some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

dimanche 27 décembre 2009

The Breakfast Club (1985)


Đánh giá một bộ phim kiểu "thời thượng" ra đời cách đây tới một phần tư thế kỷ như The Breakfast Club quả không dễ chút nào vì chê thì rất đơn giản nhưng đặt mình trong hoàn cảnh ra đời của phim để hiểu được tại sao nó được yêu thích đến thế thì lại quá khó.

Breakfast Club là một nhóm 5 học sinh trung học bị kỉ luật và phải đến trường trình diện 8 tiếng vào ngày thứ 7. 5 người của nhóm ứng với 5 stereotype đã trở thành "kinh điển" của phim teen về sau, đó là một nàng "công chúa" (the princess - nhà giàu, yểu điệu, kênh kiệu nhưng thực tế luôn sợ hãi bị mọi người bỏ rơi), một cậu chàng nổi loạn (the rebel - đẹp trai, phong cách bất cần, luôn tỏ ra cứng đầu cứng cổ để che dấu vết thương tinh thần vì gia đình nghèo/không hạnh phúc), một cậu mọt sách (the geek - học giỏi nhưng ngờ nghệch với cuộc sống bên ngoài, yếu đuối về thể chất, dáng vẻ bình thường luôn chìm khuất giữa đám đông), một cô bé "lạc loài" (the outcast - hành xử, ăn mặc quái dị, không có bạn bè và cũng không tỏ vẻ là cần có bạn bè, ít nói và thường có tài lẻ), một anh chàng "thể thao" (the jock - mặt mũi khôi ngô sáng sủa, giỏi thể thao, thường (ra vẻ) bảo vệ các bạn gái và the geek). Bộ 5 này trong phim lần lượt là Claire the princess, John the rebel, Andrew the jock, Allison the outcast và Brian the geek.

The Breakfast Club có cấu trúc rất đơn giản, chuyện phim ứng với đúng buổi phạt ngày thứ 7 đầu tiên của 5 người, tình tiết trong phim cũng không có gì phức tạp, chủ yếu là những cuộc đối thoại ngắn, có lúc nhẹ nhàng, có lúc nảy lửa giữa các thành viên trong nhóm để cuối cùng nổi bật lên là hình ảnh thật sự, suy nghĩ thật sự của năm cô cậu học trò ở vào cái tuổi nổi loạn và phức tạp nhất này. Và The Breakfast Club gây ấn tượng mạnh đến như vậy có lẽ vì John Hughes đã rất thành công trong việc khắc họa năm gương mặt vị thành niên sống động, có chiều sâu, có tốt có xấu và nhất là đều khiến khán giả, đặc biệt là khán giả trẻ cảm thấy yêu quý vì sự gần gũi của nhân vật trong phim với tuổi trẻ nổi loạn ngoài đời. Dù sao phim cũng ra đời cách đây khá lâu, vì vậy nhịp phim khá chậm và nội dung phim cũng đơn giản hơn nhiều nếu so với những phim teen giai đoạn sau này, tuy nhiên 5 gương mặt, 5 cái tên Claire, John, Andrew, Brian và nhất là Allison với tôi vẫn thực sự tươi mới, gần gũi, ấn tượng và gợi lại chút gì đó của tuổi học trò đẹp đẽ. Cả 5 diễn viên của nhóm Breakfast Club đều đóng rất đạt, rất tự nhiên và nhập vai, tôi rất thích hai nhân vật nữ Claire và Allison, cả hai đều có tốt có xấu chứ không bị "một màu" như type outcast và princess trong các phim teen sau này, hai nữ diễn viên thủ vai Claire và Allison tuy không xinh nhưng có cách diễn rất trẻ trung (1 người khi đó mới 17, 1 người 22) và ấn tượng. Không hiểu sao xem The Breakfast Club làm tôi nghĩ đến Friends, cũng là nhóm bạn đủ cả ưu, nhược điểm, có lúc cãi vã, có lúc giận hờn nhưng ở thời khắc quan trọng vẫn luôn chứng tỏ mình là một Friend thực sự, 6 nhân vật không ai phải làm sandbag cho ai, ai cũng khiến khán giả thấy yêu quý, một điều chưa bao giờ là dễ ở dòng feel-good movie.

Có lẽ The Breakfast Club sớm muộn rồi cũng sẽ trở thành lạc hậu, "đồ cổ" của một thời dĩ vãng, thật tiếc là không ai trong số 5 người của nhóm vượt lên để trở thành một ngôi sao "người lớn" như John Cusack, Tom Cruise đã từng làm được, vì thế bộ phim chắc cũng sẽ chỉ còn là hoài niệm của một thế hệ nay đã ở vào tuổi trung niên. Âu đó cũng là số phận của một thời tuổi trẻ, đẹp đẽ nhưng nhanh chóng trôi đi và nhòa dần vào quá khứ.

jeudi 24 décembre 2009

Joyeux Noël ! - Love Actually (2003)


Love Actually có lẽ sẽ còn nhiều năm nữa là bộ phim yêu thích vào mỗi dịp Giáng Sinh và Năm mới. Một tác phẩm giản dị với cách miêu tả tình yêu mộc mạc, đẹp đẽ khiến người ta dễ xích lại gần nhau hơn để thưởng thức những nụ cười của Keira Knightley, giọt nước mắt của Emma Thompson, trình độ ngoại ngữ "hạng quèn" của Colin Firth, vẻ điển trai của Hunt Grant và đương nhiên cả những phút hài hước của "Mr. Bean" Rowan Atkinson. Yes, love actually is all around! (well, not really, đúng ngày hôm nay thì một trong những cặp đôi bền vững nhất của Hollywood trong suốt hai thập kỉ qua, Tim Robbins và Susan Sarandon chính thức tuyên bố chia tay sau 23 năm chung sống)


(những ai muốn tìm cảm giác nhẹ nhàng của Love Actually có thể xem The Boat that Rocked)

dimanche 20 décembre 2009

Best films of 2009

Poster Year One, tất nhiên không liên quan đến nội dung entry.

