some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

jeudi 8 février 2018

The Post (2017)

Năm 1966 chuyên gia phân tích quân sự Daniel Ellsberg (Matthew Rhys) được cử sang Việt Nam để khảo sát thực trạng cuộc chiến đang đến hồi khốc liệt của quân đội Hoa Kỳ. Tận mắt chứng kiến thương vong ngày càng tăng của lính Mỹ, Dan Ellsberg nhanh chóng nhận ra rằng đây là một cuộc chiến vô vọng cho chính phủ Hoa Kỳ - một nhận định được chính bộ trưởng quốc phòng Mỹ Robert McNamara (Bruce Greenwood) thừa nhận với Ellsberg và với tổng thống Lyndon Johnson trên chuyến bay quay trở lại quê hương. Nhưng trước sự ngạc nhiên của Dan Ellsberg, Bob McNamara ngay khi đặt chân xuống phi trường đã thản nhiên tuyên bố với báo giới rằng chiến trường đang tiến triển theo chiều hướng có lợi cho nước Mỹ và chiến thắng cuối cùng là mục tiêu hoàn toàn khả thi. Sau vài năm suy nghĩ về những người lính Mỹ đã phải bỏ mạng một cách vô nghĩa trên chiến trường Việt Nam vì những lời nói dối trắng trợn để giữ thể diện của các quan chức như McNamara, Dan Ellsberg quyết định phải để công chúng Mỹ biết được sự thật rằng họ đã bị chính quyền nhiều đời tổng thống Mỹ lừa dối hết lần này tới lần khác trong các vấn đề liên quan tới chiến tranh Việt Nam. Từ viện nghiên cứu quân sự RAND, Ellsberg đã tuồn ra ngoài hàng nghìn trang tài liệu mật chứa đựng sự thực về cuộc chiến và sẵn sàng cung cấp chúng cho báo giới để phổ biến rộng rãi cho độc giả nước Mỹ. 

Tất nhiên với những nhà báo như Ben Bradlee (Tom Hanks) – tổng biên tập tờ The Washington Post hay the Post thì những báo cáo mật của Dan Ellsberg là cơ hội nghìn năm có một để thực hiện trách nhiệm xã hội của một nhà báo chân chính – đưa sự thực tới công chúng, và cũng là dịp để một tờ báo đang thất thế ở thị trường trong nước như the Post giành độc giả từ những đối thủ cạnh tranh mạng mẽ hơn rất nhiều như The New York Times. Sau khi chính tờ The New York Times bị chính quyền của tổng thống Mỹ khi đó là Nixon kiện ra toà vì đã đăng một phần các báo cáo của Dan Ellsberg với lý do làm lộ bí mật quân sự của Mỹ tại Việt Nam thì Ben Bradlee lại càng có cơ sở để đăng tiếp “hồ sơ Lầu Năm Góc” này để bảo vệ quyền tự do ngôn luận của báo giới Mỹ. Nhưng với những người chủ báo như bà Katharine Graham (Meryl Streep) – nữ chủ tịch sở hữu tờ the Post thì “đăng hay không đăng” là một bài toán hóc búa hơn rất nhiều, bởi bà không chỉ có trách nhiệm với độc giả như Bradlee mà còn có trách nhiệm với sinh mệnh của tờ the Post vốn khi đó vừa phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng và phải tránh tối đa các rắc rối chính trị có thể tác động tới các nhà đầu tư của tờ báo tương tự như việc tờ The New York Times phải ngừng đăng “hồ sơ Lầu Năm Góc” vì bị chính phủ kiện. Trở thành người phụ nữ đầu tiên làm chủ một tờ báo lớn tại Hoa Kỳ - nơi tệ trọng nam khinh nữ vẫn còn rất phổ biến trong những năm 1960, 1970 sau cái chết đột ngột của chồng, bà Graham còn phải mày mò đi tìm lời giải cho bài toán “đăng hay không đăng” dưới sức ép của những tiếng nói bảo thủ trong ban giám đốc-toàn-đàn-ông của tờ the Post, và từ mối quan hệ thân tình bà phải mất nhiều năm gây dựng với các quan chức trong chính quyền, bao gồm cả chính Bob McNamara. 

Vốn liên quan tới các sự kiện và nhân vật lịch sự có thật, chắc chắn nhiều khán giả sẽ dễ dàng đoán ra được lựa chọn cuối cùng của Katharine Graham có tác động thế nào tới xã hội Mỹ nói chung và tương lai của tờ the Post nói riêng. Nhưng chặng đường đầy khó khăn để đi tới lời giải bài toán “đăng hay không đăng” thì có lẽ chưa nhiều người biết tới, và đó chính là nội dung của bộ phim The Post – tác phẩm điện ảnh mới nhất của đạo diễn nổi tiếng Steven Spielberg.

Tác giả kịch bản chính của The Post là nữ biên kịch trẻ tuổi Liz Hannah – người bắt đầu thai nghén bộ phim về đề tài báo chí này sau khi đọc quyển tự truyện từng giành giải Pulitzer Personal History của chính Katharine Graham. Hoàn thành năm 2016, The Post của nữ biên kịch trẻ tuổi được coi là một trong những kịch bản triển vọng nhất của Hollywood và nhanh chóng được nhà sản xuất phim quyền lực Amy Pascal mua lại để chuyển thể lên màn ảnh lớn với một đội ngũ làm phim “toàn sao” gồm đạo diễn Steven Spielberg và bộ đôi diễn viên hàng đầu của điện ảnh Mỹ là Meryl Streep và Tom Hanks. Quả thực với chất lượng sản xuất gần đến mức tuyệt hảo dưới bàn tay đạo diễn của Spielberg và bộ ba cộng sự thân thiết của ông là nhà quay phim Janusz Kamiński, nhạc sĩ huyền thoại John Williams, và biên tập phim từng 8 lần được đề cử giải Oscar Michael Kahn, The Post đã tái dựng hết sức thành công không khí của xã hội và chính trường Mỹ những năm 1960, 1970. Nền tảng kỹ thuật vững chắc này của bộ phim, cùng sự hỗ trợ về mặt hoàn thiện kịch bản của Josh Singer-tác giả từng giành giải Oscar kịch bản gốc xuất sắc nhất cho một tác phẩm nổi tiếng khác về đề tài báo chí là Spotlight (2015) rõ ràng là những điều kiện không thể thuận lợi hơn để đạo diễn gạo cội Steven Spielberg khai thác được hết tiềm năng từ tác phẩm đầu tay của Liz Hannah. Không phụ sự mong đợi của người yêu điện ảnh, The Post - một bộ phim nói về các nhân vật và sự kiện của hơn 40 năm trước vẫn mang đậm tính thời sự nóng hổi với nhịp phim mạch lạc, tuyến nhân vật rõ ràng, và cốt truyện vừa giữ được nét chân thực lịch sử vừa phản ánh hơi thở hiện đại của xã hội nước Mỹ vốn chưa hết bàng hoàng vì những bê bối liên quan tới chính quyền và giới quân sự Mỹ vốn chỉ được công chúng biết tới sau các vụ tiết lộ bí mật nhà nước của Chelsea Manning và Edward Snowden, cùng với tình trạng đối đầu căng thẳng kéo dài giữa chính phủ mới của Hoa Kỳ dưới thời tổng thống Donald Trump và báo giới Mỹ với hai tiếng nói tiên phong đến từ chính tờ The Washington Post và The New York Times. Tuy nhiên, những người yêu lịch sử, đặc biệt là những ai quan tâm tới các sự kiện xoay quanh "Hồ sơ Lầu Năm Góc” – một trong những yếu tố chính dẫn đến việc công chúng Mỹ thực sự quay lưng lại với chính quyền nước này trong giai đoạn cuối của Chiến tranh Việt Nam chắc chắn sẽ khó có thể hài lòng với The Post, bởi tuy được thực hiện hết sức nghiêm cẩn nhưng bộ phim lại tập trung vào việc mô tả hình ảnh của Katharine Graham và Ben Bradlee thay vì nhân vật trung tâm của sự kiện lịch sử quan trọng này – Daniel Ellsberg. Tất nhiên không ai có thể phủ nhận rằng Graham và Bradlee có góp công trong việc đưa “Hồ sơ Lầu Năm Góc” ra ánh sáng dư luận, nhưng người phát hiện ra sự dối trá của chính giới Mỹ, người sẵn sàng gánh chịu nguy cơ bị toà truy tố tội gián điệp và phản quốc để đưa sự thật tới công chúng, người bất chấp nguy hiểm đi tìm những nhà báo còn lương tri để hợp tác là Daniel Ellsberg. Qua những phân đoạn ngắn ngủi có sự xuất hiện của Ellsberg trong The Post người xem phần nào cũng có thể cảm nhận được sự hy sinh vì chân lý của nhà hoạt động phản chiến này, nhưng từng đó là chưa đủ để họ có được đánh giá đầy đủ về vai trò của ông đối với tiến trình lịch sử của nước Mỹ, nhất là khi chân dung giản dị của Ellsberg trong phim bị phủ bóng bởi hình ảnh của Graham và Bradlee đúng như cách cái tên diễn viên người xứ Wales Matthew Rhys – người thủ vai Ellsberg hoàn toàn bị lu mờ trước hai tên tuổi lớn nhất của Hollywood là Meryl Streep (vai Katherine Graham) và Tom Hanks (vai Ben Bradlee). Có lẽ chính vì tầm quan trọng lịch sử vượt trội như vậy của nhân vật phụ Daniel Ellsberg mà Steven Spielberg phải dùng tới thủ pháp xây dựng hình ảnh nhân vật một cách kịch tính nhưng khá gượng gạo, thậm chí là mang hơi hướng tuyên truyền thái quá ở phần cuối phim khi The Washington Post phải đối diện với phán quyết của Toà án tối cao Hoa Kỳ để làm bật lên vai trò của Katherine Graham và Ben Bradlee trong bối cảnh chung của bộ phim. Ngay cả việc sử dụng các thủ pháp điện ảnh này cũng không thực sự giúp Graham và Bradlee có được chỗ đứng vững chắc trong lòng khán giả, bởi sự phát triển tính cách của các nhân vật này xuyên suốt bộ phim cũng không để lại nhiều ấn tượng, nhất là khi người xem thường xuyên “phải” nghe chính các nhân vật này hoặc những người xung quanh giải thích một cách khá liễu về suy nghĩ và lựa chọn của họ thay vì “được” tự chứng kiến và hiểu lý do cho những lựa chọn ấy thông qua các chi tiết kịch bản tinh tế. Vì vậy nếu so sánh với một tác phẩm tiểu sử-lịch sử khác của Steven Spielberg là Lincoln (2012) thì The Post tỏ ra nhỉnh hơn về sự hấp dẫn của truyện phim nhưng lại thua kém hẳn về chiều sâu kịch bản và nhân vật. Đặc biệt cách The Post đẩy tờ The Washington Post lên tuyến đầu của cuộc chiến bảo vệ quyền tự do ngôn luận trong vụ “Hồ sơ Lầu Năm Góc” chắc chắn cũng sẽ khiến nhiều người phải thất vọng vì không phải ban biên tập của the Post mà chính là các phóng viên của tờ The New York Times như Neil Sheehan mới là những người bất chấp sự an toàn của bản thân nổ phát súng đầu tiên hỗ trợ Ellsberg trong cuộc tấn công vào pháo đài gian trá của chính quyền Mỹ. Vì vậy mà tuy The Post có thể được ca ngợi trong việc đề cao giá trị nhập thế của báo chí trong giai đoạn nước Mỹ đang gặp nhiều bất ổn dưới thời tổng thống mới Donald Trump, nhưng khó có thể coi đây là một tác phẩm xuất sắc của dòng phim lịch sử, nhất là khi so sánh với các bộ phim cũng lấy đề tài báo chí như Spotlight hay All the President's Men (1976) – tác phẩm cũng nói về vai trò lịch sử của các phóng viên tờ The Washington Post trong việc hạ bệ tổng thống Richard Nixon sau vụ bê bối Watergate nhưng với góc nhìn sát với lịch sử và để lại nhiều suy ngẫm trong lòng khán giả.

