some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

Affichage des articles dont le libellé est 1987 film. Afficher tous les articles
Affichage des articles dont le libellé est 1987 film. Afficher tous les articles

lundi 31 décembre 2018

City on Fire (1987, revised version)



A revision to honor the memory of Ringo Lam (December 8, 1955 - December 29, 2018). The original review.

Thập niên 1980 được coi là thời kỳ hoàng kim của điện ảnh Hồng Kông với rất nhiều tác phẩm điện ảnh và tên tuổi nghệ sĩ đáng nhớ của đủ mọi dòng phim từ hành động, kiếm hiệp, tâm lý xã hội, hài, kinh dị, và thậm chí là cả phim cấp III. Tuy thành công trên nhiều mặt và lôi cuốn sự chú ý của công chúng, đặc biệt là công chúng châu Á, nhưng điện ảnh xứ Cảng Thơm gây tiếng vang ở tầm quốc tế và gây ảnh hưởng tới giới làm phim Hollywood và thế giới chủ yếu qua dòng phim hành động, đặc biệt là thông qua các tác phẩm của bộ đôi đạo diễn-giám chế Từ Khắc và Ngô Vũ Sâm. Trẻ tuổi hơn Từ và Ngô, có sự nghiệp ngắn ngủi hơn hai bậc đàn anh, nhưng được coi là có dấu ấn không kém đối với dòng phim hành động Hồng Kông thập niên 1980 là Lâm Lĩnh Đông (Ringo Lam). Ảnh hưởng này của Lâm Lĩnh Đông có được phần nhiều là bộ phim Long hổ phong vân (City on Fire, 1987) – một trong những tác phẩm đáng nhớ nhất trong lịch sử điện ảnh Hồng Kông.

Long hổ phong vân là câu truyện về Cao Thu (Châu Nhuận Phát), một đặc cảnh chuyên được giao nhiệm vụ thâm nhập các băng đảng xã hội đen của Hồng Kông. Quá chán nản với công việc nội gián vừa hiểm nguy vừa đòi hỏi cách hành xử hai mặt, lại mong muốn được sớm lập gia đình với người bạn gái A Hồng (Ngô Gia Lệ), Cao Thu cố gắng tìm mọi cách từ bỏ công việc cảnh sát chìm này. Tuy nhiên, sau khi một cảnh sát chìm khác (Từ Cẩm Giang) bị bại lộ danh tính khi đang điều tra một vụ cướp trang sức và bị bọn tội phạm sát hại, thượng cấp của Cao là thanh tra Lưu (Tôn Việt) đã thuyết phục Cao Thu thực hiện phi vụ nội gián cuối cùng - luồn vào hàng ngũ một băng cướp để moi thông tin về kế hoạch đánh cướp của chúng nhờ đó giúp cảnh sát bắt được băng cướp đồ trang sức này ngay tại trận. Bằng kinh nghiệm lâu năm, cuối cùng Cao Thu cũng thâm nhập được băng đảng của A Hổ (Lý Tu Hiền). A Hổ khét tiếng là tay anh chị cộm cán, từng thẳng tay giết cảnh sát để yểm trợ đồng bọn. Nhưng càng nằm vùng trong băng đảng của gã, Cao Thu càng nhận ra rằng A Hổ là một tay giang hồ "thứ thật", trọng nghĩa khí và quan tâm chân thành đến đàn em - điều mà chính cấp trên của Cao Thu, những cảnh sát "thứ thật", lại không hề có đối với một điệp viên nằm vùng như Cao Thu. Thật ngược đời khi tuy là cảnh sát, Cao Thu lại chỉ tìm được duy nhất một người ủng hộ từ lực lượng của mình là thanh tra Lưu, một sĩ quan đã già và luôn bị lấn áp bởi tay thanh tra trẻ tuổi họ Trần (Trương Diệu Dương). Thêm vào đó, cuộc sống riêng tư của Cao cũng gặp rắc rối khi A Hồng bày tỏ rằng cô không thể chịu đựng được cuộc sống hai mặt của người bạn trai. Chiếm được lòng tin của A Hổ, dần tiến đến mục tiêu phá án khi băng cướp của gã chuẩn bị tiến hành một phi vụ lớn, nhưng Cao Thu dần nhận ra rằng anh đang đứng trước một lựa chọn sinh tử - hoặc quay lưng lại với tình nghĩa chân thành mà A Hổ dành cho mình để đưa băng cướp vào cái bẫy giăng sẵn của cảnh sát, hoặc theo A Hổ đến cùng để rồi vi phạm nhiệm vụ mà mình được giao. 

