some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

Affichage des articles dont le libellé est korean. Afficher tous les articles
Affichage des articles dont le libellé est korean. Afficher tous les articles

mercredi 30 décembre 2020

Kim Ki-duk (1960 - 2020)


Một người đàn ông phải bỏ quê hương ra đi ở cái tuổi gần lục tuần vì vô số bê bối và ghét bỏ, phải lang thang tìm lấy một chỗ trú chân nơi đất khách quê người, để rồi phải trút hơi thở cuối cùng vì thứ bệnh dịch chẳng ai ngờ tới, tại một bệnh viện xa lạ, ở một đất nước xa lạ, trong cảnh đơn độc không người thân bên cạnh. Với những người yêu phim của Kim Ki-duk - một trong những gương mặt nổi bật nhất của điện ảnh Hàn Quốc từ thập niên 1990 trở lại đây thì câu truyện nói trên hoàn toàn có khả năng trở thành cái tứ cho một nhân vật nam chính trong một tác phẩm bạo liệt và giàu tính biểu tượng của đạo diễn này. Nhưng có lẽ chẳng ai có thể ngờ rằng đó lại chính là cái kết cho cuộc đời của chính Kim Ki-duk - nhà làm phim của những sự mâu thuẫn. 

Là những người "già" nhất trong số các nhà làm làm phim thế hệ 6x đã làm rạng danh cho điện ảnh Hàn Quốc như Bong Joon-ho, Park Chan-wook, hay Kim Jee-woon, Kim Ki-duk và Hong Sang-soo cũng là hai trong số đạo diễn hiếm hoi của thế hệ này được đào tạo ở nước ngoài để rồi mang về nước một tâm thế và phong vị làm phim hết sức khác biệt. Nhưng khác với sự mộc mạc và mềm mại của Hong Sangs-soo, xuyên suốt cả sự nghiệp, từ những tác phẩm đầu tay như Crocodile (1996), Bad Guy (2001), cho đến khiến người yêu phim thế giới phải chú ý với Spring, Summer, Fall, Winter... and Spring (2003), The Bow (2005), và cả khi đứng trên đỉnh cao danh vọng với Pietà (2012), Kim Ki-duk luôn trung thành với dòng phim độc lập kinh phí thấp với truyện phim bạo liệt về những góc tăm tối nhất của con người và xã hội Hàn Quốc, nhưng chưa bao giờ thiếu vắng những hình ảnh ẩn dụ mang đầy tính biểu tượng về nhân tính. Theo dõi các nhân vật trong phim của Kim Ki-duk, đặc biệt là các nhân vật nam xuất thân nghèo khó, gai góc, bị xã hội hiện đại Hàn Quốc đẩy ra ngoài lề, khán giả dường như cũng thấy được một phần cuộc đời của chính người đạo diễn đi lên từ những công việc chân tay trước khi quyết tâm sang Paris bán tranh dạo, học điện ảnh, rồi quay về với một góc nhìn điện ảnh đậm chất Tây Phương tới mức luôn bị coi là người đứng ngoài những trào lưu chủ đạo của điện ảnh Hàn Quốc. Với khẩu vị công chúng Hàn Quốc vốn thường rất hoạt ngôn và yêu thích những khung hình trau chuốt, đẹp đẽ trên màn ảnh rộng, những nhân vật vô cùng kiệm lời nhưng lại thừa thãi bạo lực của Kim Ki-duk như trong Bad Guy hay 3-Iron (2004) có lẽ không thực sự phù hợp. Việc đa phần các nhân vật nữ trong các tác phẩm như The Isle (2000) của đạo diễn sinh năm 1960 đều ở "chiếu dưới", là cái bia hứng chịu sự thịnh nộ, vô tình từ phía các nhân vật nam chính lại càng khiến Kim Ki-duk trở thành một cái gai trong mắt giới phê bình, người xem, và đặc biệt là các nhà hoạt động xã hội, hoạt động vì nữ quyền ở Hàn Quốc. Vì vậy chẳng ngạc nhiên khi các tác phẩm "khó hiểu", "khó xem" của Kim Ki-duk hầu như đều thất bại nặng nề về mặt doanh thu ở thị trường Hàn Quốc tới mức đạo diễn từng thề sẽ không bao giờ phát hành phim của mình trong nước nếu Time (2006) không bán nổi 300.000 vé để rồi phải chứng kiến con đẻ của mình thu về vỏn vẹn 28.000 vé trong khi The Host của đạo diễn đồng lứa Bong Joon-ho thu về tới gần 11 triệu vé cũng trong năm 2006. 

Thất bại trong nước, nhưng ngôn ngữ điện ảnh giàu tính biểu tượng, lại mang tính cá nhân hoá cao độ và có hơi hướm của văn hoá - xã hội Hàn Quốc vốn chưa thực sự được phương Tây biết tới và quan tâm trong những năm đầu thiên niên kỷ mới đã lại giúp Kim Ki-duk trở thành con cưng của các liên hoan phim quốc tế. Chỉ riêng năm 2004, đạo diễn họ Kim đã giành cả hai giải đạo diễn xuất sắc nhất tại hai liên hoan phim uy tín Berlin và Venice cho Samaritan Girl và 3-Iron - hai tác phẩm được quay trong thời gian vỏn vẹn hai tuần dựa từ nguồn tài chính ít ỏi nhờ bán quyền phân phối ở thị trường quốc tế. Trớ trêu thay, vinh quang trên trường quốc tế lại chính là điều giới làm phim Hàn Quốc nói riêng, và người dân Hàn Quốc nói chung thèm muốn, bởi họ muốn thế giới phải nhận ra rằng Hàn Quốc có một nền điện ảnh không hề thua kém bất cứ quốc gia có bề dày văn hoá nào khác. Bởi vậy mà khi Kim Ki-duk làm nên lịch sử cho điện ảnh Hàn khi Pietà trở thành tác phẩm đầu tiên của Hàn Quốc đứng trên bục cao nhất của một trong bộ ba liên hoan phim hàng đầu Cannes-Berlin-Venice với tượng Sư tử vàng tại Venice, cả báo giới và người hâm mộ điện ảnh Hàn Quốc đã rơi vào thế hết sức khó xử bởi người đem Hàn Quốc đến với thế giới lại là một cái tên không được người Hàn yêu thích, thông qua một tác phẩm chẳng mang chút dấu ấn Hàn Quốc nào theo những tiêu chuẩn thông thường của công nghiệp điện ảnh nước này. 

Sau Pietà Kim Ki-duk vẫn không ngơi nghỉ với việc làm phim, khi gần như mỗi năm ông lại cho ra đời một, hai, thậm chí là ba tác phẩm. Nhưng đa phần các tác phẩm này không để lại nhiều dấu ấn, ngược lại một trong số đó - bộ phim Moebius (2013) lại chính là điểm khởi đầu cho sự sụp đổ của sự nghiệp Kim Ki-duk tại thị trường trong nước khi một trong số các diễn viên nữ của phim vào năm 2017 đã tố cáo đạo diễn họ Kim đã tấn công và chèn ép cô trong quá trình làm phim. Vốn chưa từng yêu thích vị đạo diễn lập dị, lại liên tiếp được đọc những sự việc như vậy về Kim Ki-duk trong bối cảnh trào lưu nữ quyền #MeToo nở rộ tại Hàn Quốc, công chúng Hàn Quốc đã quay lưng hoàn toàn với Kim Ki-duk tới mức ông phải chuyển hướng sang hoạt động ở các nước phương Bắc, để rồi phải đột ngột bỏ mình như hàng triệu người khác trên khắp thế giới vì COVID-19, khi đang tìm kiếm cho mình một nơi ở mới tại quốc gia lạnh lẽo Latvia. 