Dù khen hay chê kịch bản của The Post nhưng bất cứ ai sau khi xem tác phẩm này cũng sẽ phải thừa nhận rằng Tom Hanks và đặc biệt là Meryl Streep đã hoàn thành một cách trọn vẹn các vai diễn của họ. Nếu như vai Ben Bradlee của Tom Hanks có thể coi là “dễ nhập vai” vì tính cách nồng nhiệt, bùng nổ của nhân vật này thì Streep đã một lần nữa chứng tỏ tại sao bà lại có nhiều đề cử tại giải Oscar đến như vậy với cách diễn kìm ném, sâu sắc để vừa thể hiện sự do dự, bị động bên ngoài của một Katherine Graham rất phụ nữ, rất lịch thiệp, vừa khắc hoạ được niềm tin sắt đá vào giá trị của báo chí và sự chủ động dần chín muồi bên trong người chủ tờ báo được coi là trụ cột tương lai của báo giới chính thống Mỹ. Có lẽ nếu còn sống hẳn bà Katherine Graham cũng sẽ rất hài lòng khi chứng kiến Meryl Streep thể hiện hình ảnh của mình, bởi qua vai diễn của Streep người xem vừa có thể cảm nhận được tình yêu của bà chủ báo với tờ The Washington Post – một di sản của gia đình bà và cũng là đại diện ưu tú cho quyền tự do ngôn luận của hiến pháp Hoa Kỳ, vừa hiểu được sự vươn lên không gì ngăn cản nổi của những người phụ nữ trong xã hội hiện đại. Trong thời buổi nhiễu loạn thông tin với mạng xã hội, với “fake news”, với chủ nghĩa dân tộc và dân tuý tràn lan như hiện nay, công chúng sẽ cần nhiều hơn những nhà báo như Ben Bradlee, và những chủ báo như Katherine Graham, bởi chỉ với những người sẵn sàng dùng ngòi bút làm vũ khí bảo vệ sự thật như vậy, những mặt trái của xã hội, những lời nói dối của những người nắm quyền lực mới có thể bị phơi bày. Tuy không phải là một bộ phim hoàn hảo nhưng chắc chắn The Post cũng sẽ góp phần vào việc kêu gọi và khuyến khích các nhà báo trở thành những Bradlee, những Graham mới của xã hội hiện đại.

====

dimanche 28 janvier 2018

One sentence reviews (12)

Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11


01. Thor: Ragnarok (2017): 3.5/5

A-okay action film with entertaining plot and an impressive cast. Of course the villains are boring as any other Marvel film, and you should not expect any substance out of it, but at least this film is fun as hell, and not in a stupid way. My main complaint, as with any other Marvel film, still is the fact that this one is full of banters and misplaced lighthearted dialogues in the middle of heavy sequences, which really undermined the impactfullness of such sequences and the emotional build-ups throughout the film. Still, one of the better Marvel ones I have watched in recent years.

jeudi 25 janvier 2018

The Shape of Water (2017)


Xã hội nước Mỹ những năm đầu thập niên 1960 là bức tranh của những mảng màu đối nghịch – màu xanh hy vọng từ một nền kinh tế tăng trưởng và khoa học-kỹ thuật tiến bộ không ngừng thời hậu Chiến tranh thế giới thứ hai, màu vàng bệnh tật đến từ những tàn dư của tệ phân biệt đối xử với những nhóm người thiểu số như người da màu, người đồng tính, người khuyết tật, và màu đỏ từ nỗi lo sợ “hiểm hoạ Sô viết” của người dân và chính phủ Mỹ. Với riêng Elisa Esposito (Sally Hawkins) đời có lẽ chỉ có một màu xám xịt khi tài sản của cô gái câm chỉ là cuộc sống cô độc trong căn gác mái đơn sơ trên một rạp phim cũ kĩ của thành phố Baltimore, và công việc lau dọn đơn giản, nhàm chán cho một cơ sở nghiên cứu bí mật của chính phủ Mỹ. Điểm sáng duy nhất trong cuộc đời cô có lẽ chỉ là tình bạn với ông hoạ sĩ láng giềng Giles (Richard Jenkins) và cô đồng nghiệp da đen Zelda Fuller (Octavia Spencer), nhưng bản thân họ cũng có những nỗi lo riêng – với Giles là những tháng ngày thất nghiệp triền miên và sự hắt hủi của người đời dành cho ông-một người đồng tính, và với Zelda là sự dè bỉu thường nhật của những kẻ phân biệt chủng tộc. Bởi thế, dù an nhiên đến mấy, nhưng Elisa mãi chỉ như một cô cá bé nhỏ, câm lặng bơi giữa biển người xa lạ, cam phận trong những lồng kính cuộc đời của cô – căn hộ bé nhỏ, những chuyến buýt chật hẹp, và hành lang dài ngột ngạt của cơ sở nghiên cứu ngầm. Nhưng rồi màu hồng của tình yêu, của niềm vui cuộc sống cũng đến với Elisa khi cô gặp một người cá thực sự - chàng Người cá (Doug Jones) bị viên thượng tá Richard Strickland (Michael Shannon) bắt về từ những dòng sông Nam Mỹ xa xôi chỉ bởi chàng có khả năng sống lưỡng cư cả ở trên bờ và dưới nước. Ở chàng Người cá, Elisa tìm thấy tất cả những gì cô mong muốn trong cuộc sống – một người bạn câm lặng nhưng chân thành, một tấm lòng sẵn sàng chia sẻ với Elisa từ quả trứng luộc tới tình yêu âm nhạc, và trên hết là một tâm hồn đồng điệu trong nỗi cô đơn đến cùng cực. Vui sướng trước tia lửa hạnh phúc bất ngờ le lói, nhưng Elisa cũng lại nhanh chóng nhận ra rằng cô chẳng có nhiều thời gian để nhen nhóm, và gìn giữ ngọn lửa ấy khi mà viên sĩ quan tàn bạo Strickland thừa lệnh vị tướng năm sao Frank Hoyt (Nick Searcy) nhất quyết ép tiến sĩ Robert Hoffstetler (Michael Stuhlbarg) phải giết chàng Người cá để có tiêu bản nghiên cứu phục vụ cuộc chạy đua không gian đang đến hồi quyết liệt giữa Hoa Kỳ và Liên Xô. Elisa chỉ có hai lựa chọn – hoặc buông xuôi nhìn chàng Người cá héo tàn dưới bàn tay tàn bạo của cơ sở nghiên cứu bí mật, hoặc tìm cách đưa chàng trở về với thiên nhiên bằng sức lực yếu đuối trong câm lặng của cô.

