some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

samedi 12 décembre 2009

District 9 (2009), The Blind Side (2009)


District 9 có thể nói là một tác phẩm mang tính đột phá trong dòng phim alien - người ngoài hành tinh xâm chiếm Trái Đất vốn tưởng như đã không còn gì mới để khai phá. Bộ phim làm mới cái chủ đề cũ rích này bằng một cách đơn giản - đặt ngược lại vấn đề: Mọi việc sẽ ra sao nếu chính những người ngoài hành tinh mới là tầng lớp hạ đẳng, bị loài người đàn áp, ức hiếp và khinh miệt? Đây là cách đặt ngược vấn đề quá sức thông minh vì nó vừa mới, lại vừa giúp đạo diễn tận dụng được trực tiếp những sự kiện lịch sử có thật về tệ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi để biến District 9 thực sự trở thành tấm gương phản chiếu xã hội thay vì hoặc động chạm một cách nửa mùa (hay tệ hơn nữa là quên bẵng đi nội dung mà chỉ tập trung vào kĩ xảo - The Transformers) như Terminator: Salvation hoặc dùng ẩn dụ quá sâu sắc khiến khán giả bình thường khó lòng hiểu hết ý nghĩa như Children of Men.

Bộ phim được mở đầu bằng một khúc khá dài (và khá mệt mỏi) để giới thiệu về nhân vật Wikus, một nhân viên phụ trách quản lý lũ "mọi" (prawn, "nigger" của người ngoài hành tinh) người ngoài hành tinh, và những sự kiện bất ngờ đã biến anh ta từ phía con người nay lại quay sang hàng lũ của lũ "mọi" với một tình cảm chân thành thực sự. Mặc dù đây là đoạn "vào đề" nhưng thực chất những sáng tạo về nội dung và cách làm phim của District 9 tập trung hầu hết ở đây, thông qua những đoạn phóng sự, trả lời phỏng vấn ngắn dạng mockumentary, bộ phim dần xây dựng nên một xã hội Nam Phi đặc sắc, vừa gần gũi vì quan hệ phân biệt chủng tộc người-"mọi" không khác gì quan hệ phân biệt chủng tộc da trắng-da đen trước kia, vừa lạ lùng đặc sắc vì lần đầu tiên trên màn ảnh người ta thấy những alien có bề ngoài sâu bộ gớm ghiếc nay không còn là nỗi sợ hãi của loài người, ngược lại còn trở thành cái bia để con người tống khứ tất cả những sai lầm của chính họ và những cách đối xử tàn bạo, phi nhân tính nhất. Do apartheid là thứ không hề gần gũi với khán giả quốc tế (bên ngoài Nam Phi người ta chỉ biết tới đơn giản apartheid = da trắng phân biệt chủng tộc với da đen chứ không biết "phân biệt chủng tộc" ở đây là như thế nào) nên phần "khởi động" này của phim theo tôi là hơi dài so với một tác phẩm giải trí vì (không còn cách nào khác) phải dài như vậy mới đủ giúp khán giả hình dung được bối cảnh của một xã hội kiểu apartheid là như thế nào.

Phần cuối của phim khiến tôi ngạc nhiên vì trình độ kĩ xảo ấn tượng so với con số đầu tư 30 triệu USD của phim, tuy không thể "mượt mà" như The Transformers nhưng District 9 lại sáng tạo và gần gũi hơn nhiều với những vũ khí, người máy theo kiểu manga Nhật Bản (Akira, Appleseed,...). Phần này cũng "sến" hơn rất nhiều so với phần mở đầu, đặc biệt là trong cách tận dụng hình ảnh "anh người ngoài hành tinh" ngơ ngác trước lũ người Trái Đất tàn bạo và nham hiểm. Bản thân cách xây dựng tương phản hình ảnh Wikus dễ mến, ngố ngố ở đầu phim và hình ảnh Wikus bẩn thỉu, dị hợm, đau đớn ở cuối cũng là một cách "sến hóa" khá lạ của dòng phim khoa học giả tưởng, thật may là ở District 9 này nó đem lại hiệu ứng tốt vì xem những trường đoạn đặc tả Wikus rõ ràng sẽ khiến người xem cảm động. Với sự lệch pha về nội dung như vậy, phần đầu và phần cuối của phim bị "vênh" khá lớn, tôi không muốn nói là phần nào "hay" hơn phần nào (cả hai phần đều có nét đặc sắc riêng), nhưng điều này đã khiến phim không được đồng nhất và vì thế District 9 mới chỉ dừng lại ở mức một phim giải trí hay chứ chưa thể trở thành "kim chỉ Nam" mới cho dòng phim alien.


Xem phim này xong có lẽ câu bình luận thích hợp nhất là: "Hollywood at its best!". Không giàu kịch tính hay sự bất ngờ (vì là phim tiểu sử), không có dàn diễn viên "sao" hoặc thực sự nổi về diễn xuất (có thể trông đợi gì từ Sandra Bullock và Tim McGraw?), không có phần thoại sâu sắc hay kĩ xảo độc đáo, nhưng The Blind Side vẫn ăn khách (một cách không hề rẻ tiền), vẫn cuốn hút người xem và khiến họ trầm trồ vì khả năng làm phim của các nhà điện ảnh Hollywood.

The Blind Side kể về câu chuyện của Michael Oher, một cậu thiếu niên da đen "khổng lồ" có thời thơ ấu bất hạnh nhưng đã vượt qua được cuộc sống khó khăn để trở thành một ngôi sao của làng bóng đá Mỹ (American football). Tất nhiên thành công không từ trên trời rơi xuống, nó có được một phần nhờ vào nghị lực của Oher và một phần rất lớn khác nhờ vào sự giúp đỡ, động viên từ mẹ nuôi của anh, Leigh Anne Tuohy. Nửa tiếng đầu của bộ phim được dành để khắc họa số phận cay đắng của cậu thiếu niên Michael và cuộc gặp gỡ tình cờ của bà Tuohy với Michael trong một đêm mưa lạnh. Đã lâu rồi tôi mới được xem 30 phút phim cảm động đến như vậy, tôi tin là nhiều chị em gái sẽ phải rơi nước mắt khi xem Michael to béo phải co ro trong đêm lạnh và nỗi cô đơn đến cùng cực, và chắc nhiều người cũng sẽ phải rơi nước mắt vì cách cư xử mạnh mẽ nhưng đầy tình thương và sự quan tâm của bà Tuohy - một phụ nữ da trắng có tất cả (một gia đình hạnh phúc, một công việc thành đạt, một ... chiếc BMW 7 series) với Michael - một cậu thiếu niên cả đời chưa bao giờ có nổi một cái giường cho riêng mình. The Blind Side thành công ở chỗ phim không hề "câu nước mắt" bằng việc nhấn mạnh vào chi tiết sướt mướt đậm chất mélo, bộ phim tiểu sử này chỉ kể lại sự việc bằng thứ ngôn ngữ điện ảnh giản dị với phần thoại không hề hoa mỹ và các nhân vật cũng giản dị không kém như cái chất giọng "nhà quê" bẹt bẹt miền Nam của họ. Chính sự giản dị đã tạo hiệu ứng tốt cho phim và khiến cho nửa tiếng đầu của The Blind Side thành công đến vậy.