Chắc chắn không hề là chủ định, nhưng Kim Ki-duk đã chọn cho mình một cái kết có phần gợi nhớ đến số phận của rất nhiều các nhân vật trong phim của ông - độc hành ở cuối đường đời bị cắt ngắn đột ngột, khi đang tìm kiếm một hy vọng mới, một hạnh phúc mới. Với người dân và báo giới Hàn Quốc, có lẽ cái chết đột ngột của Kim Ki-duk không mang lại nhiều cảm xúc. Từ lâu đã là con cừu đen lạc loài trong nền điện ảnh Hàn Quốc, Kim Ki-duk từ vài năm trở lại đây đã bị ghi vào sổ đen vì những tố cáo tấn công tình dục và các tác phẩm bị liệt vào dạng lạc hậu, thụt lùi vì cách khắc hoạ các nhân vật nữ đi ngược lại với những nguyên tắc của chủ nghĩa nữ quyền thời kỳ hậu #MeToo. Người Hàn cũng chẳng còn cần một Kim Ki-duk người-hùng-của-điện-ảnh-Hàn-Quốc bởi giờ đây họ đã có Bong Joon-ho - một đạo diễn 6x khác với những bộ phim hết sức Hàn Quốc, cực kì ăn khách, và đặc biệt là đã đem về cho Hàn Quốc một loạt tượng vàng Oscar - những điều Kim Ki-duk chưa bao giờ, và sẽ chẳng bao giờ với tới được. Ngay cả với người yêu điện ảnh nói chung, Kim Ki-duk cũng là một cái tên gây tranh cãi bởi một phía cho rằng các tác phẩm của ông giàu chất triết lý với những câu truyện và nhân vật cực kì đặc sắc, đáng nhớ, còn phía kia lại cho rằng đó là thứ triết lý nông cạn, với tính biểu tượng nửa vời, và các nhân vật bị gò ép quá mức. Nhưng dù yêu, hay ghét Kim Ki-duk, có lẽ chẳng ai có thể phủ nhận được rằng các bộ phim của ông, dù cực kì bạo liệt như The Isle, hay nhẹ nhàng, mềm mại đến bất ngờ như Spring, Summer, Fall, Winter... and Spring đã để lại trong lòng mỗi người xem một chút gì đó để nhớ, để suy ngẫm về thân phận con người, về cách thức người với người nên đối xử với nhau để dù trong hoàn cảnh tăm tối nhất chúng ta vẫn không cảm thấy cô độc. Xin tạm biệt ông, Kim Ki-duk. 

======

Bản đã biên tập trên Zing.

lundi 17 février 2020

Parasite (2019) - How does its win affect Korea?



Với những khán giả yêu điện ảnh thế giới nói chung, chiến thắng ngày vang dội của đạo diễn Bong Joon-ho và bộ phim mới nhất của ông Ký sinh trùng trong Lễ trao giải Oscar lần thứ 92 ngày hôm qua với 4 tượng vàng, trong đó có tượng vàng quan trọng nhất ở hạng mục Phim hay nhất chắc chắn là một tin vui không chỉ vì Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật điện ảnh Hoa Kỳ đã vinh danh cách làm phim thông minh, phi truyền thống theo màu sắc rất Hàn Quốc thay vì lựa chọn thông thường với các bộ phim sử thi về chiến tranh, về xã hội, về lịch sử nước Mỹ như 1917, Marriage Story, hay The Irishman. Nhưng với đất nước Hàn Quốc, có lẽ đây là một thời khắc lịch sử mà không chỉ giới điện ảnh, mà cả xã hội Hàn Quốc đã mong chờ từ rất lâu sau vô số những nỗ lực vượt bậc từ kinh tế tới văn hoá. Dù Samsung từ lâu đã sánh vai với Apple trong thị trường hàng tiêu dùng điện tử, những chiếc xe Hyundai hay Kia đang lăn bánh ngày một nhiều trên mọi nẻo đường từ châu Âu tới nước Mỹ, nhưng cả giới lãnh đạo và người dân Hàn Quốc từ rất lâu vẫn tin rằng đất nước Hàn Quốc chỉ có thể thực sự sánh vai cùng các cường quốc trong khu vực – đặc biệt là với người hàng xóm Nhật Bản khi mà nền văn hoá, những giá trị truyền thống của đất nước này được thế giới biết đến, tôn trọng, và yêu thích.

Trong lĩnh vực âm nhạc, tham vọng này của Hàn Quốc được thể hiện rất rõ qua việc xuất khẩu dòng nhạc k-pop với những giai điệu bắt tay và các nhóm nam, nhóm nữ có vẻ ngoài cũng như kỹ năng nhảy hoàn hảo. Sau gần một phần tư thế kỷ, chiến lược dài hạn này của Hàn Quốc đã giúp “Làn sóng Hàn” hay “Hàn lưu” (Hallyu) có được vị trí vững chắc ở khắp khu vực Đông Á, Đông Nam Á và Trung Cận Đông. Tưởng như ca khúc Gangnam Style của Psy đã là đỉnh cao của Hallyu khi trong một thời gian ngắn trở thành ca khúc nổi bật nhất Internet với cả tỷ lượt xem trên YouTube. Nhưng kể từ khi nhóm nhạc nam BTS công phá thành công thị trường Hoa Kỳ từ khoảng 3 năm trở lại đây, thì k-pop từ một thể loại nhạc chỉ chiếm thiểu số nay mới thực sự có được chỗ đứng vững chắc ở các thị trường lớn của Mỹ - Âu với rất nhiều cái tên thường xuyên xuất hiện trên truyền hình Hoa Kỳ hay bán sạch vé ở các đêm nhạc tổ chức tại sân vận động với hàng vạn người xem như BTS, Blackpink, NCT 127.

Nhưng k-pop xét cho cùng với người dân Hàn Quốc chỉ là nhạc giải trí thuần tuý. Ngay ở chính Hàn Quốc thì các ngôi sao k-pop cũng không hẳn đã được người dân Hàn Quốc nâng niu như những ngôi sao opera và nhạc cổ điển như Jo Sumi, Kun-Woo Paik và chỉ đến khi BTS gây dựng được tên tuổi tại thị trường Hoa Kỳ thì cả chính phủ và người dân Hàn Quốc mới thực sự nhận ra rằng hoá ra k-pop hoàn toàn có khả năng đem quyền lực mềm của đất nước này lan toả đến mọi ngóc ngách của thế giới. Nhưng với một quốc gia coi trọng danh hiệu và thể diện như Hàn Quốc, thì thành công của BTS với giới trẻ toàn cầu chưa hẳn đã là đủ bởi họ chưa đem về được cho đất nước này những giải thưởng tầm cỡ như Giải Grammy trong âm nhạc hay giải Man Booker Quốc tế trong văn học – giải thưởng mà nữ nhà văn được Hàn Quốc coi là “quốc bảo” Han Kang đã giành được vào năm 2016. Điện ảnh chính là lĩnh vực người Hàn đặt rất nhiều niềm tin trong vòng ba thập niên qua trong khía cạnh này, đặc biệt là từ khi Oldboy của đạo diễn Park Chan-wook giành được Giải thưởng lớn – giải thưởng cao quý thứ hai của Liên hoan phim Cannes năm 2003. Nhưng trong suốt gần hai thập niên kể từ sau thành công của Oldboy, điện ảnh Hàn ở tầm quốc tế cũng chỉ có được một số thành tựu trong việc “xuất khẩu” các đạo diễn hàng đầu của họ sang Hollywood như Park Chan-wook, Bong Joon-ho, hay Kim Jee-woon với các sản phẩm dù không thất bại nhưng cũng không đạt được quá nhiều tiếng vang. Đỉnh cao nhất trong các nỗ lực của các nhà làm phim Hàn có lẽ là giải Sư tử vàng – giải cao quý nhất tại Liên hoan phim Venice của đạo diễn Kim Ki-duk cho bộ phim Pietà. Tuy nhiên với tính cách không được lòng người Hàn, lại là tác giả của nhiều bộ phim gây tranh cãi, trong đó có Pietà, chẳng mấy người Hàn Quốc cảm thấy vui vì chiến thắng của đạo diễn dị nhân Kim Ki-duk. 

“Ký sinh trùng” là một trường hợp rất khác. Đạo diễn Bong Joon-ho và nam diễn viên chính của phim Song Kang-ho từ lâu đã được coi là đạo diễn và diễn viên “quốc dân” của người Hàn với rất nhiều những bộ phim ăn khách như The Host (2006). Phim của Bong, do Song đóng chính luôn được lòng người Hàn vì đậm chất Hàn Quốc, nói rất nhiều về lịch sử, văn hoá, và những khía cạnh sâu thẳm trong lòng người dân đất nước này với các tác phẩm xuất sắc như Memories of Murder (2003), The Host và Mother (2009). Ký sinh trùng – một bộ phim đặc chất Bong Joon-ho đã làm nên lịch sử khi giành cả giải Cành cọ vàng đầu tiên cho Hàn Quốc tại Liên hoan phim Cannes và bây giờ là giải Phim hay nhất tại giải Oscar – chiến thắng đầu tiên của một bộ phim nói tiếng nước ngoài trong lịch sử 92 năm của giải thưởng này - kỳ tích mà chưa một cường quốc điện ảnh Á Đông hay châu Âu nào làm được, kể cả người hàng xóm Nhật Bản. 