Trước hết có thể khẳng định rằng The Shape of Water không phải là một bộ phim hoàn hảo, đặc biệt là về mặt kịch bản. Dưới ngòi bút biên kịch của Guillermo del Toro và Vanessa Taylor, kịch bản của bộ phim, nhất là ở những phân cảnh hành động, vẫn còn một số điểm chưa hợp lý và tiết tấu của phim cũng không thực sự nhịp nhàng với phần giữa có nhiều chi tiết không tạo được ấn tượng mạnh về mặt cảm xúc đối với khán giả. Thêm vào đó, việc xây dựng tuyến nhân vật của The Shape of Water cũng vẫn còn thiếu sự cân bằng vì nhân vật chàng Người cá tương đối nhạt nhoà và thiếu chiều sâu cần thiết nếu so sánh với các nhân vật khác của bộ phim. Với những khuyết điểm như vậy về mặt kịch bản, bộ phim đã có thể trở thành một tác phẩm thường thường bậc trung dưới bàn tay của một đạo diễn không mạnh về mặt hình ảnh và cảm xúc. Nhưng rất may cho The Shape of Water, đạo diễn của tác phẩm này không phải ai khác mà chính là Guillermo del Toro – tên tuổi gắn liền với những bộ phim về “quái vật” vừa xuất sắc về mặt hình ảnh, vừa khơi gợi rất nhiều cảm xúc trong lòng khán giả. Được biết tới nhiều nhất các tác phẩm hành động đậm chất khoa học giả tưởng như Blade II (2002), Hellboy (2004), Hellboy II: The Golden Army (2008), Pacific Rim (2013), đạo diễn người Mexico luôn đem tới cho khán giả những chi tiết và nhân vật giả tưởng vừa hết sức sáng tạo, lại vừa gợi nhớ tới những giấc mơ từ thủa thơ bé của mỗi chúng ta về những siêu quái vật và siêu anh hùng. Mộ trong những nhân vật “quái vật” ấy – nhà bác học nửa người nửa cá Abe Sapien trong Hellboy và Hellboy II chính là một trong những nguồn cảm hứng để Guillermo del Toro tạo nên hình dáng kì dị của chàng Người cá của The Shape of Water, nhân vật do chính Doug Jones – diễn viên của vai Abe Sapien năm xưa thủ diễn. Nhưng một nguồn cảm hứng khác cho The Shape of Water là mối tình người đẹp-quái thú trong bộ phim khoa học giả tưởng của đạo diễn Jack Arnold Creature from the Black Lagoon (1954) – một trong những tác phẩm điện ảnh gắn liền với tuổi thơ của Guillermo del Toro. Với The Shape of Water, del Toro muốn viết lại mối tình dang dở trong Creature from the Black Lagoon thành câu truyện cổ tích thời hiện đại của riêng ông – một mô-típ ông đã từng rất thành công với hai tác phẩm được đánh giá cao về mặt nghệ thuật là The Devil's Backbone (2001) và Pan's Labyrinth. Bằng việc tập trung vào thế mạnh hình ảnh của The Shape of Water vốn chứa đựng đầy những chi tiết nửa thực nửa mơ của một tác phẩm cổ tích thời hiện đại, Guillermo del Toro đã phần nào khoả lấp được điểm yếu trong kịch bản của bộ phim và khiến khán giả hoàn toàn bị lôi cuốn vào từng giây, từng phút của mối tình lãng mạn, nên thơ giữa cô gái câm Elisa và chàng Người cá.

Nổi lên từ vai cô gái lý lắc trong Happy-Go-Lucky (2008) và từng được đề cử giải Oscar cho vai nữ phụ xuất sắc nhất với vai diễn trong Blue Jasmine (2013) nhưng nữ diễn viên người Anh Sally Hawkins chưa thực sự gây dựng được một sự nghiệp đáng kể ở Hollywood, một phần có lẽ vì vẻ ngoài nhỏ bé, đượm chất yếu đuối của cô tỏ ra phù hợp hơn với các tác phẩm hiện thực lấy đề tài xã hội của Mike Leigh (đạo diễn Happy-Go-Lucky) hơn là các bộ phim Hollywood vốn thường ưa chuộng các diễn viên có vẻ đẹp hào nhoáng, cuốn hút khán giả ngay từ cái nhìn đầu tiên. Nhưng với nhân vật cô gái câm Elisa, cái đạo diễn Guillermo del Toro cần không phải là ấn tượng ban đầu có phần phù phiếm như vậy, mà là một nữ diễn viên với khả năng diễn xuất nội tâm đủ xuất sắc để lột tả những cung bậc cảm xúc mạnh mẽ có, mong manh có của một cô gái đơn côi mà không cần phải dùng tới bất cứ câu thoại nào. Bởi vậy, ở cái tuổi tứ thập, cuối cùng Hawkins đã lại thực sự có một vai diễn “để đời” để cô có thể bộc lộ toàn bộ tài năng diễn xuất nội tâm hiếm có ở Hollywood của mình. Thay cho khẩu hình của lời nói là những cử chỉ lúc mềm mại, lúc dứt khoát của ngôn ngữ kí hiệu, thay cho những câu thoại phải thốt ra nơi đầu môi là ánh mắt như phơi bày cả tâm can của nhân vật, Sally Hawkins thực sự đã khiến The Shape of Water trở thành một tác phẩm hết sức trọn vẹn về mặt cảm xúc. Tuy chiều sâu về số phận và tính cách của Elisa tạo cho Sally Hawkins rất nhiều đất diễn để thể hiện khả năng diễn xuất, nhưng chỉ có một tâm hồn đồng cảm sâu sắc với nhân vật, và sự hy sinh hết mình vì vai diễn mới có thể giúp Hawkins thực sự khiến khán giả cuốn theo cặp mắt và đôi tay hết sức tự nhiên của cô gái câm mà quên đi những bước nhảy tương đối đột ngột về mặt cảm xúc của bộ phim cổ tích thời hiện đại này. Sự mong manh và đơn độc của cô gái câm Elisa phần nào đó gợi nhớ tới cô bé Ofelia (Ivana Baquero), nhân vật trung tâm của Pan's Labyrinth – một trong những tác phẩm đáng nhớ nhất trong sự nghiệp của Guillermo del Toro, nhưng diễn xuất đầy xúc cảm của Hawkins, đặc biệt là trong những phân cảnh thể hiện tình cảm với chàng Người cá, đã giúp Elisa không chỉ dừng lại ở sự yếu đuối và cô đơn ấy mà còn vươn lên trở thành một nhân vật đại diện cho những tâm hồn tinh tế, hoài cổ, nhưng dám yêu, dám sống, và dám mơ ước. Với những ai đã từng dõi theo các bước đường sự nghiệp của Guillermo del Toro, từ The Devil's Backbone tới Hellboy, từ Pan’s Labyrinth tới Crimson Peak, chắc chắn họ sẽ nhận ra rằng hình tượng nhân vật Elisa Esposito chính là đại diện cho những giá trị nghệ thuật mà del Toro đã theo đuổi bấy lâu nay. Chắc hẳn đạo diễn người Mexico đã hết sức hài lòng với quyết định của ông trong việc lựa chọn Sally Hawkins cho vai diễn này, bởi cô đã thể hiện một cách trọn vẹn tiếng lòng nghệ thuật của del Toro, và chứng tỏ rằng vẫn còn đó rất nhiều những tâm hồn đồng điệu và thấu hiểu những hy sinh bấy lâu nay của ông vì nghệ thuật, vì những mô-típ điện ảnh mà ông theo đuổi.

Tất nhiên thành công của Sally Hawkins đã đóng góp rất nhiều vào thành công chung của The Shape of Water, nhưng không vì thế mà khán giả có thể quên những nhân vật xoay quanh cuộc đời của Elisa như viên sĩ quan Strickland, ông hoạ sĩ hàng xóm Giles, cô đồng nghiệp Zelda, hay vị tiến sĩ bí hiểm Hoffstetler qua diễn xuất của những tên tuổi tài năng như Michael Shannon, Richard Jenkins, Octavia Spencer, và Michael Stuhlbarg. Không có quá nhiều đất diễn, nhưng dàn diễn viên phụ của The Shape of Water đã đem đến cho khán giả rất nhiều những gương mặt, mảnh đời hết sức khác nhau nhưng đều hết sức đáng nhớ và gợi lên nhiều suy ngẫm về tội ác và hình phạt, về giá trị của tình người trong những góc khuất tăm tối của xã hội và cuộc đời. Chứng kiến sự biến đổi về mặt tính cách và suy nghĩ của những nhân vật phụ do Shannon, Jenkins, Spencer và Stuhlbarg thể hiện, có lẽ nhiều người trong số chúng ta sẽ nhận ra rằng dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, sự dũng cảm hy sinh vì tình yêu con người, vì lẽ sống chân chính vẫn luôn có chỗ đứng, và cần có chỗ đứng.

