some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

dimanche 20 septembre 2009

The Greatest Directors Ever - by Total Film (P. 1)


Trang Total Film có danh sách 100 đạo diễn vĩ đại nhất mọi thời khá hay và chính xác, không bị nghiêng quá về bên (nghệ thuật/thương mại) nào. Kèm với mỗi đạo diễn là một phim được coi là hoàn hảo nhất, đặc trưng nhất cho phong cách của họ, danh sách này cũng được làm tốt, phim được chọn đúng theo chất lượng chứ không theo danh tiếng (ví dụ Total Film chọn cho Lý An The Ice Storm chứ không phải là Brokeback Mountain).

Từ 100 đến 60 (không hiểu thiếu đâu mất 10 người):
My choice là lựa chọn của cá nhân tôi.

100. Abel Ferrara
Picture Perfect: Bad Lieutenant

99. Sofia Coppola
Picture perfect: Lost In Translation

98. John Sturges
Picture perfect: The Magnificent Seven

97. Baz Luhrmann
Picture Perfect: Moulin Rouge!

96. M Night Shyamalan
Picture Perfect: Unbreakable

95. George Lucas
Picture Perfect: Star Wars

94. Wong Kar-Wai
Picture perfect: 2046

93. Alan J Pakula
Picture perfect: All The President’s Men

92. Paul Verhoeven
Picture perfect: Robocop

91. DW Griffith
Picture perfect: Intolerance

90. Curtis Hanson
Picture perfect: LA Confidential

89. Peter Weir
Picture perfect: The Truman Show

88. Buster Keaton
Picture perfect: The General

87. Gus Van Sant
Picture perfect: Drugstore Cowboy

86. Lars Von Trier
Picture perfect: Breaking The Waves

85. John Woo
Picture perfect: Hard Boiled

84. Carl Theodor Dreyer
Picture perfect: Ordet

83. Wes Anderson
Picture perfect: The Royal Tenenbaums

82. James Whale
Picture perfect: The Bride Of Frankenstein

81. Cameron Crowe
Picture perfect: Say Anything
(My choice: Almost Famous)

80. Satyajit Ray
Picture perfect: The Lonely Wife.

79. George Romero
Picture perfect: Dawn Of The Dead

78. Oliver Stone
Picture perfect: Platoon

77. William Friedkin
Picture perfect: The Exorcist

76. Kenji Mizoguchi
Picture perfect: Ugetsu Monogatari

75. Milos Forman
Picture perfect: One Flew Over The Cuckoo’s Nest

74. Tony Scott
Picture perfect: The Last Boy Scout

73. Nicolas Roeg
Picture perfect: Don’t Look Now

72. Sergei Eisenstein
Picture perfect: Revolutionary cinema

71. John Sayles
Picture perfect: Lone Star

70. Michael Curtiz
Picture perfect: Casablanca

69. Alexander Mackendrick
Picture perfect: Sweet Smell of Success

68. Pedro Almodóvar
Picture perfect: All About My Mother

67. Federico Fellini
Picture perfect: La Dolce Vita

66. Ken Loach
Picture perfect: Kes

65. Bryan Singer
Picture perfect: The Usual Suspects

64. Richard Linklater
Picture perfect: Dazed And Confused

63. John Carpenter
Picture perfect: Halloween

62. Robert Bresson
Picture perfect: Pickpocket

61 Sam Raimi
Picture perfect: Evil Dead 2

List 100-61 này ngả nặng về Hollywood ấy vậy mà lại không thấy mặt tổ sư phim kinh dị Wes Craven và tổ sư phim indie John Cassavetes.

samedi 19 septembre 2009

Top 15 films of 2000s


Trên IMDb vừa thống kê về top 15 phim hay nhất của thập niên 2000 (tính cho đến hết năm 2008). Danh sách cụ thể gồm:

