some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

dimanche 30 août 2020

Detroit (2017)


Trong lịch sử Hoa Kỳ, chiến thắng của phe Liên bang miền Bắc trước Liên minh chủ nô miền Nam trong Nội chiến Mỹ 1861-1865 thường được coi là một mốc son đánh dấu sự tan vỡ của những gông cùm nô lệ đã đè nặng lên những người Mỹ gốc Phi kể từ những ngày lập quốc. Tuy nhiên, cả thế kỷ sau ngày Tư lệnh quân đội miền Nam Robert E. Lee bỏ vũ khí đầu hàng, những người da màu tự do của nước Mỹ vẫn phải chịu vô số những khổ đau đến từ nạn phân biệt chủng tộc vốn chưa hề biến mất sau cuộc Nội chiến mà chỉ biến tướng thành những hình thức tinh vi hơn, tàn nhẫn hơn để siết chặt lấy cộng đồng người Mỹ gốc Phi từ thế hệ này sang thế hệ khác. Họ có thể là những người lính bán mạng ngoài chiến trường vì sứ mệnh “tự do” của nước Mỹ. Họ cũng có thể là những người thợ ngày ngày cần mẫn vặn từng con ốc, lắp từng khung cửa trong các phân xưởng lắp ráp của thủ phủ ô tô Detroit. Thậm chí họ cũng đã có chút danh tiếng nhờ giọng ca, ngón đàn vốn được các hãng ghi âm toàn-da-màu như Motown đưa đến mọi hang cùng ngõ hẻm của nước Mỹ. Nhưng phần lớn trong số họ vẫn phải sống trong các khu ổ chuột-chỉ-dành-cho-người-da-đen thiếu tiện nghi, thiếu an ninh, thiếu học hành vốn xuất hiện đầy rẫy ở các thành phố công nghiệp như Detroit trong bối cảnh người da trắng đã lùi ra các vùng ngoại vi giàu có để không phải sống cạnh những “người hàng xóm” bị họ coi là những người hạ đẳng. Giấc mơ con đè nát cuộc đời con, người Mỹ gốc Phi những năm giữa thế kỷ 20 chẳng có mấy cơ hội vươn lên đổi đời khi ngày ngày họ phải lo chuyện cơm áo gạo tiền trong cảnh nghèo túng, và tồi tệ hơn thế lại luôn phải chịu sự đàn áp cả về mặt thể xác và tinh thần của đội ngũ cảnh sát vốn đa phần da trắng và luôn thích đem dùi cui, súng ống, bạo lực để “nói chuyện”. Con giun xéo lắm cũng quằn, những năm 60 của thế kỷ trước cộng đồng người da màu Hoa Kỳ đã cất liên tiếng nói phản kháng mạnh mẽ với những cuộc tuần hành, biểu tình rầm rộ đòi quyền-được-làm-người diễn ra trên khắp nước Mỹ do các lãnh đạo tinh thần của người Mỹ gốc Phi như Mục sư Tin lành Martin Luther King hay tu sĩ Hồi giáo Malcolm X. Ngọn lửa căm hờn của người Mỹ gốc Phi cũng dẫn đến 159 cuộc bạo loạn ở các thành phố lớn trên khắp Hoa Kỳ chỉ trong năm 1967, trong đó đẫm máu nhất là cuộc bạo loạn nổ ra ở Detroit tháng 7 năm 1967 khi 43 người đã thiệt mạng, gần 1200 người bị thương, trên 7000 người bị bắt, và hơn 2000 toà nhà bị phá huỷ sau những cuộc đối đầu giữa người biểu tình da màu và lực lượng cảnh sát và thậm chí là vệ binh quốc gia và lính dù chính quy của quân đội Hoa Kỳ.