Long hổ phong vân sử dụng mô-típ nổi tiếng của phim hình sự Hồng Kông - cảnh sát làm nội gián phải đứng trước tình huống khó xử về mặt đạo nghĩa là làm thế nào để vừa hoàn thành nhiệm vụ để bảo toàn chữ “trung”, vừa đáp lại được tình huynh đệ sống chết có nhau của những “người anh em” trong băng đảng để bảo toàn chữ “nghĩa”. Nhắc tới mô-típ này, nhiều khán giả sẽ nghĩ ngay tới những tác phẩm nổi tiếng khác của điện ảnh Hồng Kông như Lạt thủ thần thám (Hard Boiled, 1992) của Ngô Vũ Sâm (trong đó Lương Triều Vỹ được giao vai cảnh sát nội gián tương tự vai Cao Thu của Châu Nhuận Phát) và Vô gián đạo (Infernal Affairs, 2002) của Lưu Vỹ Cường (bộ phim vẫn với Lương Triều Vỹ trong vai cảnh sát nội gián). Lưu Vỹ Cường chính là nhà quay phim của Lâm Lĩnh Đông trong Long hổ phong vân, có lẽ vì vậy “Vô gián đạo” có một số chi tiết kịch bản khá tương đồng với tác phẩm của đạo diễn họ Lâm. Tuy vậy, nếu so sánh với Vô gián đạo thì nhìn chung kịch bản của Long hổ phong vân chưa thể coi là mang tính đột phá với cấu trúc tuyến tính truyền thống của dòng phim hành động Hồng Kông và có không nhiều những nút thắt mở để thu hút khán giả. Để bù đắp cho điểm yếu về kịch bản, Lâm Lĩnh Đông đem tới cho Long hổ phong vân thế mạnh lớn nhất của ông - những cảnh quay hành động hoành tráng, mang tính biểu tượng cao, đồng thời luôn giữ được nhịp phim dồn dập, cuốn hút mà không cần nhờ tới những "kĩ xảo" về mặt kịch bản. Nhịp phim nhanh, được đẩy dần lên cho tới trường đoạn cao trào đã giúp Long hổ phong vân hoàn toàn lôi cuốn khán giả khi tác phẩm này tránh được những phút bi luỵ không đáng có mà một đạo diễn non tay hơn sẽ rất dễ mắc phải nếu tập trung quá nhiều vào việc khai thác quan hệ giữa Cao Thu và A Hồng.

Đóng góp đáng kể vào thành công của Long hổ phong vân là diễn xuất tưng tửng nhưng đầy cuốn hút của Châu Nhuận Phát, anh vừa tỏ ra mình là một tay xã hội đen hạng bét lêu lổng, cợt nhả, lại vừa thể hiện được rằng đằng sau cái mặt nạ "nham nhở" đó là một cảnh sát, đúng hơn là một con người biết trân trọng sứ mệnh được giao và cả nghĩa khí theo kiểu giang hồ. Gây ấn tượng không kém Châu là Lý Tu Hiền – diễn viên “chuyên trị” vai thanh tra cảnh sát nhưng vẫn chứng tỏ được tài năng trong vai tay trùm A Hổ tàn bạo nhưng trọng nghĩa khí. Cao Thu và A Hổ chính là trung tâm của những cảnh hành động mang tính hình tượng rất cao của “Long hổ phong vân” mà sau này nhiều đạo diễn Hollywood nổi tiếng đã gần như áp dụng y nguyên cho các bộ phim hành động của họ. Đó là cảnh đấu súng tay ba mà sau này Quentin Tarantino sử dụng cho Reservoir Dogs (1992), hay hình ảnh đạn xuyên qua vách tôn tạo những lỗ hổng kiểu “thiên hà” cho ánh sáng lọt vào mà sau này Luc Besson lặp lại trong tác phẩm đáng nhớ Léon: The Professional (1994). Tất nhiên, nhiều phim hành động kiểu truyền thống khác của Hồng Kông cũng cố gom hết các yếu tổ "ấn tượng" như vậy vào một tiếng rưỡi phim (thời lượng trung bình của hầu hết phim Hồng Kông) nhưng kết hợp một cách thành công, tránh được những lỗi ngớ ngẩn về quay phim, dựng phim thì có lẽ không ai bằng được Lâm Lĩnh Đông và Ngô Vũ Sâm. 

Kể từ năm 1992 trở lại đây, Quentin Tarantino luôn được coi là một trong những đạo diễn hàng đầu của Hollywood. Sự nghiệp dày dặn, được nhiều người nể phục này của Tarantino được mở đầu một cách vang dội bằng tác phẩm hành động kịch tính với cá tính rất riêng Reservoir Dogs. Nhưng với nhiều người hâm mộ điện ảnh Hồng Kông, Reservoir Dogs chẳng qua chỉ là một phiên bản “bắt chước” hay “làm lại của “Long hổ phong vân”. Quả thực hai tác phẩm này có một vài phân cảnh giống nhau, và nếu áp đặt một cách khiên cưỡng thì người ta cũng có thể nói rằng hình tượng cảnh sát nội gian Cao Thu cũng được Tarantino “xào” lại cho Reservoir Dogs. Tuy nhiên, cách thực hiện, ý tưởng phim của hai tác phẩm hoàn toàn khác nhau, và việc gom chung hai phim làm một như vậy không chỉ làm giảm giá trị cho phong cách làm phim nhiều thoại, nhiều nút thắt mở của Quentin Tarantino, mà cũng làm giảm giá trị của cả phong cách phim hành động rất riêng của Lâm Lĩnh Đông vốn tập trung vào nhịp phim và hành động hoành tráng.