Câu truyện cổ tích hiện đại về tình yêu giữa cô gái câm và chàng Người cá, cùng giá trị nhân văn thấm đẫm trong sự hy sinh của các nhân vật dành cho nhau đã là quá đủ để giúp The Shape of Water trở thành một tác phẩm đáng nhớ. Nhưng Guillermo del Toro chưa bao giờ chỉ là một đạo diễn giới hạn mình với những kịch bản hay, ông còn luôn cố gắng phát huy hết khả năng sáng tạo của mình với phần hình ảnh và âm nhạc của phim. Quả thực với sự giúp đỡ của nhà quay phim người Đan Mạch Dan Laustsen và nhạc sĩ lừng danh người Pháp Alexandre Desplat, del Toro đã đem lại cho The Shape of Water một chỗ đứng riêng về phần nhìn và phần nghe trong số các bộ phim xuất sắc nhất của Hollywood năm 2017. Màu sắc hoài cổ cùng những bản nhạc cũ kĩ của tác phẩm này có lẽ sẽ giúp trái tim của khán giả dịu lại với những cảm xúc về một thời kì đã qua – đó là những năm 1950, 1960 – những năm tháng của tình yêu trong trắng, của giấc mơ vươn tới không gian, của niềm tin vào tương lai tươi sáng bất chấp mâu thuẫn giữa các quốc gia, bất chấp những định kiến, bất ổn đầy rẫy trong xã hội. Người yêu điện ảnh thập niên 1990 chắc khó ai có thể quên những tác phẩm vừa giả tưởng vừa hiện thực của đạo diễn người Pháp Jean-Pierre Jeunet như Delicatessen (1991), The City of Lost Children (1995) và đặc biệt là Amélie (2001) – những bộ phim làm mê đắm người xem vì phần hình ảnh giàu chất siêu thực và những câu truyện đáng suy ngẫm về tình người và xã hội. Đã rất lâu rồi Jeunet không còn cho ra đời các tác phẩm đáng nhớ như vậy, nhưng nhờ có Guillermo del Toro và The Shape of Water, một lần nữa khán giả đã có thể tìm lại cảm giác ngạc nhiên trước những chi tiết và nhân vật siêu thực đặt trong một xã hội hiện thực, và hơn thế nữa cô gái câm Elisa Esposito chắc chắn sẽ khiến nhiều người nhớ tới một trong những nhân vật đáng nhớ nhất của điện ảnh thế giới những năm đầu thiên niên kỉ mới – Amélie, cô nàng đơn côi năm nào vẫn luôn tìm cách hàn gắn sự cô độc của những cuộc đời xung quanh cô.


Trong một năm mà nhiều tên tuổi lớn của điện ảnh đã đứng lên kêu gọi rằng các tác phẩm điện ảnh của thời đại mới này cần phải mang tinh thần nhập thế, cần phải giúp nền chính trị-xã hội của nước Mỹ và thế giới trở nên bình đẳng, tốt đẹp hơn, cần phải thúc đẩy làng điện ảnh Hollywood mang tính đại diện hơn cho những cộng đồng thiểu số, những cộng đồng bị áp bức. Là một đạo diễn “của những bộ phim quái vật”, nhưng Guillermo del Toro đã lặng lẽ làm cái điều cần phải làm này suốt hai thập niên qua với The Devil's Backbone, với Pan's Labyrinth, và với The Shape of Water. Đó là những tác phẩm cổ tích thời hiện đại với rất nhiều chất điện ảnh siêu thực nhưng cũng lại chứa đựng những thông điệp nhân văn nhất về cái cách con người cần đối xử với nhau, cái cách chúng ta cần sống sao cho có ý nghĩa, cái cách chúng ta không bao giờ được lãng quên những số phận nhỏ bé, mong manh và đơn côi trong xã hội như Elisa, như chàng Người cá. Trong bài diễn văn khi nhận giải Quả cầu vàng cho đạo diễn xuất sắc nhất năm nay – một trong những giải thưởng lớn đầu tiên Guillermo del Toro giành được trong nghiệp đạo diễn mấy chục năm, vị đạo diễn phúc hậu người Mexico có chia sẻ vui rằng ông phải hy sinh ba năm cuộc đời cho mỗi một tác phẩm điện ảnh mới – những tác phẩm thể hiện niềm tin của ông vào những con quái vật – hiện thân cho niềm tin rằng chúng ta – những cá thể nhỏ bé trong xã hội có thể không toàn vẹn, có thể gục ngã nhưng vẫn luôn có thể đứng lên để bước tiếp, để yêu đời, để yêu người. “The Shape of Water” chính là đại diện điện ảnh tiêu biểu nhất cho niềm tin đầy lãng mạn vào niềm vui cuộc sống ấy của vị đạo diễn người Mexico, một niềm tin mỗi chúng ta luôn cần có để vững bước trên đường đời.

=====

mardi 23 janvier 2018

2017-2018 film award season

Để đánh giá sự thành công của một tác phẩm điện ảnh, hai yếu tố thường được nhắc tới đó là liệu bộ phim đó có ăn khách và thu lời về tài chính hay không, và số lượng giải thưởng tác phẩm đó giành được tại các giải thưởng điện ảnh lớn như giải Oscar, giải Quả cầu vàng. Nhưng nếu như câu hỏi thứ nhất thường được trả lời ngay sau tháng đầu tiên bộ phim công chiếu, thì với câu hỏi thứ hai, người hâm mộ và chính những nhà làm phim phải đợi tới mùa giải thưởng điện ảnh hàng năm – vốn thường kéo dài từ cuối tháng 11 của năm trước với các giải thưởng của các hội phê bình điện ảnh uy tín ở New York, Los Angeles, cho tới cuối tháng 2 của năm sau với giải thưởng quan trọng nhất của làng điện ảnh thế giới – giải Oscar. Riêng năm 2018, người yêu điện ảnh sẽ còn phải đợi tới đầu tháng 3 để biết những cái tên được vinh danh tại lễ trao giải Oscar lần thứ 90 khi mà ban tổ chức giải quyết định lùi thời gian trao giải để tránh trùng với Thế vận hội mùa Đông 2018. Với mùa giải thưởng điện ảnh 2017-2018, tuy chúng ta sẽ phải chờ tới ngày 23 tháng 1 sắp tới để biết được những tác phẩm và nghệ sĩ nào được lựa chọn là ứng viên cho các tượng vàng Oscar được trao vào ngày 4 tháng 3, nhưng cuộc đua tới giải thưởng này đã dần nóng lên hàng ngày, đặc biệt là sau các lễ trao giải thưởng quan trọng của Hiệp hội phóng viên nước ngoài của Hollywood (Giải Quả cầu vàng) và Hiệp hội nhà phê bình điện ảnh, phát thanh và truyền hình Bắc Mỹ (Critics' Choice Awards – Giải thưởng lựa chọn của các nhà phê bình). Dựa trên đánh giá của giới phê bình và số lượng giải thưởng các bộ phim và nghệ sĩ giành được cho tới thời điểm này, người hâm mộ cũng đã có thể phần nào đó dự đoán được những ứng viên tiềm tàng tại lễ trao giải Oscar vào đầu tháng 3 sắp tới.

Ở hạng mục Phim hay nhất, theo thống kê của trang phê bình điện ảnh Metacritic thì bộ phim thuộc thể loại rùng rợn pha hài hước có kinh phí thấp nhưng thành công vang dội về doanh thu là Get Out của đạo diễn da màu Jordan Peele hiện đang dẫn đầu về số lượng giải thưởng và đề cử với 11 lần chiến thắng và 25 lần được đề cử. Theo sát Get Out là tác phẩm về tuổi mới lớn của nữ đạo diễn Greta Gerwig Lady Bird với 11 chiến thắng và 22 đề cử. Đây cũng là hai tác phẩm hiện đang giữ số điểm cao nhất – tới 99% trên trang thống kê điện ảnh Rotten Tomatoes. Tuy được đánh giá rất cao nhưng nhiều khả năng Get Out sẽ gặp khó khăn trong các lễ trao giải quan trọng sắp tới, bởi bộ phim này thường được coi là một tác phẩm rùng rợn pha hài hước – hai dòng phim chưa bao giờ được coi là ứng viên sáng giá tại các giải thưởng điện ảnh. Bằng chứng rõ ràng nhất cho đặc điểm này của Hollywood là việc Get Out trượt giải Quả cầu vàng cho phim hài-nhạc kịch hay nhất vào tay của chính Lady Bird – một tác phẩm giàu tình cảm và có phần “nghiêm túc” hơn bộ phim ly kì của đạo diễn Jordan Peele. Nhưng ngay cả khi đánh bại được Get Out tại lễ trao giải điện ảnh lớn đầu tiên của năm 2018, nữ đạo diễn sinh năm 1983 Greta Gerwig cũng chưa thể chắc chắn rằng tác phẩm để đời của cô sẽ giành luôn tượng vàng Oscar phim hay nhất, bởi bên cạnh Lady Bird vẫn còn cái tên đang “càn quyét” mùa giải điện ảnh 2017-2018, đó là bộ phim hình sự-bi kịch Three Billboards Outside Ebbing, Missouri của đạo diễn người Anh Martin McDonagh và bộ phim về mối tình giữa cô gái câm và chàng người cá The Shape of Water của đạo diễn người Mexico Guillermo del Toro. Được đánh giá là ngang sức ngang tài trên cuộc đua giải thưởng, Three Billboards Outside Ebbing, Missouri đã vượt qua The Shape of Water để giành giải phim hay nhất còn lại của lễ trao giải Quả cầu vàng năm nay (của hạng mục phim chính kịch) nhưng bộ phim của del Toro mới lại là tác phẩm chiến thắng tại lễ trao Giải thưởng lựa chọn của các nhà phê bình và phần nào vượt trội về tổng số giải thưởng với 6 chiến thắng và 27 đề cử (nếu so với 4 chiến thắng và 30 đề cử của Three Billboards Outside Ebbing, Missouri). Hai ứng viên tiềm năng cho giải Oscar này chắc chắn sẽ còn ganh đua nhau quyết liệt từ nay cho tới ngày 4 tháng 3, đặc biệt là khi các bộ phim từng được coi là có hy vọng tại các lễ trao giải thưởng như bộ phim lãng mạn Call Me By Your Name của đạo diễn người Ý Luca Guadagnino, tác phẩm “toàn sao” The Post của huyền thoại Steven Spielberg, hay bom tấn Dunkirk của Christopher Nolan đã dần bị bỏ lại phía sau khi chưa giành được giải thưởng đáng kể nào cho phim hay nhất. 