Top ten by Roger Ebert (mainstream):
01. Bad Lieutenant (Werner Herzog)
02. Crazy Heart (Scott Cooper)
03. An Education (Lone Scherfig)
04. The Hurt Locker (Kathryn Bigelow)
05. Inglourious Basterds (Quentin Tarantino)
06. Knowing (Alex Proyas)
07. Precious: Based on the Novel Push by Sapphire (Lee Daniels)
08. A Serious Man (Coen Brothers)
09. Up in the Air (Jason Reitman)
10. The White Ribbon (Michael Haneke)

My top ten (trong số - không nhiều những phim đã xem):


01. The Boat That Rocked (Michael Curtis) - Trailer - IMDb: 7.6 - Rotten Tomatoes: 54%
- Feel-good movie of the year. Sau Love Actually, Michael Curtis lại chứng tỏ ông là "vua" của những bộ phim người ta nên mua vào dịp nghỉ lễ bên gia đình.


02. District 9 (Neil Blomkamp) - Trailer - IMDb: 8.4 - Rotten Tomatoes: 90%
- Phim khoa học giả tưởng của năm. Kinh phí chỉ ngang một phim hành động bình thường của Hollywood nhưng chất lượng và mức độ sáng tạo thì vượt trội các blockbuster hè năm nay.


03. In the Loop (Armando Iannucci) - Trailer - IMDb: 7.7 - Rotten Tomatoes: 95%
- Phim hài của năm. Anh vẫn chứng tỏ là mảnh đất màu mỡ cho những bộ phim hài thâm thúy và đề cập trực tiếp đến chính trị chứ không chỉ "gãi" bên ngoài như các phim của Mỹ.


04. Inglourious Basterds (Quentin Tarantino) - Trailer - IMDb: 8.5 - Rotten Tomatoes: 88%
- Movie of the year. Tarantino không bao giờ làm thất vọng người hâm mộ của ông.


05. Looking for Eric (Ken Loach) - Trailer - IMDb: 7.4 - Rotten Tomatoes: 88%
- Bộ phim của năm cho giới bình dân. Diễn viên giản dị, nội dung mộc mạc nhưng vẫn đầy ắp ý nghĩa và tình người.


06. (500) Days of Summer (Marc Webb) - Trailer - IMDb: 8.1 - Rotten Tomatoes: 86%
- Phim tình cảm lãng mạn của năm, vượt trội trong một năm mất mùa của thể loại này.


07. Ponyo (Hayao Miyazaki) - Trailer - IMDb: 8.0 - Rotten Tomatoes: 91%
- Phim hoạt hình của năm.


08. Thirst (Park Chan-wook) - Trailer - IMDb: 7.4 - Rotten Tomatoes: 82%
- Film noir của năm.


09. Vengeance (Đỗ Kỳ Phong) - Trailer - IMDb: 6.7 - Rotten Tomatoes: 80%
- Phim hành động của năm.


10. The White Ribbon (Michael Haneke) - Trailer - IMDb: 8.2 - Rotten Tomatoes: 90%
- Phim chính trị của năm. Giành giải Cành cọ vàng trong một năm có rất nhiều phim xuất sắc dự thi.

samedi 19 décembre 2009

Die Welle (2008)


Rainer Wenger là một giáo viên trung học phổ thông trẻ, yêu đời, yêu nhạc rock và có một cô người yêu kiêm đồng nghiệp dễ thương. Cuộc sống yên ả của anh bắt đầu thay đổi khi Wenger được phân công giảng bài Chế độ chuyên chế (autocracy) cho môn Chính trị vốn luôn ám ảnh học sinh bởi sự nhàm chán và tẻ ngắt. Để thay đổi phong cách, Wenger quyết định cho học trò của mình thực hành luôn mô hình Chuyên chế trong lớp học, anh đề nghị học sinh gọi mình là "Ông/Ngài Wenger" (Herr Wenger) thay vì cái tên Rainer thân mật, những đặc điểm khác của một nhà nước chuyên chế như đồng phục (sơ mi trắng), kỷ luật, trật tự hay tính tập thể đều được mang ra thử nghiệm. Sáng kiến của Wenger thành công đến không ngờ khi lũ học trò của anh, vốn đã quá chán ngán với cuộc sống thường nhật không thể thỏa mãn trí óc mới lớn của các em, cảm thấy cực kì hứng thú với "Nhà nước của Ngài Wenger" và bắt đầu dồn toàn tâm toàn ý để củng cố cho mô hình ấy. Và rồi cái gì đến cũng phải đến, một mô hình chuyên chế, dù là ở quy mô tế bào như "Nhà nước của Ngài Wenger" cũng tiến tới chỗ biến dạng khỏi mục đích tốt đẹp ban đầu của nó, nhất là khi người lãnh đạo mô hình - Wenger, lại không lường trước được hậu quả từ "sáng kiến" của anh, trong khi cái thế hệ nòng cốt của mô hình lại là thanh niên mới lớn - lứa tuổi nổi loạn và sẵn sàng làm tất cả mọi thứ để bảo vệ cái mà các em cho là lý tưởng của mình.