Cuộc bạo loạn ở Detroit năm 1967 và những bức bối, bất công của xã hội nước Mỹ chính là bối cảnh cho Detroit – tác phẩm được nữ đạo diễn từng giành giải Oscar Kathryn Bigelow thực hiện nhân dịp kỉ niệm 50 năm ngày diễn ra sự kiện đau buồn này. Bộ phim tái hiện lại một góc nhỏ - nhưng hết sức đẫm máu của cuộc bạo loạn năm 1967, đó là những sự kiện xảy ra ở Khách sạn Algiers trong đêm ngày 25 tháng 7 năm 1967 với sự dính líu của một số viên cảnh sát tai tiếng của thành phố Detroit, cũng như là nguồn gốc của nỗi đau chưa bao giờ dứt của rất nhiều người không may có mặt tại Algiers ngày hôm đó. Trong số những nhân chứng của sự kiện đau buồn ấy có Melvin Dismukes (John Boyega), một anh thợ đá da màu kiêm nghề nhân viên an ninh luôn tự tin vào khả năng thương thuyết, “hạ nhiệt” những ông chủ da trắng. Không đến nỗi phải ngày ngày lo nghĩ về miếng ăn và sự an toàn cho bản thân như Dismukes, Larry Reed (Algee Smith) lại được trời phú cho giọng hát trầm ấm của một nghệ sĩ da màu đích thực và chỉ còn cách hợp đồng thu âm với hãng Motown lừng danh có một bài hát với nhóm The Dramatics của anh và người bạn, người trợ lý Fred Temple (Jacob Latimore). Cứng tuổi hơn một chút so với Dismukes, Reed, hay Temple là Karl Greene (Anthony Mackie), một cựu binh trở về từ chiến trường Việt Nam đang phải lưu lại Algiers với hy vọng kiếm được việc làm ở thành phố công nghiệp hàng đầu của nước Mỹ này. Trái ngược với sự già dặn của Greene là nhóm bạn Carl Cooper (Jason Mitchell), Aubrey Pollard (Nathan Davis Jr), Michael Clark (Malcolm David Kelley) và Lee Forsythe (Peyton Alex Smith) và cả hai cô gái da trắng hiếm hoi giữa vô vàn khuôn mặt da màu ở Algiers là Julie Ann Hysell (Hannah Murray) và Karen Malloy (Kaitlyn Dever) – những người trẻ, rất trẻ vốn chỉ muốn tạm thoát khỏi khói lửa, bạo lực của bạo động và đàn áp bằng những điếu thuốc, những điệu nhạc jazz, hay những trò đùa vô thưởng vô phạt trong căn phòng áp mái của khách sạn Algier. Bất chấp việc cả thành phố Detroit đang chìm trong khói lửa, cướp bóc và vô số bạo lực, chẳng ai trong số những người có mặt ở Algiers buổi tối ngày hôm đó có thể ngờ rằng chỉ xuất phát từ một trò đùa như vậy của Carl mà họ sẽ phải chịu đựng một đêm dài trong hoả ngục của khủng bố và bạo lực đến từ những tay cảnh sát da trắng như Philip Krauss (Will Poulter), Ronald August (Jack Reynor), và Robert Paille (Ben O'Toole) – những kẻ mang danh bảo vệ công lý và sự bình an của người dân Detroit nhưng thực tế lại luôn tìm kiếm mọi cơ hội để trút cơn giận dữ, trút sự thèm khát được “trả hận” cho những “người da trắng” bằng đòn roi, thậm chí là sự chết chóc lên đầu những người da đen vô tội.

 

