some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

Affichage des articles dont le libellé est teen. Afficher tous les articles
Affichage des articles dont le libellé est teen. Afficher tous les articles

vendredi 16 décembre 2022

Kfc (2016)


Kfc is the debut feature of Lê Bình Giang - a young filmmaker who had to overcome many challenges, some due to the unique characteristics of this very film, in his way to bring this initially a graduate project to the audience. Called after the famous fried chicken brand that were among the first American fast-food companies, if not the first, able to break into the Vietnamese market after the normalization of bilateral relationships between the once bitter enemies Vietnam and the United States, this film does contain numerous images and plot points related to KFC - the food. But if someone expects a nice and cosy culinary cinema experience, they are in for a treat, a nightmarish treat that is. As this ultraviolet film is anything but nice and cosy. Instead, Bình Giang's debut is a revenge tale full of stomach - turning visuals and characters who made this purely - fiction environment a very hard world to live in and to believe in. Somehow the upfront and central role of violence, extreme and savagery violence, in this film reminds me of the 1992 mockumentary Man Bites Dog and also one of the most extreme action films of Hong Kong cinema since the turn of the new century Dog Bite Dog (2006). But more than just a replica of the past films or a collage of homages and borrow items of the action and crime genres, Kfc surprises the audience with a very clever non linear plot that requires them to give their utmost attention to each "misplaced" sequence of the film if they really want to figure out what really is going on in this hellish world, with these devilish characters. Of course, such concentration is not at all an easy feat since every single sequence of this film contains many unconventional and upsetting details, but if anyone with determination to stay through the one - hour length of the film and able to stitch together a somewhat comprehensible storyline for Kfc, they would surely appreciate the very distinctive characters and world-building carefully crafted by Lê Bình Giang, his crew, and the passionate cast. Judging by the creative script alone, Kfc could already be considered a commendable debut by a promising director. But when adding the consideration about the rather-conservative and traditional taste of the Vietnamese public and the fact that overtly violent domestic films would hardly be able to find their way to the big screens here, one should give Lê Bình Giang a big applause for his creativity and audacity. Of course, the violence in this film would understandably turn some viewers away, or be considered by others violent just for the sake of it like many slashers b-films churning out every year "straight to DVD". But for more open-minded viewers or ones already accustomed to stylistic slasher films and the nightmarish manga of Junji Ito and thus could stomach the incessant flow of imaginary violence and cannibalism in this film, Kfc could actual be a breath of fresh air of the indie genre that reflects the director's very unique view of violence itself, of lives and deaths, of the hardships one might encounter at the bottom of the modern society, and of the hard-to-imagine but actually very probable cruelty a human can inflict upon another for the sake of survival or revenge. Even without such a second layer of thought, the very creative nonlinear narrative of this film, which could make fans of Christopher Nolan think of his excellent second feature Memento (2000), is more than enough to make Kfc a memorable watching experience and a very impressive "Hello World" for Lê Bình Giang to filmgoers who expect new, and unique things coming to the cinema.

====

This commissioned piece has been published somewhere.

mercredi 23 février 2022

Licorice Pizza (2021)


Hiếm khi trong vòng có mấy tháng mà được xem liền hai phim cảm động như mấy tháng gần đây. Đó là Drive My Car - có lẽ là phim đầu tiên làm được "ra chất" Haruki Murakami mà tôi từng được xem, và bây giờ là Licorice Pizza. Tôi hâm mộ Paul Thomas Anderson (PTA) đã từ rất lâu, từ thời Magnolia còn được chiếu đi chiếu lại tới vài lần trên sóng VTV, và sau đó là xem Boogie Nights mượn từ thư viện rất lớn của cái thành phố rất nhỏ nơi tôi coi là chỗ trú chân yêu quý nhất trong những năm ở Pháp. Ngoại trừ Hard Eight (tôi vẫn chưa có cơ hội xem) và Punch-Drunk Love (tôi không quá thích phim này, không rõ vì phim không gây ấn tượng với tôi hay vì tôi thực sự không đánh giá cao Adam Sandler và đến giờ vẫn nghĩ anh này đóng phim này ổn nhưng với một diễn viên có năng lực hơn, chắc chắn vai sẽ còn hay hơn nhiều), các phim sau này của PTA tôi đều cố gắng tìm xem ngay sau khi phim ra mắt, There Will Be Blood, The Master, Inherent Vice, và Phantom Thread. Nhìn chung các bộ phim này xem vẫn thích, bởi PTA làm phim rất chuẩn chỉnh, luôn có dấu ấn riêng trong từng câu thoại và nhân vật (cũng là dễ hiểu bởi PTA luôn tự viết kịch bản, tự sản xuất, và gần đây còn tự quay luôn), phim xem luôn có cảm giác rất chắc tay bởi PTA luôn biết rõ mình muốn gì, truyền tải gì đến khán giả, điều chỉnh nhịp độ phim và số phận nhân vật một cách tự nhiên không chút gượng gạo. Nhưng cảm giác ấm áp, xúc động như thời xem Magnolia hay Boogie Nights không còn, có lẽ vì các phim sau này của PTA bạo liệt quá, thiếu tình người quá. Các nhân vật của PTA luôn dị, nhưng giai đoạn sau có cảm giác PTA đẩy độ dị, độ quái trong nhân vật của ông lên mức cực đoan, vì vậy khán giả không còn cảm thấy sự gần gũi, "liên hệ được" với các nhân vật này như các nhân vật dù rất quái, xấu xí có, đẹp đẽ có, nhưng luôn có cảm giác là những "con người thật". Thật may Licorice Pizza đã đem lại cảm giác gần gũi, nhẹ nhàng năm xưa đến cho người yêu phim PTA lâu năm như tôi. Hai nhân vật chính của phim (và cả dàn nhân vật phụ) dù chẳng ai là hoàn hảo, thậm chí phần xấu xí đôi khi còn lấn át. Các bạn reddit khen nức nở phim này vì tạo hình nhân vật rất gần gũi, không hề long lanh giả tạo "đẹp quá mức bình thường/cần thiết" như đa phần phim Hollywood - nhưng theo tôi là suy nghĩ, tính cách của các nhân vật này mới là điều đáng trân trọng ở tài viết kịch bản và đạo diễn của PTA bởi không một ai trong số các nhân vật này có cảm giác "kịch" dù phim có cốt truyện chứa đựng nhiều phân đoạn "rất kịch (tính)". Phần đầu của phim - khi hai nhân vật này bắt đầu "tán tỉnh" nhau xem thực sự rất hay và cảm động, cảm động theo kiểu được chứng kiến một tình yêu chớm nở giữa hai tâm hồn (có vẻ) ngây thơ theo cái cách tự nhiên nhất, vui buồn đủ cả. Sau vô số những bộ phim nặng nề, lên gân của Hollywood những năm "woke era/cancel culture" và giữa hai năm có lẽ là bi thảm nhất của thế giới vì đại dịch, vì chiến tranh, vì nguy cơ chiến tranh (tôi xem phim này vừa đúng ngày Putin ra quyết định công nhận Luhansk và Donetsk), sự tươi mới, nhẹ nhàng, chân thành của phần đầu Licorice Pizza quả thực là thứ rất rất quý giá như một liều thuốc làm dịu tinh thần và tâm hồn hữu ích. Phần sau của phim tuy không "vui" bằng nhưng lại là nơi để khán giả được chứng kiến tài năng của PTA trong việc đưa đẩy nhịp phim lúc nhanh, lúc chậm bằng những câu truyện tưởng như chẳng có gì liên quan - thậm chí là khiến khán giả khó ở vì họ chẳng thể đoán nổi hai nhân vật chính của phim người nào "tốt", người nào "xấu, người nào "đúng", người nào "sai" như những bộ phim "thông thường" khác nhưng thực tế là hết sức cần thiết để khán giả thấy được biến đổi tâm lý của một câu nhóc 15, 16 tuổi vừa muốn cưa đổ "người trong mộng" vừa muốn thể hiện bản chất cứng đầu "ta là một, là riêng, là tất cả" của cái tuổi mới vừa xong dậy thì, và của một cô gái chẳng rõ 25, 28, hay 20 tuổi chẳng rõ mình muốn tương lai là gì, muốn điều gì ở người mình yêu, và có thể làm gì để thể hiện tình yêu của mình. Phim của PTA thường có những đoạn hài hước (chủ yếu để làm rõ cái "dị" của các nhân vật trong phim) nhưng xem thấy vui, thấy thư thái như Licorice Pizza thì có lẽ chẳng có phim nào, may ra phần nào thì là Boogie Nights - một tác phẩm thực tế là phim bi (như đã nói ở trên, tôi không thực sự ấn tượng với Punch-Drunk Love). Phim xem vui, nhưng cũng cảm động vì sự chân thành trong tình cảm và suy nghĩ của cặp đôi nhân vật chính, cũng như vì được chứng kiến cả hai phải "già đi" vì những biến cố dù nhỏ trong cuộc sống, bởi chỉ có chạy cho bớt "non nớt" (phim này các trường đoạn chạy có lẽ còn nhiều hơn các phần Nhiệm vụ bất khả thi của Tom Cruise) thì bộ đôi này mới có thể "ngộ" ra được là liệu họ có thực sự cần nhau. Đọc reddit thấy nhiều bạn chê phần kết của phim, cho là phá hỏng tư tưởng "giác ngộ" hai nhân vật có được sau những biến cố (đặc biệt là pha lái xe không xăng đi ngược hút chết), rồi còn cho là quá dị, chẳng hiểu thêm vào để làm gì. Tôi lại nghĩ khác, Magnolia kết phim bằng cơn mưa ếch, vậy chẳng có lý gì Licorice Pizza lại không thể kết bằng cảnh phim đầu hư ảo và nhiều phần hạnh phúc như thế. Thực sự tôi rất mong PTA có thể dành Oscar cho phim này, nhưng với việc The Power of the Dog, và thậm chí là cả Drive My Car đang dẫn đầu mùa giải thưởng thì cơ hội cho PTA có lẽ không còn nhiều. Thôi, không có giải PTA có lẽ sẽ không buồn nhiều (kiểu gì rồi giải cũng sẽ đến với người xứng đáng) vì đã cho ra đời một tác phẩm thực sự gây xúc động thế này. Dưới đây là tease poster của Licorice Pizza, tôi thực sự thích vì cảnh chụp này rất có ý nghĩa và thực sự phản ánh được tinh thần của phim dù trông thoạt nhìn rất đơn giản.



