đã định cư và có một cuộc sống sung túc giữa lòng nước Mỹ nhưng vẫn gắng dạy dỗ hai cậu con trai Naveed (Adeel Akhtar) và Kumail (Kumail Nanjiani) không bao giờ được quên nguồn cội Pakistan của mình. Nhưng nếu như Naveed luôn là đứa con ngoan của gia đình khi để râu rậm (“như một người đàn ông Hồi giáo chân chính”), lấy một cô vợ người Pakistan, và luôn có mặt trong các bữa ăn tối của gia đình, thì anh chàng mày râu nhẵn nhụi Kumail lại luôn khiến bố mẹ phải phiền lòng khi chẳng chịu học hành theo đuổi nghề bác sĩ, luật sư, và tìm mọi cách né chánh các cô gái gốc Pakistan xinh đẹp mà bà Sharmeen đã mất công tìm kiếm để mai mối cho cậu con trai cưng. Chẳng có cả niềm tin vào tôn giáo, dường như Kumail đã trở thành một “người Mỹ” thực sự khi anh sẵn sàng sống trong một căn phòng chật hẹp giữa đô thành Chicago, nhặt nhạnh từng đồng bằng nghề lái Uber để theo đuổi giấc mơ thực sự - được tỏa sáng trên sân khấu trong vai trò một nghệ sĩ hài độc thoại và ngôi sao của những vở kịch-một người. 

Một tuần của Kumail có lẽ sẽ tiếp tục xoay quanh những cuốc xe Uber, năm phút xuất hiện ngắn ngủi trên sân khấu hài độc thoại, và những cuộc “xem mặt” đầy gượng gạo với các cô gái Pakistan, nếu như Emily Gardner (Zoe Kazan) không bước vào cuộc đời anh. Quen nhau sau một đêm diễn hài của Kumail, cô sinh viên tâm lý học da trắng đến từ miền Nam Hoa Kỳ và chàng nghệ sĩ da sạm nâu có gốc gác từ mảnh đất Nam Á xa xôi nhanh chóng nhận ra rằng họ đã tìm thấy nửa kia của cuộc đời mình. Dù vậy, truyền thống “trai Pakistan phải lấy gái Pakistan” ăn sâu bám rễ trong đầu ông bà Azmat và Sharmeen đã buộc Kumail phải lựa chọn chữ hiếu thay cho chữ tình và chứng kiến mối tình ngắn ngủi của anh với Emily tan vỡ trong nước mắt của cô gái ngây thơ. Nhưng dấu chấm hết cho câu chuyện tình của hai người vẫn chưa đến khi Emily đột nhiên đổ bệnh buộc các bác sĩ phải đặt cô vào trạng thái hôn mê sâu. Trong những tháng ngày chăm sóc cô người yêu cũ cùng bố mẹ của cô là ông bà Terry (Ray Romano) và Beth Gardner (Holly Hunter), Kumail dần nhận ra rằng cán cân giữa bên tình và bên hiếu hóa ra lại phức tạp hơn anh tưởng rất nhiều. 

Đọc qua phần tóm tắt nội dung kể trên của The Big Sick, chắc nhiều người sẽ cho rằng đây lại là một tác phẩm hài-tình cảm kiểu truyền thống của Hollywood. Nhưng khác với đa phần những bộ phim cùng thể loại, The Big Sick dựa trên câu truyện cuộc đời của chính Kumail Nanjani – cây hài có tiếng của sân khấu hài độc thoại Mỹ và là một trong những gương mặt làm nên thành công của loạt phim truyền hình Sillicon Valley. Người cùng chắp bút kịch bản cho The Big Sick với Kumail không phải ai khác ngoài Emily V. Gordon – vợ của anh và là nguyên mẫu của nhân vật Emily Gardner. Có lẽ chính vì viết ra từ chính những trải nghiệm trong hơn mười năm bên nhau mà Kumail và Emily đã cống hiến cho khán giả một kịch bản hết sức giản dị với những đoạn thoại gần gũi, đời thường nhưng không vì thế mà thiếu đi sự lãng mạn vốn có của tình yêu đôi lứa. Tuy The Big Sick cũng động chạm một cách tế nhị tới những đề tài nóng bỏng như xung đột giữa truyền thống và hiện đại, hay tàn dư của tệ phân biệt chủng tộc với người nhập cư như Kumail trong xã hội Mỹ thế kỷ 21, nhưng phần lớn thời lượng của phim vẫn được dành cho tình cảm đẹp đẽ giữa những người thân thiết – tình yêu đôi lứa, tình mẹ con, tình vợ chồng, tình anh em, và tình bạn bè. The Big Sick không chỉ mang đến tiếng cười sảng khoái thông qua những tình huống hài hước, mà bộ phim chắc chắn còn giúp khán giả cảm thấy thư giãn khi được dõi theo trên màn hình lớn những nhân vật hết sức đời thường, những nhân vật dù có xuất thân khác nhau, gốc gác khác nhau, quan niệm truyền thống và văn hóa khác nhau, nhưng đều hết mực yêu thương những người thân thiết, đều nâng niu giá trị của gia đình trong cuộc đời họ. 