Detroit là một tác phẩm không hề dễ thực hiện bởi bộ phim động chạm tới một giai đoạn hết sức biến động của lịch sử nước Mỹ trong thập niên 1960, lại nói về một câu truyện, một sự kiện thực ra chưa từng có được một câu trả lời hoàn toàn xác đáng đến từ công lý, hay đến từ những người tham gia sự kiện đó. Lời giải thích nào mới là sự thật cho những bi kịch xảy ra trong đêm ngày 25 tháng 7 năm 1967 tại khách sạn Algiers? Ai là người phải chịu trách nhiệm cho bi kịch ấy? Tại sao bi kịch lại xảy ra với Reed, với Greene, với Fred, với Carl, với cả những người da đen khác ở Algiers, ở Detroit, ở trên khắp nước Mỹ? Để giải quyết bài toán phức tạp với rất nhiều câu hỏi, nhiều biến số ấy, nữ đạo diễn Kathryn Bigelow và nhà biên kịch của bà Mark Boal đã sử dụng một kịch bản hết sức linh hoạt, sử dụng một phần dẫn truyện mang tính chuyện kể lịch sử và mở đầu với rất nhiều đại cảnh, kèm theo những cảnh quay, những bức ảnh ghi lại cuộc bạo động năm 1967 để biến Detroit phần nào đó trở thành một bộ phim bán-tài-liệu ghi lại không khí thực sự của thành phố ô tô của nước Mỹ. Nhưng ngay sau phần mở đầu mang tính tạo dựng tiền đề, tạo dựng không khí và chuẩn bị tinh thần cho khán giả - kể cả những người chưa từng đọc, từng nghe về sự bất công truyền đời của số phận những người da màu sống trên đất Mỹ để họ có thể hiểu hơn những bối cảnh của đêm bi kịch tại Algier, Bigelow lập tức thu hẹp bối cảnh của Detroit nhưng đồng thời cũng tăng dần mức độ bạo liệt, nhịp độ căng thẳng của bộ phim để người xem có thể phần nào đó trải nghiệm cảm giác ở trong hoả ngục của những nạn nhân trong buổi tối định mệnh ấy. Cảm giác ngột thở với những thước phim đầy rẫy máu, đẫy rẫy bạo lực và luôn căng như dây đàn không phải là điều xa lạ đối với những khán giả từng yêu thích các bộ phim hành động, chiến tranh của nữ đạo diễn đã cận kề tuổi 70 Kathryn Bigelow như Point Break (1991), K-19: The Widowmaker (2002), Zero Dark Thirty (2012) và đặc biệt là bộ phim về những tay phá bom trong chiến tranh Iraq The Hurt Locker (2008) – tác phẩm giúp Bigelow trở thành nữ đạo diễn đầu tiên và cho đến nay vẫn là duy nhất giành được giải thưởng Oscar cho đạo diễn xuất sắc nhất. Nhưng Detroit không chỉ dừng lại ở việc mô tả sự lạnh lẽo, vô nhân tính của các hành động bạo lực, hay cảm giác nhỏ bé, mỏng manh của con người khi phải đứng trên ranh giới giữa sự sống và cái chết, bạo lực và kịch tính cao độ trong bộ phim chỉ là chất liệu, là cái cớ để Bigelow dần dần gợi mở cho khán giả lý do vì sao dù cả thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày Robert E. Lee phải đầu hàng trong Nội chiến Mỹ, dù người da màu đã dành được vô số thành tựu, đã đóng góp biết bao mồ hôi xương máu cho sự thịnh vượng của nước Mỹ, họ vẫn chỉ là những công dân hạng hai, những nạn nhân truyền đời, truyền kiếp cho nạn phân biệt chủng tộc của người Mỹ da trắng, của một nền công lý chưa bao giờ đứng về phía họ, của giới cảnh sát thừa quyền lực, thừa vũ khí nhưng thiếu tình người, thiếu sự thấu hiểu.

 