lundi 10 février 2020

Little Women (2019)


Trong những năm những người đàn ông khoác áo lính của Liên bang miền Bắc và Liên minh miền Nam đang giao tranh quyết liệt trên các chiến trường đẫm máu của cuộc Nội chiến Hoa Kỳ, thì tại thị trấn nhỏ Concord bang miền Bắc Massachusetts, gia đình nhà March hoàn toàn là một thế giới thu nhỏ của những người phụ nữ nhỏ bé. Đó là bà Marmee March (Laura Dern), người phụ nữ hiền hậu và đảm đang một nách phải quản bốn cô con gái đang trong độ tuổi mới lớn, đồng thời vẫn phải quán xuyến mọi việc trong nhà và tham gia các hoạt động xã hội với hy vọng ông March (Bob Odenkirk) sẽ trở về với vợ và con gái sau khi chiến trường tắt tiếng súng. Bốn cô con gái của vợ chồng ông March là bốn tính cách hoàn toàn trái ngược. Chị cả Margaret "Meg" (Emma Watson) dịu dàng với vẻ đẹp của một cô thiếu nữ mới lớn và mong ước được trở thành một phần của giới nghệ sĩ và thượng lưu thông qua việc tìm được một tấm chồng “đáng giá” trong những buổi khiêu vũ dành cho các cô gái trẻ. Hoàn toàn trái ngược với chị gái, cô con gái thứ hai của nhà March là Josephine "Jo" (Saoirse Ronan) lại sở hữu tính cách mạnh mẽ, bướng bỉnh nhất quyết không chịu nhún nhường trước bất cứ ai nhưng lại sẵn lòng đặt cả trái tim và khối óc vào những trang viết như một nhà văn nữ thật sự. Không đam mê viết lách, cô con gái thứ ba của nhà March là Amy (Florence Pugh) với năng khiếu vẽ bẩm sinh lại nuôi trong mình ước mộng được trở thành một hoạ sĩ đại tài bất chấp việc cô gái mới vừa qua tuổi dậy thì luôn chịu lép vế trước hai cô chị nhiều máu nghệ sĩ Meg và Jo. Không rõ có phải được sinh ra cuối cùng sau ba người chị gái có tính cách mạnh mẽ, mà cô út Elizabeth "Beth" (Eliza Scanlen) lại là người ít nói, bẽn lẽn nhất dù là người sở hữu ngón tay điêu luyện nhất trên những phím đàn. Dù cuộc sống thời chiến có vất vả giữa vùng quê lạnh lẽo xứ New England, nhưng tình yêu thương và niềm tin vào cuộc sống giúp gia đình nhà March có một cuộc sống yên bình, hạnh phúc tưởng chừng không gì chia cắt. 

Bảy năm sau những ngày hoa mộng ấy, Jo xuống Thành phố New York để kiếm tìm cơ hội với ngòi bút – một thử thách chẳng hề dễ dàng trong một xã hội dù đã có chút hiện đại nhưng vẫn còn đầy ắp định kiến và tâm lý trọng nam khinh ngữ, đặc biệt là trong những lĩnh vực đòi hỏi tính sáng tạo, và sự độc lập, như nghề viết. Dù có những người bạn tốt như anh chàng “giáo sư” người Pháp Friedrich Bhaer (Louis Garrel) luôn sẵn lòng ở bên cô trong lúc khó khăn, nhưng sự khốc liệt của trong làng văn New York để có được một vị trí giữa những nhà văn nam giới đã khiến Jo vẫn có những giây phút yếu lòng, khi cô nhớ lại ngôi nhà nhỏ ở Concord cùng các chị em gái của cô, và ngẫm nghĩ về lý do tại sao cái gia đình nhỏ bé mà hạnh phúc ấy, và bản thân cuộc đời của chính cô lại thay đổi hoàn toàn kể từ khi có sự xuất hiện của anh chàng lãng tử Theodore "Laurie" (Timothée Chalamet) – cháu trai duy nhất của ông lão hàng xóm giàu có và tốt bụng Laurence (Chris Cooper). 

Là bộ phim thứ ba trong sự nghiệp đạo diễn của nữ đạo diễn đang lên Greta Gerwig, nhưng đây đã là lần thứ bảy Little Women (Những cô gái nhỏ) được chuyển thể lên màn ảnh lớn trong vòng một thế kỷ qua. Đó là bởi cuốn tiểu thuyết thứ hai trong sự nghiệp của nhà văn nữ Louisa May Alcott với một nội dung đơn giản là kể lại một phần cuộc đời nhiều sự kiện của bà cùng các chị em gái nơi thôn quê New England ngay sau khi ra đời năm 1868 đã được coi là một hiện tượng của văn học Hoa Kỳ không chỉ bởi nội dung giản dị, lôi cuốn, mà còn vì đây là một trong những tác phẩm văn học đầu tiên của văn đàn Mỹ xây dựng được hình ảnh những người phụ nữ độc lập, năng động trong bối cảnh nước Mỹ nói riêng và xã hội phương Tây nói chung vẫn còn đang ở trong tình trạng trọng nam khinh nữ hết sức nặng nề. Thông điệp nữ quyền thấm đẫm trong tác phẩm của nữ nhà văn người Massachusetts có lẽ chính là lý do chính thúc đẩy Greta Gerwig chắp bút viết kịch bản và tự tay đạo diễn lần chuyển thể điện ảnh thứ bảy của Little Women sau thành công vang dội của tuyệt phẩm dành cho tuổi mới lớn Lady Bird (2017). Với kinh phí chỉ vỏn vẹn 10 triệu đô la, Lady Bird của Gerwig đã gây tiếng vang lớn với 5 đề cử Oscar với cách kể truyện chân thành, cảm động về những trăn trở đầu đời của cô thiếu nữ Lady Bird (Saoirse Ronan) đang gắng tìm kiếm cho mình chân trời mới, sự vô giá của tình yêu thương giữa người thân trong gia đình, và cả mối dây liên hệ vô hình giữa mỗi cá nhân với nơi chôn nhau cắt rốn của bản thân. Ở Little Women một lần nữa người xem lại được lặng ngắm những câu chuyện đầy tình người ấy qua diễn xuất tràn đầy năng lượng và tình cảm của chính Saoirse Ronan trong vai Jo – nhân vật trung tâm và cũng là người kể chuyện của cả bộ phim. Thừa hưởng phần nội dung gốc của một tác phẩm đã được xếp vào hàng kinh điển, Little Women có tuyến nhân vật hết sức dày dặn, nhiều màu sắc, nhiều cung bậc cảm xúc và cực kì đáng nhớ. Bởi vậy mà không chỉ Jo của Saoirse Ronan mà các gần như toàn bộ tuyến nhân vật của Little Women đều tạo được dấu ấn khác biệt, từ sự hồn hậu, ngây thơ đến nao lòng của Beth qua sự thể hiện của nữ diễn viên tuổi mới ngoài đôi mươi Eliza Scanlen, cho đến cái cách sóng gió cuộc đời dần làm nhoà đi sự vô ưu trong tâm tính của Amy nhờ diễn xuất tuyệt vời của Florence Pugh, và tất nhiên không thể không kể đến sự xuất hiện dù không nhiều nhưng luôn toả ra sự ấm áp của tình mẹ đến từ Bà March – một trong hai vai phụ xuất sắc của năm 2019 đến từ cùng một cái tên Laura Dern. 