Long hổ phong vân đem lại cho Lâm Lĩnh Đông thành công lớn về thương mại và nghệ thuật khi bộ phim vừa gây tiếng vang trên thị trường vừa đem lại cho Lâm giải thưởng đạo diễn xuất sắc nhất tại Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông năm 1987. Sau tác phẩm này, Lâm Lĩnh Đông còn cho ra đời nhiều bộ phim Phong vân (On Fire) khác như Giam ngục phong vân (Prison on Fire, 1987), Học giáo phong vân (School on Fire, 1988) và gần đây nhất là Trùng thiên hoả (Sky on Fire, 2016) nhưng không tác phẩm nào đạt tới được thành công của bộ phim gốc. Lâm Lĩnh Đông cũng từng thử sức ở Hollywood khi ông hợp tác với ngôi sao phim hành động người Bỉ Jean-Claude Van Damme trong các tác phẩm không mấy thành công là Maximum Risk (1996) và Replicant (2001). Ngay cả tác phẩm được coi là thành công bậc nhất của Lâm Lĩnh Đông cho tới trước khi ông qua đời vào ngày 29 tháng 12 năm 2018 vừa qua là bộ phim hành động “tinh tuyền” Cao độ giới bị (Full Alert, 1997) cũng chưa thể sánh ngang với Long hổ phong vân về mức độ lôi cuốn khán giả. Tuy nhiên có lẽ Lâm Lĩnh Đông cũng chẳng buồn, vì đời làm điện ảnh thường chỉ có một đỉnh cao duy nhất, và nếu cái đỉnh cao ấy là một tác phẩm “phải xem” đối với bất cứ ai yêu điện ảnh Hồng Kông, yêu phim hành động như Long hổ phong vân thì cũng đã là quá đủ để đạo diễn họ Lâm tự hào.  

=====

samedi 1 mai 2010

City on Fire (1987), Full Alert (1997), Beast Cops (1998)


Một tác phẩm kinh điển cho dòng phim hành động thập niên 1980, đặc biệt là phim hình sự-xã hội đen của Hồng Kông. City on Fire (tên tiếng Trung kêu hơn nhiều - Long hổ phong vân) còn được nhớ tới vì nhiều fan hâm mộ phim Hồng Kông vẫn "hậm hực" rằng Reservoir Dogs của Quentin Tarantino chẳng qua chỉ là một bản remake của bộ phim này.

City on Fire sử dụng mô-típ nổi tiếng của phim hình sự Hồng Kông - cảnh sát làm nội gián phải đứng trước dilemma (tình trạng khó xử) giữa nhiệm vụ (chỉ điểm kẻ phạm tội) và tình nghĩa (bảo vệ tình huynh đệ với kẻ phạm tội), một mô-típ sau này tiếp tục được áp dụng thành công trong các bộ phim khác như Hard Boiled của Ngô Vũ Sâm (với Lương Triều Vỹ vào vai cảnh sát nội gián) và Vô gian đạo của Lưu Vỹ Cường (với, vẫn, Lương Triều Vỹ vào vai cảnh sát nội gián) - Lưu Vỹ Cường chính là quay phim của City on Fire, có rất nhiều đạo diễn Hồng Kông thành danh từ chân quay phim. Nhưng Lương Triều Vỹ không tham gia City on Fire, anh chắc vẫn còn bận đóng chưởng bộ (phim truyền hình cổ trang), người thủ vai tay cảnh sát nội gián Cao Thu không ai khác ngoài Châu Nhuận Phát. Cao Thu có nhiệm vụ luồn vào hàng ngũ một băng cướp để moi thông tin về kế hoạch đánh cướp của chúng nhờ đó giúp cảnh sát bắt được băng cướp đồ trang sức này ngay tại trận. Ở phía đối diện, Lý Tu Hiền (người chuyên trị đóng ... cảnh sát) vào vai tay anh chị A Hổ khét tiếng từng thẳng tay giết cảnh sát để yểm trợ đồng bọn. Cao Thu nhanh chóng thu phục được lòng tin của A Hổ, nhưng đồng thời cũng dần nhận ra rằng A Hổ là một tay giang hồ "thứ thật", trọng nghĩa khí và quan tâm chân thành đến đàn em - điều mà cấp trên của Cao Thu, những cảnh sát "thứ thật", không hề có đối với một điệp viên nằm vùng như Cao Thu (trừ cấp trên trực tiếp của anh, một sĩ quan già luôn bị lấn áp bởi tay thanh tra trẻ tuổi, tay sĩ quan này do Trương Diệu Dương - người sau này ... chuyên trị vai xã hội đen, đóng). Cao trào của bộ phim là khi băng cướp tiến hành một phi vụ lớn - Cao Thu phải đứng trước lựa chọn sinh tử, hoặc quay lưng lại với tình nghĩa chân thành mà A Hổ dành cho mình để tố cáo A Hổ, hoặc theo A Hổ đến cùng để rồi vi phạm nhiệm vụ mà mình được giao. Hơn thế, Cao Thu còn phải gắng sống sót để nối lại tình cảm với người bạn gái (do Ngô Gia Lệ - ngôi sao của ... phim cấp III Naked Killer đóng).