Phần mở đầu xuất sắc làm tôi lo ngại rằng phim sẽ bị vênh nếu "khúc" còn lại được làm không tốt. Và quả thực là phần sau của phim không được tốt như phần mở đầu. Đạo diễn vì trung thành với tính chất phim tiểu sử nên đã hạn chế tối đa mọi sự kịch tính hóa không cần thiết (nhưng cũng làm giảm sự hấp dẫn của phim), chủ đề thể thao, một đặc điểm khác có thể tăng tính hấp dẫn cho phim, cũng không được tận dụng, The Blind Side thay vào đó chỉ tập trung khắc họa sự biến đuổi của Michael sau khi trở thành thành viên của nhà Tuohy và của bà Tuohy sau khi nhận nuôi dưỡng Michael. Dù sao phần này cũng không quá "kém" đến mức làm tôi thất vọng (tôi chưa bao giờ hy vọng rằng một feel-good movie có thể "đẻ" ra điều gì đột phá) vì nội dung nhẹ nhàng, dung dị của phim cũng đã đủ khiến tôi bất ngờ nếu so với cái cách làm phim "hở ra" là kịch tính hóa như Hollywood. Có lẽ Michael Oher và bà Tuohy ngoài đời cũng sẽ hài lòng vì The Blind Side khi hình ảnh của họ trong phim được khắc họa như những người hết sức bình thường chứ không phải như những nhân vật điện ảnh (phần générique cuối phim có hình ảnh thật của Michael và bà Tuohy, họ không khác nhiều so với mô tả trên phim), thành công này phải kể tới diễn xuất của Bullock, người thủ vai bà Tuohy, và Quinton Aaron, người thủ vai Michael. Vẻ ngoài hiền lành của Aaron khiến người xem lập tức có cảm tình với nhân vật Michael của anh trong khi Bullock trong một vai "nghiêm túc" hiếm hoi đã cho thấy cô hoàn toàn có khả năng không dùng những pha hài (nhảm) mà vẫn khẳng định được tính cách của nhân vật.

Nói một cách văn vẻ thì The Blind Side giúp khán giả thấy rằng ở đâu đó vẫn có những con người nhân hậu, còn nói một cách đơn giản thì The Blind Side là một bộ phim gia đình tuyệt vời cho mùa nghỉ lễ này.

samedi 5 décembre 2009

Inglourious Basterds (2009) - Ngoại ngữ cho người ngại nghĩ


Một lời khuyên chân thành cho ai muốn xem phim của Quentin Tarantino nhưng không cực (nhấn mạnh là "cực") giỏi tiếng Anh (có nghĩa là đọc hiểu thì không đến nỗi nhưng nghe thì làng nhàng - như tôi), đó là down DVDrip hoặc mua đĩa, đừng cố công ra rạp xem làm gì vì sẽ khó lòng cảm nhận hết phần thoại cực kì tinh tế do Tarantino dụng công sáng tạo ra. Kể từ bộ phim đầu tay Reservoir Dogs, Tarantino đã cho người xem thấy cái trademark của ông đó là phần thoại - nhân vật trong phim Tarantino nói cực nhiều, cực lan man tới mức có vẻ "vô duyên", lắm lời trong khi thực ra từng câu chữ trong phần thoại đó đều gắn liền với các chi tiết trong phim, không trực tiếp thì gián tiếp, hay nói cách khác thì thoại chính là "động cơ" giúp cho "chiếc ô tô" phim Tarantino chạy.

10 năm, đó là quãng thời gian Tarantino bỏ ra để viết kịch bản Inglourious Basterds, chỉ con số đó thôi cũng đủ để chứng tỏ chất lượng của kịch bản (mà phần quan trọng nhất là thoại) của tác phẩm này được Tarantino trau chuốt đến mức nào. Trong bộ phim này, Tarantino đã nâng "trình" thoại lên một tầm cao mới, thay vì thoại tiếng Anh thông thường, Tarantino sử dụng tới 3 ngôn ngữ chính Đức - Anh - Pháp, chưa kể vài câu thoại tiếng Ý tuy ngắn nhưng cực kì hài hước và ấn tượng. Không chỉ thế, Tarantino còn chú ý tới từng giọng (accent) của diễn viên: Đức có Đức Munchen, Đức Frankfurt và Đức ... do người Anh giả giọng; Anh có Anh Anh, Anh Scotish, Anh Mỹ Do Thái, Anh Mỹ (nhà quê) Tennessee, Anh do người Đức nói, Anh do người Pháp nói; Pháp có Pháp Pháp, Pháp do người Đức nói. Và để đùa với chính cái tài viết thoại đa ngôn ngữ của mình, Tarantino đã để nhân vật của ông "phát biểu" một câu thoại hết sức châm biếm, gây cười mà cũng rất thật:
Bridget von Hammersmark: I know this is a silly question before I ask it, but can you Americans speak any other language besides English?
Đúng vậy, các nhân vật người Mỹ trong phim không những không biết bất cứ thứ tiếng nào khác mà ngay thứ tiếng Anh của họ cũng méo mó theo kiểu "nhà quê" miền Nam nước Mỹ, chất giọng miền Nam của Aldo Raine mà cứ câu thoại nào tuôn ra là cù khán giả cười câu đó có lẽ là điểm sáng duy nhất trong diễn xuất của Brad Pitt (thực ra Pitt cũng là người miền Nam vì vậy điều này chắc không quá khó khăn, nhất là khi Pitt vừa có một vai diễn đặc sệt miền Nam trong The Curious Case of Benjamin Button). Khả năng ngoại ngữ kém của người Mỹ được thể hiện rõ nhất trong đoạn nói tiếng Ý, 3 anh chàng Basterd thậm chí còn không thể phát âm nổi cái tên Ý giả của mình (tên người Ý đọc có trọng âm nặng, điều không dễ dàng với người Mỹ vốn có accent nhẹ) và hài hước nhất là anh chàng tự nhận mình "không biết tiếng Ý" hóa ra lại là người duy nhất nói được mấy câu tiếng Ý ra hồn.

Người thủ vai ngôi sao điện ảnh Đức Bridget von Hammersmark nói trên là Diane Kruger, một diễn viên tôi không ưa thích lắm vì cô có nét mặt tương đối ăn hình nhưng diễn xuất thì luôn cứng đờ và gượng gạo (gần đây có Pour Elle có khá hơn - phim này sắp được Hollywood làm lại). Ấy vậy mà ở Inglourious Basterds Kruger lại diễn cực tốt trong vai gián điệp hai mang von Hammersmark, phần thoại Anh-Đức-Pháp được Kruger đọc hoàn toàn "mượt" và không bị lẫn giọng, Tarantino có lẽ cũng đã tinh ý khi chọn một nữ diễn viên Đức từng đóng rất nhiều phim cả ở Pháp và Mỹ này.