Người Hàn Quốc hẳn đang rất tự hào vì Ký sinh trùng. Không chỉ bởi tác phẩm này đã giới thiệu được chất Hàn Quốc đậm đặc trong điện ảnh đến với công chúng thế giới để họ không chỉ yêu thích mà còn thấy trân trọng. Hơn thế, tượng vàng Oscar này của Ký sinh trùng đã tiếp thêm cho Hàn Quốc niềm tin rằng họ thực sự đã sánh vai được với các cường quốc văn hoá khác trên thế giới, và Làn sóng Hàn – quyền lực mềm của đất nước Hàn Quốc sẽ không chỉ là một hiện tượng nhất thời mà sẽ có chỗ đứng vững bền trong đời sống tinh thần của người dân nhiều nước – điều mà khi bắt đầu dân chủ hoá những năm đầu thập niên 1980 những người Hàn Quốc lạc quan nhất có lẽ cũng không thể nghĩ tới. 

=========

Parasite (2019) - Tại sao, Oscar?



Một bên là tác phẩm sử thi về “Cuộc chiến vĩ đại” – Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đến từ vị đạo diễn người Anh từng giành giải Oscar cho phim hay nhất ngay với tác phẩm đầu tay và được quay bởi một trong những tên tuổi quan trọng nhất của giới quay phim Hollywood. Một bên là một bộ phim của Hàn Quốc, lấy bối cảnh Hàn Quốc, sử dụng tiếng Hàn, đến từ một đạo diễn chưa từng bao giờ được đề cử ở giải Oscar. Liệu tác phẩm nào trong số này sẽ là người chiến thắng trong các giải thưởng “Phim hay nhất” của mùa giải thưởng điện ảnh 2019? Với cái gu trao giải vốn có của giới điện ảnh Âu – Mỹ, có lẽ nhiều người sẽ lựa chọn tác phẩm đầu tiên, và thực tế cũng đã cho thấy rằng tác phẩm này – bộ phim 1917 của đạo diễn người Anh Sam Mendes đã vượt qua bộ phim Hàn Quốc Ký sinh trùng ở gần như toàn bộ các giải thưởng tiền Oscar quan trọng nhất như Giải Quả cầu vàng, Giải BAFTA của Viện Hàn lâm Nghệ thuật Điện ảnh và Truyền hình Anh Quốc, giải Phim hay nhất của Hiệp hội các nhà sản xuất điện ảnh Hoa Kỳ (PGA). Bởi thế mà không chỉ người hâm mộ và các nhà báo về điện ảnh, mà đến chính giới cá cược cũng không đánh giá cao Ký sinh trùng bằng 1917 trong cuộc đua tới giải thưởng quan trọng nhất năm của điện ảnh thế giới – Giải Oscar cho phim hay nhất. Theo trang tổng hợp cá cược Vegas Insider, nếu đặt cược 100 đô la Mỹ vào việc 1917 giành giải thì bạn sẽ chỉ có thêm được 20 đô la Mỹ nếu bộ phim này thực sự chiến thắng, còn nếu Ký sinh trùng là lựa chọn đúng của bạn, thì 100 đô la đặt cược sẽ mang lại cho bạn tới 300 đô la Mỹ. 

Vậy mà bất chấp mọi dự đoán và lịch sử trao giải của chính giải Oscar, Ký sinh trùng của đạo diễn người Hàn Quốc Bong Joon-ho đã vượt qua 1917 để trở thành tác phẩm nói tiếng nước ngoài đầu tiên giành được Giải Oscar cho phim hay nhất – một kỳ tích mà 10 tác phẩm nói tiếng nước ngoài khác từng được đề cử ở hạng mục này không thể làm được dù cho đó là những tác phẩm thuộc dạng kinh điểm của điện ảnh thế giới như La Grande Illusion (1938) và Z (1969) của Pháp, Life Is Beautiful (1998) của Ý, hay Ngọa Hổ Tàng Long (2000) của Đài Loan. Điều gì đã làm nên thành công bất ngờ của Ký sinh trùng? Trước tiên bất ngờ này có thể đến từ chính Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật điện ảnh Hoa Kỳ (AMPAS) – cơ quan chủ quản của Giải Oscar. Sau vài năm liên tục nhức đầu vì việc phải lựa chọn các tác phẩm “vị nghệ thuật” hay “vị nhân sinh” trong bối cảnh xã hội và chính trị nước Mỹ có nhiều biến động và chia rẽ, có lẽ bản thân các thành viên của Viện Hàn lâm – những người được quyền bỏ các lá phiếu cuối cùng chọn phim chiến thắng cũng muốn tìm kiếm một cái gì đó mới mẻ từ các cái tên tranh giải, đặc biệt là sau một năm giải Oscar gây thất vọng lớn cho công chúng với việc chọn Green Book (2018) – một tác phẩm không nổi trội nhưng lại phù hợp với các trào lưu đòi bình quyền đang diễn ra sôi nổi ở Hoa Kỳ làm cái tên chiến thắng cuối cùng. Nếu so với bộ phim xuất sắc nhưng rất “truyền thống” là 1917 thì rõ ràng Ký sinh trùng quá sức mới mẻ với cách tiếp cận thông minh, giàu chất ẩn dụ về một vấn đề xã hội mang tính phổ quát – mâu thuẫn giai cấp trong một xã hội tư bản hiện đại và thịnh vượng. Hơn thế nữa, nếu chưa từng xem các tác phẩm tiêu biểu của dòng phim trinh thám và film noir Hàn Quốc như The Quiet Family (1998) của Kim Jee-woon hay Memories of Murder (2003) của chính Bong Joon-ho, hẳn nhiều thành viên của AMPAS cũng cảm thấy bất ngờ với cách xây dựng nhân vật và tạo dựng kịch tính của truyện phim thông qua vô số nút thắt mở không ai có thể lường trước của đạo diễn 50 tuổi người miền Nam Hàn Quốc. Tính mới chính là thế mạnh vượt trội của Ký sinh trùng so với cả 8 tác phẩm nghiêm cẩn nhưng không quá đột phá của hạng mục Phim hay nhất giải Oscar năm nay, và có lẽ chính tính mới này đã đẩy cán cân ủng hộ của AMPAS nghiêng về phía tác phẩm của đạo diễn Bong Joon-ho trong những phút cuối cùng. Ở đây, khán giả cũng có thể phỏng đoán rằng việc trao giải thưởng lớn nhất cho một tác phẩm phần nào đó đại diện cho cộng đồng thiểu số trong xã hội Mỹ - những người gốc Á như Ký sinh trùng cũng là một quyết định hợp lòng của AMPAS trong bối cảnh dù đã rất cố gắng nhưng đến tận lễ trao giải năm nay giải Oscar vẫn bị chỉ trích là “toàn da trắng”, “toàn nam giới” – “thương hiệu” mà không thành viên nào của Viện Hàn lâm còn muốn dính dáng trong bối cảnh giới điện ảnh Hollywood luôn là những người đi đầu trong các phong trào xã hội hiện đại của Hoa Kỳ.