15. Requiem for a Dream (2000)
14. Eternal Sunshine of the Spotless Mind (2004)
13. Spirited Away (2001)
12. The Pianist (2002)
11. The Lives of Others (2006)
10. The Departed (2006)
09. Amélie (2001)
08. Wall-E (2008)
07. The Lord of the Rings: The Two Towers (2002)
06. Memento (2000)
05. Up (2009)
04. The Lord of the Rings: The Fellowship of the Ring (2001)
03. City of God (2002)
02. The Lord of the Rings: The Return of the King (2003)
01. The Dark Knight (2008)

Danh sách này có lẽ lấy chủ yếu từ top phim của thập niên 2000. Đã là "listmania" hay "topmania" thì bao giờ cũng chín người mười ý nên cũng không dám lạm bàn về cái sự đúng/sai của danh sách nói trên, thôi thì mình cũng "bon chen" đưa ra top 15 của riêng mình:

Poster thêm Almost Famous cho đủ số, phim hay + poster đẹp

Đánh số ngẫu nhiên, không có ý nghĩa thứ tự, "Đồng hạng" là những phim ... cũng hay ở cùng thể loại nhưng "kém hay" hơn một chút so với phim được chọn.

01. Eternal Sunshine of the Spotless Mind (2004) - Phim tình cảm (romance) hay nhất
- Đồng hạng: The Constant Gardener (2005)
- Đồng hạng: 2046 (2004)
02. The Departed (2006) - Phim hình sự (crime) hay nhất
- Đồng hạng: Vô gian đạo (2002)
- Đồng hạng: Gangs of New York (2002)
03. Đội bóng Thiếu Lâm (2001) - Phim hài (comedy) hay nhất
- Đồng hạng: Tokyo Godfathers (2003)
- Đồng hạng: Shaun of the Dead (2004)
04. Le scaphandre et le papillon (2007) - Phim bi hay nhất
- Đồng hạng: Revolutionary Road (2008)
- Đồng hạng: Gegen die Wand (Head-On, 2004)
05. Mystic River (2003) - Phim đen (film noir) hay nhất
- Đồng hạng: There Will Be Blood (2007)
- Đồng hạng: Phóng - Trục (Exiled, 2006)
06. Kill Bill Vol. 1 (2003) - Phim lẩu thập cẩm hay nhất
- Đồng hạng: Kill Bill Vol. 2 (2004)
- Đồng hạng: Paris, Je t'aime (2006)
07. Memento (2000) - Phim thông minh nhất
- Đồng hạng: The Prestige (2006)
- Đồng hạng: Snatch. (2000)
08. The Lord of the Rings: The Return of the King (2003) - Phim sử thi hay nhất
- Đồng hạng: Kingdom of Heaven - Director's Cut Version (2005)
- Đồng hạng: Der Untergang (Downfall, 2004)
09. Sen to Chihiro no kamikakushi (2001) - Phim hoạt hình hay nhất
- Đồng hạng: The Incredibles (2004)
- Đồng hạng: Millennium Actress (2001)
10. No Country for Old Men (2007) - Phim triết lý hay nhất
- Đồng hạng: Little Miss Sunshine (2006)
- Đồng hạng: Sideways (2004)
11. Children of Men (2006) - Phim hành động hay nhất
- Đồng hạng: The Bourne Identity (2002)
- Đồng hạng: Oldboy (2003)
12. Elephant (2003) - Phim dành cho tuổi mới lớn (coming of age) hay nhất
- Đồng hạng: Almous Famous (2000)
- Đồng hạng: Les Choristes (2004)
13. Pan's Labyrinth (2006) - Phim fantasy hay nhất
- Đồng hạng: The Chronicles of Narnia: The Lion, the Witch and the Wardrobe (2005)
- Đồng hạng: Night Watch (2004)
14. Fahrenheit 9/11 (2004) - Phim tài liệu hay nhất
- Đồng hạng: Sicko (2007)
15. Love Actually (2003) - Phim gia đình hay nhất
- Đồng hạng: Le fabuleux destin d'Amélie Poulain (2001)
- Đồng hạng: Okuribito (2008)