Để tạo sự khác biệt so với những chuyển thể trước đây của Little Women, Greta Gerwig cũng lựa chọn cho mình một cách tiếp cận hiện đại trong việc chuyển thể tiểu thuyết đã được xuất bản từ năm 1868 với cách sắp xếp phi tuyến xen kẽ giữa “hiện tại” màu xám của năm 1868 với “quá khứ” màu hồng của những năm Nội chiến cùng cách kể chuyện kết hợp cả góc nhìn của người thứ ba và người thứ nhất. Cấu trúc tương đối phức tạp này của Little Women khiến tác phẩm mới nhất của Greta Gerwig trở nên tương đối khó theo dõi nếu so với sự giản dị của Lady Bird. Nhưng càng xem, khán giả sẽ càng thấy cuốn hút trước các tuyến truyện đan xen như chính cuộc đời rất nhiều nút thắt của Jo, của Amy, của Laurie. Và quan trọng hơn thế, cách kể chuyện hiện đại của Greta Gerwig cũng tạo ra sự khác biệt và mới mẻ cho lần chuyển thể thứ bảy của Little Women, một thử thách không hề dễ dàng cho bất cứ đạo diễn nào khi phải đưa lên màn ảnh lớn một tác phẩm đã được xếp vào hàng kinh điển và đã được chuyển thể trước đó bởi nhiều đạo diễn tài năng và dàn diễn viên thượng hạng như Gillian Armstrong (phiên bản năm 1994 với sự xuất hiện của Winona Ryder trong vai Jo và Christian Bale trong vai Laurie) hay George Cukor (phiên bản năm 1933 với sự xuất hiện của Katharine Hepburn trong vai Jo và Douglass Montgomery trong vai Laurie). Sự mới mẻ của Little Women còn đến từ tài năng của hai cái tên Pháp trong đoàn làm phim của Greta Gerwig – đó là nhà quay phim Yorick Le Saux và nhà soạn nhạc Alexandre Desplat. Với những góc máy lạ và cách chọn ánh sáng cũng như tông màu dịu ngọt, Yorick Le Saux không chỉ đem lại cho vùng đất New England của nước Mỹ thế kỷ 19 một vẻ đẹp bình yên, thân thuộc, mà còn giúp đặc tả tâm trạng và số phận những người phụ nữ nhỏ bé nhà March trong những thời khắc quan trọng của cuộc đời họ thông qua dáng hình, màu sắc mà chẳng cần tới bất cứ câu thoại nào. Về phần mình, Alexandre Desplat lại một lần nữa chứng tỏ sự mát tay của ông trong việc viết nhạc cho những bộ phim có nhịp độ nhẹ nhàng, đòi hỏi chiều sâu cảm xúc. Người xem có thể quên nội dung cuộc trò chuyện giữa Jo và Beth trên bãi biển năm nào, nhưng chắc chắn họ chẳng thể quên cái cách hai chị em dựa vào nhau trong cái lạnh đến tê người đến từ gió biển trong một ngày u ám điển hình của vùng đất phương Bắc New England. Và người xem cũng có thể quên tên anh chàng “giáo sư” thẳng tính Friedrich nhưng có lẽ sẽ không thể quên cái cách anh giáo sư dạo nên những nốt nhạc da diết của bản xô-nát số 8 của Beethoven trên chiếc đàn thân yêu của Beth – những nốt nhạc nói lên nỗi lòng của tất cả những thành viên nhà March khi nghĩ về những người họ yêu quý. Những thành công riêng của Yorick Le Saux và Alexandre Desplat đã khoác lên Little Women – một tiểu thuyết đã có trên 150 năm tuổi một tấm áo khác biệt, mới mẻ, gần gũi và hết sức lôi cuốn.

Trái ngược với cái tên của mình (có thể dịch là “Những cô gái nhỏ” hay “Những người phụ nữ nhỏ bé”), Little Women là câu truyện về những người phụ nữ mạnh mẽ, dám yêu, dám sống, dám lựa chọn cho mình một số phận thay vì chịu sự sắp đặt của cha mẹ, của xã hội, của định kiến người đời. Chẳng cần lên gân với những thông điệp mang tính cổ động, tuyên truyền, cũng chẳng cần kịch tính hóa một cách quá mức cần thiết những câu chuyện buồn mà đời người ai chẳng có, Little Women vẫn tạo được sự đồng cảm từ khán giả nhờ rất nhiều những lát cắt vui có, buồn có, nhưng đều rất đẹp, rất đời về những người phụ nữ nhà March. Sau khi xem xong phim, có lẽ mỗi khán giả sẽ đem về cho một mình một câu truyện riêng từ Little Women. Đó có thể là bài học về cách yêu và cách mở lòng cho tình yêu của những cô gái mới lớn như Jo, như Amy. Đó có thể là bài học về cách vượt qua gánh nặng của cơm áo gạo tiền để biến tình yêu, sự nhiệt huyết với nghiệp viết trở thành thành công và danh tiếng dài lâu. Hoặc đó có thể là bài học giản đơn về cách dung hòa những mâu thuẫn trong tính cách, trong lối sống hiện hữu ở bất cứ gia đình nào để mọi thành viên trong gia đình yêu thương và hiểu nhau hơn. Nhưng chắc chắn rằng mỗi người trong số chúng ta sau khi xem xong Little Women của Greta Gerwig đều có thể cảm nhận được rằng đây là một tác phẩm của những người phụ nữ, làm về những người phụ nữ, và để nói lên sự trân quý và tin yêu hết mực của những người làm phim dành cho phụ nữ.

========

mardi 21 janvier 2020

In the Absence (2019)


Sáng ngày 16 tháng 4 năm 2014, khi đang trên hải trình đi từ cảng Incheon tới đảo Jeju, con phà mang tên Sewol của Hàn Quốc đã bất ngờ chìm dần rồi lật úp, dẫn đến cái chết của 304 trên tổng số 476 hành khách và thuỷ thủ đoàn. Bi thảm hơn thế là việc trên con phà ngày hôm đó có tới 325 em học sinh của trường trung học phổ thông Danwon ở thành phố phía Bắc Ansan vốn được thầy hiệu phó Kang Min-kyu dẫn xuống đảo Jeju để du lịch và sinh hoạt ngoại khoá. 250 em trong số này đã bỏ mình lại biển sâu cùng chiếc phà chìm. Thầy giáo Kang nằm trong số ít những người may mắn được cứu thoát trong thảm kịch, để rồi tự tìm đường tới cái chết chỉ vài ngày sau đó. 