Lời giải thích thứ hai cho chiến thắng đầy ngạc nhiên của Ký sinh trùng có lẽ nằm ở ảnh hưởng ngày càng lớn của văn hóa Hàn Quốc trên thế giới nói chung và trong chính lòng nước Mỹ nói riêng. Ở mặt trận điện ảnh, Hàn Quốc là một trong những quốc gia “xuất khẩu” đạo diễn hàng đầu ở Hollywood với việc bộ ba Park Chan-wook, Bong Joon-ho, và Kim Jee-won – những đạo diễn có cách làm phim hết sức hiện đại sau khi gây dựng được sự nghiệp ở quê hương đã dần tạo được tên tuổi ở xứ cờ hoa sau những thành công nhất định cả về mặt nghệ thuật và doanh thu. Sau khi giành Giải thưởng lớn tại Liên hoan phim Cannes – một trong những giải thưởng điện ảnh lớn nhất của Hàn Quốc ở tầm quốc tế với Oldboy (2003), Park Chan-wook đã lấn sân sang Hollywood với tác phẩm nói tiếng Anh, sử dụng các ngôi sao Hollywood là Stoker (2013) trước khi quay trở về Hàn Quốc thực hiện bộ phim đậm chất Hàn The Handmaiden nhưng vẫn được công chúng Mỹ hết sức yêu thích. Bậc thầy phim xã hội đen Hàn Quốc Kim Jee-woon sau khi cho ra đời một loạt các tác phẩm “toàn Hàn Quốc” được người yêu điện ảnh hành động ca ngợi như A Bittersweet Life (2005) và I Saw the Devil (2010) cũng được hãng Lionsgate tín nhiệm giao đạo diễn bộ phim hành động The Last Stand với sự xuất hiện của hai ngôi sao Arnold Schwarzenegger và Johnny Knoxville. “Đi sau” nhưng lại “đến đích trước”, Bong Joon-ho sau nhiều năm được coi là ông vua phòng vé của Hàn Quốc với Memories of Murder (2003) và The Host (2006) mới bắt đầu tạo dựng tên tuổi của mình ở các liên hoan phim quốc tế với với Mother (2009) và sau đó 10 năm là Ký sinh trùng – tác phẩm giành về cho Hàn Quốc Giải Cành cọ vàng đầu tiên tại Liên hoan phim Cannes. Sau khi hợp tác với Park Chan-wook trong tác phẩm hành động lấy bối cảnh thời hậu tận thế Snowpiercer (2013) – bộ phim tương đối thành công về doanh thu và gây ảnh hưởng tới mức một loạt phim truyền hình cùng tên lấy cảm hứng từ bộ phim này sẽ được hãng TNT của Hoa Kỳ phát trong năm 2020, Bong Joon-ho đã được hãng Netflix mời thực hiện bộ phim khoa học giả tưởng Okja (2017) – một trong những tác phẩm gốc được đánh giá cao của Netflix. Khác với những cái tên gốc Hàn nhưng tạo dựng tên tuổi hoàn toàn ở Hoa Kỳ như Jennifer Yuh (đạo diễn của Kung Fu Panda 2, Kung Fu Panda 3, và The Darkest Minds), Steven Yeun (ngôi sao gắn liền với thành công của The Walking Dead), hay Sandra Oh (tên tuổi lớn của loạt phim truyền hình Grey's Anatomy), Park Chan-wook, Bong Joon-ho, hay Kim Jee-won theo thời gian đã làm được một kì tích đó là giúp công chúng Hoa Kỳ - những người vốn không thực sự cởi mở với các tác phẩm nghệ thuật mang đậm chất địa phương của các quốc gia khác dần cảm và hiểu được chất Hàn Quốc trong các bộ phim dù là sản xuất ở Hàn Quốc hay Hoa Kỳ của các đạo diễn này. Thất bại toàn diện năm 2013 của đạo diễn tên tuổi Spike Lee khi cố làm lại Oldboy của Park Chan-wook lại càng cho người Mỹ thấy rằng cái chất Hàn Quốc, cái chất Á Đông không phải là thứ dễ dàng “làm lại” hay mô phỏng nếu thiếu sự thấu hiểu, sự tinh tế vốn đã ăn vào máu của những người Hàn Quốc 100% như Park, như Bong, như Kim. Bởi vậy sẽ là không ngoa khi đưa ra nhận xét rằng thành công hiện tại của Ký sinh trùng chính là đỉnh điểm thăng hoa của một quá trình tích lũy lâu dài đến từ bộ ba Park Chan-wook, Bong Joon-ho, và Kim Jee-won tương tự như cái cách “Ba người bạn Mexico” Alfonso Cuarón, Alejandro González Iñárritu và Guillermo del Toro đã chinh phục Hollywood trong vòng 3 thập niên trở lại đây.

Cuối cùng, dù tương đối khác nhau nhưng giới quan sát vẫn hoàn toàn có thể sự trùng lặp giữa việc Ký sinh trùng gây tiếng vang cả trong phòng vé (doanh thu bộ phim trên toàn thế giới đã lên tới trên 160 triệu, trong đó có trên 35 triệu đến từ thị trường Mỹ - con số kỷ lục cho một tác phẩm Hàn Quốc) và trong cuộc đua giành giải thưởng điện ảnh với sự lên ngôi của các ban nhạc k-pop thuộc Làn sóng văn hóa Hàn (Hallyu) ở Hoa Kỳ và trên thế giới mà tiêu biểu là BTS. Sau nhiều thập niên chỉ làm mưa làm gió ở thị trường châu Á, BTS kể từ vài năm trở lại đây đã mở ra cánh cửa cho các bạn nhạc k-pop chiếm lĩnh thị trường nhạc trẻ Âu – Mỹ nhờ những giai điệu bắt mắt và kỹ năng nhảy tuyệt hảo. Dù các thành viên của AMPAS có lẽ không còn ở độ tuổi khán giả của BTS hay Blackpink, nhưng việc gương mặt đẹp và tên tuổi của những RM, Jungkook (thành viên BTS), Jennie (thành viên Blackpink), hay Taeyong (thành viên NCT 127) liên tục xuất hiện trên truyền hình và truyền thanh Hoa Kỳ cũng phần nào đó tạo sự thiện cảm nhất định của công chúng Mỹ nói chung – trong đó có các thành viên của AMPAS với văn hóa đại chúng Hàn Quốc.

Vì AMPAS không công khai lý do hay số lượng các phiếu bầu cho từng ứng viên của hạng mục Phim hay nhất, nên chúng ta sẽ không bao giờ thực sự giải thích được tại sao Ký sinh trùng từ một ẩn số lớn lại biến thành thắng lợi lịch sử của điện ảnh Hàn Quốc tại lễ trao Giải Oscar lần thứ 92 như vậy. Nhưng có một điều chắc chắn rằng thắng lợi này của Ký sinh trùng và của đạo diễn Bong Joon-ho sẽ tạo cơ hội cho giới làm điện ảnh của châu Á tiếp tục tiếp cận Hollywood và công chúng Mỹ bằng chính phong cách đậm chất địa phương của họ - thay vì phải Mỹ hóa hoàn toàn như Lý An đã làm trong thập niên 1990. Chúng ta hoàn toàn có thể hy vọng rằng trong thời gian tới đây, Hollywood sẽ giới thiệu tới công chúng Mỹ và thế giới những tác phẩm thực sự mang phẩm chất Á Đông nhưng vẫn kể được những câu truyện mang tính phổ quát như cách “Ký sinh trùng” đã làm nên lịch sử ngày 9 tháng 2 năm 2020 vừa qua.

=======

mardi 21 janvier 2020

In the Absence (2019)


Sáng ngày 16 tháng 4 năm 2014, khi đang trên hải trình đi từ cảng Incheon tới đảo Jeju, con phà mang tên Sewol của Hàn Quốc đã bất ngờ chìm dần rồi lật úp, dẫn đến cái chết của 304 trên tổng số 476 hành khách và thuỷ thủ đoàn. Bi thảm hơn thế là việc trên con phà ngày hôm đó có tới 325 em học sinh của trường trung học phổ thông Danwon ở thành phố phía Bắc Ansan vốn được thầy hiệu phó Kang Min-kyu dẫn xuống đảo Jeju để du lịch và sinh hoạt ngoại khoá. 250 em trong số này đã bỏ mình lại biển sâu cùng chiếc phà chìm. Thầy giáo Kang nằm trong số ít những người may mắn được cứu thoát trong thảm kịch, để rồi tự tìm đường tới cái chết chỉ vài ngày sau đó. 

Những diễn biến của vụ chìm phà Sewol, cũng như phản ứng của những người trong cuộc, những ông bố bà mẹ đã mất đi đứa con yêu quý trong thảm kịch chẳng ai ngờ tới đó, và cả những người thợ lặn từng sẵn lòng lao xuống lòng biển tăm tối để vớt lên những thân xác vẫn còn mắc lại trong những khoang tàu lạnh lẽo là nội dung chính của bộ phim tài liệu ngắn In the Absence của đạo diễn người Hàn Quốc Yi Seung-Jun. Sự vô trách nhiệm đến khó tin của những người trong cuộc, đặc biệt là của lực lượng Tuần duyên và của chính Văn phòng Tổng thống Park Geun-hye cũng là những khía cạnh được khai thác trong In the Absence. Nhưng khác với một số tác phẩm tài liệu khác như The Truth Shall Not Sink with Sewol (2014) của Lee Sang-ho và Ahn Hae-ryong, hay Upside Down (2015) của Kim Dong-bin, bộ phim tài liệu dài chưa đầy 30 phút của đạo diễn họ Yi không tìm cách tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến tai nạn của con phà xấu số, hay lập luận quy trách nhiệm cho bất cứ ai. Thay vào đó, Yi Seung-Jun cố gắng sử dụng tối đa những tư liệu ông có được từ phim tư liệu về các phiên điều trần các quan chức chính phủ, các đoạn phỏng vấn những người có liên quan, và thậm chí là những đoạn phim ngắn thu lại được từ những chiếc điện thoại đã được sử dụng trên con phà Sewol vào thời điểm thảm kịch xảy ra để mô tả lại cái ngày định mệnh, và cảm xúc của những người đã phải trực tiếp hoặc gián tiếp chịu đựng những nỗi đau từ tai nạn phà Sewol một cách trực diện và chân thực nhất.