Diễn viên tuyệt vời nhất của Inglourious Basterds hiển nhiên không phải ai khác ngoài Christoph Waltz, người thủ vai Hans Landa, "siêu sĩ quan" của Nazi với tài "suy nghĩ như người Do Thái", khả năng lập luận và biện bác siêu đẳng cùng trình độ tiếng Anh, Pháp, Ý (có lẽ còn nhiều nữa) không thể chê vào đâu được. Khác với Kruger, tôi chưa bao giờ thấy Waltz đóng phim Pháp vì vậy khi ông này mở mồm nói tiếng Pháp tôi đã rất ngạc nhiên vì chất giọng thuần thục và không hề lẫn accent nặng kiểu Đức của Hans Landa. Ngạc nhiên dẫn tới tò mò vì ngay lập tức Hans Landa đề nghị ông chủ nhà người Pháp chuyển sang nói tiếng Anh vì "trình độ tiếng Pháp có hạn" (thực tế không phải vậy), lúc đầu tôi tưởng đó là "lý do" để Tarantino chuyển thoại về tiếng Anh cho khán giả Mỹ dễ theo dõi, hóa ra không phải như vậy, việc Hans Landa chuyển từ tiếng Pháp sang tiếng Anh hoàn toàn có lý do riêng của nó (đúng như phong cách viết thoại của Tarantino - không bao giờ có thứ gì thực sự vu vơ).

Một nhân vật sĩ quan Đức khác cũng cực kì ấn tượng đó là tay Gestapo áo đen Hellstrom trong trường đoạn tại quán rượu. Lại một bộ óc tinh tường và cái tai thính nhạy khác, các nhân vật phe "xấu" trong phim này rõ ràng được đặc tả hay hơn nhiều lần so với các nhân vật phe "thiện" (mặc dù thực tế thì ít khi Tarantino phân định rạnh ròi cái ranh giới này trong phim ông). Nếu Tarantino nói tiếng Pháp - Đức tốt, hẳn ông đã thủ luôn vai tay chủ quán rượu, một vai "vớ vẩn" đúng kiểu Tarantino! (và Tarantino đã từng đóng một vai như vậy trong Death Proof). Cái góc quay từ phía sau người thứ ba trong trường đoạn đó cũng thường là trademark của Tarantino với điều kiện ông là ... cái vai trong khung hình, tiếc là bộ phim này đòi hỏi một người nói tốt cả tiếng Pháp và tiếng Đức. Diễn viên thủ vai "nhỏ tí" này thực tế cũng là một người gây ấn tượng với tôi trong Der Untergang (The Downfall).

Thực ra trong phim này Tarantino còn sử dụng một diễn viên cực giỏi ngoại ngữ khác, đó là Julie Dreyfus, cô là người Pháp nhưng nói thông thạo tiếng Đức, Nhật, Anh. Vai của Dreyfus trong Inglourious Basterds khá nhỏ và chỉ đủ "đất" để cô phô diễn trình độ tiếng Đức, nhưng nếu ai đã từng xem Kill Bill Vol. 1 thì đều đã được nghe thứ tiếng Nhật và Anh không chê vào đâu được của cô gái Pháp (Dreyfus, có lẽ là gốc Do Thái?) này.

Nói về ngoại ngữ người ta thường có câu: Tiếng Anh là thứ tiếng của giao tiếp kinh doanh, tiếng Ý là tiếng cho tình yêu, tiếng Pháp là tiếng cho văn học nghệ thuật và tiếng Đức là thứ tiếng cho chiến tranh. Câu nói này dựa vào accent đặc trưng của người bản địa khi nói thứ tiếng đó và cũng dựa vào lịch sử của các quốc gia liên quan - người Anh, Mỹ thì luôn tính toán sòng phẳng, người Ý luôn mơ mộng với tình yêu, người Pháp chỉ biết tới nghệ thuật còn người Đức nổi tiếng với kỷ luật và khả năng chiến đấu. Inglourious Basterds chính là minh chứng cho câu nhận xét này, anh lính đẹp trai Zoller luôn đong đưa với Shosanna bằng tiếng Pháp, có đoạn nào đậm chất "kinh doanh" hơn đoạn Landa "mặc cả" điều kiện đầu hàng với OSS, có câu thoại nào điên loạn hơn ba tiếng "Nein, nein, nein!" mà Hitler thốt ra khi nghe cấp dưới trình bày về nhóm Basterds.

Vừa rồi chỉ là một khía cạnh rất nhỏ để cho thấy Tarantino đã trân trọng tác phẩm của mình (và vì thế, trân trọng khán giả) đến mức nào. Mà thực ra thì có ai là không nhận ra điều này ngay khi tiếp xúc với cái tựa đề rất ... trẹo mồm của phim?

vendredi 4 décembre 2009

Winslet the Witch


Hihi giờ mới biết đến cái này:

How does she foretell her own future?


If you do a film about Holocaust, you're guaranteed an Oscar.

So true for your case =))!


dimanche 29 novembre 2009

Ikiru (1952)


Ikiru bắt đầu với phong cách khiến tôi liên tưởng tới Sunset Blvd. - đạo diễn tuyên án "tử hình" nhân vật chính, Kanji Watanabe, bằng căn bệnh ung thư dạ dày giai đoạn cuối. Kanji Watanabe là một công chức mẫn cán, suốt 30 năm ông làm việc không ngơi nghỉ một ngày nào ở phòng Hành chính công thành phố, nhưng với cái giấy báo tử của bác sĩ ("Bác cứ về nhà ăn món gì mình thích"), ông biết rằng mình chỉ còn sống được chưa đầy một năm nữa.

Oái oăm là khi cái chết cận kề, Watanabe mới nhận ra rằng trong suốt 30 năm trời, ông chưa bao giờ thực sự sống với đúng cái nghĩa của động từ đó. Ông chỉ ngày ngày đến công sở, đóng dấu vào công văn do cấp dưới đưa lên để chứng tỏ mình đã đọc qua, ăn một bát mì vào giờ nghỉ buổi trưa, lại đóng dấu, rồi trở về với căn phòng trống lạnh lẽo cùng bức ảnh thờ của người vợ đã qua đời từ lâu và tấm bằng khen "25 năm phục vụ" của thành phố. Watanabe tự biện hộ: "Nhưng ông sống như vậy, ở một mình gà trống nuôi con như vậy, cũng chỉ là vì tương lai của cậu con trai duy nhất!", một lời biện hộ chỉ càng khiến ông đau khổ hơn bao giờ hết khi mà con trai của ông đã lấy vợ và quên sạch tình cảm cha con trước kia, giờ anh ta chỉ còn biết tới vợ và món tiền hưu trí mà ông Watanabe đã dành dụm được sau bấy nhiêu năm. Watanabe bàng hoàng nhận ra rằng mình thực sự là một "Xác ướp" - biệt danh mà cô gái trẻ nhân viên cấp dưới đặt cho ông, Watanabe thậm chí không thể tự tử, không thể chết vì ông chưa bao giờ sống trong suốt quãng đời nhạt nhẽo của mình.

Vậy thế nào là "sống"? Watanabe tìm câu trả lời bằng cách tung tiền vào những cuộc vui nơi quán rượu, tiệm trà, vũ trường thoát y, nhưng lời giải đáp thực sự cho câu hỏi của ông hóa ra lại nằm ở cô nhân viên trẻ trung, đầy sức sống và ham sống bằng mọi giá. Cô đã làm cho Watanabe nhận ra rằng cuộc sống, dù chỉ kéo dài một ngày, một tháng hay một năm, cũng là vô giá khi con người ta biết cố gắng hết sức để đạt được những mục đích có ý nghĩa mà mình mong muốn. Và Watanabe được tái sinh lần thứ hai trong đời, ông bắt đầu thực sự sống trong tiếng hát "Happy Birthday" của một nhóm học sinh dành cho nhau, nhưng thực ra là của đạo diễn Akira Kurosawa dành cho nhân vật của mình.