Thật khó có thể nói Detroit là một tác phẩm hoàn hảo. Phần diễn xuất trong phim không thực sự để lại nhiều ấn tượng dù bộ phim có sự xuất hiện của một số gương mặt tiềm năng như John Boyega – Finn của loạt phim Star Wars, Jason Mitchell - Eazy-E trong Straight Outta Compton (2015), hay Anthony Mackie – siêu anh hùng Falcon trong loạt phim siêu anh hùng của Marvel. Cách mô tả hình ảnh những người da đen luôn ở vào thế bị động, yếm thế xuyên suốt bộ phim cũng khiến Detroit vấp phải những chỉ trích về việc liệu nữ đạo diễn da trắng Bigelow có thực sự mô tả đúng những gì đã xảy ra ở Detroit năm 1967. Những điểm yếu này của Detroit, cùng chủ đề khá nặng nề và không thực sự được nhiều người biết đến của bộ phim đã khiến tác phẩm mới nhất này của Kathryn Bigelow chìm nghỉm sau khi công chiếu trước sự cạnh tranh của những tác phẩm siêu anh hùng, hay thậm chí là những bộ phim cũng nói về nạn phân biệt chủng tộc tại nước Mỹ nhưng khắc hoạ người da đen một cách chủ động, hào sảng như The Help (2011), Selma (2014), Straight Outta Compton hay gần đây nhất là bộ phim giành giải Oscar cho phim hay nhất Moonlight (2016). Có lẽ gần gũi hơn cả với Detroit là bộ phim về số phận bi thảm của những người nô lệ da đen trong buổi đầu lập nước của Hoa Kỳ 12 Years a Slave (2013) – một tác phẩm khác cũng từng được trao giải Oscar cho phim hay nhất. Nhưng khác với tác phẩm của đạo diễn da màu người Anh Steve McQueen vốn cực kì thành công cả ở phòng vé và tại các giải thưởng lớn, Detroit ra mắt công chiếu và chẳng để lại nhiều tiếng vang, bất chấp việc tác phẩm này ra đời trong không khí chính trị ngày một sục sôi của nước Mỹ ở vào thời điểm giao thời giữa chính quyền của tổng thống Barrack Obama – người da đen đầu tiên trở thành lãnh đạo nước Mỹ và Donald Trump – người bị báo chí, các nhà hoạt động cánh tả, và thậm chí là nhiều ngôi sao điện ảnh Hollywood cáo buộc là đã dung túng cho chủ nghĩa phân biệt chủng tộc trỗi dậy trở lại ở Hoa Kỳ. Đây quả thực là một điều hết sức đáng tiếc, bởi rất hiếm có một tác phẩm khắc hoạ một cách trực diện, rõ ràng, và chi tiết nguồn gốc, chân tướng, cũng như hậu quả của nạn phân biệt chủng tộc, đặc biệt là của giới cảnh sát Hoa Kỳ đối với người da màu sống ở xứ sở cờ hoa này. Có thể nói không ngoa rằng chỉ cần xem Detroit, khán giả sẽ có thể phần nào hiểu được tại sao những bi kịch như đêm kinh hoàng ở Algiers vẫn cứ lặp lại với người Mỹ gốc Phi một trăm năm, một trăm năm mươi năm và có lẽ còn nhiều năm sau nữa kể từ thời điểm kết thúc Nội chiến Hoa Kỳ.

 