Nhìn chung kịch bản của City on Fire không có đột phá nào đáng kể, phim cũng được kể theo trình tự thông thường và không sử dụng twist and turn (khác hẳn với Reservoir Dogs). Nhưng những điểm đó chưa bao giờ là thế mạnh của đạo diễn Lâm Linh Đồng, ông nổi tiếng nhờ tài đạo diễn những cảnh quay hành động hoành tráng, mang tính hình tượng (iconic) cao, đồng thời luôn giữ được nhịp phim dồn dập, cuốn hút mà không cần nhờ tới những "kĩ xảo" về mặt kịch bản. City on Fire thể hiện rất rõ những đặc điểm này của Lâm Linh Đồng. Với một kịch bản không lấy gì làm mới lạ, bộ phim vẫn lôi cuốn người xem nhờ nhịp phim nhanh, được đẩy dần lên cho tới trường đoạn cao trào và tránh được những phút bi lụy không đáng có (mà một đạo diễn khác non tay hơn sẽ rất dễ mắc phải nếu tập trung khai thác quan hệ giữa Cao Thu và bạn gái). Đóng góp đáng kể vào thành công này là diễn xuất tưng tửng nhưng cuốn hút (charismatic) của Châu Nhuận Phát, anh vừa tỏ ra mình là một tay xã hội đen hạng 3 lêu lổng, cợt nhả, lại vừa thể hiện được rằng đằng sau cái mặt nạ "nham nhở" đó là một cảnh sát, đúng hơn là một con người biết trân trọng sứ mệnh được giao và cả nghĩa khí theo kiểu giang hồ. Tất nhiên, City on Fire còn gây ấn tượng lớn với khán giả nhờ nhiều cảnh hành động mang tính hình tượng rất cao: ông già mù thổi saxophone giữa màn đọ súng ác liệt; Mexican standoff "kiểu The Good, The Bad and the Ugly" giữa ba người của băng tội phạm (mà sau này Reservoir Dogs lặp lại y hệt); đạn xuyên qua vách tôn tạo thành những lỗ hổng kiểu "thiên hà" cho ánh sát lọt vào (mà sau này Léon của Luc Besson lặp lại tương tự);... Tất nhiên nhiều phim hành động kiểu truyền thống khác của Hồng Kông cũng cố gom hết các yếu tổ "ấn tượng" như vậy vào một tiếng rưỡi phim (thời lượng trung bình của hầu hết phim Hồng Kông) nhưng kết hợp một cách thành công, tránh được những lỗi ngớ ngẩn về quay phim, dựng phim thì có lẽ không ai bằng được Lâm Linh Đồng (tất nhiên không kể tới phim gunfu của Ngô Vũ Sâm).

City on Fire xứng đáng là một tác phẩm "must" (Pháp giờ rất chuộng từ này?!) cho những người yêu phim Hồng Kông và những người thích phim hành động, nhất là vào thời buổi những phim hành động kiểu "tinh tuyền" thế này không còn đất sống.

Còn về so sánh giữa City on Fire và Reservoir Dogs, đúng là hai phim có một vài đoạn giống nhau (nếu khiên cưỡng có thể cộng thêm cả chi tiết kịch bản Cao Thu làm nội gián -nhưng cái này thì nhiều phim hành động khác của Hồng Kông cũng làm tương tự) nhưng cách thực hiện, ý tưởng phim của hai tác phẩm hoàn toàn khác nhau. "Buộc tội" Quentin Tarantino remake Lâm Linh Đồng vì những chi tiết giống nhau này cũng chẳng khác nào chê bai Inglourious Basterds của Quentin chỉ là tác phẩm "làm lại" từ The Dirty Dozen. Cần nhớ rằng phong cách của Lâm Linh Đồng là tập trung vào nhịp phim + hành động, phong cách của Quentin, ngay từ Reservoir Dogs, đã là tập trung vào thoại + cách dựng phim độc đáo, riêng hai phong cách này đã không thể trộn lẫn về mặt ý tưởng, đừng nói tới chuyện remake của nhau.


Sau City on Fire, Lâm Linh Đồng thực hiện thêm một số phim thành công khác rồi tiếp bước Ngô Vũ Sâm và Từ Khắc sang Hollywood tìm cơ hội. Và cũng ... giống như Ngô Vũ Sâm và Từ Khắc, Lâm Linh Đồng thất bại vì không thể thích ứng nổi với cách làm phim ở xứ sở công nghiệp này. Trở về Hồng Kông, Lâm Linh Đồng thực hiện Full Alert, một phim hành động "tinh tuyền" theo đúng "ước vọng".

Full Alert (dịch nguyên từ tiếng Trung - Cao độ giới bị) là cuộc đối đầu giữa thanh tra Bao (Lưu Thanh Vân) và tay tội phạm Mạch Khôn (Ngô Chấn Vũ). Khác với mô-típ phim hành động thông thường, Mạch Khôn ... bị bắt ngay đầu phim vì tội giết người, tuy nhiên thanh tra Bao lại nghi ngờ rằng Mạch Khôn dễ dàng để cảnh sát còng tay là vì muốn che dấu một âm mưu lớn hơn nhiều lần - đánh cướp một kho bạc nào đó ở Hồng Kông. Vấn đề nằm ở chỗ thanh tra Bao không thể khai thác được từ Mạch Khôn thông tin gì về âm mưu đó khi Mạch Khôn nhất quyết không hé môi về địa điểm dự định đánh cướp cũng như các đồng phạm của y. Táo tợn hơn nữa, Mạch Khôn còn tìm được cách vượt ngục nhờ cướp chiếc máy bay trực thăng chở thẩm phán đỗ trong sân nhà tù. Liệu thanh tra Bao có thể ngăn cản được một tay tội phạm thông minh và bản lĩnh như Mạch Khôn, liệu trong lúc đối đầu, ai sẽ chứng tỏ mình là kẻ máu lạnh hơn với khẩu súng trong tay.