The Princess Bride (1987)


Nói ngắn gọn, The Princess Bride là một "nồi lẩu" kiểu thập niên 1980. Nhưng lẩu đây là "lẩu thật", dễ ăn và ngon miệng theo đúng chất Rob Reiner. Phim này làm tôi nhớ tới Willow (1988) của Ron Howard, đây là một phim thiên về kĩ xảo hơn (dễ hiểu vì nó được nhào nặn bởi bàn tay của Georges Lucas) nhưng cũng đi theo hướng hủy cốt truyện truyền thống của cổ tích để xây dựng những phim cổ tích "kiểu hiện đại".

Nội dung phim hoàn toàn không phức tạp và phù hợp với mọi lứa tuổi, cổ tích kiểu "truyền thống" được pha trộn với những câu thoại thông minh, hiện đại (trademark của Reiner trong những phim về sau như
When Harry Met Sally..., A Few Good Men). Phim có nhiều nút thắt bất ngờ, bất ngờ kiểu "dễ thương" cho những ai thích đọc truyện cổ tích và tránh cho phim bị nhàm vì sử dụng cái sườn cổ tích "cũ kĩ". Đây cũng là phim đầu tay của Robin Wright (lúc này Sean Penn vẫn đang ở nhà "xử lý" Madonna), thật không ngờ là "người phụ nữ có gương mặt khắc khổ" ấy lại từng là một nàng công chúa dễ thương với vẻ đẹp trong sáng đến vậy. Tóm lại đây là một phim cực kì thích hợp cho gia đình và cho những ai muốn cảm thấy chút hơi thở của điện ảnh Mỹ thập niên 1980.

Paris (2008)


Là một fan của Cédric Klapisch và Paris, tôi rất mong đợi Paris sẽ là một phim hay, lãng mạn, hài hước, nhân văn và tràn đầy cảnh đẹp của Paris. Cũng như các phim trước của mình, Klapisch dùng Paris để phác họa chân dung của rất nhiều nhân vật khác nhau, từ một anh vũ công cabaret phải bỏ nghề vì bị bệnh hiểm nghèo (Romain Duris - "khách quen" trong phim Klapisch) đến một ông giáo sư sắp đến tuổi nghỉ hưu bất chợt tìm thấy "tình yêu của đời mình" - một cô sinh viên trẻ măng và láu cá (Mélanie Laurent của Inglourious Basterds). Tất cả đều chỉ là những mảnh đời bình thường giữa Paris nhưng được liên kết với nhau bằng một sợi dây vô hình của số phận, của cuộc đời. Paris có lẽ gần với dạng phim như Magnolia của P.T. Anderson hơn là chính những phim trước đó của Klapisch.

Có lẽ hy vọng hơi cao quá nên tôi không hài lòng lắm với Paris. Phim vẫn có những cảnh quay đẹp, những chi tiết hài hước nhưng vẫn mang tính triết lý sâu sắc và nhất là tông của phim vẫn rất nhân bản, rất cảm động theo kiểu của Klapisch. Nhưng ở phim này, có lẽ Cédric Klapisch đã hơi "tham" khi xây dựng quá nhiều tuyến nhân vật ngang hàng, bối cảnh phim cũng bị dàn trải từ Pháp cho tới tận Phi châu (những phim trước của Klapisch cũng được quay ở nhiều quốc gia nhưng thực ra phạm vi câu chuyện vẫn chỉ bó gọn đủ để người xem cảm thấy thích thú) nên kết quả cuối cùng là phim bị "vụn" và hơi rời rạc, những mảnh ghép khác nhau của Paris vì thế mà cũng chỉ hình thành được những mảng riêng biệt mà chưa ghép khít được với nhau để tạo nên bộ mặt của "les Parisiens". Nếu bỏ qua những nhược điểm (không nhỏ) này thì người xem vẫn hoàn toàn có thể thưởng thức được một bộ phim hay, rất Klapisch và rất Paris.