Những diễn biến của vụ chìm phà Sewol, cũng như phản ứng của những người trong cuộc, những ông bố bà mẹ đã mất đi đứa con yêu quý trong thảm kịch chẳng ai ngờ tới đó, và cả những người thợ lặn từng sẵn lòng lao xuống lòng biển tăm tối để vớt lên những thân xác vẫn còn mắc lại trong những khoang tàu lạnh lẽo là nội dung chính của bộ phim tài liệu ngắn In the Absence của đạo diễn người Hàn Quốc Yi Seung-Jun. Sự vô trách nhiệm đến khó tin của những người trong cuộc, đặc biệt là của lực lượng Tuần duyên và của chính Văn phòng Tổng thống Park Geun-hye cũng là những khía cạnh được khai thác trong In the Absence. Nhưng khác với một số tác phẩm tài liệu khác như The Truth Shall Not Sink with Sewol (2014) của Lee Sang-ho và Ahn Hae-ryong, hay Upside Down (2015) của Kim Dong-bin, bộ phim tài liệu dài chưa đầy 30 phút của đạo diễn họ Yi không tìm cách tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến tai nạn của con phà xấu số, hay lập luận quy trách nhiệm cho bất cứ ai. Thay vào đó, Yi Seung-Jun cố gắng sử dụng tối đa những tư liệu ông có được từ phim tư liệu về các phiên điều trần các quan chức chính phủ, các đoạn phỏng vấn những người có liên quan, và thậm chí là những đoạn phim ngắn thu lại được từ những chiếc điện thoại đã được sử dụng trên con phà Sewol vào thời điểm thảm kịch xảy ra để mô tả lại cái ngày định mệnh, và cảm xúc của những người đã phải trực tiếp hoặc gián tiếp chịu đựng những nỗi đau từ tai nạn phà Sewol một cách trực diện và chân thực nhất.

Sinh năm 1971, đạo diễn người Busan Yi Seung-Jun thuộc thế hệ trẻ Hàn Quốc trưởng thành khi đất nước này đã trở nên thịnh vượng trong những năm tháng kinh tế phát triển vượt bậc. Nhưng cũng như nhiều người Hàn Quốc khác, có lẽ Yi Seung-Jun hiểu hơn ai hết những vết thương khó lành hằn sâu trong xã hội hiện đại Hàn Quốc, trong tâm trí của từng người dân Hàn Quốc gây ra từ sự nỗ lực, cố gắng đến hết tột bực để Hàn Quốc có được “kì tích sông Hán” từ chỗ đói nghèo vươn lên thành quốc gia phát triển. Đó là một xã hội với tỉ lệ người tự tử cao hơn bất cứ quốc gia phát triển nào khác trên thế giới. Đó là một dân số ngày càng già nua, nơi những người trẻ vì sức ép công việc, vì những trầm cảm trong cuộc sống ngày càng không muốn lập gia đình, không muốn có con cái. Đó là một đất nước có tỉ lệ sinh thấp bậc nhất trên thế giới, nơi mỗi đứa trẻ sinh ra là một “cục vàng” đúng nghĩa được những ông bố, bà mẹ nuông chiều với ước mong sau này đứa bé ấy có thể làm rạng danh trong gia đình với những tấm bằng tốt nghiệp tại một đại học hàng đầu nào đó của thủ đô Seoul đông đúc. Chính hoàn cảnh kinh tế - xã hội ấy đã biến Sewol không còn là một thảm hoạ giao thông mà còn trở thành một nỗi đau đớn không thể tưởng tượng nổi của cả xã hội Hàn Quốc, của từng người dân Hàn Quốc. Cú sốc lớn đối với đất nước Hàn Quốc ấy không chỉ khiến cho hàng chục triệu người sẵn sàng đeo lên ngực mình chiếc huy hiệu hình dải ruy băng màu vàng trong nhiều tháng, nhiều năm sau khi tai nạn diễn ra với hy vọng rằng mọi thi thể nạn nhân trong chiếc phà xấu số rồi sẽ có ngày tìm được về với đất liền thân thương, mà còn thúc đẩy hàng trăm nghìn, thậm chí là hàng triệu người sẵn sàng xuống đường biểu tình đòi công lý cho những người đã khuất, đòi trả lại sự thật về một vụ tai nạn hoàn toàn có thể ngăn chặn, đòi những người chưa làm đầy đủ trách nhiệm của họ trong thảm kịch – kể cả những người đang ở đỉnh cao quyền lực như nữ tổng thống Park Geun-hye phải trả giá cho sự tắc trách đã khiến cho hàng trăm cô bé, cậu bé phải cắt ngắn cuộc đời một cách cực kì vô nghĩa. 

Phải nói rất dài về bối cảnh đất nước Hàn Quốc hiện đại, và về sự trân quý của người Hàn dành cho thế hệ trẻ, là bởi người nước ngoài nếu không quen thuộc với cái dân tộc tính ấy hẳn sẽ lấy làm ngạc nhiên về việc tại sao một đất nước từng trải qua những tai nạn giao thông với hậu quả không kém phần thảm khốc – như vụ chìm phà Seohae năm 1993 khiến 292 trong tổng số 362 hành khách phải bỏ mạng trên Hoàng Hải, hay vụ cháy tàu điện ngầm ở Daegu năm 2003 khiến 192 người chết – lại phải rung chuyển vì vụ chìm phà Sewol tới mức phải xuống đường biểu tình để đòi bằng được vị nữ tổng thống quyền lực Park Geun-hye phải từ chức, phải bị truy tố vì bị coi là đã không thực hiện được nhiệm vụ bảo vệ sinh mạng cho nhân dân Hàn Quốc. Tất cả những yếu tố đó, từ tâm hồn bị thương tổn sâu sắc của những người dân Hàn Quốc – đặc biệt là cha mẹ của các em bé thiệt mạng hay những người thợ lặn nhân hậu phải tự tay kéo từng xác người ra khỏi bóng đêm sâu thẳm của con phà đắm như Kim Gwan-Hong, cho tới sự phẫn nộ không thể dập tắt của cả xã hội Hàn Quốc trước sự vô cảm của Park Geun-hye và những người duới quyền bà đều được khắc hoạ rất rõ trong In the Absence bất chấp thời lượng không phải là dài của bộ phim. Bởi vậy mà với khán giả Hàn Quốc, có thể tác phẩm mới nhất của đạo diễn Yi Seung-Jun có thể là một tác phẩm không hề dễ xem, nhưng với người nước ngoài, có lẽ đây chính là bộ phim tài liệu phù hợp nhất để họ có thể hiểu, dù là một chút, về nỗi đau khôn nguôi của cả xã hội Hàn Quốc về những gì đã xảy ra với những hành khách của con phà Sewol xấu số. 

Từng giành giải thưởng lớn của ban giám khảo tại liên hoan phim tài liệu lớn nhất nước Mỹ DOC NYC từ năm 2018, và cả giải của World Press Photo, thậm chí là được chiếu công khai và miễn phí trên tài khoản YouTube và Vimeo của hãng Field of Vision, nhưng In the Absence chưa thực sự được nhiều công chúng biết tới khi mà số lượt xem của bộ phim sau 9 tháng công khai trên cả YouTube và Vimeo còn chưa chạm đến con số 50 nghìn – thua xa các video ca nhạc của các nhóm nhạc k-pop, hay thập chí là những đoạn video mới của những vlogger tầm trung làm về chủ đề du lịch Hàn Quốc. Nhưng để hiểu hơn đất nước Hàn Quốc, đặc biệt là tình cảm của những người dân Hàn Quốc dành cho con trẻ, và vết thương lòng chẳng thể gọi thành tên mà vụ chìm phà Sewol đã gây nên đối với mỗi tâm hồn người Hàn Quốc, thì In the Absence nên là lựa chọn đầu tiên. Không hiểu có phải vì lý do này, hay vì những câu hồi tưởng buồn đến thắt tim của người thợ lặn nhân hậu Kim Gwan-Hong về hình ảnh những chú chim nhỏ cất tiếng kêu đau đớn trong gió bão đã khiến cho Viện Hàn lâm khoa học và nghệ thuật điện ảnh Hoa Kỳ lựa chọn tác phẩm của đạo diễn Yi Seung-Jun trở thành một trong năm ứng viên cuối cùng cho hạng mục Phim tài liệu ngắn xuất sắc nhất tại giải Oscar năm nay. Nhưng vì lý do gì đi chăng nữa thì những người yêu điện ảnh và muốn tìm hiểu thêm về đất nước Hàn Quốc vẫn nên dành một lời cảm ơn chân thành cho Ban giám khảo của giải Oscar vì đã cho công chúng biết rằng, bên cạnh bộ phim giành tới 6 đề cử giải Oscar năm nay Parasite của đạo diễn Bong Joon-ho, thì vẫn còn một viên ngọc quý khác của điện ảnh Hàn Quốc xứng đáng để người xem bỏ thời gian thưởng thức – đó chính là In the Absence của Yi Seung-Jun.