Để có được một tác phẩm điện ảnh hay, tài năng của người đạo diễn thường được coi là yếu tố quan trọng nhất. Bởi vậy mà Guillermo del Toro – đạo diễn của The Shape of Water đã nhận được vô số những lời ngợi khen từ giới phê bình và kèm theo đó là những giải thưởng và đề cử điện ảnh trong dịp cuối năm. Tính tới giữa tháng 1 năm 2018 vị đạo diễn phúc hậu người Mexico đã chiến thắng tới 14 lần và được đề cử ở 19 giải thưởng khác, vượt xa các ứng cử viên khác của hạng mục Đạo diễn xuất sắc nhất như Greta Gerwig, Jordan Peele, hay Christopher Nolan. Đặc biệt là với hai chiến thắng liên tiếp tại giải Quả cầu vàng lần thứ 75 và Giải thưởng lựa chọn của giới phê bình lần thứ 23, rất nhiều người đã hy vọng rằng Guillermo del Toro sẽ trở thành người cuối cùng của “bộ ba điện ảnh Mexico” (cùng với Alfonso Cuarón – đạo diễn Gravity và Alejandro González Iñárritu – đạo diễn Birdman và The Revenant) giành tượng vàng Oscar cho đạo diễn xuất sắc nhất vào tháng 3 tới. Đối thủ lớn nhất trên đường đua tới giải Oscar của đạo diễn “chuyên trị” phim quái vật là nữ đạo diễn kém ông tới gần 20 tuổi Greta Gerwig. Tuy có tiếng trong vai trò nàng thơ của các bộ phim độc lập, nhưng Lady Bird mới là bộ phim đầu tay Gerwig đạo diễn, bởi vậy cô khó có thể sánh được với del Toro về mức độ nổi tiếng và sự tôn trọng từ giới làm phim Hollywood. Tuy nhiên 2017 lại là một năm đặc biệt của làng phim Mỹ khi tiếng nói nữ quyền được đề cao hơn bao giờ hết, bởi vậy Gerwig vẫn hoàn toàn có cơ hội làm nên bất ngờ ở giải Oscar – một giải thưởng luôn chịu rất nhiều ảnh hưởng của bối cảnh chính trị-xã hội vào thời điểm trao giải. 

Một trong những ngạc nhiên của mùa giải thưởng điện ảnh năm nay là việc Martin McDonagh – đạo diễn của Three Billboards Outside Ebbing, Missouri – đối thủ nặng ký của The Shape of Water của Guillermo del Toro gần như không được xướng danh tại bất cứ lễ trao giải nào. Nhưng có lẽ McDonagh cũng cảm thấy được phần nào an ủi khi nữ diễn viên được ông gửi gắm vai quan trọng nhất của Three Billboards là Frances McDormand giành tới 15 giải thưởng tại hạng mục Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất. Xuất thần trong vai bà mẹ mất con đi tìm công lý, nữ diễn viên gạo cội McDormand đã được vinh danh tại cả hai lễ trao giải quan trọng gần đây là Quả cầu vàng và Giải thưởng lựa chọn của giới phê bình, bởi vậy nhiều ý kiến cũng cho rằng nhiều khả năng bà sẽ có được tượng vàng Oscar thứ hai trong sự nghiệp vào ngày 4 tháng 3 tới đây. Tuy nhiên, cũng như ở hạng mục Phim hay nhất, Frances McDormand vẫn sẽ phải cạnh tranh quyết liệt cho đến ngày cuối cùng với đối thủ chính Sally Hawkins – cô gái câm đầy mộng mơ của The Shape of Water và chủ nhân của 14 lần chiến thắng trong mùa giải năm nay. Nổi lên từ vai cô nàng lí lắc trong Happy-Go-Lucky (2008), Hawkins từng được đề cử một lần tại giải Oscar năm 2014 (cho vai phụ trong Blue Jasmine), và với vai diễn khiến nhiều người nhớ đến diễn xuất giành giải Oscar nữ chính năm ngoái của Emma Stone trong La La Land, chắc chắn cô sẽ là ứng cử viên nặng ký cho tượng vàng Oscar tại hạng mục này năm nay. Trong một năm được mùa của các vai nữ chính xuất sắc, hai nữ diễn viên 9x là Saoirse Ronan (vai Lady Bird trong Lady Bird) và Margot Robbie (vai Tonya Harding trong I, Tonya) nhiều khả năng sẽ sánh vai cùng với hai tên tuổi nhiều kinh nghiệm McDormand và Hawkins trong danh sách đề cử cho vai nữ chính xuất sắc nhất tại giải Oscar lần thứ 90 và họ cũng hoàn toàn có khả năng gây nên bất ngờ, đặc biệt là ngôi sao trẻ Saoirse Ronan – cô gái ở tuổi 21 đã có tới 2 đề cử Oscar. Nếu không có gì đột biến, cái tên còn lại “chốt sổ” danh sách đề cử giải Oscar vai nữ chính có lẽ sẽ là Meryl Streep – bà hoàng của các lễ trao giải Oscar với một vai diễn xuất sắc “như thường lệ” trong The Post của Steven Spielberg.

Nếu cuộc đua tới tượng vàng Oscar cho vai nữ chính vẫn còn là một câu hỏi mở thì rất nhiều ý kiến đã cho rằng nam diễn viên gạo cội người Anh Gary Oldman gần như đã “chắc suất” tại hạng mục Vai nam chính. Thủ vai một trong những tên tuổi lớn nhất của lịch sử thế giới thế kỷ 20 - Winston Churchill trong Darkest Hour của đạo diễn đồng hương Joe Wright, Oldman – một trong những nam diễn viên được kính trọng nhất của Hollywood đã phá dớp tại giải Quả cầu vàng (giải thưởng ông chưa từng bao giờ được đề cử) với giải Vai nam chính xuất sắc nhất – Phim chính kịch và nhiều khả năng sẽ gỡ tiếp được cái danh xưng “Một trong những nam diễn viên xuất sắc nhất chưa từng giành giải Oscar” tại lễ trao giải của Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Hoa Kỳ tháng 3 tới. Cơ hội giành giải của Oldman – người đã chiến thắng tới 18 lần trong mùa giải thưởng năm nay càng trở nên rõ ràng hơn khi các nam diễn viên được coi là sánh ngang với Oldman về tên tuổi và từng giành nhiều giải Oscar như Daniel Day-Lewis (vai Reynolds Woodcock trong Phantom Thread) hay Tom Hanks (vai Ben Bradlee trong The Post) đã tuột lại phía sau trong cuộc đua tại hạng mục vai nam chính. Dù cũng có những vai diễn đáng nhớ nhưng các đối thủ còn lại của nam diễn viên 59 tuổi như Timothée Chalamet (vai Elio Perlman trong Call Me by Your Name) hay James Franco (vai Tommy Wiseau trong The Disaster Artist) đều chưa đủ ấn tượng để có thể cạnh tranh sòng phẳng với Gary Oldman tại lễ trao giải Oscar lần thứ 90.

Nếu so với hai hạng mục diễn xuất chính thì các hạng mục Vai nữ phụ và Vai nam phụ xuất sắc nhất thường thiếu tính cạnh tranh hơn, vì vậy mà hàng năm công chúng và báo giới thường dễ dàng nhận diện các ứng cử viên nặng ký nhất cho tượng vàng Oscar ở hai hạng mục diễn xuất phụ này trước khi lễ trao giải diễn ra tới vài tuần. Tình trạng “dễ đoán” này của các các hạng mục diễn xuất phụ có lẽ sẽ không còn lặp lại trong năm nay khi mà hạng mục vai nữ phụ đang chứng kiến cuộc ganh đua quyết liệt giữa hai “bà mẹ” Laurie Metcalf (phim Lady Bird) và Allison Janney (phim I, Tonya), còn hạng mục vai nam phụ Sam Rockwell (bạn diễn của McDormand trong Three Billboards) vẫn chưa thực sự vượt trội nếu so với Armie Hammer và Michael Stuhlbarg (Call Me by Your Name), Willem Dafoe (The Florida Project), hay Richard Jenkins (The Shape of Water). Một ví dụ cụ thể là tuy vượt qua nữ diễn viên phim Lady Bird để giành giải Quả cầu vàng cho vai nữ phụ xuất sắc nhất nhưng về tổng số giải thưởng đến nay thì Allison Janney – bà mẹ “ác độc” của I, Tonya được trao trong mùa giải năm nay (12) lại chưa bằng một nửa số chiến thắng của bà mẹ “thiên thần” Laurie Metcalf (26). Tương tự như vậy là trường hợp của Sam Rockwell – nam diễn viên chiến thắng ở cả hai giải Quả cầu vàng và Giải thưởng lựa chọn của các nhà phê bình thua xa nam diễn viên The Florida Project trên bảng tổng sắp giải thưởng (Dafoe đã chiến thắng 25 lần, được đề cử 18 lần, trong khi Rockwell mới chiến thắng 14 lần và được đề cử 24 lần). Bởi vậy mà khán giả sẽ phải chờ tới ngày 4 tháng 3 mới có thể chắc chắn được hai cái tên nào sẽ được vinh danh tại hạng mục vai nữ phụ và vai nam phụ của giải Oscar lần thứ 90.