The Last King of Scotland (2006)


The Last King of Scotland nói về chân dung viên độc tài châu Phi Idi Amin (Forest Whitaker) thông qua con mắt của một bác sĩ trẻ người Scotland Nicholas Garrigan (James McAvoy). Tuổi trẻ nông nổi, Garrigan đến với đất nước Uganda bằng cách ... chọn random trên bản đồ, cũng chính sự nông nổi ấy đã khiến anh thần tượng (worship) Idi Amin vì sự gần gũi và tác phong rất "lãnh tụ" của viên độc tài này. Nhưng thực ra không chỉ mình Garrigan là người nông nổi, bản thân Amin cũng là viên độc tài cũng là người nông nổi - một tính cách cực kì nguy hiểm đối với người lãnh đạo. Khi biết Garrigan là người Scotland, Amin - tổng thống một quốc gia, sẵn sàng cởi chiếc áo quân phục đầy huy hiệu và lọn vàng của mình ra để đổi lấy cái áo t-shirt nhàu nát mang biểu tượng của đội tuyển bóng đá Scotland của tay bác sĩ trẻ. Dù chỉ là một tay bác sĩ vừa ra trường, Garrigan vẫn được Amin cho một chân cố vấn thân cận vì "cậu vừa là một bác sĩ, lại là một triết gia". Lúc chưa xem phim tôi cứ tưởng "The Last King of Scotland" là để chỉ Garrigan, nhưng hóa ra Amin yêu quý người Scotland tới mức tự nhận mình là "King of Scotland", thực ra thì Garrigan cũng không thua kém gì một "Scot King" ở cái xứ sở hoang dã Uganda này.

Thực ra tôi không hoàn toàn hài lòng với The Last King of Scotland vì phim xây dựng quá trình sụp đổ thần tượng ("thần sụp rồi tượng chỉ còn là đất đá thôi") Idi Amin trong mắt Nicholas không thực sự hay và sâu sắc, bộ phim đúng hơn là chuỗi khủng hoảng và mất niềm tin của chính Garrigan hơn là hình ảnh viên độc tài lộ dần qua con mắt của chàng thanh niên. Và đây chính là ... điểm dở của phim vì người đóng hay nhất phim không phải McAvoy mà lại là Forest Whitaker. Diễn viên "chuyên trị" những phim nhỏ như Birds, Ghost Dog: The Way of the Samurai thực sự đã có một vai diễn để đời, ông chiếm lĩnh màn ảnh (kể cả nghĩa đen và nghĩa bóng - Whitaker là người to béo) từ phút đầu tiên cho tới phút cuối cùng bằng diễn xuất xuất thần. Từ giọng nói - thật khó tin là cái giọng Anh nửa mùa rặt lỗi phát âm đúng kiểu châu Phi lại được Whitaker, một người Mỹ "xịn" sử dụng thành thục đến như vậy, đến cặp mắt rất "lãnh tụ" và cuốn hút người xem (dù Whitaker bị sụp mí một bên mắt, và nhất là tính cách thay đổi liên tục, rất trẻ con, rất nông nổi của viên độc tài tàn bạo. Thành công lớn nhất của Forest Whitaker có lẽ nằm ở chỗ ông thể hiện sự thay đổi tính cách bất thần từ thái cực này sang thái cực khác của Idi Amin cực kì chân thật và "ngọt", chứng kiến diễn xuất của Whitaker, người xem cũng dần dần cảm thấy lạnh gáy như Nicholas khi phải ở bên cạnh một con người có quyền lực tối thượng nhưng lại không thể lường trước được ông ta sẽ ứng xử với mình như thế nào. Việc Forest Whitaker giành toàn bộ các giải diễn xuất của năm 2006 thực sự là rất hợp lý. Dù sao thì tôi vẫn cảm thấy tiếc vì đã không thêm được một phim hay vào dòng phim "Road to perdition".

jeudi 10 septembre 2009

Maradona by Kusturica (2008)


Lâu lắm rồi kể từ Sicko của Michael Moore mới lại được xem một phim tài liệu cảm động, đó là Maradona by Kusturica của Emir Kusturica, một trong 6 đạo diễn từng giành hai giải Cành cọ vàng (Palme d'Or) tại Liên hoan phim Cannes.