Sinh năm 1971, đạo diễn người Busan Yi Seung-Jun thuộc thế hệ trẻ Hàn Quốc trưởng thành khi đất nước này đã trở nên thịnh vượng trong những năm tháng kinh tế phát triển vượt bậc. Nhưng cũng như nhiều người Hàn Quốc khác, có lẽ Yi Seung-Jun hiểu hơn ai hết những vết thương khó lành hằn sâu trong xã hội hiện đại Hàn Quốc, trong tâm trí của từng người dân Hàn Quốc gây ra từ sự nỗ lực, cố gắng đến hết tột bực để Hàn Quốc có được “kì tích sông Hán” từ chỗ đói nghèo vươn lên thành quốc gia phát triển. Đó là một xã hội với tỉ lệ người tự tử cao hơn bất cứ quốc gia phát triển nào khác trên thế giới. Đó là một dân số ngày càng già nua, nơi những người trẻ vì sức ép công việc, vì những trầm cảm trong cuộc sống ngày càng không muốn lập gia đình, không muốn có con cái. Đó là một đất nước có tỉ lệ sinh thấp bậc nhất trên thế giới, nơi mỗi đứa trẻ sinh ra là một “cục vàng” đúng nghĩa được những ông bố, bà mẹ nuông chiều với ước mong sau này đứa bé ấy có thể làm rạng danh trong gia đình với những tấm bằng tốt nghiệp tại một đại học hàng đầu nào đó của thủ đô Seoul đông đúc. Chính hoàn cảnh kinh tế - xã hội ấy đã biến Sewol không còn là một thảm hoạ giao thông mà còn trở thành một nỗi đau đớn không thể tưởng tượng nổi của cả xã hội Hàn Quốc, của từng người dân Hàn Quốc. Cú sốc lớn đối với đất nước Hàn Quốc ấy không chỉ khiến cho hàng chục triệu người sẵn sàng đeo lên ngực mình chiếc huy hiệu hình dải ruy băng màu vàng trong nhiều tháng, nhiều năm sau khi tai nạn diễn ra với hy vọng rằng mọi thi thể nạn nhân trong chiếc phà xấu số rồi sẽ có ngày tìm được về với đất liền thân thương, mà còn thúc đẩy hàng trăm nghìn, thậm chí là hàng triệu người sẵn sàng xuống đường biểu tình đòi công lý cho những người đã khuất, đòi trả lại sự thật về một vụ tai nạn hoàn toàn có thể ngăn chặn, đòi những người chưa làm đầy đủ trách nhiệm của họ trong thảm kịch – kể cả những người đang ở đỉnh cao quyền lực như nữ tổng thống Park Geun-hye phải trả giá cho sự tắc trách đã khiến cho hàng trăm cô bé, cậu bé phải cắt ngắn cuộc đời một cách cực kì vô nghĩa. 

Phải nói rất dài về bối cảnh đất nước Hàn Quốc hiện đại, và về sự trân quý của người Hàn dành cho thế hệ trẻ, là bởi người nước ngoài nếu không quen thuộc với cái dân tộc tính ấy hẳn sẽ lấy làm ngạc nhiên về việc tại sao một đất nước từng trải qua những tai nạn giao thông với hậu quả không kém phần thảm khốc – như vụ chìm phà Seohae năm 1993 khiến 292 trong tổng số 362 hành khách phải bỏ mạng trên Hoàng Hải, hay vụ cháy tàu điện ngầm ở Daegu năm 2003 khiến 192 người chết – lại phải rung chuyển vì vụ chìm phà Sewol tới mức phải xuống đường biểu tình để đòi bằng được vị nữ tổng thống quyền lực Park Geun-hye phải từ chức, phải bị truy tố vì bị coi là đã không thực hiện được nhiệm vụ bảo vệ sinh mạng cho nhân dân Hàn Quốc. Tất cả những yếu tố đó, từ tâm hồn bị thương tổn sâu sắc của những người dân Hàn Quốc – đặc biệt là cha mẹ của các em bé thiệt mạng hay những người thợ lặn nhân hậu phải tự tay kéo từng xác người ra khỏi bóng đêm sâu thẳm của con phà đắm như Kim Gwan-Hong, cho tới sự phẫn nộ không thể dập tắt của cả xã hội Hàn Quốc trước sự vô cảm của Park Geun-hye và những người duới quyền bà đều được khắc hoạ rất rõ trong In the Absence bất chấp thời lượng không phải là dài của bộ phim. Bởi vậy mà với khán giả Hàn Quốc, có thể tác phẩm mới nhất của đạo diễn Yi Seung-Jun có thể là một tác phẩm không hề dễ xem, nhưng với người nước ngoài, có lẽ đây chính là bộ phim tài liệu phù hợp nhất để họ có thể hiểu, dù là một chút, về nỗi đau khôn nguôi của cả xã hội Hàn Quốc về những gì đã xảy ra với những hành khách của con phà Sewol xấu số. 

Từng giành giải thưởng lớn của ban giám khảo tại liên hoan phim tài liệu lớn nhất nước Mỹ DOC NYC từ năm 2018, và cả giải của World Press Photo, thậm chí là được chiếu công khai và miễn phí trên tài khoản YouTube và Vimeo của hãng Field of Vision, nhưng In the Absence chưa thực sự được nhiều công chúng biết tới khi mà số lượt xem của bộ phim sau 9 tháng công khai trên cả YouTube và Vimeo còn chưa chạm đến con số 50 nghìn – thua xa các video ca nhạc của các nhóm nhạc k-pop, hay thập chí là những đoạn video mới của những vlogger tầm trung làm về chủ đề du lịch Hàn Quốc. Nhưng để hiểu hơn đất nước Hàn Quốc, đặc biệt là tình cảm của những người dân Hàn Quốc dành cho con trẻ, và vết thương lòng chẳng thể gọi thành tên mà vụ chìm phà Sewol đã gây nên đối với mỗi tâm hồn người Hàn Quốc, thì In the Absence nên là lựa chọn đầu tiên. Không hiểu có phải vì lý do này, hay vì những câu hồi tưởng buồn đến thắt tim của người thợ lặn nhân hậu Kim Gwan-Hong về hình ảnh những chú chim nhỏ cất tiếng kêu đau đớn trong gió bão đã khiến cho Viện Hàn lâm khoa học và nghệ thuật điện ảnh Hoa Kỳ lựa chọn tác phẩm của đạo diễn Yi Seung-Jun trở thành một trong năm ứng viên cuối cùng cho hạng mục Phim tài liệu ngắn xuất sắc nhất tại giải Oscar năm nay. Nhưng vì lý do gì đi chăng nữa thì những người yêu điện ảnh và muốn tìm hiểu thêm về đất nước Hàn Quốc vẫn nên dành một lời cảm ơn chân thành cho Ban giám khảo của giải Oscar vì đã cho công chúng biết rằng, bên cạnh bộ phim giành tới 6 đề cử giải Oscar năm nay Parasite của đạo diễn Bong Joon-ho, thì vẫn còn một viên ngọc quý khác của điện ảnh Hàn Quốc xứng đáng để người xem bỏ thời gian thưởng thức – đó chính là In the Absence của Yi Seung-Jun.