Cuộc bạo động ở Detroit năm 1967 được coi là đỉnh điểm của Mùa hè nóng bỏng năm 1967 trong lịch sử nước Mỹ khi tổng thống Lyndon B. Johnson – người được coi là có những đóng góp đáng kể giải quyết tình trạng bất bình đẳng ở Hoa Kỳ nhờ chính sách “Great Society” - phải đối mặt với vô số cuộc biểu tình, bãi công, bạo động đòi bình quyền cho người da màu. Hơn nửa thế kỷ sau Mùa hè nóng bỏng ấy, những ngày đầu hè năm 2020 nước Mỹ lại chứng kiến vô số những cuộc biểu tình và cả bạo động đòi lại công bằng, đòi lại công lý cho những người da đen như George Floyd – những người đã phải bỏ mạng bởi nhiều lý do khác nhau dưới bàn tay của cảnh sát Mỹ. Nhiều người đã chỉ trích rằng chính những phát ngôn, và hành xử của tổng thống đương nhiệm Donald Trump đã tạo điều kiện để những bi kịch như cái chết của Floyd xảy ra ở nước Mỹ. Nhưng cũng có lập luận nói rằng kể cả dưới thời tổng thống da màu Obama, thì Hoa Kỳ cũng vẫn phải chứng kiến những bi kịch như thế - những bi kịch đã dẫn đến các cuộc bạo loạn ở Ferguson năm 2014, ở Baltimore năm 2015, hay cuộc thảm sát cảnh sát ở Dallas dưới họng súng bắn tỉa của Micah Xavier Johnson năm 2016. Trước đó nữa là cuộc bạo loạn khiến hàng chục người chết và khiến chính quyền phải cậy nhờ tới sự can thiệp của quân đội Mỹ tại Los Angeles năm 1992. Và xa hơn nữa là chính cuộc bạo động ở Detroit năm 1967 – một sự kiện mà quân đội Mỹ cũng phải góp mặt để ổn định tình hình. Vậy lý do là ở đâu? Vậy cảnh sát hay những người tham gia bạo loạn là người có lý? Đó là câu hỏi chưa ai có thể đưa ra một lời giải thích thực sự thoả đáng, nhưng là câu hỏi Kathryn Bigelow đã thực sự dũng cảm tìm cách trả lời thông qua đứa con nghệ thuật đầy bạo liệt Detroit bất chấp việc bà nhẽ ra có thể nghỉ hưu, hoặc lựa chọn những bộ phim siêu anh hùng nhẹ nhàng, nhiều màu sắc, giàu lạc quan hơn để đạo diễn. Đen tối, nhuốm màu bi kịch, chẳng ánh lên chất lạc quan hào sảng, Detroit có lẽ là một tác phẩm không hề dễ xem với những khán giả muốn tìm thấy cho mình sự giải trí, sảng khoái ở rạp chiếu phim. Nhưng với bất cứ ai muốn hiểu hơn về những ung nhọt của nạn phân biệt chủng tộc vẫn còn hiển hiện ở nước Mỹ, muốn cảm nhận được lý do tại sao các cuộc biểu tình đòi bình quyền đã và vẫn sẽ diễn ra dù cho ai là tổng thống của nước Mỹ, muốn tìm cho mình lời giải thích thoả đáng cho việc người da màu phải dùng tới bạo lực để nói lên tiếng nói phản kháng trong một xã hội vốn luôn đề cao chủ nghĩa dân chủ-phi-bạo-lực như của Hoa Kỳ, thì Detroit là tác phẩm xuất sắc để thưởng thức. Thật tiếc là Detroit đã không có được sự chú ý bộ phim này xứng đáng được hưởng khi ra mắt, nhưng hy vọng rằng với giá trị nhập thế, với sự nhức nhối về một tiếng nói lương tri cho số phận những người da đen trong lòng xã hội nước Mỹ, bộ phim của đạo diễn Kathryn Bigelow này sẽ còn được người xem nhớ tới, nhắc tới như một tác phẩm xuất sắc về nạn phân biệt chủng tộc ở Hoa Kỳ.


==============


Bài đã biên tập trên Zing.

Da 5 Bloods

 


Tuy chỉ chiếm 10% dân số Hoa Kỳ trong những năm 60 của thế kỷ trước, nhưng có tới gần 40% trong số binh sĩ Mỹ tham chiến tại Việt Nam. Năm người trong số đó – năm người bạn thân nhau như anh em Paul (Delroy Lindo), Otis (Clarke Peters), Eddie (Norm Lewis), Melvin (Isiah Whitlock Jr.), và Norman "Stormin' Norm" Holloway (Chadwick Boseman) đã kề vai sát cánh trong những mặt trận khốc liệt nhất của quân Mỹ như tại Chiến dịch Junction City và nhiều trận đánh khác nằm sâu trong các cánh rừng nhiệt đới của miền Nam Việt Nam. Trong một chiến dịch giải cứu một chiếc máy bay chở hàng bí mật của CIA viện trợ cho những nhóm người thiểu số chống Cộng bị rơi giữa vùng rừng núi miền Nam, chiếc trực thăng trở năm chiến hữu thân nhau như máu thịt bị quân giải phóng bắn hạ. Giữa làn mưa đạn của đối thủ gan dạ và khôn ngoan, Norm và bốn người anh em phát hiện ra món hàng bí mật của CIA – một thùng thiếc chứa đầy vàng khối. Quyết định giữ lại số vàng để chia sẻ cho những người thân, những người bạn cùng màu da đang bị áp bức nơi quê nhà, năm người bạn quyết định chôn giấu số vàng tại nơi máy bay rơi và tìm đường thoát về căn cứ rồi chờ cơ hội quay trở lại thu lại số của cải “lẽ ra phải thuộc về họ”. Paul, Otis, Eddie, và Melvin cuối cùng cũng trở về quê hương nguyên vẹn về mặt thể xác dù tồn thương nặng nề về tinh thần, nhưng Norm – tay súng thiện nghệ nhất và cũng là thủ lĩnh tinh thần của nhóm mãi mãi nằm lại giữa núi đồi của đất nước châu Á xa lạ.