Trong phần générique cuối phim, Emir Kusturica có phần "Lời cảm ơn" rất dài, trong đó 2 người được đặt cuối cùng với lời cảm ơn chân trọng nhất là Claudia Vilafane (vợ cũ của Maradona) và ... Chúa (God). Danh sách này tuyệt đối không có tên của nhân vật chính trong phim - Maradona, vì người yêu bóng đá (trong đó có Kusturica) luôn ngầm hiểu rằng, chính Diego Maradona đã là một vị Chúa (el Dios), số 10 (el Diez) xuất sắc nhất trong lịch sử môn thể thao này rồi.

Tôi yêu thích Maradona chỉ khi sự nghiệp của el Diez đã bước sang bên kia sườn dốc của sự nghiệp, đó là World Cup 1990 ở Ý, World Cup bị coi là "xấu xí" nhất của kỉ nguyên bóng đá được truyền hình hóa (từ World Cup 1970 ở Mehico). Trong giải đấu này, Argentina của Maradona, đương kim vô địch thế giới khi đó, cũng trình diễn một lối đá xấu xí với một đội hình bạc nhược tới mức gây sốc cho cả làng bóng đá thế giới khi thua một đội bóng vô danh, Cameroon của Roger Milla, ở ngay trận ra quân. Sau thất bại thảm hại ấy, Argentina tiếp tục ì ạch nhưng họ vẫn cứ tiến lên nhờ có tốc độ của "Mũi tên vàng" Claudio Caniggia, bàn tay nhựa của Sergio Goycochea (người được mệnh danh là "Sinh ra để bắt penalty"), may mắn (rất nhiều) và trên hết, nhờ họ (vẫn) có Diego Maradona. Một mình Maradona, với tài năng xuất chúng và ý chí phi thường, đã đẩy cái "ô tô nát" Argentina vào chung kết, nơi họ phải đối đầu với "cỗ xe tăng" Đức. Trong trận đấu này, Argentina đã thua, thua tức tưởi bởi một quả penalty ở phút 85 cùng hai chiếc thẻ đỏ gây nhiều tranh cãi. Nước mắt rơi dài trên khuôn mặt khắc khổ của Maradona, anh buồn vì đội bóng của mình gục ngã khi trận đấu chỉ còn 5 phút, nhưng trận đấu ấy cũng biến Maradona thành một người thất bại vĩ đại.

Trong một bộ phim truyền hình Ý phát trên VTV cách đây đã lâu, tôi cứ ấn tượng mãi câu chuyện của một ông bố Ý về "người thất bại vĩ đại". Con trai ông thua cuộc trong trận chung kết cờ vua ở trường, thằng bé buồn bã tới mức mẹ nó không làm cách nào dỗ dành nổi. Trở về nhà sau một ngày dài làm tài xế taxi, ông an ủi con trai bằng câu chuyện về một "người thất bại vĩ đại" - Franco Baresi. Năm 1994 Baresi là đội trưởng đội tuyển Ý, ông thi đấu hết sức thành công và đưa Ý lọt vào chung kết với Brasil. Nhưng rồi chính Baresi lại là người đá hỏng quả penalty đầu tiên trong loạt đá luân lưu, cú sút lên giời của ông đã khiến nước Ý tan mộng vô địch khi đã ở ngưỡng cửa thiên đường. Nước mắt cũng rơi trên khuôn mặt của Baresi và đối với cổ động viên Ý, ông đã trở thành "người thất bại vĩ đại", vĩ đại vì cái cách ông chiến đấu để đi tới đích và cả cái cách ông gục ngã ở những giây phút cuối cùng.