Cũng vẫn còn trong tình trạng “khó đoán” là cuộc đua ở hạng mục kịch bản gốc và kịch bản chuyển thể xuất sắc, khi mà các giải thưởng điện ảnh cho hạng mục này năm nay thường được chia đều giữa bốn tác giả rất khác nhau về tuổi đời, tuổi nghề, và xuất thân nhưng đều đem tới cho khán giả những kịch bản xuất sắc vượt trội trong năm nay, đó là Jordan Peele (Get Out), Greta Gerwig (Lady Bird), James Ivory (Call Me by Your Name), và Martin McDonaugh (Three Billboards). Nhiều khả năng hai trong số bốn nhà biên kịch này sẽ là những người được gọi tên vào ngày 4 tháng 3 tới đây. Một hạng mục tương đối “dễ đoán” hơn đó là hạng mục Quay phim xuất sắc nhất, nơi nhà quay phim gạo cội Roger Deakins (Blade Runner 2049) đang rất được hy vọng sẽ chấm dứt kỷ lục đáng buồn 13 lần được đề cử mà chưa một lần chiến thắng tại giải Oscar. Một nghệ sĩ khác từng thất bại tới 6 lần trước khi được nhận tượng vàng Oscar đầu tiên là nhà soạn nhạc người Pháp Alexandre Desplat cũng đang được coi là ứng viên sáng giá cho hạng mục nhạc phim năm nay với phần nhạc phim mê lòng người của The Shape of Water. Cuối cùng như thông lệ hàng năm, hạng mục phim hoạt hình xuất sắc nhất của lễ trao giải Oscar sắp tới gần như chắc chắn đã có chủ - đó là tác phẩm mới nhất của hãng Pixar lấy bối cảnh Mexico Coco

Dự đoán vẫn luôn chỉ là dự đoán, bởi các lễ trao giải điện ảnh luôn tiềm ẩn rất nhiều bất ngờ, đặc biệt là trong giai đoạn Hollywood phải đối mặt với rất nhiều bê bối không ai ngờ tới như hơn một năm vừa qua. Chỉ một bê bối nhỏ trong giai đoạn này cũng có thể làm tắt ngấm hy vọng giành tượng vàng của các ứng viên tiềm năng, cũng như chỉ cần nhận một giải quan trọng trong bộ tứ giải thưởng quan trọng của các hiệp hội đạo diễn, diễn viên, nhà sản xuất, và biên kịch là cơ hội chiến thắng sẽ lại rộng mở cho những ửng viên tưởng chừng đang bị tụt lại. Bởi vậy khán giả và báo giới sẽ vẫn còn phải nín thở chờ tới ngày 4 tháng 3 sắp tới mới có thể biết chắc chắn được những cái tên nào sẽ được vinh danh tại lễ trao giải Oscar lần thứ 90. Và tất nhiên, chúng ta cũng phải hy vọng rằng sẽ không có một sự cố “nhầm tên” nào nữa xảy ra để phá hỏng ngày vui của giới điện ảnh và người yêu điện ảnh như bê bối “Moonlight”/”La La Land” tại lễ trao giải lần thứ 89.

=====

vendredi 5 janvier 2018

Three Billboards Outside Ebbing, Missouri (2017)


Một trong những bộ phim có tựa đề “dị” nhất của năm 2017 là tác phẩm Three Billboards Outside Ebbing, Missouri của đạo diễn người Anh Martin McDonagh – tựa đề với cái nghĩa đơn giản là ba tấm biển quảng cáo bên ngoài thị trấn Ebbing bang Missouri (một địa danh không có thật, bản thân từ “ebbing” trong tiếng Anh có nghĩa là “triều xuống” hoặc “sự suy tàn”). Có lẽ nhiều người sẽ bật cười khi thoạt nghe cái tựa đề rất mộc mạc này, nhưng hẳn cũng có khán giả sẽ vò đầu bứt tai vì không hiểu đây có phải một thách thức lạ lùng đầy triết lý dành cho họ trước khi xem phim hay không. Thực tế thì cái tên đơn giản của phim chẳng phải là câu đố khó hiểu nào, bởi bộ phim mở đầu bằng hình ảnh của chính ba tấm biển quảng cáo tàn tạ đã lâu không có người sử dụng bên ngoài thị trấn bình lặng đang trên đà suy tàn Ebbing. Ba tấm biển quảng cáo chỉ được hồi sinh khi bà Mildred Hayes (Frances McDormand) trên đường lái xe về nhà ở ngay gần đó nảy ra ý định sẽ bỏ tiền túi ra thuê mấy tấm bảng quảng cáo trong vòng 1 tháng. Anh chàng đại diện văn phòng quảng cáo Red Welby (Caleb Landry Jones) tất nhiên rất vui mừng vì có người sẵn lòng bỏ hẳn năm nghìn đô la mỗi tháng để thuê ba tấm biển quảng cáo giữa chốn đồng không quạnh, nhưng điều duy nhất anh không ngờ tới đó là những gì bà Hayes muốn đăng quảng cáo trên đó. 

Chỉ đơn giản là ba dòng chữ ngắn ngủi màu đen khổ lớn trên nền biển quảng cáo màu đỏ máu – “Raped while dying” (“Bị cưỡng bức khi đang hấp hối”), “And still no arrests?” (“Và đến giờ vẫn chưa ai bị bắt”), “How come, Chief Willoughby?” (“Vậy là sao, Cảnh sát trưởng Willoughby?”), hợp đồng thuê quảng cáo của Mildred Hayes đã khiến cả Ebbing phải náo động. Tất nhiên trưởng đồn Bill Willoughby và cấp dưới của ông ta như viên cảnh sát Jason Dixon (Sam Rockwell) đứng ngồi không yên vì nội dung quảng cáo chính là lời chỉ trích của bà Hayes dành cho cả lực lượng cảnh sát Ebbing bất tài không tìm nổi một manh mối nào về vụ cưỡng bức và sát hại Angela (Kathryn Newton) – cô con gái út còn đang tuổi vị thành niên của bày Hayes. Nhưng ba tấm biển quảng cáo cũng gây sốc ngay cả đối với những người dân Ebbing bình thường khác như gã bán xe cũ James (Peter Dinklage), anh thợ vẽ Jerome (Darrell Britt-Gibson), hay chồng cũ của bà Hayes là ông Charlie (John Hawkes). Người ủng hộ cách phản ứng có phần lạ lùng của bà Hayes trước tiến độ chậm chạp của cuộc điều tra cũng có, tuy không nhiều, còn phần lớn người dân Ebbing tỏ ra bất bình vì cho rằng nội dung ba tấm biển như vậy vừa chẳng giúp ích gì cho việc điều tra của cảnh sát, vừa xúc phạm cá nhân cảnh sát trưởng Willoughby – người vốn đang phải trải qua đợt điều trị ung thư giai đoạn cuối, và nhất là đã làm xáo trộn sự bình yên vốn có của thị trấn nhỏ Ebbing. Nhưng liệu Ebbing có thực sự yên bình, khi đồn cảnh sát “toàn da trắng” của Willoughby vẫn còn chứa chấp những viên cảnh sát “ưa thích” bạo lực và tư tưởng phân biệt chủng tộc như Dixon, và khi quán bar của thị trấn vẫn là nơi tụ họp của nhiều gương mặt không lấy gì làm thân thiện? Từng góc khuất của thị trấn này, và những cư dân nơi đây sẽ dần được hé lộ sau sự xuất hiện của ba tấm biển quảng cáo bên ngoài Ebbing, tiểu bang Missouri.

Sớm nổi danh tại Hollywood với giải Oscar phim ngắn xuất sắc nhất cho tác phẩm Six Shooter (2004) nhưng lại dành phần lớn thời gian cho sân khấu kịch, Three Billboards Outside Ebbing, Missouri mới chỉ là phim dài thứ ba trong sự nghiệp điện ảnh của đạo diễn người Anh Martin McDonagh sau In Bruges (2008) và Seven Psychopaths (2012). Ít về số lượng nhưng luôn ấn tượng về chất lượng, cả hai bộ phim đầu tiên do McDonagh viết kịch bản và đạo diễn đều là những tác phẩm được người yêu điện ảnh đánh giá cao với chất hài chua cay đậm đặc thông qua các câu thoại thông minh, dí dỏm, cùng cách xây dựng nhân vật đặc sắc, đa diện vượt ra ngoài khuôn khổ của các nhân vật một chiều thường thấy trong các phim hình sự Hollywood. Vốn nổi tiếng là một biên kịch hàng đầu của sân khấu Anh quốc, McDonagh có cách tiếp cận dòng phim hình sự-tội ác rất đặc sắc, khi mà các nhân vật chính của ông tuy là tội phạm hoặc có từng gây ra tội ác luôn đem đến cho khán giả nhiều khám phá mới mẻ về tâm lý con người và đặc biệt là xu hướng nhân văn vươn tới cái thiện của họ khi phải đối mặt với các tình huống “tội ác và hình phạt”. Tuy có phần nào đó nặng nề và ít chất hài chua cay hơn In Bruges và Seven Psychopaths, Three Billboards Outside Ebbing, Missouri vẫn đem tới cho khán giả những gì tinh tuý nhất trong phong cách của Martin McDonagh về mặt nội dung, chất lượng thoại, và hình ảnh nhân vật. Mở đầu bộ phim, các nhân vật như bà mẹ kiên nghị Mildred Hayes, ông trưởng đồn nhu nhược Willoughby, hay gã cảnh sát ngờ nghệch Dixon được giới thiệu như đúng những hình mẫu nhân vật một chiều của một bộ phim hình sự lấy bối cảnh tỉnh lẻ với vẻ bề ngoài, tính cách và hành xử đơn giản. Nhưng càng xem, khán giả sẽ càng nhận ra rằng đằng sau sự kiên nghị của bà Hayes là nỗi đau khổ tột cùng của một người mẹ đơn độc ngày ngày nhìn những đoàn tàu chạy qua và nghĩ về đứa con gái không bao giờ quay trở lại, họ cũng sẽ hiểu tại sao có vẻ nhu nhược là thế Willoughby lại luôn được người vợ Anne (Abbie Cornish) và hai cô con gái xinh xắn yêu thương hết mực, và tất nhiên Dixon trong mắt khán giả ở cuối phim cũng sẽ là một Dixon hoàn toàn khác so với hình ảnh vô cùng xấu xí đầu tiên của gã. Vì vậy mà tuy là một tác phẩm hình sự-hài chua cay với đối tượng chính là tội phạm, tội ác, và những chi tiết dở khóc dở cười của một xã hội thu nhỏ nơi thị trấn Ebbing, nhưng thực sự “Three Billboards Outside Ebbing, Missouri” lại khiến người xem phải cảm động vì chất nhân văn sâu sắc về tình người, về mối quan hệ giữa người với người ẩn sau bức chân dung đen tối về xã hội ấy.