Watanabe đã sống như thế nào trong những tháng ngày cuối cùng ấy? Akira Kurosawa chỉ cho người xem biết lờ mờ thông qua cuộc cãi vã của đám đồng nghiệp trong đám tang của ông, một ngày sau khi Watanabe qua đời trên một chiếc xích đu giữa trời tuyết trong công viên nhỏ mà ông đã dành hết tâm huyết để nó được xây dựng. Công viên "của Watanabe" được xây dựng trên một bãi bùn lầy mà người dân đã muốn xóa sổ nó để thay thế bằng một sân chơi cho trẻ con từ lâu, nhưng khi họ tới tòa thị chính để đề nghị thì họ nhận được câu trả lời:

Xây công viên => Việc của phòng Công viên => liên quan đến vệ sinh => Việc của phòng Y tế => Việc của phòng Vệ sinh => Việc của phòng Vệ sinh môi trường => Việc của phòng Phòng dịch => Việc của phòng Bệnh truyền nhiễm => bãi lầy có nước thải => Việc của phòng Thoát nước => bãi lầy trước có một con đường chạy qua => Việc của phòng Giao thông => Chờ đợi quyết định của phòng Quy hoạch => liên quan tới phòng Tái quy hoạch khu phố => bãi lầy có nước => liên quan tới phòng Phòng cháy chữa cháy => xây sân chơi cho trẻ em => việc của phòng Chăm sóc trẻ em => liên hệ với tổ trưởng khu phố => liên hệ với Phó thị trưởng => giới thiệu sang phòng Hành chính công => giới thiệu sang phòng Thiết kế,....

Với cái mê cung hành chính không có lối thoát này thì chắc chắn những người dân chẳng bao giờ có thể thực hiện nguyện vọng của mình nếu không có sự hiện diện của Watanabe, một con ốc mẫn cán từng lặng lẽ nằm yên suốt 30 năm trong cái bộ máy đồ sộ nhưng vô hồn và vô tích sự ấy. Bằng sức mạnh tinh thần của một con người mới tìm lại được mục đích sống, Watanabe đã dồn hết tâm sức để tới từng mắt xích trong mê cung hành chính, van nài từng cái "xác ướp" như ông một thời, để họ "động đậy" khởi động dự án công viên. Cuối cùng thì cái công viên nhỏ bé nhưng có ích ấy cũng được hoàn thành, ấy vậy mà trong ngày khánh thành Watanabe chẳng có tên trong bài diễn văn của ngài Phó thị trưởng, ngay đến trong bữa ăn sau đám tang, hầu như tất cả đồng nghiệp của ông cũng không thừa nhận rằng Watanabe có công đầu trong việc xây dựng nó. Thậm chí họ còn tranh cãi nhau vì không thể hiểu nổi tại sao cái "Xác ướp" ấy lại "sống dậy" để sống trong quãng thời gian cuối cùng của cuộc đời? Hiểu làm sao được khi chính bản thân từng người trong số đồng nghiệp của Watanabe cũng là một "xác ướp", và cái chết hay những tháng ngày ý nghĩa cuối cùng của Watanabe cũng chẳng thể khiến những "xác ướp" ấy thay đổi cách sống, đúng hơn là cách tồn tại của họ. May ra, chỉ có chúng ta, những người xem cuộc đời của Watanabe ở góc nhìn thứ ba, có thể cảm nhận được chút gì đó từ những câu hát da diết mà Watanabe ngâm nga trong những giây phút cuối cùng trên chiếc xích đu: "Cuộc đời ngắn ngủi, hãy yêu đi hỡi những tâm hồn tinh khiết, trước khi cái màu đỏ trẻ trung, phai tàn trên đôi môi của bạn. Trước khi những đam mê dào dạt, nguội đi trong lòng bạn. Hỡi những người không biết tới ngày mai."

Ikiru ra đời trong hoàn cảnh nước Nhật bắt đầu tái sinh từ tro tàn của cuộc chiến, Akira Kurosawa làm bộ phim này vào giai đoạn rực rỡ nhất trong sự nghiệp của ông, 1 năm sau Rashomon và 2 năm trước Bảy samurai. Không được triển khai bằng phong cách dữ dội như hai tác phẩm nổi tiếng thế giới từ rất sớm kia, Akira Kurosawa chọn cho Ikiru một nhịp phim chậm rãi khi mà mọi xung đột, căng thẳng đều chỉ là những đợt sóng ngầm trong tâm hồn mỗi nhân vật. Vì thế thay vì một Toshiro Mifune bạo liệt, bùng nổ, Akira đã chọn Takashi Shimura, một diễn viên "ruột" khác của ông, cho vai Kanji Watanabe. Shimura không có được cái thần thái ấn tượng như Mifune nhưng lại biết cách diễn sao cho khán giả cảm nhận được tâm sự ẩn sau cái vẻ bình thường, thậm chí là hơi thụ động, kiểu Á Đông của ông. Và có lẽ ông đã dồn tất cả những gì tinh túy nhất trong tài nghệ diễn xuất của mình cho vai Kanji Watanabe này. Với rất nhiều cú may quay cận cảnh mà tiêu điểm duy nhất chỉ là khuôn mặt đầy khắc khổ của Watanabe, Shimura đã truyền cho khán giả đủ mọi cung bậc cảm xúc khác nhau, từ hoảng loạn sợ hãi khi nghe một bệnh nhân mô tả triệu chứng của căn bệnh quái ác, tới đau đớn tột cùng vì sự bất hiếu của con trai hay hạnh phúc vì tìm lại được lẽ sống đã mất và cuối cùng là sự thanh thản của một người sắp chết, nhưng đã được sống trong những tháng ngày cuối cùng. Cũng như chính Watanabe trong phim, Shimura đã tận dụng tới từng thời khắc xuất hiện trên khung hình của ông để biến câu chuyện bình thường về một người đàn ông bình thường trở thành một tác phẩm khiến khán giả xúc động sâu sắc đến vậy.