Quay lại với el Diez, World Cup 1994 là khúc vĩ thanh cuối cùng của Maradona, quay trở lại sân cỏ sau thời gian dài bị treo giò do nghiện ma túy, Maradona cắt sạch mái tóc lãng tử của mình, khuôn mặt và cả thân hình của anh trở nên gân guốc, khắc khổ hơn, chỉ có tài năng và ý chí của el Diez thì vẫn vậy. Anh khởi đầu và kết thúc một trong những bàn thắng đẹp nhất World Cup 1994 với cái cách "đan hoa dệt gấm" thường thấy ở Maradona. Nhưng rồi tất cả nhanh chóng sụp đổ khi người ta một lần nữa loại anh ra khỏi cuộc chơi vì lý do dùng doping. Thiếu anh, Argentina sụp đổ và cho đến nay vẫn chưa thể nào lập lại những chiến tích vĩ đại như thời Maradona.

Người ta thường so sánh Pele với Maradona, tôi thì luôn coi rằng Maradona là người "giỏi hơn" còn bố tôi thì chỉ phán "Chưa xem Pele đá thì làm sao nói thế được". Nhưng theo tôi, chỉ có Maradona, nói đúng hơn là cuộc đời của ông, mới xứng đáng là huyền thoại tiêu biểu cho bóng đá. Trong sự nghiệp của mình, Pele luôn chỉ biết tới thắng lợi, xoay quanh ông ở đội tuyển Brasil cũng là một đội ngũ tài năng bậc nhất trong lịch sử bóng đá, đời tư của Pele cũng bằng phẳng và "sạch" (trừ những dự đoán ở "trình độ vườn" của ông về các giải lớn). Maradona thì khác, anh từng ở đỉnh cao vinh quang với Argentina, với Napoli, với Boca, nhưng anh cũng từng rơi xuống vực sâu thất bại ở World Cup 1982-nơi mọi người đều trông chờ vào tài năng của Diego, đời tư của el Diez cũng hết sức hỗn loạn với những câu chuyện về nghiện ma túy, trăng hoa, bạo lực (cả trong vài ngoài sân cỏ). Chính cuộc đời sóng gió với đủ mọi khía cạch cả tốt, cả xấu, cả thiên tài, cả tầm thường ấy của Maradona đã khiến anh trở thành huyền thoại và đưa anh lên vị thế của một el Dios của bóng đá, thậm chí người hâm mộ anh còn lập ra hẳn một tôn giáo có tên Iglesia Maradoniana để thờ phụng vị Chúa của họ.