Với Full Alert, Lâm Linh Đồng một lần nữa không làm người hâm mộ thất vọng khi ông thực hiện một bộ phim hành động đúng nghĩa, nhanh, dứt khoát, các cung đột cảm xúc được đẩy lên cao, nhiều cảnh hành động mang tính biểu tượng. Nếu như ở City on Fire, Lâm Linh Đồng đặt cho khán giả câu hỏi "nhiệm vụ và tình nghĩa cái nào quan trọng hơn?" thì ở bộ phim này, người xem được chứng kiến những giằng xé nội tâm của cả thanh tra Bao và Mạch Khôn về lựa chọn giữa phần "người" (lương tâm) và phần "con" (ra tay tàn bạo, lạnh lùng) để có thể hoàn thành mục đích. Khó có thể tìm được cặp diễn viên nào phù hợp hơn cho những nhân vật kiểu này như Lưu Thanh Vân và Ngô Chấn Vũ, và cả hai đã hoàn thành xuất sắc vai diễn của mình - những "cỗ máy" có bề ngoài lạnh lùng, hiệu quả nhưng bên trong lại ẩn chứa khối cảm xúc hỗn độn chỉ chờ dịp để nổ tung. Tiếc là giữa 1997 với 1987 đã có khoảng cách 10 năm, một thời gian dài cho những biến đổi về gu thưởng thức cũng như phong cách làm phim, vì vậy Full Alert dù rất gọn gàng, chặt chẽ vẫn trở nên có chút gì đó mệt mỏi và lạc mốt. Có thể thấy rõ hơn điều này nếu ai từng xem Triangle, một phim "bộ ba" do Từ Khắc - Lâm Linh Đồng - Đỗ Kỳ Phong thực hiện, phần do Lâm Linh Đồng lệch hẳn (kém hấp dẫn hơn, không "hiện đại" bằng) so với phần do Đỗ Kỳ Phong thực hiện. Vì vậy nên chỉ có thể cho phim 3 sao thay vì 4 sao như City on Fire.


Để thấy rõ hơn sự "lỗi mốt" của Full Alert có thể so sánh nó với bộ phim hình sự - hành động ra đời sau nó chỉ một năm - Beast Cops (dịch nguyên từ tiếng Trung - Dã thú hình cảnh) của bộ đôi Trần Gia Thượng và Lâm Siêu Hiền.

Mike (Vương Mẫn Đức), một cảnh sát tài năng của đội phản ứng nhanh, bị "đầy" xuống làm thanh tra đường phố vì tội phản ứng cấp trên. Trong vai trò mới, Mike-một cảnh sát mẫu mực, chỉn chu, "phải" cộng tác với Đông (Hoàng Thu Sinh), một thanh tra vốn làm việc quá lâu giữa đám xã hội đen tới mức cũng gần như trở thành một tay xã hội đen thứ thật, "đại ca Đông" cũng ham đánh bạc, ăn ở bừa bãi, che chở cho trùm giang hồ Roy (Trương Diệu Dương) và thậm chí là quan hệ với một phụ nữ đã lập gia đình (Xa Nguyên Nguyên). Nhưng qua thời gian làm việc, Mike cũng dần hiểu rằng Đông, dù có vẻ ngoài của một Beast Cop, vẫn là một cảnh sát đáng kính trọng vì dù sống giữa đám xã hội đen, "đại ca Đông" vẫn luôn giữ được phẩm cách (dignity) của mình, hơn thế chính nhờ Đông mà Mike tìm được "tình yêu" của mình - Yo Yo (Châu Hải Mỵ aka. Như Ý xinh đẹp của Mạt đại hoàng tôn), một ... má mì trong khu phố và là người yêu cũ của Roy-vốn đã bỏ trốn sang Canada vì phạm tội giết người. Nửa thời gian đầu của bộ phim trôi qua bình lặng nhưng giàu màu sắc với việc mô tả cuộc sống và công việc thường nhật của bộ đôi Mike - Đông cùng những con người sống trong khu xã hội đen. Rắc rối đến khi Hoa (Đàm Diệu Văn), một tay xã hội đen từng được "đại ca Đông" quan tâm bảo ban đột nhiên trở mặt và thể hiện lòng tham quyền lực vô độ, Hoa thậm chí sẵn sàng ra tay giết Roy-đại ca cũ của gã, để giành ngôi bá chủ khu xã hội đen. Đến đây "đại ca Đông" mới ngộ được một điều rằng mình không thể mãi đứng ở ranh giới giữa Beast và Cop, nhưng việc quay trở lại hàng ngũ Cop cũng không dễ dàng gì khi ông phải đối đầu với một con Beast tàn bạo như Hoa.