Ikiru có nghĩa là Sống, một cái tiêu đề đủ để nói lên nội dung chính của bộ phim - Thế nào là sống và thế nào là không sống? Bằng cách dẫn chuyện cảm động và tinh tế, chẳng cần tới những câu thoại to tát hoa mỹ, Akira Kurosawa đã khiến người xem sau khi chứng kiến những tháng ngày cuối của của Kanji Watanabe phải tự đặt cho mình câu hỏi, liệu ta có là "xác ướp"? Trong phim, sau khi suy luận được rằng Watanabe đã biết mình bị ung thư giai đoạn cuối trước khi bắt tay vào vận động xây công viên, nhiều đồng nghiệp của ông đã chép miệng: "Trong hoàn cảnh ấy thì tôi cũng làm được như thế!", ngay lập tức một người cấp dưới của Watanabe, người lặng lẽ ngồi ngoài cuộc tranh luận vô bổ lên tiếng: "Nhưng chúng ta ai chẳng có thể chết một cách bất ngờ?!" Đúng như vậy, biện minh cho lý do mình là "xác ướp" luôn dễ hơn rất nhiều so với việc thực sự sống, thực sự làm được những việc có ích cho cuộc đời. Xem Ikiru, tôi có cảm giác như đang đọc một truyện ngụ ngôn hay một vở kịch của Shakespeare được lồng trong cái vỏ hiện đại của nghệ thuật thứ bảy vì bộ phim thực sự giản dị với những quy luật, những câu hỏi đã có từ muôn đời. Tôi tin là cũng như truyện ngụ ngôn, như Shakespeare, Ikiru sẽ còn giá trị lâu dài vì chừng nào còn "xác ướp", chừng đó còn cần có những câu chuyện về "xác ướp" và cách thoát khỏi vỏ bọc đó. (Ikiru được Akira Kurosawa sáng tác dựa theo truyện vừa Cái chết của Ivan Ilyich của Lev Tonstoi nhưng Cái chết của Ivan Ilyich có màu sắc u ám hơn nhiều và vì thế khó tiếp cận hơn, so sánh vui thì có thể nói Ikiru là "trung bình cộng" của Cái chết của Ivan Ilyich và truyện ngắn Viên mõ tòa (L'Huissier) của Marcel Aymé.)

Bài hát được nói tới trong phim (Gondola no Uta)



Coming-up-age movies

Top 10 (xếp theo thứ tự ABC):

01. Almost Famous (Cameron Crowe) - IMDb: 8.0 - Trailer
Lester Bangs: The only true currency in this bankrupt world... is what you share with someone else when you're uncool.
02. L'Auberge espagnole (Cédric Klapisch) - IMDb: 7.3 - Trailer
Wendy: Why do you always have to smoke joints in *my* room?
Alessandro:
Because it's comfortable.
Lars:
It's the only clean place in the apartment.
03. Battle Royale (Kinji Fukasaku) - IMDb: 8.0 - Trailer
Teacher Kitano: So today's lesson is, you kill each other off till there's only one left. Nothing's against the rules.
04. Big (Penny Marshall) - IMDb: 7.2 - Trailer
Josh: You don't get it, do you? This is important!
Billy:
I'm your best friend. What's more important than that, huh?
05. The Classic (Kwak Jae-yong) - IMDb: 7.7 - Trailer

06. Elephant (Gus Van Sant) - IMDb: 7.3 - Trailer
Alex: Well this is it. We're gonna die today. I've never even kissed anyone before, have you?
07. The Girl Who Leapt Through Time (Mamoru Hosoda) - IMDb: 8.0 - Trailer

08. Good Will Hunting (Gus Van Sant) - IMDb: 8.0 - Trailer
Sean: Real loss is only possible when you love something more than you love yourself.
09. Say Anything... (Cameron Crowe) - IMDb: 7.5 - Trailer
Lloyd Dobler: She's gone. She gave me a pen. I gave her my heart, she gave me a pen.
10. Whisper of the Heart (Yoshifumi Kondo) - IMDb: 8.0 - Trailer


Một số phim hay khác:
01. 10 Things I Hate About You (Gil Junger)
02. American Pie (Paul & Peter Weitz)
03. Back to the Future (Robert Zemeckis)
04. The Breakfast Club (John Hughes)
05. Dead Poets Society (Peter Weir)
06. The Dreamers (Bernardo Bertolucci)
07. Election (Alenxander Payne)
08. Entre les murs (Laurent Cantet)
09. The Graduate (Mike Nichols)
10. Juno (Jason Reitman)
11. Kiki's Delivery Service (Hayao Miyazaki)
12. Little Manhattan (Mark Levin)
13. Let The Right One In (Tomas Alfredson)
14. My Sassy Girl (Kwak Jae-yong)
15. Nick and Norah's Infinite Playlist (Peter Sollett)

Có thể tham khảo thêm ở đây và ở đây.

mercredi 25 novembre 2009

Looking for Eric (2009)


Một tấm poster được thiết kế cực kì đơn giản (như nội dung bộ phim) mà lại nhiều ý nghĩa - Eric nào đang tìm kiếm ("looking for") Eric nào? Và tất nhiên cả quả chơi chữ đỏ "King Eric" nữa, đổi cái tiêu đề đi tí thì thành "Fool or King Eric".

Looking for Eric bắt đầu bằng cảnh Eric Bishop điên cuồng trong chiếc xe chạy ngược chiều của ông, có lẽ để thực hiện ý định tự tử. Một "mong muốn" hoàn toàn "chính đáng". Vì Eric là một người đàn ông thất bại một cách toàn diện, nghề nghiệp: bưu tá với đồng lương rẻ mạt, gia đình: hai đời vợ, một mình Eric phải đèo bòng hai đứa con trai riêng của người vợ thứ hai, Ryan và Jess, vốn chẳng yêu quý gì cho cam ông bố dượng của chúng. Nhưng điều khiến Eric "chuyển nghề" từ bưu tá đi bộ sang "nhà du hành vũ trụ" lái xe điên cuồng trên đường không xuất phát từ cuộc sống u ám ấy, ông đau khổ vì vết thương lòng không thể khép miệng với Lily, người vợ thứ nhất, người mà ông suốt đời yêu quý nhưng lại phũ phàng bỏ bà và con gái để ra đi vì những lý do mà chính Eric cũng không thể lý giải nổi.

May mắn cho Eric, cuộc đời ông còn hai điểm tựa: bạn bè và bóng đá. Bạn bè của Eric cũng chỉ là những anh chàng bưu tá cục mịch nơi ngoại ô Manchester, họ thậm chí còn chẳng biết YouTube là "cái của khỉ gì" và gặp bất cứ khó khăn nào cũng phải đi ... mua sách hướng dẫn về để tham khảo, nhưng họ lại biết rất rõ thế nào là tình bạn chân chính và luôn cố gắng động viên Eric khốn khổ bằng tấm lòng chân chất của họ. Eric và bạn bè của ông còn có một điểm chung khác, họ đều là cổ động viên trung thành của Manchester United và "King Eric" - Eric Cantona, cầu thủ vĩ đại nhất trong lịch sử câu lạc bộ. Trong một lần chán đời ngồi hút cần sa, Eric Bishop đột nhiên thấy thần tượng Eric Cantona của mình xuất hiện trong ảo giác. Còn niềm vui nào hơn với cuộc đời u sầu của Eric khi ông được gặp thiên tài bóng đá mà ông thuộc lòng tới từng pha truyền bóng, từng cú sút, từng hành động ăn mừng (và đương nhiên cả cú "kungfu" nổi tiếng). Và chính Eric Cantona đã vực Eric Bishop dậy, giúp ông tìm lại được Eric của quá khứ - Eric vui vẻ, đẹp trai và nhảy cực kì điệu nghệ. Như một lẽ dĩ nhiên, giữa Eric và Lily, hai con người vốn vẫn còn nhiều tình cảm cho nhau sau mấy chục năm xa cách và thù hận, dần nhen nhóm những sợi dây gắn bó mà xúc tác chính là con gái Sam và đứa cháu Daisy.