=====

dimanche 29 septembre 2019

Parasite (2019)


[Bài viết có tiết lộ nội dung phim]
  
Nếu chỉ đơn thuần dựa vào chất hài – hành động pha chút giật gân của Ký sinh trùng thì khó ai có thể nghĩ rằng tác phẩm mới nhất của Bong Joon-ho chứa đựng những hàm ý về nền chính trị - xã hội của Hàn Quốc. Nhưng với bất cứ ai đã từng hâm mộ đạo diễn họ Bong, đã từng yêu thích những tác phẩm tưởng chừng thuần tuý hành động nhưng có rất nhiều lớp ý nghĩa như Memories of Murder (2003), The Host (2006), Snowpiercer (2013), hay gần đây nhất là Okja (2017) đều có thể đoán định rằng Bong Joon-ho hiếm khi bỏ lỡ cơ hội đưa ra những lời chỉ trích ý nhị nhưng chua cay về những thói xấu xã hội, những điểm đen của nền chính trị, đặc biệt là những vấn đề của Hàn Quốc – mảnh đất đã đem lại cho ông một sự nghiệp cực kì thành công cả về thương mại và nghệ thuật, và cũng là nguồn cảm hứng chưa bao giờ khô cạn cho các bộ phim của Bong Joon-ho. Nếu Memories of Murder chỉ trích một cách chua cay về sự tắc trách, vô dụng của giới chức Hàn Quốc trong buổi đầu của thể chế dân chủ những năm 1980, The Host ngầm hướng sự chú ý của khán giả tới những hậu quả tiêu cực đến từ các lực lượng quân sự Hoa Kỳ vốn đóng quân ở Hàn Quốc đã trên nửa thế kỷ, thì chẳng có lẽ gì Ký sinh trùng lại là một tác phẩm có tâm thế đứng ngoài thời cuộc.

Thêm vào đó, có lẽ nhiều khán giả vẫn sẽ nhớ tới việc Bong Joon-ho là một trong những cái tên lớn nhất nằm trong “Bản danh sách đen” của Chính phủ Hàn Quốc dưới thời Tổng thống Park Geun-hye. Bị coi là một trong số gần mười nghìn nghệ sĩ và nhà văn có tư tưởng “tả khuynh” chống đối chính quyền bảo thủ cánh hữu của nữ tổng thống họ Park, trong suốt bốn năm cầm quyền của Park Geun-hye, Bong Joon-ho bị cắt gần như hoàn toàn sự hỗ trợ tài chính từ nhà nước – nguồn sống cực kì quan trọng đối với những người nghệ sĩ muốn toàn tâm toàn ý làm nghệ thuật như Bong. Bởi vậy mà ngay sau khi Park Geun-hye bị phế truất và bí mật về “Bản danh sách đen” được đem ra ánh sáng, người ta đã hy vọng rằng Bong Joon-ho sẽ đem những ẩn ức của ông trong mấy năm bị đè nén về mặt tư tưởng vào các tác phẩm mới như Ký sinh trùng.

Với những “điều kiện biên” kể trên, khán giả hoàn toàn có thể tiếp cận Ký sinh trùng như một câu truyện phức tạp chứa đầy chi tiết ẩn dụ và thông điệp và nền chính trị - xã hội của Hàn Quốc. Một ví dụ nổi bật đó là sự tương phản giữa gia đình ông lái xe Kim Ki-taek (Song Kang-ho) và vợ chồng Moon-gwang (Lee Jung-eun) và Geun-se (Park Myung-hoon). Trong khi gia đình nhà Ki-taek sau những năm vất vả dưới căn nhà hầm đã có cơ hội đổi đời nhờ “lòng tốt” và sự ngờ ngệnh của ông Park (Lee Sun-kyun) và bà Yeon-kyo (Cho Yeo-jeong) nhưng chưa bao giờ xoá được sự uất hận với những kẻ “ngồi mát ăn bát vàng” chỉ biết khinh rẻ người nghèo, thì Moon-gwang và đặc biệt là Geun-se luôn nhớ “ơn mưa móc” từ vợ chồng nhà ông Park bất chấp việc cả hai có cuộc sống còn nhiều phần vất vả hơn cả gia đình nhà Ki-taek. Đặc biệt có lẽ không khán giả nào có thể quên hình ảnh Geun-se với cái những cái dập đầu không ngừng để tạ cái ơn ông Park đã tình cờ “ban” cho mình – một chỗ trú ẩn ẩm thấp, chật hẹp nhưng đủ kín đáo để tránh khỏi sự săn đuổi của chủ nợ, những bữa ăn chưa bao giờ đều đặn nhưng đủ để dịu cơn đói lòng do Moon-gwang trộm đi từ khẩu phần thừa mứa của bà Yeon-kyo và hai đứa con Da-hye (Jung Ji-so) và Da-song (Jung Hyun-joon), và những tháng ngày nhàm chán trong cô độc nhưng đủ yên bình vì ngoại trừ Da-song, chẳng ai trong gia đình ông Park mảy may quan tâm tới việc họ đang là “ân nhân bất đắc dĩ” của ông chủ quán trốn nợ Geun-se. Sự tương phản giữa Ki-taek và Geun-se cũng chính là sự đối nghịch vẫn còn tồn tại đến tận thời điểm hiện tại giữa những người ủng hộ cánh tả và người ủng hộ cánh hữu ở Hàn Quốc khi nhắc tới những di sản để lại của chính quyền độc tài Park Chung-hee. Cha đẻ của người đã đưa Bong Joon-ho vào “Bản danh sách đen” Park Geun-hye là người nắm vị trí lãnh đạo tối cao của Hàn Quốc trong suốt 16 năm từ 1963 tới 1979. Hết sức độc đoán trong chính trị, sẵn sàng tống giam, tra tấn, thậm chí là thủ tiêu những nhà hoạt động cánh tả bị nghi ngờ “chống đối chính quyền”, nhưng Park cũng là cha đẻ của những chính sách kinh tế đã giúp Hàn Quốc từ một quốc gia nghèo đói, từ một quốc gia của những người lao động chân tay rẻ mạt phải lang bạt khắp trời Âu kiếm sống, trở thành một cường quốc về công nghiệp, công nghệ. Bởi vậy mà rất nhiều người Hàn Quốc – đặc biệt là những người có tuổi hay những người có xu hướng ủng hộ tư tưởng chính trị bảo thủ vẫn luôn hết lòng biết ơn và ủng hộ Park Chung-hee hay bầu cho Park Geun-hye với tư cách những người đã và đang đem lại cho họ cuộc sống ấm no, hạnh phúc – dù là một cuộc sống ấm no, hạnh phúc trong một xã hội ngày càng phân hoá giàu nghèo. Ở phía ngược lại, bất chấp những thay đổi rõ rệt trong cuộc sống, những người thiên tả lại luôn nhớ đến việc phe bảo thủ của Park Chung-hee, của Chun Doo-hwan đã tìm cách tước bỏ những quyền con người cơ bản nhất như quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt, đã bịt miệng, đã tìm cách thủ tiêu những lãnh tụ cánh tả của họ như Kim Dae-jung (người sau này trở thành Tổng thống Hàn Quốc). Dù hơn hai thập kỉ đã trôi qua kể từ ngày Hàn Quốc thoát khỏi chế độ độc tài quân sự, nhưng mâu thuẫn cánh tả - cánh hữu, ủng hộ - phản đối Park Chung-hee vẫn còn hiển hiện trong nền chính trị - xã hội của Hàn Quốc. Người nước ngoài nhìn cảnh Ki-taek và Geun-se giành giật miếng ăn, giành giật lấy cuộc sống “mơ ước” trong toà biệt thự sang trọng, rộng lớn của nhà ông Park có lẽ sẽ nghĩ đến những ẩn dụ về sự đối lập giàu nghèo hay vực xoáy không thể thoát ra của sự nghèo hèn, nhưng người Hàn Quốc khi xem những cảnh này hẳn cũng sẽ giật mình nghĩ tới những cuộc biểu tình, đụng độ thường thấy của hai phe tả - hữu, hay những hậu quả gây chấn động chính trường Hàn Quốc sau những giành giật quyền lực của hai phe như việc tổng thống cảnh tả Roh Moo-hyun bị o ép tới mức nhảy xuống vực tự vẫn, hay việc lần lượt hai tổng thống cánh hữu Park Geun-hye và Lee Myung-bak phải vào tù dưới thời tổng thống đương nhiệm Moon Jae-in – chính trị gia cánh tả nhiều năm được tổng thống quá cố Roh Moo-hyun bảo trợ. Kết thúc bộ phim, tuy “phe” Moon-gwang và Geun-se đều đã mất mạng, nhưng “phe” Ki-taek cũng lại phải quay về chuỗi ngày dài trong những căn nhà hầm tăm tối để tiếp tục mơ tới những ngày được thực sự làm chủ căn biệt thự nay đã vắng chủ của gia đình ông Park quá cố. Chẳng biết đây có phải một lời ca thán của đạo diễn họ Bong với tình trạng xáo trộn nhiều nhưng chẳng mấy đổi thay của chính trường Hàn Quốc – khi con cháu những gia đình quyền thế như các gia đình tài phiện (chaebol) họ Lee của Samsung, họ Chung của Hyundai vẫn cứ “ăn trên ngồi trốc” mặc kệ cho những người bình dân ủng hộ phe tả và phe hữu có đội mưa đội nắng biểu tình trước cửa Gwanghwamun từ đời tổng thống này sang đời tổng thống khác. Nhưng nếu đó đúng là thông điệp Bong Joon-ho muốn truyền tải, thì nó có phần quá bi quan, nhất là trong bối cảnh nền chính trị Hàn Quốc đang chứng kiến rất nhiều hy vọng mới kể từ khi tổng thống Park Geun-hye bị phế truất sau những cuộc tuần hành của cả triệu người dân Hàn Quốc – những cuộc biểu tình dù rất đông, dù tràn đầy lửa nhiệt huyết nhưng lại không hề mang hơi hướng bạo lực – màu sắc quen thuộc của văn hoá biểu tình trong nhiều năm tại đất nước Đông Bắc Á này.