Điểm mạnh của Beast Cops hoàn toàn không nằm ở phần hành động, các trường đoạn hành động của phim không nhiều (trừ đoạn cao trào) và phần lớn được dàn dựng theo phong cách lạnh-gọn-tàn bạo gần với thực tế chứ không còn đẹp mắt kiểu gunfu như thời đầu thập niên 1990. Bù lại, Beast Cops lại xây dựng được một diện mạo mới mẻ cho hình tượng cảnh sát trong phim xã hội đen Hồng Kông, đó là một "đại ca Đông" với dòng máu nửa xã hội đen, nửa cảnh sát và cách hành xử cũng vừa quái dị vừa trượng nghĩa theo kiểu giang hồ pha anh hùng. Hoàng Thu Sinh, với cách diễn cương (over-the-top) quen thuộc đã giúp cho hình tượng này thực sự trở nên sinh động và cuốn hút người xem, ông diễn tốt, nhập vai không chỉ những đoạn điên điên khùng khùng của Đông mà cả những đoạn mô tả sự phân vân giữa cái thiện và cái ác, sự cô đơn vì thiếu sự quan tâm của người phụ nữ duy nhất "đại ca Đông" có tình cảm. Điểm gợn duy nhất của phim là việc Beast Cops quay trong bối cảnh đường phố thật, đồng nghĩa với việc không sử dụng diễn viên quần chúng, nói cách khác là quần chúng "thật" sẽ nhìn chằm chằm vào các diễn viên đang diễn, khiến cho người xem luôn thấy mình đang phải "xem phim" chứ không được chứng kiến một bộ "phim như thật". Cộng thêm kịch bản tương đối đơn giản và việc nhân vật "ác" Hoa hơi nhạt nhòa, không tương xứng với cặp Mike-Đông nên chỉ có thể chấm Beast Cops 3 sao. Dù gì thì đây vẫn là một phim hay, ngạc nhiên hơn nữa là được chứng kiến một vai diễn có hồn của Châu Hải Mỵ, người chỉ được làm "bình hoa di động" trong Fight Back to School 3 của Châu Tinh Trì.

dimanche 31 janvier 2010

Ima, Ai ni Yukimasu (2004), Hachiko monogatari (1987), The Sky Crawlers (2008)


Old entries from my very old blog:

====

Cái tên Yuko Takeuchi có gợi lên cho bạn điều gì không? Có lẽ là không, vậy hay xem thử poster phía trên. Hy vọng là khuôn mặt này "quen quen" với các bạn, đây là Yuko Takeuchi, diễn viên đóng vai Asuka trong loạt phim truyền hình nhiều tập Asuka, chiếu vào 12h trưa các ngày trong tuần trên VTV3 năm ... chả nhớ nữa. Hồi chiếu phim này, mẹ tôi và cả tôi đã trở thành fan hâm mộ vô điều kiện của em Asuka nhí nhảnh nhưng đầy nghị lực và sáng tạo, người đã tạo ra không biết bao nhiêu loại bánh (chẳng biết ăn có ngon không) nhưng rất rất đẹp, cả bộ phim gần trăm tập (hay hơn ý nhỉ) là xã hội Nhật thu nhỏ suốt một giai đoạn dài sau chiến tranh Thế giới thứ II thể hiện qua ... những chiếc bánh truyền thống, và đương nhiên là qua em Asuka xinh tươi do Yuko thủ vai.

Vậy mà không ngờ lại được gặp Yuko, bây giờ không còn trẻ trung như hồi đóng Asuka nữa, nhưng vẫn rất xinh, xinh kiểu phụ nữ, qua bộ phim Ima, Ai ni Yukimasu - tên tiếng Anh là Be with you, dịch ra tiếng Việt (có lẽ) sẽ là Gần bên anh, hay Gần bên nhau (cái sau thì hợp với ý nghĩa phim hơn).

Bộ phim bắt đầu bằng ngày sinh nhật lần thứ 18 của Yuji Aio, cậu nhận được chiếc bánh sinh nhật như thường lệ từ người đưa bánh, cho dù cửa hàng của ông thực ra đã đóng cửa, và ông đưa nó chỉ để giữ lời hứa của mình. Sau đó Yuji đạp xe đến cánh rừng gần nhà, để nhớ lại 6 tuần kì diệu trong đời cậu.

Đó là mùa mưa 12 năm về trước, Yuji và bố cậu, Takumi Aio, vừa mất đi người thân yêu nhất của họ, người phụ nữ duy nhất của gia đình, Mio Aio - mẹ của Yuji và vợ của Takumi. Cuộc sống của hai bố con thực sự khó khăn khi Takumi, tuy rất thương con, nhưng lại bị mắc chứng yếu thần kinh và luôn tự dằn vặn vì đã không thể mang lại hạnh phúc cho người vợ đã mất, còn Yuji, luôn tỏ ra khích lệ bố khi vui vẻ ăn những món rất dở do Takumi nấu, lại cũng luôn nghĩ cậu đã làm cho mẹ qua đời. Cuộc sống hai người chỉ có một điểm sáng nhỏ nhoi, đấy là câu chuyện về ngôi sao Akaibu, nơi người mẹ đã mất của Yuji tạm dừng chân trước khi quay trở lại với hai bố con, khi mùa mưa đến.

Cuối cùng mùa mưa cũng bắt đầu trên khu rừng gần nhà Aio, hai bố con lại thơ thẩn trong ngôi nhà đổ nát ở bìa rừng, và trong làn mưa, hai người chợt nhận thấy một bóng người, Mio! Người phụ nữ - giống hệt Mio ấy - không may lại chẳng nhớ chút gì về bản thân mình, cái tên của của cô là gì, họ là ai - người đàn ông và đứa trẻ đang tỏ ra sung sướng khôn tả và luôn miệng gọi cô là Mio. Nhưng chỉ cần sự xuất hiện của cô thôi, niềm vui, sự sống cũng đã quay trở lại, chỉ có một việc "nhỏ", đấy là cô phải nhớ lại được quá khứ của mình.