=====

Jojo Rabbit (2019)


Trong giai đoạn cuối Chiến tranh thế giới thứ hai, nước Đức dần trở nên kiệt quệ vì phải căng mình trên cả hai mặt trận phía Đông và phía Tây. Những thành phố nhỏ của nước Đức vì thế mà tuy chưa bị bom đạn tàn phá nhưng cũng dần cảm nhận được sự kiệt quệ của chiến tranh thông qua sự vắng mặt ngày một dài hơn, và nhiều hơn, của những gương mặt đàn ông Đức đang phải bán mạng nơi chiến trường theo tiếng gọi và mệnh lệnh của Quốc trưởng Adolf Hitler. Cha của cậu nhóc mười tuổi Johannes "Jojo" Betzler (Roman Griffin Davis) là một trong những người như thế khi phải bỏ lại con trai và người vợ xinh đẹp Rosie Betzler (Scarlett Johansson) để chiến đấu ở tận nước Ý xa xôi mà không biết ngày nào mới quay trở lại. Vắng hơi ấm của cả người cha đi xa và người mẹ quá bận bịu vì những công việc của một phụ nữ thời chiến, lại vừa mất đi người chị gái Inge vì căn bệnh cúm quái ác, Jojo chỉ còn biết tìm niềm vui với “lý tưởng” yêu thích của cậu – đó là tất cả những gì dính dáng đến Đảng Quốc xã và lãnh tụ của Đảng này “kiêm” người bạn tưởng tượng của cậu – Adolf Hitler (Taika Waititi). 

Với ước mơ trở thành “người lính” ưu tú của quân đội Đức Quốc xã trong đầu, Jojo và cậu bạn ục ịch “thân chỉ sau Hitler” Yorki (Archie Yates) gia nhập trại hè Thiếu niên Quốc xã do viên đại uý độc nhãn Klenzendorf (Sam Rockwell) làm trại chưởng. Dưới sự “dìu dắt” của Klenzendorf và những huấn luyện viên mẫn cán như “chị” Rahm (Rebel Wilson), Jojo chợt nhận ra rằng mình chỉ là một cậu nhóc thỏ đế ghét bạo lực, không dám thẳng tay chém giết theo lệnh cấp trên như một yêu cầu bắt buộc của quân đội Đức Quốc xã. Nhưng với sự động viên của người bạn tưởng tượng Adolf Hitler và “tình yêu” bất tận với Chủ nghĩa Quốc xã, Jojo “Thỏ đế” quyết tâm chứng tỏ mình vẫn là thỏ, nhưng là một chú thỏ dũng cảm bằng việc … giật lấy trái lựu đạn huấn luyện của Đại uý Klenzendorf để nếm thử cảm giác trên sa trường. Tiếc là anh hùng đâu chẳng thấy, chỉ thấy một trái lựu đạn cầm tay nổ tung ngay dưới chân Jojo và biến cậu bé trở lại thành chú thỏ thương binh khập khiễng, biến dạng mặt phải ru rú ở nhà trong lúc chúng bạn như Yorki ục ịch đang có cơ hội “cống hiến” cho tổ quốc. Nhưng chính trong những tháng ngày buồn chán ấy, Jojo mới có cơ hội phát hiện ra rằng đang trú ẩn trong căn phòng cũ của người chị đã mất Inge, là cô gái người Do Thái có tên Elsa Korr (Thomasin McKenzie). Phải xa bố và mất đi người chị thân yêu, nhưng tính ra Jojo vẫn còn hạnh phúc chán nếu so với Elsa – cô gái mới lớn nhưng đã mất đi tất cả những người thân trong gia đình trong cơn cuồng nộ của chiến dịch diệt chủng người Do Thái do chính những “thần tượng” của Jojo trong Đảng Quốc xã tiến hành. Ngay cả khi đã thoát được những chuyến tàu chết chóc đưa người Do Thái đến với các trại tập trung và được bà Rosie đồng ý che chở trong căn hộ rộng lớn của nhà Betzler, thì Elsa vẫn phải ngày đêm sống trong nỗi lo sợ bị những gã mật vụ Gestapo như đại uý Deertz (Stephen Merchant) phát hiện và treo cổ ngay giữa quảng trường như vô số những nạn nhân vô tội khác của chủ nghĩa Quốc xã. Bởi thế mà cuộc đời thật trớ trêu khi để Jojo phát hiện ra Elsa, bởi rõ ràng “lòng trung thành” với Hitler và những ngày tháng tắm mình trong luận điệu tuyên truyền bài Do Thái của Đức Quốc xã là động lực rất lớn để cậu bé khập khiễng “chỉ điểm” ngay cho mật vụ Gestapo về sự tồn tại của cô gái Do Thái. Nhưng ở thái cực ngược lại, nỗi cô đơn cùng cực của một cậu bé lớn lên giữa chiến tranh tàn khốc cùng sự hồn nhiên và tò mò của con trẻ lại khiến Jojo nhận ra rằng chỉ có ở Elsa, cậu mới có thể tìm thấy một tình bạn, một người đồng hành hiếm hoi trong thời điểm sự tàn khốc, bạo liệt của chiến tranh đang cận kề.

Jojo Rabbit là tác phẩm mới nhất của đạo diễn chuyên trị phim hài người New Zealand Taika Waititi. Với công chúng quốc tế, có lẽ Waititi được biết tới nhiều nhất qua tác phẩm được đánh giá rất cao trong loạt phim thuộc Vũ trụ siêu anh hùng Marvel là Thor: Ragnarok (2017). Tuy vậy kể cả trước khi những hình ảnh sống động, rực rỡ và phong cách tươi vui của Thor: Ragnarok chinh phục khán giả toàn thế giới, thì vị đạo diễn 44 tuổi có cha là người gốc thổ dân Māori thực ra đã gây dựng được cho mình một phong cách đặc trưng qua những bộ phim đầy ắp những chi tiết hài hước ngây thơ con trẻ, nhưng cũng lại ẩn chứa nhiều thông điệp xã hội ý nhị như What We Do in the Shadows (2014) hay Hunt for the Wilderpeople (2016). Tuy nhiên nếu so với những tác phẩm hài trước đây thì chắc chắn Jojo Rabbit là một thử thách lớn đối với Taika Waititi bởi bộ phim này động tới một đề tài rất dễ để chỉ trích nhưng cực khó để khắc hoạ một cách hài hước – đó là nạn diệt chủng người Do Thái từ góc nhìn của những người sống dưới chế độ Quốc xã. Có ông ngoại là người Nga gốc Do Thái, hẳn Taika Waititi từ lâu cũng đã muốn làm một tác phẩm về nỗi đau nhức nhối suốt gần một thế kỷ qua của người Do Thái theo cái cách Steven Spielberg đã đem tới cho công chúng Bản danh sách của Schindler (1993) hay Roman Polanski giới thiệu The Pianist (2002) cho người yêu điện ảnh. Nhưng hiếm có đạo diễn người Do Thái nào lại chọn cách khắc hoạ bị kịch lớn nhất trong lịch sử thế giới hiện đại một cách hài hước châm biếm, qua góc nhìn của một cậu bé sống theo “lý tưởng” của phe ác – Đức Quốc xã như cách Taika Waititi thực hiện với Jojo Rabbit – bộ phim do chính ông chắp bút viết kịch bản. Quả thực phần đầu của Jojo Rabbit dù rất hài hước nhưng vẫn tạo ra chút gợn trong lòng khán giả bởi họ được chọc cười bởi những hành động, câu thoại, tình huống đầy châm biếm đến từ Jojo “Thỏ đế” và những người xung quanh cậu – trong đó có rất nhiều đại diện tiêu biểu của chế độ Đức Quốc xã tàn bạo như Hitler, như Klenzendorf, như Rahm, nhưng đồng thời cũng phải đối mặt với vô số những luận điệu, tư tưởng độc hại, đen tối của chủ nghĩa Quốc xã vốn đã gây ra cái chết của hàng chục triệu người trên khắp châu Âu và ngay trong chính lòng nước Đức. Sự tương phản quá lớn giữa những tiếng cười của một bộ phim hài và bản chất tàn nhẫn vô nhân tính của một chế độ không ai có thể biện hộ có lẽ sẽ khiến nhiều khán giả cảm thấy phần nào đó mất phương hướng khi xem phần đầu của Jojo Rabbit bởi họ không hiểu truyện phim sẽ diễn tiến theo chiều hướng nào, hay đơn giản là họ nên dành tình cảm cho ai khi mà ngay chính cậu bé Jojo “Thỏ đế” cũng lại chính là “cái loa” to nhất cho những lập luận lố bịch của chủ nghĩa Quốc xã. 