Có thể nói Die Welle là một phim sư phạm hoàn hảo về nguyên nhân và tác hại của chế độ chuyên chế. Bằng một ví dụ cực kì đơn giản, gần gũi là một lớp học bình thường với những cô cậu thanh niên hết sức bình thường với đủ cả những giây phút sáng suốt và vô số thời khắc khác nổi loạn, Die Welle đã cho người xem thấy được cả mầm mồng, cách thức lây lan và tác hại khôn lường của một mô hình chuyên chế: Khi một tầng lớp hoặc một xã hội cảm thấy mất phương hướng về lý tưởng sống, mất niềm tin vào môi trường sống xung quanh của họ, thì chỉ cần một người lãnh đạo có khả năng, cả cái tầng lớp, cái xã hội ấy sẽ hòa nhịp để tạo thành một đợt sóng (die welle) rồi lớn dần thành cơn sóng thần cuốn phăng đi tất cả. Bộ phim cho ta thấy mối nguy hiểm tiềm tàng của một chế độ phát xít mới khi mà mầm mống của nó luôn luôn hiện hữu trong một tầng lớp mất phương hướng và khao khát lý tưởng như thanh niên mới lớn. Và cái mầm mống ấy càng có khả năng nảy mầm thành cây độc khi mà xã hội, hay cụ thể là bố mẹ lại bỏ mặc các em "tự lớn", tự đối phó với những bế tắc về suy nghĩ, về cách nhìn cuộc sống.

Nếu khắt khe thì người xem vẫn có thể chê Die Welle vì tính "kịch" của bộ phim khá cao bất chấp việc dàn diễn viên, đặc biệt là các diễn viên trẻ thủ vai học trò, của phim diễn rất tự nhiên và nhập vai, nhưng khó có thể trách được đạo diễn trong trường hợp này vì muốn truyền tải cái "thí nghiệm" của Wenger thì không còn cách nào khác đạo diễn phải "bắt" đa số các nhân vật trong lớp học phải biến thành "người tượng", không có quan điểm và phản ứng riêng trước sự hình thành của die welle trong khi đáng ra đặc điểm nổi bật nhất của giới trẻ phải là sự phản kháng, chống đối (anarchy - vô chính phủ). Die Welle quả xứng đáng được sinh ra trong lòng nước Đức, "tổ quốc" của chế độ chuyên chế cao độ bậc nhất - Đức Quốc Xã và cũng là quốc gia chịu thương tổn nặng nề nhất từ chế độ này. Die Welle đề cập tới Đức Quốc Xã thông qua những hình ảnh ẩn dụ hết sức tài tình, mà không tài tình sao được khi một lớp học hết sức bình thường lại có thể trở thành tấm gương phản chiếu trung thực những gì đã xảy ra trong xã hội Đức giai đoạn giữa hai cuộc thế chiến. Tôi còn hết sức hài lòng vì Die Welle không hề động tới Holocaust - thứ chủ đề "bắt buộc" trong mọi phim Hollywood nói về, hoặc động tới Đức Quốc Xã, vì thực chất Diệt trừ Do Thái chỉ là một bộ phận cấu thành nên học thuyết (doctrine) của nhà nước Đức Quốc Xã chứ chưa bao giờ là giáo điều (dogma) của chế độ này. Theo tôi, Die Welle xứng đáng được đưa vào bất cứ chương trình học phổ thông nào về lịch sử hoặc chính trị vì sự chính xác, dễ hiểu và gần gũi với học sinh của nó - muốn để "làn sóng" không biến thành cơn sóng thần hủy diệt, hãy cho mỗi tế bào cấu thành của làn sóng đó thấy được cái cách làn sóng dị dạng thành sóng thần thế nào.

Nói thêm là nhạc phim rất hay và hợp với không khí phim, toàn nhạc rock.


Ending theme

mardi 15 décembre 2009

67th Golden Globe Awards nominations


Mùa giải thưởng lại đến, vẫn như thường lệ, đỏ là dự đoán đoạt giải, xanh là hy vọng đoạt giải.

===

Jason Reitman’s Up In The Air is leading the nominations for the 67th Golden Globes with six including best film, best director and best actor for the film’s star George Clooney.

It has also picked up two nominations for best supporting actress for Anna Kendrick and Vera Farmiga, as well best screenplay. Inglourious Basterds, Quentin Tarantino’s World War Two feature, picked up four nominations including best film, best director and best supporting actor for Christoph Waltz.

Meryl Streep has picked up two nominations for best actress in a musical or comedy for Julie & Julia and It’s Complicated, while Sandra Bullock also scored two with a nomination for best actress in drama The Blind Side and best actress in a comedy or musical for The Proposal.

The Golden Globes will be hosted by Ricky Gervais on Jan. 17 at the Beverly Hilton in Los Angeles.

The nominations:

Best motion picture – drama
Avatar
The Hurt Locker
Inglourious Basterds
Precious
Up In The Air

(Avatar vừa ra rạp đã vào list, ghê thật. Basterds chắc không có giải vì Tarantino chưa bao giờ là gu của các giải điện ảnh Mỹ. Precious chỉ góp vai trò underdog, The Hurt Locker ... chả tin là có giải)

Best motion picture - musical or comedy
500 days Of Summer
The Hangover
It’s Complicated!
Julie & Julia
Nine

(weak category, mấy phim như Nine hay It's Complicated chắc chỉ vừa kịp chiếu cho giới phê bình xem. Thôi chọn bừa.)

Best director
Kathryn Bigelow, The Hurt Locker
James Cameron, Avatar
Clint Eastwood, Invictus
Jason Reitman, Up In The Air
Quentin Taratino Inglourious Basterds

(Nếu The Hurt Locker trượt Best Picture thì chắc Bigelow sẽ được an ủi bằng giải này, lại có thêm yếu tố "nữ" nên khả năng này càng lớn. Còn nếu The Hurt Locker mà bất ngờ được Best Picture thì cơ hội sẽ là 51% cho Reitman, 49% cho Bigelow.)

Best animated feature
Coraline
Fantastic Mr Fox
Up
Cloudy With A chance Of Meatballs
The Frog And The Princess

(no comment!)