Có Mio, cuộc sống của hai bố con Takumi khác hẳn, Yuji không còn phải ăn món trứng rán cháy của bố, căn nhà nhỏ cũng không còn bừa bộn với quần áo chăng dọc ngang mà đã ngăn nắp, đầy tiếng cười, tất cả như bừng sáng giữa những ngày mưa u ám. Mio cũng dần dần lấy lại được "quá khứ" của mình qua những câu chuyện của Takumi, từ mối tình đơn phương của anh chàng Takumi rụt rè ngày cấp III đến buổi hẹn hò đầu tiên của hai người sau hai năm rưỡi quen biết nhau với lý do là ... một cái bút. Nhưng cả hai bố con, trong những ngày vui tưởng chừng như vô tận, vẫn canh cánh một nỗi lo, đấy là trong lời hứa sẽ quay trở lại của Mio trước khi mất, cô cũng nói rằng mình sẽ phải ra đi khi mùa mưa kết thúc. Còn Mio, sau khi tìm thấy quyển nhật kí của chính mình, cô cũng tỏ vẻ lo âu và bắt đầu dạy Yuji cách chăm lo cho ông bố yếu đuối của cậu, phải chăng cô sẽ ra đi, đột ngột như cách cô đã đến?

Điều gì sẽ xảy ra? quyển nhật kí của Mio chứa đựng những bí mật gì? Mời mọi người ... đi thuê DVD về xem, chứ phim cũng cũ rồi, từ năm 2004, vả lại Việt Nam ngoài phim Holywood, chỉ chuộng phim Hàn xẻng, nên cũng chẳng hy vọng phim này được chiếu ngoài rạp, chỉ có một lời khuyên cho mọi người, phim này đáng xem, và đừng vội đoán trước kết cục làm gì, hãy ngắm nhìn cuộc sống hạnh phúc của gia đình nhà Aio, và những câu chuyện về quá khứ của Takumi, bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc.

Be with you không chỉ đáng xem với nội dung rất hay của mình, mà còn có những cảnh quay rất đẹp (hãy xem poster cánh đồng hoa hướng dương của phim), nhạc phim cũng rất hay (theme song của phim, bài hát Hana của rock band Orange Range là đĩa đơn bán rất chạy năm 2005 ở Nhật), và đương nhiên là một dàn diễn viên không thể chê được. Ngoài Yuko Takeuchi vai Mio, người đóng vai anh chồng khù khờ Takumi là Shido Nakamura cũng rất đạt (anh này là người đóng vai kiếm sĩ Nhật trong Hoắc Nguyên Giáp - Fearless của Lý Liên Kiệt), còn phải kể đến Akashi Takei, cậu bé Yuji 6 tuổi với giọng nói rất dễ thương, thậm chí chỉ một vai rất nhỏ trong phim, vai cô giáo của Yuji ở trường tiểu học, do diễn viên Ehara Yukiko thủ vai, cũng để lại nhiều ấn tượng.

Khi yêu thương nhau, hãy tìm đến với nhau, đấy là lời nói của Mio, cũng là thông điệp của bộ phim dành cho mọi người.

====

This one is for my very dear Midori:


Một bộ phim không có gì đặc biệt ngoại trừ ... cốt truyện đặc biệt của nó.
Hachiko monogatari nói về cuộc đời của một ... con chó có tên Hachiko kể từ giây phút chú lọt lòng mẹ cho tới giây phút Hachiko từ giã cuộc đời, cả hai đều diễn ra trong những cơn bão tuyết trắng trời trắng đất. Tất nhiên để trở thành nhân vật của không chỉ một, mà nhiều bộ phim (trong đó có một phim vừa ra đời năm 2009 do Richard Gere thủ vai chính) thì Hachiko không thể là một con chó bình thường, để có mục từ trên Wikipedia thì lại càng phải là một con chó đặc biệt, và sự thực thì Hachiko hoàn toàn xứng đáng với cái sự đặc biệt mà loài người nghĩ về chú.