Nhưng việc Taika Waititi đặt chính bản thân ông vào thế khó với cách lựa chọn đề tài và phần mở đầu gây nhiều chới với của Jojo Rabbit hoá ra lại chính là cơ hội để khán giả một lần nữa được hiểu thêm về tài năng thực sự của vị đạo diễn người New Zealand này. Bởi càng xem, họ sẽ càng nhận ra rằng Jojo Rabbit không chỉ là một tác phẩm hài thông thường, mà còn là một bộ phim được làm ra bởi một nghệ sĩ có trái tim lớn để nói lên câu truyện về số phận của những đứa trẻ sinh ra và lớn lên giữa sự tàn khốc của Chiến tranh thế giới thứ hai. Đây thực ra không hẳn là một đề tài mới, bởi điện ảnh thế giới đã chứng kiến rất nhiều tác phẩm xuất sắc khắc hoạ hình ảnh những đứa trẻ phải vật lộn tìm đường tồn tại giữa bom đạn cuộc chiến và sự tàn bạo của các bên tham chiến, nhất là Đức Quốc xã, như Idi i smotri (1985) của đạo diễn Sô viết Elem Klimov, Au revoir les enfants (1987) của Louis Malle, Mộ đom đóm (1988) của Isao Takahata, Pan's Labyrinth (2006) của Guillermo del Toro, hay gần đây là In This Corner of the World (2016) của Sunao Katabuchi. Một điểm chung của các bộ phim hết sức cảm động này là việc các đạo diễn thường nhấn rất mạnh vào sự tương phản giữa một bên là sự vô nhân tính của chiến tranh, một bên là sự ngây thơ con trẻ  và tình yêu thương vô bờ bến các em dành cho những người xung quanh kể cả ở bờ vực giữa sự sống và cái chết. Jojo Rabbit cũng là một tác phẩm như thế, bởi Waititi đã đem tới cho người xem những phút giây cảm động khi được chứng kiến sự trân quý Jojo “Thỏ đế” dành cho cậu bạn Yorki, dành cho Elsa, và đặc biệt là tình cảm của cậu đối với người mẹ Rosie xinh đẹp. Trong một năm có tới hai vai diễn “người mẹ” xuất sắc (cùng với vai Nicole Barber trong Marriage Story), Scarlett Johansson dù không có quá nhiều đất diễn trong “Jojo Rabbit” nhưng vẫn khiến khán giả chẳng thể quên diễn xuất ăn ý của cô cùng cậu bé bạn diễn nhí Roman Griffin Davis – người thủ vai Jojo “Thỏ đế”. Trong một bộ phim có rất nhiều tiếng cười, rất nhiều những cảnh quay ấn tượng, có lẽ đáng nhớ nhất với nhiều khán giả vẫn lại là cái nhìn đầy yêu thương Rosie dành cho Jojo, hay cái cách cô cẩn thận buộc dây giày cho cậu nhóc hậu đậu. Một chi tiết thú vị mà hẳn nhiều khán giả cũng sẽ nhận ra khi xem phim, đó là việc Taika Waititi đã lựa chọn Scarlett Johansson – một nữ diễn viên gốc Do Thái để vào vai một phụ nữ Đức “thứ thiệt” sống giữa lòng một nước Đức đang ở đỉnh điểm của chủ nghĩa bài Do Thái. 

Sau phần mở đầu với nhiều dấu hỏi, Jojo Rabbit hẳn sẽ khiến nhiều khán giả cảm thấy hài lòng bởi rất nhiều những tiếng cười và tình cảm mà Taika Waititi đem tới cho khán giả nhờ vào một kịch bản nhẹ nhàng nhưng không kém phần kịch tính và diễn xuất ăn ý của Johansson, Griffin Davis, và McKenzie – cô bé thủ vai Elsa. Nhưng phần kết bùng nổ của bộ phim sẽ còn khiến người xem không chỉ hài lòng mà còn thấy ngạc nhiên trước cách Waititi đột ngột thay đổi nhịp độ của bộ phim để đem tới cho khán giả một góc nhìn rất khác về bóng ma chiến tranh vốn từ đầu phim mới chỉ lẩn quất đâu đây phía sau cuộc sống tưởng chừng thanh bình hết mực của một thành phố Đức nơi hậu phương. Nhưng chiến tranh là thế, sự huỷ diệt của chiến tranh ập tới vào chính những lúc người ta không thể ngờ tới để cuốn đi mọi thứ, từ nhà cửa, tài sản, cho tới sinh mạng của những người dân vô tội. Để những bi kịch của chiến tranh không lặp lại, chỉ có một cách duy nhất là giữa người với người chúng ta có thể yêu thương, trân trọng, và mở lòng cho nhau theo cái cách Jojo “Thỏ đế” đã mở lòng đối với mọi người xung quanh cậu, kể cả với những người cậu được dạy là “kẻ thù” như Elsa. Có lẽ đó là một trong những thông điệp mà Taika Waititi muốn đem tới cho khán giả - muốn gìn giữ cuộc sống thanh bình cho những đứa trẻ như Jojo, như Yorki, như Elsa, mỗi người trong chúng ta cũng cần luôn giữ trong mình chút gì đó hồn nhiên, ngây thơ của con trẻ như chính cái cách Waititi đã thực hiện Jojo Rabbit – một tác phẩm về diệt chủng, về chiến tranh, nhưng vẫn tràn đầy sự yêu thương và trí tưởng tượng của trẻ con. 

=======

dimanche 29 septembre 2019

The Third Wife (2019)


Một trong những nét tiêu biểu nhất của chế độ phong kiến ở Việt Nam chính là chế độ gia trưởng hà khắc, theo đó người đàn ông có quyền “năm thê bảy thiếp” nhưng người đàn bà trong gia đình lại luôn phải răm rắp tuân theo “tam tòng” - “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”  (ở nhà phải theo cha, lấy chồng phải theo chồng, chồng mất phải theo con trai), “tứ đức” – “công, dung, ngôn, hạnh”. Và chẳng nơi đâu cái lệ “năm thê bảy thiếp” của đàn ông, cái gánh nặng “tam tòng, tứ đức” của phụ nữ lại thể hiện rõ ràng như ở vùng quê Việt Nam, trong những gia đình phú ông giàu có như cụ Bá (Nguyễn Hồng Chương) và ông Hùng (Lê Vũ Long). Dù đã có tới hai người vợ là bà Hà (Trần Nữ Yên Khê) và mợ Xuân (Mai Thu Hường) nhưng ông Hùng vẫn quyết định lấy thêm cô bé còn đang ở tuổi trăng rằm Mây (Nguyễn Phương Trà My) để thoả mãn khao khát có được thêm một đứa con trai.

Đột ngột phải bước vào đời với một tâm hồn trinh nguyên như tờ giấy trắng, nhưng Mây chẳng mất nhiều thời gian để làm quen với dinh thự rộng lớn của người chồng mới cưới với vô số người hầu, kẻ hạ như bà Lao (NSND Như Quỳnh). Đó là vì bà Hà và mợ Xuân chưa bao giờ đặt Mây vào phận vợ lẽ chiếu dưới, và đó cũng là vì cô bé-phải-lớn-vội Mây có được sự yêu thương của cả ba cô con gái của mợ Xuân là Liên (Lâm Thanh Mỹ), Nhàn (Mai Cát Vi), và Bồ Câu (Tăng Khánh An). Có lẽ chính không gian êm đềm tràn đầy sự chăm sóc, ân cần ấy, cộng thêm sức trẻ của một cô gái tuổi cập kê đã giúp Mây nhanh chóng đạt được một nửa ý nguyện của ông Hùng khi lấy cô làm vợ ba – đó là mang thai đứa con thứ năm cho vị phú ông giàu có, sau cậu con cả Sơn (Nguyễn Thành Tâm) và ba cô bé xinh xắn Liên, Nhà, Bồ Câu. Nhưng những ngày tháng mang nặng đẻ đau cũng lại giúp Mây nhận ra rằng phía dưới lớp màn nhung đẹp đẽ, yên bình như khung cảnh một buổi chiều hè mát mẻ ở vùng quê non nước nhà ông Hùng ẩn chứa rất nhiều bí mật, rất nhiều dối lừa, và rất nhiều khát vọng của những người đàn bà cả đời phải chịu cảnh đè nén bởi chế độ gia trưởng đã tồn tại từ ngàn đời.