Sở dĩ tôi nói dài, rất dài như ở trên vì Maradona by Kusturica có lẽ chỉ dành cho người yêu bóng đá. Đây không phải một phim tài liệu tiểu sử (biography) về cuộc đời Diego Maradona vì Kusturica mặc định rằng những chi tiết về cuộc đời và sự nghiệp của el Diez "phải được" người xem biết trước. Đạo diễn chỉ tập trung khai thác những cuộc phỏng vấn với Diego để tìm hiểu về con người thật phía sau cái huyền thoại của el Dios ấy. Xen giữa các cuộc phỏng vấn là những hình ảnh yêu thích của người hâm mộ - Các pha làm bàn và kiến tạo của Maradona, trong đó hai "Bàn thắng của Thế kỷ" mà Maradona ghi trong trận gặp Anh tại World Cup 1986 được chiếu đi, chiếu lại nhiều lần trong suốt bộ phim chỉ dài có 90 phút này (đúng bằng thời gian 1 trận bóng!). Qua những câu trả lời hết sức, hết sức chân thành của Maradona, Kusturica dần khắc họa cho người xem một hình ảnh toàn diện về el Diez. Đó là một cầu thủ bóng đá thiên tài, người đã biết rằng mình sẽ vô địch thế giới ngay từ khi còn chưa được khoác áo chuyên nghiệp, trong một đoạn phỏng vấn ngắn khi người ta hỏi em của Diego rằng cậu có muốn trở thành cầu thủ như anh trai mình không, cậu bé đã đáp: "Tôi chẳng bao giờ nghĩ đến việc đó. Anh ấy là người Sao Hỏa!". Nhưng tài năng thiên bẩm của Maradona không thể giúp anh đoán trước được sự tàn phá kinh hoàng của ma túy đối với cuộc đời một con người. Trong phim có rất nhiều suy nghĩ cay đắng và xúc động của Maradona về tác hại của ma túy đối với cuộc đời anh, cái con người thiên tài, giờ to béo và ì ạch ấy, tâm sự với Kusturica một cách tiếc nuối: "...Anh thấy đấy, nếu không có ma túy, tôi sẽ trở thành một cầu thủ ở tầm cỡ nào?.... Claudia (vợ Diego) không đẹp bằng tôi! Nhưng tôi ghen tị với cô ấy vì Claudia được chứng kiến tất cả những giây phút quan trọng trong cuộc đời của Dalma và Giannina (hai con gái Diego), lúc ấy tôi ở đâu? Tôi đang vui thú bên bàn tiệc, tôi đang phê thuốc!...". Rất nhiều, rất nhiều những đoạn phỏng vấn cảm động như vậy được Kusturica lồng vào các đoạn phim gia đình của Diego, khi anh còn trẻ và hạnh phúc bên cạnh hai cô con gái đẹp như thiên thần, và rồi sau đó là những đoạn tin về sự kiện Maradona phải nhập viện vì sốc thuốc. Chứng kiến những câu chuyện cay đắng của Maradona, nghe anh kể về giai đoạn anh cận kề với cái chết, tôi chợt nghĩ đến hình ảnh Jake LaMotta của Robert De Niro đập đầu vào tường nhà giam với câu hỏi đau đớn "Tại sao tôi lại làm như vậy?" trong Raging Bull. Hai hình ảnh nhân vật ấy (Maradona của Maradona by Kusturica và Jake của Raging Bull) giống nhau tới lạ kì, họ cùng là những tài năng và nhân cách lớn trong lĩnh vực của mình, nhưng lại chỉ là những con người bình thường ngoài đời với đủ mọi điểm yếu, tật xấu như mọi người bình thường khác. Chính những tật xấu cố hữu ấy đã phá hủy cuộc đời, gia đình họ, phá hủy luôn cả sự nghiệp do tài năng của họ tạo nên. Thật trùng hợp là trong cuộc phỏng vấn Maradona cũng nói rằng nếu là diễn viên, anh sẽ là Robert De Niro "của Raging Bull".

Trong Maradona by Kusturica, bên cạnh những suy nghĩ về cuộc đời, về gia đình của el Diez, Kusturica còn dành một phần khá lớn thời gian để Maradona bộc lộ tư tưởng thiên tả của anh về chính trị. Maradona yêu quý Fidel ("Tôi có thể chết vì ông ấy"), ghét Bush ("Gã rác rưởi G. Bush") và tự hào vì đã dùng bàn tay của mình để "tiêu diệt" nước Anh, điều mà Argentina đã không làm được trong cuộc chiến Malvinas. Có lẽ Kusturica, một người chống Cộng, chỉ muốn khắc họa một hình ảnh Diego Maradona của đời thường với cách phản ứng hết sức chân thành và nông nổi về các sự kiện, nhân vật chính trị.