Không chỉ nhắc nhớ người xem Hàn Quốc tới nội tình đất nước, Ký sinh trùng sẽ còn khiến nhiều người cảm thấy thú vị vì hình ảnh gia đình ông Park trong phim có nhiều điểm trùng hợp đến kỳ lạ với gia đình của chính tổng thống Park Chung-hee trong quá khứ. Một người chồng giàu có, quyền lực, một người vợ hiền thảo, hết mực lo lắng cho chồng con, hai mặt con đủ cả trai gái – rõ ràng gia đình ông Park là hình mẫu lý tưởng cho bất cứ gia đình hiện đại nào của đất nước Hàn Quốc. Trong những năm cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970, hình mẫu đó chính là gia đình tổng thống Park Chung-hee và bà Yuk Young-soo cùng hai người con gái Park Geun-hye, Park Geun-ryoung và cậu con trai út Park Ji-man. Bi kịch ập đến với gia đình ông Park đột ngột thế nào trong ngày sinh nhật của Da-song, thì gia đình tổng thống Park Chung-hee cũng tan vỡ một cách đầy bàng hoàng như thế. Năm 1974 tổng thống Park Chung-hee bị một người thân Triều Tiên ám sát ngay trong ngày độc lập của Hàn Quốc nhưng thoát chết, trong khi chính bà Yuk lại chết vì một viên đạn lạc của kẻ thủ ác. Năm 1979, chính tổng thống Park lại một lần nữa bị ám sát bởi một viên chức cấp dưới thân tín, để lại ba chị em Geun-hye, Geun-ryoung, và Ji-man lại giữa một đất nước còn phải oằn mình thêm gần một thập niên dưới chế độ quân sự trước khi hoàn toàn thoát ra được để trở thành quốc gia dân chủ. Dù Park Geun-hye sau này đã lại leo lên được đỉnh cao quyền lực giống như cha bà, nhưng chính người bạn bà kết thân trong những ngày thiếu vắng sự quan tâm của cha mẹ là Choi Soon-sil đã kéo bà xuống vực sâu của tù tội. Và ngay cả tình cảm chị em giữa bà Park và hai người em cũng nhanh chóng trở thành sự bất hoà kéo dài nhiều năm trời, đặc biệt là với cậu em út Ji-man vốn rất thành đạt trong kinh doanh nhưng cũng gặp vô số rắc rối liên quan đến việc sử dụng chất gây nghiện.

Tất nhiên, những biện luận trên đây rất có thể chỉ là những suy đoán quá mức về cuộc đối đầu Ki-taek – Geun-se, về lâu đài trên cát của gia đình ông Park. Nhưng cũng như hình ảnh hòn đá được lặp đi lặp lại trong phim, như cuộc gặp gỡ định mệnh ở đầu phim giữa Ki-woo (Choi Woo-shik) và Min-hyuk (Park Seo-joon), có rất nhiều thứ Bong Joon-ho đã để dành cho khán giả khám phá, luận giải thông qua Ký sinh trùng. Lời giải cho những câu đố của đạo diễn họ Bong có thể đúng, có thể sai, nhưng chắc chắn đây là một cơ hội rất tốt cho người yêu phim, đặc biệt là người yêu phim nước ngoài hiểu hơn về đất nước với lịch sử đầy thăng trầm và nền văn hoá – xã hội hết sức khác biệt của đạo diễn Bong Joon-ho – đất nước Hàn Quốc. 

========

mercredi 18 juillet 2018

Burning (2018)






Jong-su (Yoo Ah-in) yêu văn William Faulkner, thích học viết văn, và mang trong mình khao khát sáng tác một cuốn tiểu thuyết của riêng mình. Nhưng trong lúc chờ đợi những ý tưởng sáng tạo ào đến thì anh vẫn phải gồng mình làm những công việc chân tay để kiếm miếng ăn thường nhật và có điều kiện lo cho cái trang trại-chỉ-có-một-con-bò vùng biên giới của bố anh, người đã phải đi tù vì tấn công người thi hành công vụ. Ánh sáng chợt đến với cuộc đời u ám của Jong-su khi anh gặp lại cô bạn từ thuở thơ ấu Hae-mi (Jeon Jong-seo) – cô gái vốn cũng chẳng có nghề nghiệp ổn định nhưng luôn mơ ước được đi du lịch tới những mảnh đất xa xôi, nơi cô có thể ngắm hoàng hôn buông xuống giữa những người xa lạ. Vừa mới lục lại được những mảnh vụn kí ức về tình bạn với cô bé Hae-mi-của-quá-khứ ở vùng quê biên giới Paju, và nảy sinh tình cảm với cô gái xinh đẹp Hae-mi-của-hiện-tại chưa được bao lâu thì Jong-su đột nhiên trở thành người trông nhà và nuôi mèo bất đắc dĩ cho Hae-mi bởi cô đã quyết định lên đường sang châu Phi du lịch. Tưởng như ngày Hae-mi từ châu Phi trở về sẽ là ngày hạnh phúc của Jong-su thì anh lại bất đắc dĩ trở thành người thứ ba trong quan hệ tay ba của cô bạn gái cùng gã nhà giàu lạ mặt Ben (Steven Yeun). Giàu có, đẹp trai, lịch thiệp, Ben có tất cả những thứ mà Jong-su có mơ cũng khó lòng đạt được, nhưng gã cũng có một sở thích quái dị là đốt những nhà kính trồng cây ở các vùng quê – sở thích mà gã tiết lộ với Jong-su trong một lần phê “cỏ”. Và rồi Hae-mi đột nhiên biến mất, còn những nhà kính trồng cây ở vùng quê Jong-su dường như vẫn chưa hề bị sở thích quái đản của Ben động chạm tới. Dần dần Jong-su nhận ra rằng có lẽ đằng sau vẻ đẹp trai hào nhoáng, Ben còn có những góc khuất không muốn cho ai biết tới.
 