Best actor in a motion picture, drama
Jeff Bridges, Crazy Heart
George Clooney, Up In The Air
Colin Firth, A Single Man
Morgan Freeman, Invictus
Tobey Maguire, Brothers

(không biết underdog có làm nên được bất ngờ trước ứng cử viên nặng ký Lebowski, à quên, Jeff Bridges không)

Best actress in a motion picture, drama
Emily Blunt, The Young Victoria
Sandra Bullock, The Blind Side
Helen Mirren, The Last Station
Carey Mulligan, An Education
Gabourey “Gabby” Sidibe, Precious

(toàn phim chưa xem, lại phải đoán bừa. The Young Victoria nghe nói chất lượng không ra sao vậy mà Blunt cũng được đề cử)

Best performance by an actor in a musical or comedy
Matt Damon, The Informant!
Daniel Day Lewis, Nine
Robert Downey Jr, Sherlock Holmes
Joseph Gordon-Levitt, 500 Days Of Summer
Michael Stuhlbarg, A Serious Man

(đoán bừa)

Best performance by an actress in a musical or comedy
Sandra Bullock, The Proposal
Marion Cottillard, Nine
Julia Roberts, Duplicity
Meryl Streep, It’s Complicated
Meryl Streep, Julie & Julia

("Bạn" Streep nhất định không chịu nhường các bạn trẻ khác. Đây cũng là weak category với một loạt phim và vai diễn thường thường bậc trung - Julie & Julia, Duplicity, The Proposal không hiểu sao vẫn lọt vào danh sách. Away We Go với bộ diễn viên rất khá thì không thấy có ai, thật khó hiểu)

Best supporting actor
Matt Damon Invictus
Woody Harrelson The Messenger
Stanley Tucci The Lovely Bones
Christopher Plummer, The Last Station
Christoph Waltz Inglourious Basterds

(chắc Basterds sẽ được "an ủi" bằng giải này, mà đôn Waltz lên hạng mục vai chính có khi cũng vẫn được, Brad Pitt lại "blow off" một cơ hội nữa để có giải thưởng tử tế)

Best supporting actress
Penelope Cruz Nine
Vera Farmiga Up In The Air
Anna Kendrick Up in the Air
Mo’Nique Precious
Julianne Moore A Single Man

(đoán mò, hơi tiếc cho Maggie Gyllenhaal, vai của cô trong Away We Go rất tốt, trong Crazy Heart có vẻ Maggie cũng có đất diễn)

Best foreign film
Broken Embraces
The White Ribbon
The Maid
A Prophet
Baaria


Best screenplay
District 9, Neil Blomkap, Terri Tatchell
The Hurt Locker ,Mark Boal
Inglourious Basterds, Quentin Tarantino
It’s Complicated, Nancy Meyers
Up In The Air, Jason Reitman, Sheldon Turner

(strong category, hy vọng vào Tarantino nhưng các đối thủ khác cũng mạnh)

Best original song
The Weary Kind, T-Bone Burnett, Ryan Bingham (Crazy Heart)
I Want To Come Home,
Paul McCartney, (Everybody’s Fine)
Cinema Italiano,
Maury Yeston, Nine
Winter,
U2, Bono (Brothers)
I Will See You,
James Horner, Simon Franglen, Kuk Harrell (Avatar)

(đoán bừa, có lẽ Avatar sẽ được "an ủi" bằng giải này chăng)

Best original score
The Informant!, Marvin Hamlisch
Up, Michael Giacchino
Where The Wild Things Are, Carter Burwell, Karen Orzolek
Avatar, James Horner
A Single Man, Abel Korzeniowski

====

Source: http://www.screendaily.com/awards/golden-globes/golden-globes-news/up-in-the-air-leads-golden-globe-nominations/5009109.article

dimanche 13 décembre 2009

Vengeance (2009) - Đỗ Kỳ Phong, "Cổ Long của phim hành động"


Nhẩn nha xem phim dự thi Cannes năm nay, sao thấy toàn phim hay ghê gớm vậy ta! Vậy mà không hiểu tại sao năm nay các bác Pháp lại có vẻ ỉu xìu với chất lượng liên hoan phim, lạ lùng thật?!

Đối với dòng phim hành động Hồng Kông thì có lẽ Ngô Vũ Sâm có vai trò trụ cột và khai sáng tương tự như Kim Dung đối với truyện chưởng, và thực tế thì phong cách xây dựng nhân vật và cốt truyện của Ngô Vũ Sâm cũng có cái gì đó hoa mỹ, vừa anh hùng kiểu "Đại Hán", Thủy hử vừa mang chút "ẩm ướt" kiểu Hồng lâu mộng, Tây sương ký tựa như tiểu thuyết thời đầu của Kim Dung (trừ Tiếu ngạo giang hồ, và tất nhiên Lộc đỉnh ký). Việc những A Better Tomorrow, The Killer hay Hard Boiled của Ngô quá ... hay và kinh điển đã làm khó cho các đạo diễn phim hành động thế hệ sau trong việc lấp khoảng trống của Ngô sau khi ông sang Hollywood vì làm giống "sư phụ" sẽ bị chê là bắt chước trong khi xây dựng những nhân vật khiến cho khán giả idolize hoặc đẩy cao kịch tính và độ phức tạp của các bộ phim hành động lên trên tầm Ngô Vũ Sâm là điều gần như không thể. Kết quả tất yếu là phim hành động Hồng Kông lâm vào khủng hoảng sáng tạo, kéo luôn theo nó là cả nền điện ảnh Hồng Kông trong khoảng thời gian giữa thập niên 1990.