 

Cả nửa thế kỷ sau ngày trở về Hoa Kỳ trong nỗi tủi nhục của những kẻ thất trận và cầm súng giết người trong một cuộc chiến vô nghĩa của nước Mỹ, bốn mẩu còn lại của năm người anh em mới có cơ hội bay sang Việt Nam để tìm lại hài cốt của Norm, và quan trọng hơn là lấy bằng được số vàng trị giá hàng chục triệu đô la đang nằm đâu đó dưới đất đá miền Nam Việt Nam. Không chỉ già nua, yếu đuối hơn, nửa thế kỷ cũng đã biến bốn người bạn thân năm xưa trở thành những số phận hết sức khác nhau. Người có vẻ giàu có nhờ việc buôn bán ô tô và vì thế có tâm thế thảnh thơi, hào phóng như Eddie, người lại có cuộc sống chẳng mấy dễ dàng và luôn bị ám ảnh bởi những bi kịch năm xưa như Paul, và cũng có người thì dù sau bao năm xa cách vẫn nhớ về người phụ nữ Việt tên Tiên (Lê Y Lan) năm nào như Otis. Nhưng hai mục đích chung – hài cốt của Norm và số vàng của CIA đã là quá đủ để tiếp cho họ sức mạnh, kéo họ lại gần nhau trong cuộc hành trình tìm lại quá khứ. Với sự giúp đỡ của anh chàng giáo viên David (Jonathan Majors) – con trai của Paul, người hướng dẫn viên tên Vinh (Johnny Trí Nguyễn), và cả tay cò mồi người Pháp (Desroche), những người đồng đội cũ dần tiến đến gần với cái đích họ mong muốn. Nhưng cuộc bộ hành vất vả trong các cánh rừng nguyên sơ, cùng những bất ngờ chẳng ai có thể ngờ tới đã khiến những người lính năm xưa nhận ra rằng họ chưa bao giờ có thể gột bỏ hoàn toàn di chứng của chiến tranh, di chứng của tệ áp bức – phân biệt chủng tộc mà họ từng chịu đựng, mà cha ông họ đã từng phải chịu đựng.

 