Người vợ ba (The Third Wife) là bộ phim dài đầu tay của nữ đạo diễn sinh năm 1985 Nguyễn Phương Anh. Được coi là một trong những tên tuổi nổi bật của giới làm phim trẻ người Việt, Phương Anh – hay Ash Mayfair tốt nghiệp ngành điện ảnh tại trường nghệ thuật danh tiếng Tisch School Of The Arts của Đại học New York – nơi cô ấp ủ và thực hiện Người vợ ba với sự tài trợ của chính đạo diễn nổi tiếng Spike Lee thông qua giải thưởng Spike Lee Fellowship. Một kịch bản lọt được vào mắt xanh của đạo diễn khó tính Spike Lee, và giành được nhiều giải thưởng khác như Giải thưởng lớn (Grand Prix) tại Gặp gỡ Mùa Thu năm 2015 tại Đà Nẵng và tại Hongkong Asia Film Forum 2016 khó có thể là một kịch bản tồi. Và quả thực sau khi xem Người vợ ba, chắc hẳn bất cứ khán giả nào cũng sẽ cảm nhận được chất thơ đậm nét trong câu truyện nhiều phần bi thương của những người phụ nữ Việt Nam thời phong kiến được một cô gái trẻ mới ngoài 30 tuổi kể lại bằng chất giọng điện ảnh nhẹ nhàng nhưng vẫn rất hiện đại. Tuy có nửa đầu khá chậm và một số chi tiết được xử lý chưa thực sự trọn vẹn như sự biến đổi về mặt tâm sinh lý của cô bé mới lớn Mây, nhưng nhìn một cách tổng thể Người vợ ba có một truyện phim đáng nhớ với những nhân vật để lại dấu ấn đậm nét dù không hẳn có quá nhiều thời lượng lên hình như mợ Xuân, như cô bé Liên, như bố con ông Văn (NSƯT Trung Anh) và Tuyết (Phạm Thị Kim Ngân). Chỉ một tuyến truyện phụ được kể thoáng qua như câu truyện của bố con ông Văn và Tuyết thôi cũng đủ khiến cho nhiều khán giả phải cảm động, phải rùng mình trước sự khắc nghiệt của xã hội Việt Nam thời phong kiến với số phận những người phụ nữ. Và Người vợ ba có rất nhiều những câu truyện nhỏ như thế - những câu truyện được Phương Anh kể lại một cách tỉ mỉ, chân thành cho khán giả để họ cảm nhận và chia sẻ được phần nào thông điệp của Người vợ ba về bước đường trưởng thành chưa bao giờ là dễ dàng của những người phụ nữ, đặc biệt là những người phụ nữ buộc phải sống, buộc phải trưởng thành trong không gian gò bó bởi lễ giáo gia trưởng ở làng quê Việt Nam thời phong kiến.

Người vợ ba có một kịch bản hay, nhưng có lẽ điểm sáng lớn nhất của bộ phim lại nằm ở phần hình ảnh. Có lẽ để làm bật lên chất nữ tính, và cũng là để thể hiện thông điệp hướng tới nữ quyền của phim, Phương Anh chọn cho mình một đoàn làm phim với rất nhiều nữ. Một trong số đó là bạn học của Phương Anh tại Đại học New York – nhà quay phim nữ Chananun Chotrungroj. Không phải người Việt, nhưng chắc chắn những góc máy của Chananun Chotrungroj trong Người vợ ba sẽ khiến bất cứ khán giả Việt nào phải rung động bởi những danh thắng vốn đã rất quen thuộc với chúng ta như non nước Tràng An – Ninh Bình, như núi non Cao Bằng được Phương Anh và Chananun Chotrungroj khắc hoạ một cách mới mẻ với bố cục nghiêm cẩn tựa như những bức hoạ Tây phương và tông màu nhẹ nhàng, đơn giản nhưng hết sức hiệu quả trong việc làm tôn lên các góc quanh tưởng chừng chẳng có gì đáng nói trong cuộc đời những người phụ nữ chôn chặt cả đời sau luỹ tre làng. Nhịp phim chậm rãi ở nửa đầu bộ phim có thể sẽ khiến một số khán giả cảm thấy không hài lòng, nhưng chính nhịp độ chậm rãi đó lại tạo điều kiện tối đa cho Phương Anh và Chananun Chotrungroj đem tới cho người xem vô số những khung hình đáng nhớ, những khung hình mà nhiều người Việt sau khi xem chắc vẫn sẽ phải giật mình rằng hoá ra Tổ quốc mình vẫn còn rất, rất nhiều những miền đất đẹp đẽ như thế. Nhưng quan trọng hơn, những góc máy đẹp nhất trong Người vợ ba được dành cho những người phụ nữ của bộ phim. Từ những góc quay cận cảnh vẻ đẹp chân chất và ngây thơ của Mây, cho tới những góc máy rộng để khắc hoạ sự nhỏ bé của Mây, của Xuân, của Tuyết giữa thiên nhiên hùng vĩ, giữa xã hội còn nhiều định kiến với phụ nữ, tất cả đều thể hiện sự trân trọng, nâng niu của những nhà làm phim Người vợ ba dành cho số phận những người phụ nữ Việt Nam đã, và đang còn phải chịu những bất công không đáng có đến từ truyền thống gia trưởng vẫn còn ăn sâu bám rễ vào xã hội Việt.

Nếu so với phần kịch bản đậm chất nhân văn và những hình ảnh rất nhiều chất thơ trải dài suốt bộ phim, thì diễn xuất của dàn diễn viên trong Người vợ ba quả thực chưa có nhiều đột phá. Ngoại trừ Mai Thu Hường hay ca sĩ Maya – người đã vượt qua khỏi giới hạn của một “nữ ca sĩ đi đóng phim” để đưa tới cho khán giả một hình ảnh mợ Xuân luôn tràn đầy khao khát được sống bất kể gông cùm của lễ nghi, đạo lý vốn đầy rẫy trong nhà ông Hùng, thì các diễn viên còn lại trong phim gần như chỉ dừng lại ở mức diễn tròn vai. Ngay cả nữ diễn viên gạo cội người Pháp gốc Việt Trần Nữ Yên Khê cũng không để lại quá nhiều ấn tượng bởi vai bà Hà của cô có lẽ có phần lép vế nếu so với “hai người vợ” còn lại, và một phần cũng vì đài từ của cô không thực sự phù hợp với một vai diễn đòi hỏi phải có chất giọng tiếng Việt chuẩn mực của một người “vợ cả” trong gia đình. Bù lại, hầu như toàn bộ các diễn viên nhí của Người vợ ba đều có diễn xuất giàu cảm xúc, trong đó đáng khen nhất có lẽ là hai cô bé thủ vai Liên và Nhàn là Lâm Thanh Mỹ - bé Mận của Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh và Mai Cát Vi – bé Mai của Hai Phượng.


Theo Phương Anh thì cô làm Người vợ ba để kể lại cho khán giả những câu truyện cô đã ấp ủ từ lâu về thân phận người phụ nữ Việt, bởi “các chủ đề về bản năng giới tính của phụ nữ, quá trình trưởng thành từ thời thơ ấu đến giai đoạn người lớn và cuộc đấu tranh vất vả của những cá nhân trong một xã hội bảo thủ, nhiều thành kiến luôn khiến tôi say mê. Tôi lớn lên trong một xã hội có truyền thống, lịch sử luôn đề cao giá trị cộng đồng hơn những con người cá nhân.” Rõ ràng là sau khi ra mắt khán giả, Người vợ ba đã làm được đúng những điều mà Phương Anh mong muốn thông qua những câu truyện hay, và những hình ảnh đẹp. Một trong những hình ảnh như thế trong bộ phim là chặng đường đời tuy ngắn ngủi nhưng đầy vất vả của những con nhộng tằm từ khi chỉ là những ấu trùng yếu ớt cho đến khi đủ sức nhả tơ tạo kén, và cuối cùng là biến thành chú bướm tằm tự do tự tại trong không gian. Hy vọng rằng trong tương lai gần, bất cứ người phụ nữ Việt nào cũng không còn chịu gò bó bởi chút tàn dư còn lại của tư tưởng gia trưởng phong kiến để tự sống, tự quyết như những chú bướm tự do. Và tất nhiên người hâm mộ điện ảnh Việt Nam sau khi xem Người vợ ba cũng đều mong đợi rằng Phương Anh sẽ tiếp tục nhả tơ nghệ thuật để tạo nên những bộ phim đẹp và đầy ý nghĩa về đất nước Việt, về tâm hồn Việt.