Nói một cách "kiếm hiệp" thì trong lúc "quần hùng" hoang mang, lòng người ly tán thì một cao thủ trẻ tuổi đã xuất hiện, đó là Đỗ Kỳ Phong. Đỗ là một đạo diễn điêu luyện của thể loại phim hành động, điêu luyện theo kiểu ... Ngô Vũ Sâm, bằng chứng là các bộ phim xuất sắc thời kỳ đầu của Đỗ như Breaking News, The Heroic Trio đều đậm chất hoành tráng với những nhân vật theo kiểu anh hùng truyền thống như Ngô Vũ Sâm. Nhưng Đỗ nhanh chóng nhận ra rằng nếu mình chỉ là cái bóng của Ngô tiên sinh thì tên tuổi của ông sẽ "sớm nở chóng tàn" như Lâm Linh Đồng (Prison on Fire) hay Đường Quý Lễ (Police Story 3). Nhưng phải thay đổi thế nào?

Thực tế đạo diễn đầu tiên cố gắng thoát khỏi phong cách hành động "kiểu Ngô Vũ Sâm" chính là ... Vương Gia Vệ. Bộ phim đầu tay của ông, As Tears Go By (tên tiếng Trung của phim này cũng hay, Vượng Giác Tạp Môn hay Nàng Carmen xứ Vượng Giác) cho thấy ảnh hưởng "nặng nề" của Ngô Vũ Sâm nhưng đồng thời cũng mang những nét rất riêng về cách nhấn mạnh vào chiều sâu tâm lý của nhân vật cùng những xung đột nội tâm bên trong các anh hùng (điều mà Ngô ít khi dành đất trong phim của mình để miêu tả). Nhưng bộ phim đầu tay này của Vương thực sự không phải một tác phẩm thành công, đó có lẽ cũng là một điều may mắn cho điện ảnh Hồng Kông vì "nhờ" có thất bại này mà Vương Gia Vệ mới quyết tâm dựa vào những thế mạnh của mình để tách ra đi riêng một con đường của những Days of Being Wild, Chungking Express sau này.

Quay trở lại với Đỗ Kỳ Phong, ông cũng cố gắng thay đổi hình tượng anh hùng "kiểu Ngô Vũ Sâm" bằng cách phá tung nhân vật và lắp lại theo một cách đặc biệt nhất thông qua những chi tiết hành động theo kiểu thông minh chứ không còn máu lửa hoành tráng như Ngô. Ví dụ trong Running Out of Time, thành công đầu tiên của đạo diễn theo "phong cách mới", nhân vật anh hùng của Đỗ là một kẻ trộm ... sắp chết (Lưu Đức Hoa - vai diễn "tử tế" đầu tiên của ngôi sao này) và cố dành chút thời gian còn lại để thực hiện một phi vụ cuối cùng trong hoàn cảnh "mèo đuổi chuột" với một viên thanh tra cảnh sát tài năng nhưng luôn bị ám ảnh với công việc (Lưu Thanh Vân - diễn viên ruột của Đỗ). Hoàn toàn không có những pha bắn giết hoành tráng, thay vào đó là các pha heist thông minh theo kiểu Hollywood nhưng mang màu sắc rất riêng nhờ hai nhân vật chính "nửa chính nửa tà" rất đặc sắc. Hướng đi thứ hai của Đỗ là xây dựng những tình huống dở khóc dở cười để đẩy nhân vật của mình vào đó và buộc họ hành động (đương nhiên - đây là phim hành động) đồng thời bộc lộ tính cách thật của mình. Đó là chủ đề chính của The Mission, ra đời cùng năm với Running Out of Time, tác phẩm nói về một băng sát thủ siêu hạng (do toàn diễn viên ruột của Đỗ thủ vai: Hoàng Thu Sinh, Lâm Tuyết, Ngô Chấn Vũ) lâm vào cảnh trớ trêu khi ông chủ ra lệnh họ phải hạ sát một thành viên trong nhóm. The Mission không chỉ đặc sắc về nội dung và cách xây dựng nhân vật đa diện, đây còn là tác phẩm đầu tiên được Đỗ Kỳ Phong chăm chút cho từng cảnh quay hành động sao cho tính thẩm mỹ của từng pha bắn giết được nhấn mạnh, các nhân vật của Đỗ cầm súng, bắn súng như thể họ đang ... múa, đẹp mắt, tinh giản và mang tính tượng hình rất cao. Sự thông minh của Đỗ Kỳ Phong đã giúp ông dần trở thành một Cổ Long của phim hành động Hồng Kông với đầy đủ tư cách để "một mình một chiếu" với các bộ phim hành động "trừu tượng", tinh tế, y hệt cái cách Cổ Long khiến người khác phải nhớ đến mình như một "Cổ Long" chứ không phải như một "tác giả đàn em của Kim Dung".