Cuộc sống tưởng chừng đã có chút màu hồng của Eric lại một lần nữa bị đảo lộn khi thằng con lêu lổng Ryan của ông dính vào một băng gangster và bị chúng bắt phải cất giấu khẩu súng phạm tội ngay trong nhà của Eric. Vì khẩu súng quái ác này mà Eric bị bọn gangster cho ăn đòn rồi chuyển thẳng cái đoạn băng quay cảnh đó lên YouTube, tai hại hơn cảnh sát còn ập vào nhà Eric tìm súng ngay giữa buổi sum họp gia đình đầu tiên sau rất nhiều năm của Eric với Lily, Sam, Ryan, Jess và Daisy. Lily một lần nữa từ mặt Eric còn ba bố con ông phải sống trong cảnh nơm nớp lo sợ cả cảnh sát và lũ côn đồ. Liệu lần này đám bạn chất phác và Eric Cantona có giúp được Eric Bishop?

Thật lạ là trong tác phẩm này, Ken Loach - một đạo diễn thiên tả, lại tỏ rõ sự thích thú với Miloš Forman - đạo diễn chống Cộng hàng đầu, khi ông nhắc tới mấy lần những chi tiết của One Flew over the Cuckoo's Nest. Nhưng bộ phim mà tôi liên tưởng đến đầu tiên khi xem Looking for Eric lại là Fight Club, cũng là một nhân vật ảo ảnh thoát ra từ chính những suy nghĩ, xung đột bên trong con người nhân vật chính để rồi quay trở lại tác động biến nhân vật chính trở thành con người thực sự "sống" chỉ không chỉ đơn thuần "tồn tại". Nhưng nếu như cặp Norton-Pitt trong Fight Club sinh ra từ những bức bối, bản năng hoang dã thì cặp Eric-Eric lại sinh ra từ tình yêu (với bóng đá, với Lily) và bản chất hiền lành của Eric Bishop. Vì thế mà Looking for Eric, dù bắt đầu bằng tông màu ảm đạm không kém gì Fight Club, lại được phát triển theo hướng tươi sáng và vui nhộn đến bất ngờ. Ở đây phải nhắc tới yếu tố vui nhộn của phim, những chi tiết đượm màu bi kịch trong Looking for Eric được Ken Loach làm nhẹ đi một cách rất tài tình thông qua hình ảnh những anh chàng bưu tá-cổ động viên MU chất phác và thành thật, họ càng tỏ ra "nghiêm trọng" bao nhiêu thì người xem lại càng thấy thích thú, thư thái bấy nhiêu vì được chứng kiến những cư xử vừa hài hước nhưng cũng lại mang đậm tấm lòng của những người bạn thực sự dành cho nhau. Kịch bản của Looking for Eric cũng đơn giản hơn Fight Club rất nhiều, Ken Loach quả không hổ là "đạo diễn của giới bình dân", ông chọn cho Looking for Eric một nội dung rất gần gũi với những nhân vật rất bình thường và không hề dùng tới nút thắt mở bất ngờ hoặc các chi tiết kịch tính mà một đạo diễn khác sẽ thường sử dụng với cái nền nhân vật như Eric Bishop. Nhưng cũng không vì thế mà Looking for Eric trở thành một "feel-good movie", phim vẫn có tông màu hiện thực với những khó khăn, rắc rối, cảm xúc mà ai cũng có thể gặp một (hoặc nhiều) lần trong đời, khán giả dễ dàng tìm thấy một phần Eric trong chính con người mình hoặc chỉ đơn giản là đã từng yêu như Eric yêu Lily, từng có những người bạn thân thiết, chân thành như các anh chàng bưu tá Manchester.

Tất nhiên không thể quên chủ đề "bóng đá và tình yêu bóng đá" trong bộ phim này. Chắc chắn cả Ken Loach và Paul Laverty (tác giả kịch bản phim) phải thực sự yêu và am hiểu bóng đá mới có thể cho ra đời một tác phẩm mang đậm "triết lý bóng đá" như Looking for Eric. Những cổ động viên ruột của môn thể thao này hẳn sẽ phải cảm động khi được chứng kiến Eric Cantona - đội trưởng "thích triết lý" của MU, thể hiện những pha bóng mê hoặc của anh (đương nhiên) và đọc lại những câu nói nổi tiếng trong sự nghiệp của anh (bằng cả tiếng Pháp và tiếng Anh giọng Pháp) như "When the seagulls follow the trawler, it's because they think sardines will be thrown into the sea. Thank you very much." (nói sau vụ "đạp hooligan" nổi tiếng) hay "I'm so proud the fans still sing my name, but I fear tomorrow they will stop. I fear it because I love it. And everything you love, you fear you will lose." (nói sau khi từ giã sân cỏ). Looking for Eric tràn đầy những chi tiết về tình yêu bóng đá cuồng nhiệt, tình yêu của những người luôn lấy khẩu hiệu sống là: "You can change your wife, your house, your car, your politics, but you can never change your team!". Và Ken Loach còn đáng khâm phục hơn nữa khi ông truyền tải được đến khán giả một triết lý tưởng chừng đơn giản nhưng rất khó diễn giải: "Bóng đá là cuộc đời" - sân cỏ cũng như cuộc đời, anh muốn thành công trong trận đấu, anh phải mạo hiểm tấn công, anh muốn làm lại cuộc đời, anh phải mạo hiểm tự tay thay đổi vận mệnh. Có thể sẽ có người chê Looking for Eric không "thật", "tại sao Eric lại có thể thay đổi bản thân nhanh như thế?", "tại sao cuộc đời Eric lại xoay chuyển trong nháy mắt sau sự xuất hiện của King Eric?",... Đây lại là một điểm nữa khiến tôi ... thích thú bộ phim này của Ken Loach, vì Ken Loach nhìn bộ phim của ông hệt như cách các cổ động viên chân chính nhìn đội bóng yêu quý của mình. Họ có thể buồn bã, khóc lóc, thậm chí là chửi bới chính đội nhà khi phải chứng kiến một bàn thua, để rồi ngay sau đó lại gào thét như điên dại hay sẵn sàng ôm chầm lấy người bên cạnh như thể người thân thiết chỉ vì một bàn thắng. Tận đáy lòng mỗi cổ động viên luôn là tình yêu dành cho đội bóng của họ, và có lẽ tận đáy lòng Ken Loach ông cũng vẫn yêu quý cuộc sống và tầng lớp bình dân để sẵn sàng khắc họa họ một cách tốt đẹp nhất, đẹp tới mức hơi "không thật". Chủ đề này của Looking for Eric khiến tôi nghĩ đến một bộ phim rất hay khác cũng về bóng đá, Maradona by Kusturica của Emir Kusturica.

Eric Cantona có lẽ là sứ giả đầu tiên của giải Ngoại hạng Anh tại Việt Nam, và thế hệ người yêu thích Manchester United đầu tiên ở Việt Nam (trong đó có tôi) chắc chắn ai cũng yêu thích cầu thủ tài hoa nhưng cũng vô cùng nóng tính này. Đã từ lâu tôi không còn thích giải Ngoại hạng Anh nói chung, và đặc biệt là MU, nhưng xem Looking for Eric tôi lại thấy mình của một thời hào hứng với những cuộc đối đầu Cantona-Shearer hay buồn bã khi một MU-vắng King Eric thất bại trước Blackburn trong cuộc đua giành chức vô địch. Có lẽ vì Looking for Eric được làm ra để cho những người yêu bóng đá, và tôi tin là kể cả những người không yêu bóng đá khi xem bộ phim này cũng sẽ "phải" có tình cảm với môn thể thao vốn có "kịch bản" hấp dẫn hơn bất cứ bộ phim nào trong lịch sử điện ảnh này.