Tính cách các nhân vật được McDonaugh sáng tạo ra dưới ngòi bút và tài đạo diễn của ông luôn là sự pha trộn của một phần tốt đẹp và một phần xấu xí, một phần thiện và một phần ác, và các nhân vật của Three Billboards Outside Ebbing, Missouri cũng không phải ngoại lệ. Tuy vậy, do tính hài hước trong tác phẩm này có phần nào được gia giảm so với In Bruges và Seven Psychopaths và thế chỗ vào đó là những tình tiết của một bộ phim mang màu sắc bi kịch, khía cạnh phát triển tính cách nhân vật trong tác phẩm mới nhất của đạo diễn Martin McDonaugh này đã được đẩy lên một tầm cao mới, đặc biệt là với diễn xuất cực kì xuất sắc của Frances McDormand (vai Hayes) và Sam Rockwell (vai Dixon). Vừa thể hiện được cái “dị” trong các nhân vật do họ đảm nhiệm, McDormand và Rockwell còn khắc hoạ rất thành công diễn tiến tâm lý của các nhân vật này vốn vừa tự nhiên, dễ hiểu, lại vừa đem đến cho khán giả vô số những bất ngờ về những khía cạnh, tính cách được chôn giấu bên trong tâm hồn các nhân vật. Đã tròn 20 năm kể từ ngày nữ diễn viên gạo cội Frances McDormand được trao tượng vàng Oscar vai nữ chính xuất sắc nhất cho vai diễn của bà trong Fargo (1997), cũng đã hơn 10 năm kể từ ngày khán giả được chứng kiến một vai diễn thực sự đáng kể của bà trong North Country (2006). Nhưng với Three Billboards Outside Ebbing, Missouri, chắc chắn McDormand sẽ lại là ứng cử viên nặng ký tại các lễ trao giải điện ảnh thường niên sắp tới bởi một lần nữa bà đã chứng tỏ tài năng hiếm có của mình trong việc làm bật lên tình cảm ấm áp hết sức nhân văn, hết sức nữ tính từ các nhân vật có bề ngoài khắc khổ, cứng rắn. 

Bối cảnh xơ xác, buồn bã của những thị trấn buồn miền Trung nước Mỹ, các vụ án không có lời giải với sự bất lực của cảnh sát, hình ảnh mạnh mẽ, cương nghị của Frances McDormand, Three Billboards Outside Ebbing, Missouri chắc chắn sẽ khiến nhiều người liên tưởng tới một tác phẩm hình sự-hài chua cay khác là Fargo của anh em đạo diễn-biên kịch nhà Coen – một trong những tác phẩm điện ảnh đáng nhớ nhất của thập niên 1990. Với một kịch bản chắc tay, đạo diễn, và dựng phim xuất sắc, bộ phim mới của đạo diễn Martin McDonagh có lẽ cũng phần nào có thể so sánh được với Fargo về mặt chất lượng nghệ thuật. Nhưng khác với bộ phim của anh em nhà Coen – một tác phẩm hết sức thông minh và tinh tế trong việc xoáy sâu vào những góc tối của con người khi rơi vào những hoàn cảnh trớ trêu, bất ngờ, tác phẩm của McDonagh lại đem tới cho khán giả một chút hi vọng le lói nào đó về cái chất lương thiện ẩn giấu bên trong mỗi cá nhân của xã hội. Cuộc sống có thể khó khăn, thậm chí là bất hạnh, xã hội có thể gai góc với cái xấu vẫn còn lẩn khuất đâu đây, nhưng với bản chất hướng thiện vẫn còn ăn sâu bám rễ, chắc chắn rồi chúng ta cũng sẽ có thể tìm thấy những giây phút thanh thản trong đời, đó có lẽ là lời nhắn rất đẹp mà Martin McDonagh muốn đem lại cho khán giả qua Three Billboards Outside Ebbing, Missouri.

=====

mercredi 3 janvier 2018

The Disaster Artist (2017)



“Dở đến mức không thể bỏ qua được”, “Bộ phim dở vượt trội của mọi thời đại”, “Công dân Kane của phim dở” (Công dân Kane thường được coi là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của điện ảnh thế giới) – đó là những “mỹ từ” giới phê bình và người hâm mộ dành cho The Room của đạo diễn phim độc lập Tommy Wiseau. Công chiếu lần đầu năm 2003, tác phẩm bi kịch này của nhà làm phim bí hiểm Wiseau – người đảm nhận luôn vai chính trong phim nhanh chóng được báo chí và giới phê bình xếp vào danh sách các tác phẩm điện ảnh dở nhất mọi thời đại vì nội dung hỗn độn đến mức khó hiểu và chất lượng diễn xuất cũng như sản xuất khiến người xem chỉ còn nước lắc đầu ngao ngán. Nhưng đúng là “dở đến mức không thể bỏ qua được”, The Room lại nhận được sự hưởng ứng từ một nhóm khán giả trung thành – những người thưởng thức tác phẩm này như một bộ phim … hài và sẵn sàng quay trở lại rạp mỗi năm để xem đứa con điện ảnh đầu tay (và cũng là duy nhất) của Tommy Wiseau như một thứ tín ngưỡng. Động cơ nào đã khiến Wiseau bỏ tiền túi ra làm một thảm hoạ điện ảnh như vậy? Những yếu tố nào đã khiến The Room trở thành một tác phẩm “dở kinh điển”? Và tại sao bộ phim cũng như cuộc đời của Tommy Wiseau lại vẫn giữ được sự hấp dẫn lạ lùng với một số khán giả sau gần 15 năm bất chấp chất lượng tồi tệ của The Room? Đó là những câu hỏi mà đạo diễn-diễn viên James Franco muốn tìm kiếm câu trả lời cho khán giả thông qua bộ phim mới của anh The Disaster Artist (Nghệ sĩ thảm hoạ) với kịch bản chuyển thể từ cuốn tự truyện cùng tên của Greg Sestero – một diễn viên chính khác của The Room và cũng là bạn thân của Tommy Wiseau.

Bối cảnh mở màn của The Disaster Artist là thành phố San Francisco năm 1998, nơi chàng thanh niên 19 tuổi Greg Sestero (Dave Franco) rụt rè, thiếu tự tin đang vật lộn trong các lớp học diễn xuất với giấc mơ một ngày sẽ trở thành một diễn viên thực thụ. Tại một khoá học như vậy, Greg gặp Tommy Wiseau (James Franco – anh ruột ngoài đời của Dave Franco), một diễn viên cũng thiếu tài năng diễn xuất bẩm sinh nhưng lại có thừa sự tự tin và tiền bạc để theo đuổi tham vọng thành sao Hollywood. Dù không chịu tiết lộ tuổi tác hay quê quán nhưng rõ ràng Tommy hơn cậu thanh niên “mặt búng ra sữa” Greg nhiều tuổi, và nếu dựa vào giọng tiếng Anh lạ lùng, khó nghe của Tommy thì nhiều người có thể đoán rằng anh ta thậm chí còn chẳng phải một người Mỹ thực thụ như Greg. Khác nhau về tính cách, xuất thân nhưng hoàn toàn tương đồng trong tình yêu nghệ thuật, lòng hâm mộ với huyền thoại nổi loạn của màn bạc James Dean hay các vở kịch của Tennessee Williams, và giấc mơ trở thành sao điện ảnh, Greg và Tommy nhanh chóng trở thành bạn thân. Bởi vậy ngay khi Tommy ngỏ ý rủ Greg cùng tới Los Angeles – nơi có kinh đô điện ảnh Hollywood (và có một ngôi nhà “để không” của Tommy) để lập nghiệp, Greg lập tức nhận lời bất chấp sự ngăn cản từ bà mẹ (Megan Mullally) vốn không tin tưởng cho lắm vào tài năng của Greg và lo sợ cậu sẽ bị Tommy lợi dụng. Những lo lắng đầy tình mẫu tử này hoá ra chỉ đúng một nửa, khi Tommy không hề lạm dụng việc Greg phải ở nhờ căn hộ nhìn ra chân trời phù hoa với những toà nhà chọc trời nối tiếp của Los Angeles, nhưng quả thực Greg không thể kiếm được một vai diễn ra hồn dù rất điển trai và nhanh chóng được nhận vào công ty quản lý diễn viên có tiếng của Iris Burton (Sharon Stone). Không hơn gì Greg về tài nghệ diễn xuất, lại cộng thêm phong cách thời trang kì dị và chất giọng tiếng Anh lạ lùng chẳng giống ai, tất nhiên Tommy vấp phải hết thất bại này đến thất bại khác trong các cuộc thử vai tại Los Angeles tới mức một nhà sản xuất có tiếng (Judd Apatow) đã phải nói thẳng rằng dù có cả triệu năm hay lâu hơn nữa thì Tommy cũng không có “cửa” nào ở đất Hollywood vốn đã đầy rẫy tài năng này. 