Kể từ cuối thập niên 1990 thì Đỗ Kỳ Phong đã thực sự trở thành trụ cột mới của làng phim giải trí Hồng Kông, ông làm phim rất nhanh, một số "không ra gì" nhưng vẫn có rất nhiều tác phẩm giá trị, đáng khâm phục là Đỗ thành công cả ở phim hài tình cảm (Needing You, Yesterday Once More), cả ở phim bi (Running on Karma) và thậm chí còn là bậc thầy mới của phim xã hội đen Hồng Kông với bộ đôi Election Election 2. Nhưng đam mê thật sự của Đỗ vẫn là phim hành động, PTU, Mad Detective, Exiled (phần tiếp theo của The Mission, và thành công không kém), đều chứng tỏ xu hướng của Đỗ là dần gọt bỏ những chi tiết theo kiểu truyền thống của phim hành động để trừu tượng hóa từ nội dung phim cho đến từng cảnh đấu súng trong phim. Có lẽ vì đã tạo dựng được vị thế của mình nên Đỗ Kỳ Phong mới dám mạo hiểm như vậy, vì cách làm phi truyền thống và phá vỡ kết cấu thông thường của phim hành động của ông chắc chắn sẽ làm phim mất nhiều fan hâm mộ phim hành động "tinh tuyền", lại một lần nữa ta thấy sự phản chiếu đối với Cổ Long, ai từng đọc Cổ Long hẳn sẽ thuộc hai thái cực riêng rẽ, một cực ghét và một cực thích cách hành văn cộc lốc, cách xây dựng nhân vật trừu tượng tới mức phi thực tế của Cổ Long. Càng về sau Đỗ Kỳ Phong càng dần bỏ qua cách xây dựng cốt truyện chặt chẽ của phim hành động truyền thống (anh hùng => bị ghen ghét => bị vùi dập => đường cùng => vượt qua => anh hùng), ông thường nới lỏng đường dây dẫn truyện (narrative), thay vào đó Đỗ chú trọng vào từng chi tiết nhỏ, gọt giũa sao cho chúng có vẻ ngoài mang tính thẩm mỹ cao nhất có thể, từng nhân vật cũng được đạo diễn trừu tượng hóa, họ không còn là những anh hùng bằng xương bằng thịt mà dần trở thành những David của Michelangelo - những nhân vật khiến người xem ấn tượng vì vẻ ngoài, cách cư xử đặc biệt của họ chứ không còn vì họ "là anh hùng" hay "giống thật". Có thể so sánh ngay Exiled với tiền thân của nó, The Mission. Exiled là đoạn tiếp theo của The Mission khi nhóm sát thủ tái hợp sau thời gian dài ly tán, họ ít cười, ít nói và mất dần đi cái vẻ gần gũi thời kỳ đầu (Hoàng Thu Sinh diễn rất đạt vai này) nhưng vẫn khiến người xem phải chăm chút nhìn cách họ vượt qua khỏi những tình huống ngặt nghèo bằng những pha đấu súng đẹp ... như tranh trừu tượng của Matisse. Đỗ Kỳ Phong hứng thú với cách làm phim này tới mức ông cho ra đời hẳn một bộ phim chỉ chuyên về những cảnh hành động đẹp mắt, đó là Sparrow, một bộ phim về trộm cắp đơn thuần (không có bắn giết) nhưng lại giúp Đỗ tận dụng được tối đa trí tưởng tượng của ông trong việc dàn dựng những pha "đấu trộm cắp".

Cách làm phim hành động ... kiểu nghệ thuật khiến Đỗ Kỳ Phong trở thành đạo diễn yêu thích của người Pháp, ông thường xuyên là khách quen của LHP Cannes dù phim hành động chưa bao giờ được coi trọng ở liên hoanthiên về phim nghệ thuật này. Người Pháp yêu thích Đỗ Kỳ Phong tới mức họ quyết định bỏ tiền để Đỗ làm phim theo ý thích, đó là Vengeance, bộ phim với sự góp mặt của hai ngôi sao người Pháp Johnny Hallyday và Sylvie Testud.

Vengeance kể về cuộc trả thù của François Costello (Johnny Hallyday) cho con gái (Sylvie Testud), người đã mất cả chồng, hai đứa con và trở thành bại liệt suốt đời vì ba kẻ sát thủ lạ mặt. Đỗ Kỳ Phong xây dựng nhân vật này là dựa theo nhân vật ngôi sao của Le Samouraï, tác phẩm hành động đã đưa Alain Delon lên hàng thần tượng của nước Pháp vào cuối thập niên 1960, đáng ra Delon mới là người được chọn vào vai Costello trong phim này nhưng chắc "lão ngôi sao" đã quá già và xuống sắc để vào một vai đòi hỏi thần khí của một "sát thủ" như Vengeance, kết quả là Hallyday-ngôi sao nhạc rock... vừa nghỉ hưu của Pháp được mời thế chỗ, thực tế thì Hallyday và Delon trông cũng khá giống nhau, tất nhiên Delon trông thanh lịch hơn còn Hallyday trông "ngầu" hơn. Giờ là thập niên 2000, 40 năm đã trôi qua và tất nhiên Costello không còn là Costello của Le Samouraï nữa, ông bị một viên đạn găm trong đầu xóa dần đi kí ức và để trả thù ông buộc phải dùng máy ảnh tự động chụp từng cảnh cần nhớ và sao đó ghi chú thêm phía dưới (tất nhiên đoạn này sẽ làm mọi người nghĩ ngay đến Memento của Chris Nolan, nhưng cách sử dụng yếu tố "mất trí nhớ" của Đỗ khác hơn nhiều). Một cách tình cờ Costello có được sự giúp đỡ của bộ ba tay sát thủ (... vẫn là nhóm sát thủ của The Mission, Exiled, có khác chăng là lần này chỉ có 3 người, do Hoàng Thu Sinh, Lâm Tuyết và Lâm Gia Đồng đóng) những người mà Costello quen khi ông chứng kiến bọn họ đang ... làm ăn (=giết người) ở phòng khách sạn bên cạnh. Và "nhóm bộ tứ" của The Mission, Exiled lại được tái lập khi Costello tiết lộ rằng bản thân ông cũng là một tay súng cừ. Đúng như "thương hiệu" của mình, nhóm sát thủ nhanh chóng tìm ra được những kẻ cừu thù của Costello và hạ sát chúng. Nhưng lại một lần nữa, nhóm rơi vào tình trạng dở khóc dở cười khi hóa ra đó chính là thuộc hạ của ông trùm (vẫn như mọi khi, do Nhậm Đạt Hoa thủ vai), và giết thuộc hạ đồng nghĩa với việc tuyên chiến với ông trùm hùng mạnh. Chưa dừng lại ở đó, chứng mất trí của Costello ngày càng nặng nề và ông khiến những người bạn sát thủ không biết nên cười hay nên khóc khi tuyên bố rằng ông chẳng còn nhớ chút gì về chuyện phải trả thù. Bốn người nay chỉ còn ba, họ sẽ đối mặt ra sao với ông trùm vốn có đám thuộc hạ đông đảo gấp bội? Và còn Costello, liệu cuộc đời của ông già này có còn ý nghĩa khi mà đến mục đích sống duy nhất của ông - trả thù, cũng đã tuột mất khỏi trí nhớ?