Burning là tác phẩm mới nhất của đạo diễn người Hàn Quốc Lee Chang-dong kể từ bộ phim xuất sắc về tuổi già và nỗi cô đơn Poetry (2010). Khoảng thời gian hơn 7 năm giữa Burning và Poetry là khoảng lặng dài nhất trong sự nghiệp đạo diễn của Lee, bởi vậy người hâm mộ điện ảnh hoàn toàn có lý do để mong đợi sự tái xuất của ông – một cựu bộ trưởng của chính phủ cánh tả Hàn Quốc giai đoạn 2003-2004 từng bị đặt vào “danh sách đen” không được nhận tài trợ điện ảnh của chính quyền bảo thủ dưới thời tổng thống Hàn Quốc Park Geun-hye (2013-2017). Nhưng Burning còn được nhiều người hâm mộ văn học và điện ảnh đón đợi là vì kịch bản bộ phim này được Lee Chang-dong đồng sáng tác dựa trên truyện ngắn Barn Burning (Đốt nhà kho) của nhà văn nổi tiếng Haruki Murakami. Tuy đã có rất nhiều tác phẩm bán chạy ở tầm quốc tế và thường xuyên được nêu tên trong danh sách ứng cử viên nặng ký cho giải Nobel Văn học, nhưng giọng văn lãng đãng, đậm chất suy tư của nhà văn người Nhật khiến các tiểu thuyết và truyện ngắn của ông rất hiếm khi được chuyển thể lên màn ảnh lớn với chỉ một vài ngoại lệ như bộ phim Rừng Na Uy (2010) của đạo diễn người Pháp gốc Việt Trần Anh Hùng. Ra mắt độc giả lần đầu năm 1983 dưới dạng truyện ngắn đăng báo và sau đó được đăng lại trong tuyển tập truyện ngắn Con voi biến mất (The Elephant Vanishes), Barn Burning là câu truyện đậm chất huyền ảo, lãng đãng kiểu Murakami về mối quan hệ tay ba giữa một nhà văn đã có gia đình, một cô người mẫu yêu nghệ thuật kịch câm, và gã bạn trai giàu có với sở thích dị thường đốt nhà kho ở vùng nông thôn. Khi so với cốt truyện này của Barn Burning, kịch bản chuyển thể Burning của đạo diễn Lee Chang-dong có rất nhiều điểm khác biệt, không chỉ là bối cảnh được chuyển từ Nhật Bản sang Hàn Quốc, nhiều chi tiết hoàn toàn mới về mối quan hệ tay ba giữa các nhân vật chính, mà còn nằm ở cả cách mở đầu và kết thúc của tuyến truyện chính. Vì vậy có lẽ Burning chỉ nên được coi là bộ phim lấy cảm hứng từ truyện ngắn Barn Burning của Murakami với hơi thở cuộc sống gai góc kiểu Hàn Quốc và phong cách nghệ thuật rất riêng của Lee Chang-dong thay vì nỗ lực chuyển thể tối đa chất lãng mạn và triết lý Murakami lên màn ảnh lớn như cách Trần Anh Hùng đã từng làm đối với “Rừng Na Uy”.

Khi nhắc tới đất nước Hàn Quốc hẳn nhiều khán giả sẽ nghĩ tới những bài hát, những bộ phim tràn đầy cảnh đẹp thiên nhiên đến mê lòng hay những thành phố hiện đại náo nhiệt đại diện cho một quốc gia thịnh vượng hàng đầu thế giới. Nhưng lẩn khuất phía sau gương mặt phồn vinh, lạc quan đầy hào nhoáng ấy vẫn còn rất nhiều những số phận nghèo khổ vừa là nạn nhân của những biến cố lịch sử đất nước Hàn Quốc đã phải trải qua suốt hơn nửa thế kỷ qua, vừa bị bỏ lại phía sau trong một xã hội Hàn Quốc nơi khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng tới mức chóng mặt. Một trong những nghệ sĩ điện ảnh Hàn Quốc luôn trăn trở với những số phận buồn tủi ấy là Lee Chang-dong. Các bộ phim của ông như Green Fish (1997), Peppermint Candy (1999), hay Oasis (2002) vừa giới thiệu tới người xem một Hàn Quốc rất khác – một đất nước của những mùa đông dài tăm tối và lạnh lẽo, một đất nước vẫn còn hằn đầy những vết sẹo của chiến tranh, của chế độ độc tài kéo dài ba thập kỉ, và của hủ tục Nho giáo, một đất nước của rất nhiều những con người vẫn còn đang phải bươn chải để kiếm sống qua ngày. Đó cũng chính là bối cảnh của Burning, một bộ phim về sự tương phản đến cùng cực giữa một bên là giới thượng lưu thừa mứa của cải nhưng nghèo nàn về cảm xúc như Ben và những người bạn cùng chia sẻ cuộc sống phù phiếm với anh ta, và bên kia là những người dân lao động nghèo khó nhưng trong lòng luôn bùng cháy ngọn lửa khao khát được tận hưởng cuộc sống như Jong-su, như Hae-mi. Mối quan hệ hồn nhiên, chân thành giữa Jong-su và Hae-mi phần nào gợi nhớ đến hình ảnh của cặp đôi Jong-chan (Song Kang-ho) và Shin-ae (Jeon Do-yeon) trong tác phẩm của Lee Chang-dong từng gây tiếng vang rất lớn ở Liên hoan phim Cannes năm 2007 là Secret Sunshine. Tuy nhiên có lẽ đạo diễn họ Lee vẫn muốn giữ lại phần nào đó chất lãng mạn Murakami trong bộ phim mới nhất của ông, vì vậy có cảm giác ông vẫn muốn giữ lại chút gì đó bí ẩn mờ ảo cho bộ ba nhân vật của ông thay vì cách tiếp cận tỉ mỉ, đa diện mang đậm phong cách của chủ nghĩa hiện thực trong Peppermint Candy, Secret Sunshine, hay Poetry. Hướng đi có chút khác biệt này khiến cho Burning có được hương vị mới mẻ, nhẹ nhàng hơn so với các bộ phim trước đây của Lee Chang-dong, nhưng cũng lại làm giảm đi hiệu ứng cảm xúc đến từ những bi kịch đời thường của các nhân vật vốn là thế mạnh trong phong cách làm phim của đạo diễn người Hàn Quốc.

Bên cạnh chất hiện thực thấm đẫm, một trong những điểm nổi bật thường thấy trong các bộ phim của Lee Chang-dong là việc ông thường xuyên giúp các diễn viên của mình phát huy tối đa khả năng diễn xuất nhờ vào các kịch bản giàu kịch tính và cách đạo diễn họ Lee chú trọng đặc tả diễn biến cảm xúc của các nhân vật. Chính nhờ các tác phẩm của Lee Chang-dong mà các nữ diễn viên xuất sắc của Hàn Quốc như Moon So-ri (phim Oasis) và Jeon Do-yeon (Secret Sunshine) đã chứng tỏ được tên tuổi ở tầm quốc tế với các giải Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất tại Liên hoan phim Venice và Cannes. Khác với những nữ diễn viên gạo cội kể trên, vai Hae-mi mới là vai diễn đầu tiên trong sự nghiệp của Jeon Jong-seo - “nàng thơ” mới của Lee Chang-dong. Không phụ sự tin tưởng của đạo diễn họ Lee, nữ diễn viên 24 tuổi đã gây ấn tượng mạnh với khán giả không chỉ bởi vẻ đẹp sắc sảo, mà còn nhờ diễn xuất nhẹ nhàng nhưng không kém phần ma mị, lôi cuốn rất hợp với một nhân vật chợt đến, chợt đi trong lòng Jong-su và khán giả như Hae-mi. Thậm chí là khi so sánh với hai bạn diễn có nhiều kinh nghiệm và danh tiếng hơn cô rất nhiều là Yoo Ah-in và Steven Yeun, Jeon phần nào đó còn để lại nhiều ấn tượng hơn dù cô không có nhiều đất diễn bằng Yeun - ngôi sao của loạt phim truyền hình The Walking Dead và Yoo – một trong những nam diễn viên có tiếng của điện ảnh và truyền hình Hàn Quốc. Dù vậy thì khi so sánh với các nhân vật của Peppermint Candy, Oasis, Secret Sunshine, hay Poetry, cả bộ ba Hae-mi, Jong-su, và Ben đều khó có thể so sánh về ấn tượng lâu dài để lại trong lòng khán giả bất chấp việc Burning là tác phẩm dài nhất cho tới nay của Lee Chang-dong với thời lượng 148 phút.

Thật khó để nói Burning là một bộ phim chuyển thể thành công tinh thần văn học của Haruki Murakami. Về mặt cảm xúc, bộ phim mới này của đạo diễn Lee Chang-dong cũng chưa thể so sánh được với những những đỉnh cao trong sự nghiệp của ông như Peppermint Candy hay Oasis. Nhưng với những khán giả muốn được chứng kiến hình ảnh một đất nước Hàn Quốc lạnh lẽo vốn ít khi được đưa lên màn ảnh lớn, muốn được hiểu thêm về những gương mặt khác nhau của thế hệ trẻ ở quốc gia Đông Bắc Á, giàu sang nhưng trống hoác về tâm hồn có, nhiều mơ ước nhưng chẳng thể vượt qua rào cản xã hội có, nhưng phần lớn đều thấy cô độc giữa xã hội hiện đại, thì họ chắc chắn sẽ không cảm thấy phí hoài thời gian với Burning – một tác phẩm điện ảnh hay về đất nước và con người Hàn Quốc.

=====