=========

Bài đã biên tập trên Zing.

samedi 9 mars 2019

Period. End of Sentence. (2018)


Period. End of Sentence. là tên một bộ phim tài liệu ngắn dài 25 phút của nữ đạo diễn người Mỹ gốc Iran Rayka Zehtabchi về một chủ đề “khó nói” không chỉ với riêng chỉ em phụ nữ - tác động của kinh nguyệt và băng vệ sinh lên cuộc sống của những người phụ nữ nghèo. Lấy bối cảnh những con phố nghèo ở Hapur, nơi người dân Ấn Độ vẫn còn phải vật lộn hàng ngày để kiếm miếng ăn trong những căn nhà tuềnh toàng đến xơ xác. Cái nghèo triền miên và những hủ tục truyền đời khiến phần lớn phụ nữ Ấn Độ không có cơ hội dùng, hay thậm chí là không biết tới cả tác dụng của băng vệ sinh để giữ gìn vệ sinh trong những ngày “đến kỳ”. “Bản án” kinh nguyệt mà không có băng vệ sinh cũng gắn chặt với số phận của rất nhiều phụ nữ Hapur, khiến họ không có cơ hội học hành, đổi đời, và thậm chí không thể làm những việc cơ bản nhất như cầu nguyện thần linh trong các đền thờ Hindu khi kỳ kinh ập đến bởi định kiến của cả xã hội, nhất là phe nam giới, về sự “dơ dáy” đầy cấm kị của kinh nguyệt.
Làm thế nào để phụ nữ nghèo ở Hapur vượt qua tâm lý e ngại về kinh nguyệt – vốn chỉ là sự bất tiện về mặt sinh lý mà bất cứ người phụ nữ nào cũng phải đối mặt, và nhất là làm thế nào để cung cấp cho họ thứ tiện ích vừa hiệu quả vừa rẻ tiền để xử lý vấn đề vệ sinh trong thời kỳ kinh nguyệt là một câu hỏi không dễ gì giải quyết. Period. End of Sentence. cung cấp cho người xem một lời giải tiềm năng cho câu hỏi khó này – đó là sự kết hợp giữa chiếc máy làm băng vệ sinh từ bông gòn với kinh phí thấp, hiệu năng cao của nhà phát minh Arunachalam Muruganantham và quan trọng hơn thế là tinh thần năng động, dám nghĩ, dám làm của chính những người phụ nữ Hapur với ước vọng cởi trói cho chính cuộc đời họ.
Một đề tài tưởng như rất bình thường nhưng lại khó nói, thậm chí là điều kiêng kỵ với nhiều người như vấn đề kinh nguyệt và băng vệ sinh rõ ràng không phải là một lựa chọn dễ dàng cho các nhà làm phim tài liệu. Lý do là vì nhà làm phim nữ Zehtabchi vừa phải tìm được những khía cạnh mới mẻ, sáng tạo về một chủ đề “muôn năm cũ” mà chẳng mấy người đoái hoài, nhưng trong khuôn khổ của dòng phim tài liệu cô lại cũng không thể kịch tính hóa đề tài lạ này theo cái cách Brian De Palma đã tiếp cận cho tác phẩm giật gân Carrie (1976) hay miêu tả nó một cách nhẹ nhàng và thơ mộng như Isao Takahata đã làm trong kiệt tác hoạt hình Only Yesterday (1991). Nhưng Period. End of Sentence. đã cho thấy tiềm năng của một tác phẩm tài liệu hấp dẫn ngay từ cái tên của mình. Period trong tiếng Anh vừa có nghĩa là “dấu chấm câu”, vừa có nghĩa là chu kì kinh nguyệt, còn “end of sentence” vừa có thể hiểu là một sự kết thúc của một câu nói thông thường, vừa có nghĩa là dấu chấm hết cho một “bản án”. Quả thực, Period. End of Sentence. không chỉ đơn thuần là câu truyện về vai trò của kinh nguyệt và băng vệ sinh trong đời sống hiện đại của phụ nữ Ấn Độ, mà quan trọng hơn tác phẩm tài liệu ngắn này là một lời khích lệ mạnh mẽ gửi tới những người phụ nữ còn đang chịu cảnh hắt hủi, khinh thường trong các gia đình, xã hội còn chịu ảnh hưởng của những hủ tục, định kiến đầy chất gia trưởng. Qua Period. End of Sentence., Rayka Zehtabchi muốn gửi tới những người phụ nữ như cô lời nhắn rằng nếu họ có niềm tin, và chủ động đứng lên để thay đổi cuộc đời mình, thì chẳng điều gì, từ một “phiền phức” về mặt sinh lý như kinh nguyệt cho tới rào cản xã hội từ những người đàn ông luôn coi “đàn bà” là “công dân hạng hai”, có thể ngăn cản những người phụ nữ ấy đạt được những ước mơ vươn cao, vươn xa trong cuộc sống.
Tất nhiên một tác phẩm giành giải Oscar cho phim tài liệu ngắn xuất sắc nhất không thể chỉ dừng lại với một thông điệp xã hội sâu sắc. Period. End of Sentence. thực sự là một bộ phim tài liệu hay bởi chỉ trong vòng 25 phút ngắn ngủi, Rayka Zehtabchi đã chia sẻ với người xem rất nhiều hình ảnh đáng nhớ về muôn mặt những người phụ nữ nghèo ở Hapur, già có, trẻ có, chủ động có, bị động có, xinh xắn có, chất phác có, nhưng ai ai cũng ấp ủ trong lòng một khát vọng đổi đời, khát vọng vươn lên từ bàn đạp đơn giản nhất – những chiếc băng vệ sinh. Thông qua những góc máy cận cảnh chan chứa sự chân thành của cả những người làm phim và những chủ thể của các cuộc phỏng vấn trong phim, Period. End of Sentence. giúp người xem, đặc biệt là những khán giả nam giới, hiểu thêm về lý do tại sao một vấn đề tưởng chừng “đơn giản” như việc không có băng vệ sinh lại có thể đẩy cuộc đời những người phụ nữ nghèo vào chỗ không lối thoát. Và cũng từ chính những góc máy ấy, chúng ta có thể cảm nhận sự đổi thay của xã hội, của cả những người đàn ông một khi những người phụ nữ đã dám mạnh mẽ xốc tới làm chủ số phận, giúp nhau cùng đẩy lùi những định kiến, nghi kị của người đời.
Mở đầu và kết thúc bằng hình ảnh những cô gái trẻ Ấn Độ sẵn sàng làm việc vất vả để thực hiện được ước mơ trở thành cảnh sát, trở thành những người phụ nữ được gọi một cách tôn trọng bằng chính cái tên của họ thay vì cái danh xưng “con của ông X” hay “vợ của ông Y”, rõ ràng Period. End of Sentence. không chỉ đơn thuần là một câu truyện điện ảnh được “chấm hết” sau 25 phút của nhà làm phim nữ Rayka Zehtabchi. Hẳn Zehtabchi khi hoàn tất bộ phim tài liệu này đã muốn tác phẩm của cô sẽ truyền được cảm hứng cho cả những người phụ nữ vươn lên, và cho cả xã hội trong việc chung tay, góp sức để những người phụ nữ ấy thực hiện được ước mơ của mình thông qua những giúp đỡ dù là nhỏ nhất. Tất nhiên nữ giới vẫn cần có ngày của riêng họ, vẫn muốn được tặng những bó hoa thể hiện sự trân trọng, yêu quý từ nửa kia của thế giới. Nhưng quan trọng hơn thế, họ cần sự tôn trọng, và ủng hộ không ngừng nghỉ để có thể đẩy lui những tàn dư của tư tưởng gia trưởng lạc hậu, để họ có thể chủ động nắm lấy số phận, chủ động thực hiện những hoài bão giành lấy vị trí xứng đáng trong một xã hội bình quyền.
=====