==

Phim có rất nhiều đoạn thoại hay mà người yêu thích bóng đá như tôi xem thấy rất thích, IMDb không có (IMDb sucks!) nên đành copy tạm ra đây:

Eric Bishop: All right. Sweetest moment ever?
Eric Cantona: It wasn't a goal.
Eric Bishop: It's gotta be a goal, Eric.
Eric Cantona: No.
...
Eric Cantona: It was a pass.
Eric Bishop: A pass?
Eric Cantona: Yeah.
...
Eric Bishop: What if he'd have missed?
Eric Cantona: You have to trust your teammates. Always. If not, we are lost.

hay:

Eric: You know what, Lily?
Eric: I'll always be grateful that you never turned her against me, you know.
Lily: To be honest, it hurt that she had so much fun with you.
Lily: Just didn't seem fair somehow.
Eric: Well, you got all the crap, didn't you? Homework. Complaints.
Eric: I just took her to see Cantona.
Lily: Yes and no.
Lily: You know something, I was so furious with you at first.
Lily: And then I got to thinking, "My God, what that man is missing."

Eric Cantona: La plus noble des vengeances, c'est de pardonner.
Eric Cantona: The noblest vengeance is to forgive.

==

Thế nào là cổ động viên chân chính?

Là thế này:



lundi 23 novembre 2009

Harry Potter and the Half-Blood Prince (2009)


Thông báo trước là entry này có spoil tứ tung hết cả truyện cả phim.

Lần đầu tôi tiếp xúc với Harry Potter là thông qua bản dịch thử của Lý Lan, đăng trên Hoa học trò thì phải, phản ứng của tôi lúc đó nói theo kiểu teen là "sock toàn tập" vì tôi không thể mê được văn phong dịch của Lý Lan, đặc biệt là chuyện phiên âm tên nước ngoài ra tiếng Việt và cách dùng từ trong giao tiếp kiểu miền Nam (cái này đương nhiên là do tôi khó tính chứ không thể nào bắt dịch giả phải đáp ứng phương ngữ của cả hai miền Nam Bắc cùng lúc được). Vì vụ này mà tôi "cạch" luôn Harry Potter mặc dù em gái mượn hết cả bộ truyện tiếng Việt và mấy VCD phim về vứt đầy nhà. Nhưng nghe nói là về sau Lý Lan dịch càng hay hơn, tôi đến nay vẫn chưa đọc bản tiếng Việt nên không rõ nhưng mấy cái tên riêng được dịch ra tiếng Việt của Harry Potter (Auror => Thần sáng, Death Eater => Tử thần Thực tử) cũng là khá sáng tạo, kêu tai và sát nghĩa, có lẽ cái gốc văn hóa người Hoa đã giúp Lý Lan trong việc này, bà dịch danh từ Anh sang danh từ thuần Việt và Hán Việt rất uyển chuyển. Harry Potter theo tôi không phải một bộ sách khó dịch về mặt ý nghĩa sâu sắc nhưng để chuyển tải cách chơi chữ Latinh, Hy Lạp, Anh, Pháp, Đức,... của J.K. Rowling trong các danh từ của bộ truyện quả thực cực kỳ phức tạp, thấy nhiều bạn chê việc Lý Lan dịch danh từ sang tiếng Việt quá đáng, chắc các bạn đó không biết là bản tiếng Pháp của Harry Potter còn dịch hết tên riêng sang tiếng Pháp từ những Hogward (=>Poudlard), Tom Riddle (=>Tom Elvis Jedusor),... đọc qua thấy buồn cười kinh khủng.

Bộ Harry Potter theo tôi là hấp dẫn, tương đối sáng tạo nhưng hơi bị dài quá và bút lực của Rowling thì về sau có vẻ đuối, mấy trận chiến ở tập 7 bị miêu tả khá thường, tuyến nhân vật phụ mờ nhạt còn tuyến nhân vật chính trừ cụ Dumbledore, Severus Snape và Hermionie Granger thì cũng không có gì đặc sắc. Đọc xong bộ truyện tôi nảy ngay ra so sánh Harry Potter với .... Ỷ Thiên Đồ Long ký của Kim Dung, vì Harry chẳng khác mấy so với Trương Vô Kỵ, Sirius Black là Tạ Tốn, Dumbledore là Trương Tam Phong,... Nói không ngoa chứ ngoại trừ phần miêu tả tâm lý tuổi mới lớn thì Ỷ Thiên Đồ Long ký không bằng Harry Potter chứ toàn bộ các mặt còn lại từ triết lý, phiêu lưu, cách xây dựng tuyến nhân vật phụ, twist-and-turn Kim Dung đều hơn Rowling.

À vẫn còn một điều mà Rowling có thể tự hào, đó là nhân vật Severus Snape. Tôi không hâm mộ gì bộ Harry Potter nhưng cực kỳ thích cách Rowling xây dựng hình ảnh Severus Snape, vừa kinh điển lại vừa chân thật, đánh đúng tâm lý của độc giả. Mẫu hình như Snape ta có thể thấy từ Heathcliff trong Đồi gió hú của Emily Brontë, một người đàn ông gặp phải số phận không may mắn nhưng vẫn vươn lên bằng nghị lực phi thường, một con người có đủ cả hai mặt tốt xấu mà cái cán cân bấp bênh giữa cái tốt và cái xấu cũng là sự giằng co giữa niềm hạnh phúc và nỗi đau khổ trong tình yêu, tình yêu đã biến Heathcliff trở thành con người bí ẩn, xa lạ, nhưng cũng lại khiến độc giả cảm thấy hấp dẫn vì họ tìm thấy một phần nào đó con người của mình trong Heathcliff. Thực ra nói cho đúng thì Snape không hoàn toàn giống với Heathcliff mạnh mẽ, tình cảm của ông dành cho Lilly Potter gần gũi hơn với mối tình Cyrano de Bergerac-Roxane trong văn học và sân khấu Pháp, mối tình câm lặng và cay đắng của một chàng trai tài hoa nhưng xấu xí với cô gái xinh đẹp, rất thân thiết với anh nhưng lại không bao giờ gửi gắm tình cảm của mình cho anh. Vở kịch Cyrano de Bergerac của Edmond Rostand với nội dung buồn bã u sầu và lời thoại cực kì đẹp, tinh tế đã được chuyển thể thành một bộ phim cùng tên hay không kém, người thủ vai Bergerac trong phim là Gérard Depardieu, đây có lẽ cũng là vai diễn tốt nhất trong sự nghiệp của nam diễn viên nổi tiếng này. Đoạn duy nhất trong tập 7 của Harry Potter tôi đọc lại được nhiều lần với cảm giác thích thú không đổi chính là đoạn Harry Potter đọc ký ức của Snape sau khi ông chết, một đoạn miêu tả buồn bã, cảm động và "rất Bergerac" (Pháp có một cụm từ dành cho hoàn cảnh "thất tình" kiểu này, đó là syndrome de Cyrano - Hội chứng Cyrano). Tôi thích Snape từ tập 1, và cái cách Rowling "kết thúc" Snape bằng đoạn ký ức này khiến tôi rất hài lòng, chắc hẳn Rowling cũng phải rất yêu thích Snape thì bà mới có thể xây dựng hình ảnh Severus Snape đa dạng, chặt chẽ và đặc sắc đến như vậy.