Hachiko sinh năm 1923, chú được một ông giáo sư nông học khả kính nhận nuôi để thay thế con chó yêu của ông vừa mất. Con gái duy nhất vừa lấy chồng, ông giáo sư dành hết thời gian rỗi để chăm sóc Hachiko, tắm cho chú, dắt chú đi dạo và thậm chí còn có lần ngủ cùng chú. Và như mọi chú chó thuộc giống Akita trung thành khác, Hachiko cũng hết sức yêu quý ông chủ của mình, chú chó luôn quấn quýt lấy ông giáo sư và ngày ngày theo chân ông ra ga tàu đi làm buổi sáng và đến chiều lại tự động ra ga tàu chờ ông trở về, chính xác và đều đặn mà chẳng cần tới bất cứ loại đồng hồ nào. Nhưng rồi một ngày hè năm 1925, ông giáo sư đã không còn trở về ga tàu quen thuộc, ông đã qua đời ngay trên bục giảng sau một cơn đau tim đột ngột. Dù muốn hay không thì mọi người trong gia đình, bạn bè, người thân của ông giáo sư cũng dần dần phải chấp nhận sự mất mát để tiếp tục cuộc sống thường nhật, trừ Hachiko. Chú chó vẫn ngày ngày ra sân ga vắng để đợi chủ, rồi lại quay trở về mà không hiểu ông chủ của mình đã đi đâu. Ngay cả khi ngôi nhà cũ bị bán đi, Hachiko được gửi nuôi cho một gia đình mới, chú vẫn thường xuyên giật đứt xích để tới đón người chủ đã không bao giờ quay trở về. Tất nhiên chẳng ai có thể nuôi một con chó thường xuyên lêu lổng như vậy, Hachiko trở thành chó hoang, nhưng cuộc sống ngoài đường khắc nghiệt cũng không thể ngăn cản chú tiếp tục cuộc chờ đợi bất tận của mình. Thực ra là cũng không "bất tận" cho lắm vì Hachiko chỉ trụ vững được tới năm 1935, chú gục ngã ngay trên sân ga nơi 10 năm liên tục không ngừng nghỉ chú đã đứng chờ người chủ mãi mãi không bao giờ quay về của mình.

Hachiko monogatari là một bộ phim tear-jerker (lấy nước mắt) đúng như câu chuyện vừa kể trên, vì vậy nó sẽ thích hợp cho ai yêu quý chó hoặc ... thích bị lấy nước mắt. Và chắc con số đó ở Nhật cũng đủ đông để biến bộ phim trở thành một tác phẩm ăn khách ở Nhật năm 1987. Có lẽ ai bỏ tiền mua vé xem phim cũng đều mang một mong muốn: "Giá mà trong đời mình có một người trung thành và thân thiết như Hachiko". Vậy hãy cứ chờ đợi như chú chó Hachiko đợi chủ đi đã.

Đây là một tác phẩm của Mamoru Oshii - "cha đẻ thật sự" của siêu phẩm The Matrix (vốn có thể coi là phiên bản live action của anime Ghost in the Shell do Oshii làm đạo diễn). Có thể tóm tắt The Sky Crawlers bằng công thức: The Sky Crawlers = 1984 + Never Let Me Go. Đặt trong bối cảnh thế giới bê nguyên xi từ 1984, bộ phim nói về những đứa trẻ, đúng hơn là những người-máy, được "sinh" ra chỉ với mục đích duy nhất - trở thành phi công chiến đấu và rồi bị bắn rụng trên bầu trời. Bộ phim mang cái không khí buồn man mác như trong Never Let Me Go, khi mà các nhân vật chính biết rõ số phận của mình trong tương lai, biết rõ sự vô nghĩa của cuộc sống mình đang sống, nhưng vẫn cứ phải sống vì đó là nghĩa vụ của họ. Đây là những mâu thuẫn, xung đột nội tâm mà Oshii đã khai thác rất sâu (và rất thành công) trong loạt GitS. Nói là thành công vì cái không khí tâm lý nặng nề của phim được "pha loãng" bằng vô số pha hành động đẹp mắt và sáng tạo đến bất ngờ, The Sky Crawlers cũng có nhiều pha không chiến đẹp theo kiểu anime nhưng không thể bù lại được cho nội dung chậm của phim, nhất là với những ai không quen thuộc với 1984 thì có lẽ xem phim sẽ khó lòng tiếp nhận được cái bối cảnh thế giới "quái dị" ấy. Vì thế không lạ khi The Sky Crawlers thua Ponyo tại giải phim hoạt hình xuất sắc nhất của Viện Hàn lâm Nhật Bản.


samedi 19 septembre 2009

The Princess Bride (1987)


Nói ngắn gọn, The Princess Bride là một "nồi lẩu" kiểu thập niên 1980. Nhưng lẩu đây là "lẩu thật", dễ ăn và ngon miệng theo đúng chất Rob Reiner. Phim này làm tôi nhớ tới Willow (1988) của Ron Howard, đây là một phim thiên về kĩ xảo hơn (dễ hiểu vì nó được nhào nặn bởi bàn tay của Georges Lucas) nhưng cũng đi theo hướng hủy cốt truyện truyền thống của cổ tích để xây dựng những phim cổ tích "kiểu hiện đại".

Nội dung phim hoàn toàn không phức tạp và phù hợp với mọi lứa tuổi, cổ tích kiểu "truyền thống" được pha trộn với những câu thoại thông minh, hiện đại (trademark của Reiner trong những phim về sau như
When Harry Met Sally..., A Few Good Men). Phim có nhiều nút thắt bất ngờ, bất ngờ kiểu "dễ thương" cho những ai thích đọc truyện cổ tích và tránh cho phim bị nhàm vì sử dụng cái sườn cổ tích "cũ kĩ". Đây cũng là phim đầu tay của Robin Wright (lúc này Sean Penn vẫn đang ở nhà "xử lý" Madonna), thật không ngờ là "người phụ nữ có gương mặt khắc khổ" ấy lại từng là một nàng công chúa dễ thương với vẻ đẹp trong sáng đến vậy. Tóm lại đây là một phim cực kì thích hợp cho gia đình và cho những ai muốn cảm thấy chút hơi thở của điện ảnh Mỹ thập niên 1980.