Bộ phim có tiêu đề là Vengeance - trả thù và đường dây dẫn dắt chính của phim cũng xoay quanh cuộc trả thù của Costello. Nhưng đúng với phong cách của mình, Đỗ Kỳ Phong không bám chặt vào cốt truyện này, thay vào đó ông tập trung sức sáng tạo, đặc biệt là những sáng tạo về mặt thị giác, cho từng đoạn riêng lẻ, vì thế nếu ai không quen xem phim của Đỗ có lẽ sẽ khó lòng thích sự lỏng lẻo của Vengeance. Nhưng nếu thích rồi thì vấn đề lại khác. Vengeance tập trung tất cả những gì tinh túy nhất trong kĩ thuật trừu tượng hóa phim hành động của Đỗ Kỳ Phong, đoạn nhóm sát thủ của Costello chờ đợi những kẻ cừu thù chia tay gia đình được Đỗ làm đẹp hệt như một trận quyết đấu trong truyện Cổ Long (như cái cách Tây Môn Súy Tuyết vẫn chờ đợi địch thủ), mà đấy chỉ là một trong số rất nhiều trường đoạn hành động đẹp của Vengeance, những ai đã yêu thích phim của Đỗ chắc chắn sẽ phải phấn khích khi liên tục được chứng kiến những pha chạy trốn trong mưa, bắn súng giữa trời đất rộng lớn với gió thổi, giấy báo bay tơi bời, hoảng loạn trong rừng ô (tương tự như Sparrow),... Có cảm giác Đỗ Kỳ Phong làm bộ phim này với mục đích tối thượng là thỏa mãn sức sáng tạo của mình trong việc phá cách phim hành động, và kết quả là những người hâm mộ của ông được hưởng lợi với một bộ phim đẹp, ấn tượng mà vẫn gợi được những triết lý cơ bản về tình bạn, tinh thần mã thượng và lòng trung thành (những chủ đề khán giả hay bắt gặp trong phim của Đỗ). Một bộ phim "tinh tuyền" của "Cổ Long phim hành động".

samedi 12 décembre 2009

District 9 (2009), The Blind Side (2009)


District 9 có thể nói là một tác phẩm mang tính đột phá trong dòng phim alien - người ngoài hành tinh xâm chiếm Trái Đất vốn tưởng như đã không còn gì mới để khai phá. Bộ phim làm mới cái chủ đề cũ rích này bằng một cách đơn giản - đặt ngược lại vấn đề: Mọi việc sẽ ra sao nếu chính những người ngoài hành tinh mới là tầng lớp hạ đẳng, bị loài người đàn áp, ức hiếp và khinh miệt? Đây là cách đặt ngược vấn đề quá sức thông minh vì nó vừa mới, lại vừa giúp đạo diễn tận dụng được trực tiếp những sự kiện lịch sử có thật về tệ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi để biến District 9 thực sự trở thành tấm gương phản chiếu xã hội thay vì hoặc động chạm một cách nửa mùa (hay tệ hơn nữa là quên bẵng đi nội dung mà chỉ tập trung vào kĩ xảo - The Transformers) như Terminator: Salvation hoặc dùng ẩn dụ quá sâu sắc khiến khán giả bình thường khó lòng hiểu hết ý nghĩa như Children of Men.

Bộ phim được mở đầu bằng một khúc khá dài (và khá mệt mỏi) để giới thiệu về nhân vật Wikus, một nhân viên phụ trách quản lý lũ "mọi" (prawn, "nigger" của người ngoài hành tinh) người ngoài hành tinh, và những sự kiện bất ngờ đã biến anh ta từ phía con người nay lại quay sang hàng lũ của lũ "mọi" với một tình cảm chân thành thực sự. Mặc dù đây là đoạn "vào đề" nhưng thực chất những sáng tạo về nội dung và cách làm phim của District 9 tập trung hầu hết ở đây, thông qua những đoạn phóng sự, trả lời phỏng vấn ngắn dạng mockumentary, bộ phim dần xây dựng nên một xã hội Nam Phi đặc sắc, vừa gần gũi vì quan hệ phân biệt chủng tộc người-"mọi" không khác gì quan hệ phân biệt chủng tộc da trắng-da đen trước kia, vừa lạ lùng đặc sắc vì lần đầu tiên trên màn ảnh người ta thấy những alien có bề ngoài sâu bộ gớm ghiếc nay không còn là nỗi sợ hãi của loài người, ngược lại còn trở thành cái bia để con người tống khứ tất cả những sai lầm của chính họ và những cách đối xử tàn bạo, phi nhân tính nhất. Do apartheid là thứ không hề gần gũi với khán giả quốc tế (bên ngoài Nam Phi người ta chỉ biết tới đơn giản apartheid = da trắng phân biệt chủng tộc với da đen chứ không biết "phân biệt chủng tộc" ở đây là như thế nào) nên phần "khởi động" này của phim theo tôi là hơi dài so với một tác phẩm giải trí vì (không còn cách nào khác) phải dài như vậy mới đủ giúp khán giả hình dung được bối cảnh của một xã hội kiểu apartheid là như thế nào.