Da 5 Bloods là bộ phim mới nhất của đạo diễn người Mỹ gốc Phi Spike Lee – người mới đánh dấu sự trở lại trong phong độ làm phim với BlacKkKlansman (2018). Đây cũng là bộ phim đầu tiên Spike Lee làm cho Netflix – hãng chiếu phim trực tuyến đang bỏ rất nhiều tiền của cho các đạo diễn hàng đầu như Martin Scorsese (với The Irishman) hay anh em nhà Coen (với The Ballad of Buster Scruggs) làm các tác phẩm điện ảnh hoành tráng, có chất lượng cao chỉ để chiếu trên kênh phim trực tuyến của Netflix và qua đó nhằm nâng tầm cho hình thức phát hành vẫn còn vấp phải sự phản đối từ giới làm phim truyền thống này. Một ưu thế lớn của các bộ phim được Netflix trình chiếu trực tuyến là các đạo diễn có phong cách rất riêng như Scorsese hay Spike Lee thường được trao gần như toàn quyền về nội dung kịch bản và thời lượng phim – hai yếu tố luôn được nhấc lên đặt xuống trong các bộ phim chiếu rạp truyền thống. Chẳng thế mà The Irishman dài tới 209 phút trong khi Da 5 Bloods tuy “ngắn hơn” nhưng cũng có thời lượng lên tới 155 phút – vượt xa BlacKkKlansman (135 phút) hay các tác phẩm xuất sắc trước đó của Spike Lee như Inside Man (2006, 129 phút), 25th Hour (2002, 135 phút), hay Do the Right Thing (1989, 120 phút). Nhưng dài hơn không có nghĩa là tốt hơn, bởi khi xem Da 5 Bloods người xem sẽ thấy một tác phẩm có phần kịch bản tương đối lê thê ở nửa đầu phim với các phân đoạn chậm rãi không thực sự có tính kết nối hay ý nghĩa với phần kết bùng nổ của phim. Một phần lý do cho việc Da 5 Bloods rất dài có lẽ là vì Spike Lee muốn đưa rất nhiều chi tiết, chủ đề, thông điệp vào nội dung phim – từ tính chất phi nghĩa của sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam, cho tới nỗi đau kéo dài của người da màu tại Hoa Kỳ bởi nạn phân biệt chủng tộc vốn chưa bao giờ bị dập tắt, hay các căng thẳng, xung đột về mặt chính trị giữa chính những người Mỹ với nhau sau khi Donald Trump trúng cử tổng thống Hoa Kỳ, và thậm chí là cả những chi tiết về nạn lạm dụng thuốc giảm đau đang cướp đi sinh mạng của rất nhiều người Mỹ. Quá nhiều chủ đề, quá nhiều chi tiết khiến người xem khó lòng có thể xếp thể loại cho Da 5 Bloods, bởi bộ phim có rất nhiều bi kịch, máu, và nước mắt, nhưng cũng lại có những phân đoạn thuần tuý mang tính hành động, một vài cảnh quay nửa tình cảm nửa sướt mướt, và cả những chi tiết có vẻ hài hước không mấy ăn nhập với nhịp điệu chung của phim. Có thể Spike Lee có ý đồ riêng của ông khi cùng với Kevin Willmott (đồng tác giả kịch bản BlacKkKlansman với Lee) viết lại kịch bản gốc của Danny Bilson và Paul De Meo sáng tác từ năm 2013 và dồn tất cả những nội dung kể trên vào 155 phút của Da 5 Bloods, nhưng với khán giả đã từng yêu thích các bộ phim hài châm biếm hay hành động, tâm lý tinh tuyền của ông, thì một tác phẩm với thời lượng ngắn hơn, nhưng tập trung hơn, rõ thông điệp hơn có lẽ cũng không phải là một lựa chọn tồi.

 

Một điểm đáng tiếc khác cho kịch bản dài nhưng thiếu trọng tâm của Da 5 Bloods đó là việc thông điệp chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, về giá trị, phẩm giá của những người da màu ở Mỹ - vốn đang là thông điệp chủ đạo của phong trào Black Lives Matter đang sôi nổi ở Mỹ đã phần nào đó bị pha loãng bởi vô số những nội dung không kém phần quan trọng và ý nghĩa khác được nhắc đến trong phim. Rõ ràng Spike Lee không thể bắt khán giả nhập tâm nội dung chính trị mang hơi thở thời đại này của Da 5 Bloods – vốn được nhấn rất mạnh ở phần cuối của phim khi mà xen kẽ giữa các cảnh phim là rất nhiều thước phim tài liệu gây sốc nhắc đến tội ác của lính Mỹ ở Việt Nam, nhắc đến sự tàn khốc của cuộc chiến đã khiến hơn hai triệu người Việt Nam phải bỏ mạng. Phân tâm giữa một bên là tiếng nhạc réo rắt từ bài ca What´s Going On của Marvin Gaye và một bên là chất giọng truyền cảm của phát thanh viên huyền thoại Hanoi Hannah (Ngô Thanh Vân) hay những lời tâm sự bâng quơ về sự vô nghĩa của chiến tranh của Vinh, có lẽ không người xem nào lại không thắc mắc rằng cuối cùng Da 5 Bloods là một tác phẩm phản chiến, chống phân biệt chủng tộc, hay đơn giản là cuộc du hành vào địa ngục của những tâm hồn bị tổn thương vì quá khứ và kích động bởi lòng tham luôn có trong sâu thẳm mỗi con người. Kịch bản thiếu trọng tâm cũng khiến việc xây dựng các nhân vật trong phim bị ảnh hưởng khi mà kể cả những nhân vật chiếm thời lượng lớn trên khung hình như Paul, như David cũng không thực sự để lại nhiều ấn tượng hay giúp khán giả thấu hiểu hơn về nguồn cội tâm hồn của họ, trong khi những nhân vật hoàn toàn có cơ sở để khai thác nhiều hơn như Otis, như Eddie, như Melvin lại không có được đất diễn cần thiết, có được câu truyện cần thiết để ghi dấu ấn trong lòng khán giả.