Chàng Cyrano mũi to và nàng Roxane xinh đẹp

Cũng vì yêu thích Snape nên khi xem phim (tôi chỉ down phim Harry Potter về xem lại từ đầu sau khi đã đọc xong truyện) tôi chủ yếu quan tâm xem Snape sẽ được xây dựng thế nào. Mấy tập đầu của Harry Potter làm tôi khá thất vọng vì thua xa những gì Rowling đã miêu tả trong truyện, tuy nhiên diễn xuất của Alan Rickman làm tôi rất hài lòng, Rickman vừa thể hiện được nét chua cay của Snape trong cách cư xử với Potter, vừa làm toát lên từ nhân vật của mình một nỗi buồn khó tả. Không hiểu có phải Rickman được chọn vì ông từng diễn rất thành công vai Colonel Brandon trong Sense and Sensibility không chứ tôi thấy diễn xuất của ông trong hai bộ phim này là cực kì gần gũi nhau và đều đáng để khán giản thưởng thức.

Khó mà kiếm được người thứ hai hợp hơn cho vai diễn này, may ra có ... chính Ralph Fiennes, người từng thủ vai Heathcliff trong Đồi gió hú

Giờ mới nói tới Harry Potter and the Half-Blood Prince, tập truyện Harry Potter này theo tôi là kém hấp dẫn vào loại gần nhất trong bộ truyện vì vậy tôi khá nghi ngờ về chất lượng chuyển thể điện ảnh của nó. Nhưng hóa ra phim Harry Potter and the Half-Blood Prince lại rất hấp dẫn, cuốn hút và mang tính giải trí cực kì tốt, đặc biệt là phần mở đầu và phần kết của phim. Các trường đoạn cao trào trong phim được đạo diễn David Yates xử lý rất tốt, vừa "sến" theo kiểu Harry Potter nhưng vẫn có cái gì đấy hào hùng, xúc động mà không hề bi lụy, lê thê như nhiều phim bom tấn Hollywood từng mắc phải. Trừ đoạn nhóm Death Eater tấn công nhà Weasley mà tôi không rõ lắm ý đồ đạo diễn, các đoạn "ngoài truyện" mà Yates thêm vào đều hoặc có duyên, gây hứng thú cho người xem, hoặc rất hấp dẫn, tận dụng được trình độ kĩ xảo "siêu phàm" của Hollywood - tiêu biểu là đoạn đầu tiên khi cây cầu Millennium Bridge ở London bị Death Eater phá hủy, cực kì ấn tượng và rất có tác dụng trong việc "kéo" thế giới của Harry Potter về gần với thế giới của loài người. Các cảnh phim mô tả "tâm lý mới lớn" cũng được làm rất tốt, chân thực pha chút hài hước, đặc biệt là nhờ diễn xuất tuyệt vời cùng vẻ đẹp "càng lớn càng xinh" của Emma Watson, từ chỗ nhỉnh hơn các diễn viên đồng lứa một chút trong tập đầu tiên, Watson giờ đã vượt hẳn lên so với hai anh bạn của mình, đặc biệt là khi so sánh với Daniel Radcliffe, cảm giác vai Potter giờ đã trở nên hơi quá sức so với Radcliffe, thật may là "only two to go", hy vọng Radcliffe sẽ cải thiện được diễn xuất gượng gạo của mình trong hai tập cuối. Một diễn viên khác cũng "càng lớn càng xinh" đó là Evanna Lynch trong vai Luna Lovegood, tuy chỉ xuất hiện theo dạng "hương hoa" trong tập này nhưng Lynch vẫn làm người xem ấn tượng vì nét nghịch ngợm và xinh xắn của mình (thực ra Luna Lovegood cũng là một trong số ít nhân vật tôi có cảm tình trong loạt Harry Potter). Bonnie Wright trong vai Ginny Weasley theo tôi không có gì đáng chú ý, vì Wright ... không xinh như mô tả trong truyện, vả lại quan hệ giữa Ginny và Harry trong tập phim này cũng được đầu tư chưa đúng mức và trở nên mờ nhạt hơn rất nhiều quan hệ của cặp Hermione-Ron. Tom Felton trong vai Draco Malfoy cũng là một diễn viên đáng khen ngợi khác của tập phim này, Yates đã không lầm khi để Felton có nhiều đất diễn như vậy vì hình ảnh Malfoy bị giằng xé đã khiến Harry Potter and the Half-Blood Prince có màu sắc hơn rất nhiều, người xem được chứng kiến một cậu thanh niên thực sự, dù rất xấu xa nhưng vẫn còn giữ lại trong mình chút bản chất tốt đẹp, khác hẳn hình ảnh Malfoy đố kị, thù dai kiểu trẻ con và hung ác như trong các tập phim trước.

Actually, she's cool!

Đoạn được làm tốt nhất của Harry Potter and the Half-Blood Prince theo tôi là đoạn Dumbledore và Harry đi tìm cái Horcrux, đoạn này được Yates thực hiện còn tốt hơn cả trong truyện, kĩ xảo đẹp, kịch tính và cuốn hút (đoạn con Inferius bám lấy tay Harry vẫn làm tôi giật mình mặc dù đã biết trước là "nó sẽ như thế"). Nhưng liền sau đó, đoạn cuối cùng theo tôi là có một nét gợn nhỏ, đó là việc đạo diễn để hint cho khán giả thấy về sự bắt buộc của Snape trong hành động giết Dumbledore và việc để Potter không bị bó chân bó tay khi chứng kiến cảnh đó. Theo tâm lý thông thường thì rõ ràng Harry Potter là một cậu thanh niên nông nổi (sẵn sàng bất chấp nguy hiểm đuổi theo Bellatrix trong đoạn nhà Weasley bị tấn công) ấy vậy mà cậu lại cam chịu nghe lời Dumbledore không nhảy lên cứu ông khi Snape chuẩn bị ra tay (bị đông cứng người như trong truyện thì hợp lý hơn rất nhiều), việc Yates để hint khi cho Snape tha Harry đến mấy lần liền chỉ trong đoạn cuối cùng đó cũng sẽ khiến những người chưa xem truyện phần nào đoán được Snape là "người tốt", dẫn đến trường đoạn đọc trí nhớ Snape trong Harry Potter and the Deathly Hallows sau này sẽ mất "ép phê".

Very exciting, indeed!

Dù sao theo tôi đây vẫn là tập Harry Potter có tính giải trí tốt nhất mà tôi từng được xem đồng thời chuyển tải được gần gũi nhất nội dung của bộ truyện mà không cần phải bám theo từng câu từng chữ mà Rowling từng viết ra. Một bất ngờ trong mùa thất thu phim bom tấn năm nay.

Always the best!