Phần cuối của phim khiến tôi ngạc nhiên vì trình độ kĩ xảo ấn tượng so với con số đầu tư 30 triệu USD của phim, tuy không thể "mượt mà" như The Transformers nhưng District 9 lại sáng tạo và gần gũi hơn nhiều với những vũ khí, người máy theo kiểu manga Nhật Bản (Akira, Appleseed,...). Phần này cũng "sến" hơn rất nhiều so với phần mở đầu, đặc biệt là trong cách tận dụng hình ảnh "anh người ngoài hành tinh" ngơ ngác trước lũ người Trái Đất tàn bạo và nham hiểm. Bản thân cách xây dựng tương phản hình ảnh Wikus dễ mến, ngố ngố ở đầu phim và hình ảnh Wikus bẩn thỉu, dị hợm, đau đớn ở cuối cũng là một cách "sến hóa" khá lạ của dòng phim khoa học giả tưởng, thật may là ở District 9 này nó đem lại hiệu ứng tốt vì xem những trường đoạn đặc tả Wikus rõ ràng sẽ khiến người xem cảm động. Với sự lệch pha về nội dung như vậy, phần đầu và phần cuối của phim bị "vênh" khá lớn, tôi không muốn nói là phần nào "hay" hơn phần nào (cả hai phần đều có nét đặc sắc riêng), nhưng điều này đã khiến phim không được đồng nhất và vì thế District 9 mới chỉ dừng lại ở mức một phim giải trí hay chứ chưa thể trở thành "kim chỉ Nam" mới cho dòng phim alien.


Xem phim này xong có lẽ câu bình luận thích hợp nhất là: "Hollywood at its best!". Không giàu kịch tính hay sự bất ngờ (vì là phim tiểu sử), không có dàn diễn viên "sao" hoặc thực sự nổi về diễn xuất (có thể trông đợi gì từ Sandra Bullock và Tim McGraw?), không có phần thoại sâu sắc hay kĩ xảo độc đáo, nhưng The Blind Side vẫn ăn khách (một cách không hề rẻ tiền), vẫn cuốn hút người xem và khiến họ trầm trồ vì khả năng làm phim của các nhà điện ảnh Hollywood.

The Blind Side kể về câu chuyện của Michael Oher, một cậu thiếu niên da đen "khổng lồ" có thời thơ ấu bất hạnh nhưng đã vượt qua được cuộc sống khó khăn để trở thành một ngôi sao của làng bóng đá Mỹ (American football). Tất nhiên thành công không từ trên trời rơi xuống, nó có được một phần nhờ vào nghị lực của Oher và một phần rất lớn khác nhờ vào sự giúp đỡ, động viên từ mẹ nuôi của anh, Leigh Anne Tuohy. Nửa tiếng đầu của bộ phim được dành để khắc họa số phận cay đắng của cậu thiếu niên Michael và cuộc gặp gỡ tình cờ của bà Tuohy với Michael trong một đêm mưa lạnh. Đã lâu rồi tôi mới được xem 30 phút phim cảm động đến như vậy, tôi tin là nhiều chị em gái sẽ phải rơi nước mắt khi xem Michael to béo phải co ro trong đêm lạnh và nỗi cô đơn đến cùng cực, và chắc nhiều người cũng sẽ phải rơi nước mắt vì cách cư xử mạnh mẽ nhưng đầy tình thương và sự quan tâm của bà Tuohy - một phụ nữ da trắng có tất cả (một gia đình hạnh phúc, một công việc thành đạt, một ... chiếc BMW 7 series) với Michael - một cậu thiếu niên cả đời chưa bao giờ có nổi một cái giường cho riêng mình. The Blind Side thành công ở chỗ phim không hề "câu nước mắt" bằng việc nhấn mạnh vào chi tiết sướt mướt đậm chất mélo, bộ phim tiểu sử này chỉ kể lại sự việc bằng thứ ngôn ngữ điện ảnh giản dị với phần thoại không hề hoa mỹ và các nhân vật cũng giản dị không kém như cái chất giọng "nhà quê" bẹt bẹt miền Nam của họ. Chính sự giản dị đã tạo hiệu ứng tốt cho phim và khiến cho nửa tiếng đầu của The Blind Side thành công đến vậy.

Phần mở đầu xuất sắc làm tôi lo ngại rằng phim sẽ bị vênh nếu "khúc" còn lại được làm không tốt. Và quả thực là phần sau của phim không được tốt như phần mở đầu. Đạo diễn vì trung thành với tính chất phim tiểu sử nên đã hạn chế tối đa mọi sự kịch tính hóa không cần thiết (nhưng cũng làm giảm sự hấp dẫn của phim), chủ đề thể thao, một đặc điểm khác có thể tăng tính hấp dẫn cho phim, cũng không được tận dụng, The Blind Side thay vào đó chỉ tập trung khắc họa sự biến đuổi của Michael sau khi trở thành thành viên của nhà Tuohy và của bà Tuohy sau khi nhận nuôi dưỡng Michael. Dù sao phần này cũng không quá "kém" đến mức làm tôi thất vọng (tôi chưa bao giờ hy vọng rằng một feel-good movie có thể "đẻ" ra điều gì đột phá) vì nội dung nhẹ nhàng, dung dị của phim cũng đã đủ khiến tôi bất ngờ nếu so với cái cách làm phim "hở ra" là kịch tính hóa như Hollywood. Có lẽ Michael Oher và bà Tuohy ngoài đời cũng sẽ hài lòng vì The Blind Side khi hình ảnh của họ trong phim được khắc họa như những người hết sức bình thường chứ không phải như những nhân vật điện ảnh (phần générique cuối phim có hình ảnh thật của Michael và bà Tuohy, họ không khác nhiều so với mô tả trên phim), thành công này phải kể tới diễn xuất của Bullock, người thủ vai bà Tuohy, và Quinton Aaron, người thủ vai Michael. Vẻ ngoài hiền lành của Aaron khiến người xem lập tức có cảm tình với nhân vật Michael của anh trong khi Bullock trong một vai "nghiêm túc" hiếm hoi đã cho thấy cô hoàn toàn có khả năng không dùng những pha hài (nhảm) mà vẫn khẳng định được tính cách của nhân vật.

Nói một cách văn vẻ thì The Blind Side giúp khán giả thấy rằng ở đâu đó vẫn có những con người nhân hậu, còn nói một cách đơn giản thì The Blind Side là một bộ phim gia đình tuyệt vời cho mùa nghỉ lễ này.

 
Load Counter
microdermabrasion system