Bên cạnh nội dung hài hước, lãng mạn, The Big Sick còn xứng đáng được ngợi khen khi bộ phim đã rất thành công trong việc khắc họa một vẻ đẹp rất riêng của xã hội Mỹ - vẻ đẹp đa văn hóa. Dù đó là một gia đình gốc Pakistan đậm chất tế nhị, truyền thống, luôn kìm nén cảm xúc như gia đình của Kumail, hay một cặp đôi đến từ miền Nam Hoa Kỳ bộc trực, sẵn sàng bùng nổ, sẵn sàng chia sẻ vui buồn với những người xung quanh như bố mẹ của Emily, hay chỉ đơn giản là sân khấu nhỏ của những nghệ sĩ hài độc thoại nghèo như Kumail, tất cả đều được đạo diễn Michael Showalter đưa lên màn ảnh lớn với sự nhấn nhá hài hước cần thiết để khán giả vừa thấy thú vị khi được khám phá những bộ mặt khác nhau của nước Mỹ, vừa có được cảm giác rằng tất cả đều được khắc họa một cách công bằng, không thiên lệnh trong The Big Sick. Chính sự cân bằng về mặt nội dung, về sự hài hước, và về ý nghĩa xã hội này của The Big Sick đã giúp bộ phim trở thành một tác phẩm nổi bật của mùa phim Hè 2017 của Hollywood với chỗ đứng riêng biệt so với những bộ phim bom tấn siêu anh hùng, hay những bộ phim tình cảm “toàn sao” của điện ảnh Mỹ hiện đại dù kịch bản phim không quá phức tạp, bất ngờ, gây sốc như nhiều tác phẩm ăn khách khác.

Làm nên thành công của một tác phẩm hết sức “dễ thương” như The Big Sick còn phải kể tới sự xuất sắc của dàn diễn viên trong phim. Nếu như “nhiệm vụ” của Kumail Nanjiani có phần đơn giản khi anh chỉ phải diễn lại chính cuộc đời mình, thì Zoe Kazan trong vai Emily Gardner quả thực là một bất ngờ của The Big Sick. Sinh năm 1983, thật khó có thể xếp Kazan vào hàng các diễn viên “trẻ” nhưng chắc chắn cô đã làm nhiều khán giả phải lòng qua vai diễn Emily xinh đẹp, ngây thơ, nông nổi trong tình cảm nhưng cũng hết mực sâu sắc trong tình yêu. Hầu như những câu thoại “đắt” nhất của The Big Sick đều được dành cho Emily, và chính nhờ thần thái nhẹ nhàng cùng diễn xuất tinh tế của Kazan mà phần thoại của The Big Sick chắn chắn sẽ còn được nhiều bạn trẻ học thuộc khi kiếm tìm cho mình một tình yêu đẹp như tình yêu của Kumail và Emily. Không hề thua kém Zoe Kazan là bộ đôi diễn viên gạo cội Ray Romano và Holly Hunter trong vai bố mẹ của Emily. Beth bùng nổ nhưng tinh tế, Terry hiểu biết nhưng vẫn có lúc khờ dại, diễn xuất ăn ý của Romano và Hunter đã khắc họa hết sức thành công hình ảnh một cặp vợ chồng yêu thương nhau hết mực nhưng cũng lại luôn phải gồng mình cân bằng những xung đột của lứa tuổi trung niên. 

Mấy tháng trở lại đây, báo chí Mỹ tràn ngập những tin tức và lời cảnh báo về sự trỗi dậy của tư tưởng cực đoan, bài ngoại, kì thị người da màu. Trong hoàn cảnh này, có lẽ cảm giác lo lắng và ý thức trách nhiệm với xã hội đã thúc đẩy giới văn nghệ Hoa Kỳ sáng tác các tác phẩm sân khấu, truyền hình, và điện ảnh kêu gọi một nước Mỹ khoan dung hơn, bình đẳng hơn, bác ái hơn đối với các sắc tộc thiểu số, với người dân nhập cư – những cộng đồng nhạy cảm nhất với các xung đột trong xã hội hiện đại. Cũng là một tác phẩm có liên quan tới mảng đề tài gai góc này, nhưng The Big Sick lại có cách tiếp cận hết sức dễ chịu, đi vào lòng người nhờ một kịch bản dung dị và diễn xuất tuyệt vời của dàn diễn viên. Đúng như Terry trong một phút mệt mỏi đã tâm sự với Kumail: “Tình yêu. Tình yêu chẳng đơn giản chút nào. Nhưng thế người ta mới gọi đó là tình yêu.” Sau cơn mưa trời lại sáng, sau một trận “ốm nặng” (“The Big Sick”) Emily và Kumail lại tìm thấy nhau. Trong cuộc sống cũng như xã hội luôn tồn tại rất nhiều xung đột, mâu thuẫn, nhưng nếu giữa người với người vẫn còn tình yêu là sợi dây gắn kết bất kể những khác biệt về văn hoá, màu da, và nếu chúng ta nỗ lực tìm kiếm và duy trì mối liên hệ tình cảm cao quý ấy thì cuộc sống sẽ đẹp hơn, và xã hội sẽ trở nên an bình, thanh thản.

=====