Vốn luôn giữ phong cách làm phim độc lập cho dù đã thành danh, Spike Lee thường không tham gia đạo diễn các bộ phim bom tấn, hay sử dụng quá nhiều ngôi sao điện ảnh cho các tác phẩm của mình. Tuy là tác phẩm tốn kém bậc nhất trong sự nghiệp Da 5 Bloods của Lee cũng chỉ tiêu tốn của Netflix chưa đầy 50 triệu đô la Mỹ, và hoàn toàn vắng bóng các tên tuổi hạng A của Hollywood ngoại trừ Chadwick Boseman trong một vai trọng tâm nhưng không chiếm quá nhiều thời lượng lên hình. Nhưng khác với BlacKkKlansman – nơi các gương mặt mới như John David Washington và Adam Driver thực sự toả sáng, các diễn viên trong Da 5 Bloods chỉ đem lại cho khán giả không nhiều những giờ phút đáng nhớ về chất lượng diễn xuất, đặc biệt là trong những trường đoạn cao trào, bạo liệt của phim. Việc Spike Lee đưa vào Da 5 Bloods rất nhiều cảnh quay phản chiếu hay gợi nhớ tác phẩm kinh điển Apocalypse Now (1979) của Francis Ford Coppola – một tác phẩm cũng nói về tác động tàn khốc của chiến tranh Việt Nam lên lương tri, nhân cách của con người lại chỉ càng làm bật lên chất lượng không quá đặc biệt về mặt diễn xuất của Da 5 Bloods bởi Delroy Lindo trong vai Paul dù cố gắng rất nhiều vẫn không gây ấn tượng lớn đối với khán giả chứ đừng nói đến việc so sánh với hình ảnh huyền thoại Thượng tá Kurtz do Marlon Brando hoá thân trong Apocalypse Now. Phần hình ảnh của phim – một trong số hiếm các bộ phim về chiến tranh Việt Nam của Hollywood làm trực tiếp tại Việt Nam qua các góc máy của Newton Thomas Sigel – nhà quay phim quen thuộc trong các tác phẩm của Bryan Singer dường như cũng không tận dụng được ưu thế bối cảnh này bởi cảnh núi non, rừng rậm trong phim cho thấy rõ kinh phí chỉ ở mức trung bình của phim và chẳng mấy khác biệt so với các tác phẩm được quay ở Thái Lan hay Philippines.  

 

Phải khẳng định rằng Da 5 Bloods không phải là một tác phẩm tồi. Spike Lee và hãng Netflix vẫn đem tới cho khán giả một tác phẩm tương đối xuất sắc về tình bạn, về ảnh hưởng của chiến tranh, của nạn phân biệt chủng tộc lên số phận những người Mỹ gốc Phi. Tuy nhiên, ra đời trong thời điểm nước Mỹ đang chứng kiến phong trào đòi bình quyền cho người Mỹ gốc Phi đang dâng cao hơn bao giờ hết trong vài thập niên gần đây, và đến từ một đạo diễn vốn nổi tiếng là lá cờ đầu cho phong trào này tại Hollywood như Spike Lee, có lẽ khán giả đã mong đợi một tác phẩm cô đọng, có trọng tâm, và tạo âm hưởng mãnh liệt hơn thế. Chất lượng của Da 5 Bloods một lần nữa chứng tỏ rằng để có được một tác phẩm thực sự đi vào lòng khán giả, thực sự để lại dấu ấn trong bối cảnh, trong hơi thở của thời đại chưa bao giờ là điều dễ dàng kể cả với những tên tuổi lớn như Spike Lee.