Mất hết niềm tin vào việc được Hollywood trao cơ hội, Tommy Wiseau quyết định tự mình viết kịch bản và bỏ tiền túi ra làm một bộ phim lấy cảm hứng từ câu truyện cuộc đời của Tommy và Greg với hy vọng mình sẽ có đất diễn để thể hiện “tài năng” không được ai thừa nhận. Tommy bỏ hết thời gian, tiền bạc, và tâm sức vào dự án phim đầu tay, nhưng quá trình thai nghén kịch bản và sản xuất của The Room (Căn phòng) cũng một lần nữa chứng tỏ một sự thật rằng anh chàng dị nhân này không có chút kiến thức nào về mặt sản xuất phim và tuyệt đối không sở hữu khả năng diễn xuất ở tầm Hollywood bất chấp sự hợp tác và giúp đỡ của những người có kinh nghiệm làm phim thật sự như giám sát kịch bản Sandy Schklair (Seth Rogen). Sự thiếu chuyên nghiệp của Tommy trong việc chỉ đạo sản xuất và thực hiện đi thực hiện lại các cảnh quay với sự có mặt của anh khiến quá trình quay của The Room bị chậm tiến độ làm giá thành của bộ phim đội lên tới 5, 6 triệu đô la – một con số khổng lồ cho một tác phẩm độc lập kinh phí thấp như The Room. Không chỉ chịu vô số áp lực từ dự án The Room rắc rối quá mức dự đoán, Tommy còn phải đối diện với thực tế rằng chính người bạn thân và là nguồn cảm hứng cho bộ phim Greg cũng dần trở nên xa cách anh sau khi có cô bạn gái mới Amber (Alison Brie). Dù gặp nhiều trở ngại trong đời tư và công việc như vậy, nhưng Tommy vẫn quyết tâm hoàn thành The Room để có thể kể cho mọi người câu truyện của đời anh và chứng tỏ cho Hollywood rằng anh là một diễn viên có năng lực thực sự.

Tuy được số đông khán giả biết tới qua các vai diễn trong các phim bom tấn như bộ ba Người nhện (2002-2007) của đạo diễn Sam Raimi, Rise of the Planet of the Apes (2011), tác phẩm giúp anh có được đề cử Oscar đầu tiên 127 Hours (2010), hay các bộ phim hài hước kinh phí thấp nhưng doanh thu cao như Pineapple Express (2008), This Is the End (2013), nhưng James Franco thực ra còn là một đạo diễn-diễn viên chuyên trị dòng phim độc lập với kinh phí thấp. Có lẽ vì chất độc lập chảy trong huyết quản này mà James Franco tái hiện quá trình Tommy Wiseau ấp ủ và hiện thực hoá giấc mơ The Room gần 15 năm trước một cách hết trân trọng, nghiêm túc bất chấp sự hài hước một cách trớ trêu sau “thành công” của The Room. Tất nhiên The Disaster Artist không hề thiếu chất hài, vì quá trình hình thành của một bộ phim “siêu dở” bản thân nó đã là một câu truyện hài hước, hơn thế nữa đứng sau hỗ trợ James Franco lại có hai tên tuổi quen thuộc của dòng phim hài Hollywood thời điểm hiện tại là Seth Rogen và Evan Goldberg – bộ đôi đã tạo nên thành công vang dội về mặt thương mại của một loạt phim hài như Superbad (2007), Pineapple Express, This Is the End, Neighbors (2014), và Sausage Party (2016). Bởi vậy mà chắc chắn khán giả sẽ vẫn được cười ra nước mắt trước sự ngu ngơ khó có thể tin nổi của Tommy Wiseau được khắc hoạ trên phim, và những phân cảnh được James Franco tái hiện lại chính xác đến từng khung hình các trích đoạn “dở kinh điển” của The Room. Nhưng đằng sau mỗi tiếng cười đem lại cho người xem, James Franco cùng bộ đôi biên kịch của các bộ phim lãng mạn xuất sắc như (500) Days of Summer (2009) và The Fault in Our Stars (2014) là Scott Neustadter và Michael H. Weber cũng lại giúp cho khán giả hiểu hơn về suy nghĩ, về những tình cảm buồn vui và những giấc mộng chẳng thành của Tommy Wiseau – vốn là những điều mà ngoại trừ người bạn thân của Tommy là Greg thì chẳng mấy ai quan tâm để mắt. Sự trân trọng này của The Disaster Artist trong việc phát triển tính cách nhân vật thay vì nhấn mạnh vào những sai lầm nực cười trong quá trình sản xuất The Room đã giúp cái tên Tommy Wiseau vượt ra khỏi khuôn khổ của một “đạo diễn phim dở kinh điển” và trở thành một nghệ sĩ như bao nghệ sĩ Hollywood khác luôn cháy bỏng với giấc mơ được chứng tỏ tài năng, được đem câu truyện cuộc đời họ đến với khán giả. Có thể họ trở nên thành công như Mia Dolan (Emma Stone) trong La La Land (2016), vấp váp vì chẳng thể thích nghi với sự thay đổi của Hollywood như George Valentin (Jean Dujardin) trong The Artist (2011), suốt đời phải sống trong ánh hào quang của quá khứ như Norma Desmond (Gloria Swanson) trong Sunset Boulevard (1950), hoặc đơn giản là vỡ mộng vì thiếu tài năng và cơ hội như Tommy Wiseau. Nhưng cũng như những nhân vật kể trên trong các tác phẩm vô cùng đáng nhớ của Hollywood, Tommy cũng yêu nghệ thuật bằng cả tấm lòng và sẵn sàng chia sẻ tình yêu đó với những người xung quanh, đặc biệt là những người thân thiết như Greg. Bởi vậy, tuy chất lượng của The Room – thành quả từ tình yêu nghệ thuật của Tommy Wiseau hoàn toàn xứng đáng là đề tài đàm tiếu của người đời, tâm hồn trong sáng của một người nghệ sĩ đích thực như Tommy luôn là phẩm chất đáng được tôn trọng.

Là một bộ phim về … phim dở, tất nhiên khán giả không thể trông đợi The Disaster Artist có được chất lượng nghệ thuật vượt trội nhất là khi cuộc đời bí ẩn không nhiều sự kiện của Tommy Wiseau không thực sự là chất liệu giàu kịch tính cho một tác phẩm điện ảnh hấp dẫn. Quả thực nếu so sánh với một tác phẩm về phim dở khác là Ed Wood (1994) của Tim Burton, The Disaster Artist có cảm giác thiếu chiều sâu và luôn ở trong trạng thái chênh vênh giữa một bộ phim hài thông thường và một tác phẩm chính kịch về những góc khuất dưới ánh hào quang của Hollywood. Bởi vậy, ngoại trừ sự trân trọng rất đáng được ghi nhận dành cho hình ảnh nhân vật Tommy Wiseau, điểm sáng nhất của The Disaster Artist có lẽ là diễn xuất ấn tượng của James Franco trong vai Tommy. Không chỉ khắc hoạ được điệu bộ, cử chỉ và vẻ ngoài rất “dị” của Tommy Wiseau, James Franco còn thành công trong việc thể hiện được chất giọng tiếng Anh kì dị phảng phất “chất Đông Âu” của Tommy, và nhất là thể hiện được tính cách đa chiều của tác giả bộ phim thảm hoạ The Room. Nếu xem những bài phỏng vấn của James Franco trong quá trình quảng cáo The Disaster Artist, người xem mới lại càng cảm nhận được nhiệt huyết mà anh dành cho vai diễn và tác phẩm này. Thật may cho Tommy Wiseau, và cho khán giả, là đam mê của James Franco đã không biến thành một “thảm hoạ” mới như The Room năm nào. Trái lại, tài năng có thật của ngôi sao phim Người nhện kết hợp cùng sự say mê đối với nhân vật đã giúp James Franco có được một vai diễn hết sức đáng nhớ, và quan trọng hơn là đã giúp khán giả có được một cái nhìn đầy đủ hơn về Tommy Wiseau. 

Ngay cả sau khi xem xong The Disaster Artist, chắc chắn nhiều người xem vẫn sẽ lắc đầu ngán ngẩm tự hỏi tại sao một nghệ sĩ bất tài như Tommy Wiseau lại bỏ cả một gia tài để cho ra đời một tác phẩm tệ hại như The Room. Nhưng có lẽ họ đã quên mất rằng không chỉ có tiền bạc, Tommy còn bỏ vào The Room cả giấc mơ làm nghệ sĩ, cả niềm say mê đầy ngây thơ về môn nghệ thuật thứ bảy, và cả sự nâng niu đối với tình cảm bạn bè, với tư cách chả một nghệ sĩ. Dù rằng Tommy thất bại vì không có đủ tài năng, kiến thức, nhưng chừng ấy đầu tư về cả vật chất và tinh thần chẳng phải đã là quá đủ để khán giả chúng ta ghi nhớ và trân trọng anh, nhất là trong bối cảnh một Hollywood đang ngập tràn những vụ bê bối nơi các nghệ sĩ có tài năng, vị trí thực sự lại sử dụng chúng vì các mục đích không chính đáng?

=====