Thật kì lạ là Kusturica càng khắc họa Maradona với tư cách "một người bình thường" bao nhiêu thì tôi (một người yêu bóng đá) lại càng thấy el Diez gần gũi với hình ảnh của một huyền thoại bóng đá thực sự, một el Dios của bóng đá bấy nhiêu. Quả thực Kusturica đã rất tài tình khi mở đầu bộ phim bằng câu trích dẫn của Baudelaire: "Chúa là bản thể duy nhất có thể trị vì mà không cần tồn tại" ("Dieu est le seul être qui, pour régner, n'ait même pas besoin d'exister"). Đúng như vậy, dù Maradona có mắc bao nhiêu sai lầm trong đời thường, người hâm mộ vẫn sẵn sàng bỏ qua cho anh, bởi el Diez đã là el Dios của bóng đá.

mardi 1 septembre 2009

Agatha Christie và phim hình sự


Trong bài này chỉ bàn về các tiểu thuyết của Agatha Christie đề cập tới Hercule Poirot, theo tôi mặc dù công khai tỏ ra ghét Poirot và cũng cố tạo cho "lão thám tử người Bỉ" một tính cách tinh tướng, khoe khoang không thể mê được thì tài năng của Christie vẫn là nổi bật nhất thông qua loạt tiểu thuyết về Poirot.

Agatha Christie viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên về Poirot vào năm 1920 và cuốn cuối cùng vào năm 1972 (trừ Curtain: Poirot’s Last Case xuất bản sau cùng nhưng lại được viết từ quãng năm 1940). Theo tôi thì giai đoạn Christie sung sức và cho ra đời nhiều tiểu thuyết xuất sắc nhất là quãng từ 1920 (The Mysterious Affair at Styles) tới 1944 (tạm ước, Curtain: Poirot’s Last Case). Càng về cuối Christie càng viết xuống tay, những tiểu thuyết ở giai đoạn cuối cùng của bà (Poirot và không Poirot) đều lâm vào tình trạng lê thê, miên man và mất hẳn cái chất thông minh, tinh tế thời đầu. Tôi có bảng chấm điểm dưới đây cho những tiểu thuyết Poirot đã đọc:

TT Year Novel Rating
01 1920 The Mysterious Affair at Styles ♥♥♥♥
02 1923 The Murder on the Links ♥♥♥♥
03 1926 The Murder of Roger Ackroyd ♥♥♥♥♥
04 1927 The Big Four ♥♥♥
05 1928 The Mystery of the Blue Train
06 1932 Peril at End House ♥♥♥♥
07 1933 Lord Edgware Dies ♥♥♥
08 1934 Murder on the Orient Express ♥♥♥♥♥
09 1935 Three-Act Tragedy ♥♥♥♥
10 1935 Death in the Clouds
11 1936 The ABC Murders ♥♥♥♥♥
12 1936 Murder in Mesopotamia ♥♥♥
13 1936 Cards on the Table ♥♥♥♥
14 1937 Dumb Witness ♥♥♥
15 1937 Death on the Nile ♥♥♥♥
16 1938 Appointment with Death ♥♥♥
17 1938 Hercule Poirot’s Christmas ♥♥♥
18 1940 Sad Cypress ♥♥
19 1940 One, Two, Buckle My Shoe
20 1941 Evil Under the Sun ♥♥♥
21 1943 Five Little Pigs ♥♥♥♥♥
22 1944 Curtain: Poirot’s Last Case ♥♥♥♥♥
23 1946 The Hollow
24 1948 Taken at the Flood
25 1952 Mrs McGinty’s Dead
26 1953 After the Funeral ♥♥♥
27 1955 Hickory Dickory Dock
28 1956 Dead Man’s Folly
29 1959 Cat Among the Pigeons ♥♥♥
30 1963 The Clocks ♥♥♥
31 1966 Third Girl ♥♥
32 1969 Hallowe’en Party ♥♥♥
33 1972 Elephants Can Remember ♥♥

Theo tôi thì 5 đỉnh cao nhất của loạt Hercule Poirot là The Murder of Roger Ackroyd (1926), Murder on the Orient Express (1934), The ABC Murders (1936), Five Little Pigs (1943) và Curtain: Poirot’s Last Case (1944, ước). Đây là 5 tiểu thuyết cực kì hấp dẫn và cũng cực kì khác nhau kể cả về ý tưởng và cách thức xây dựng nội dung. Roger Ackroyd được liệt vào hàng kinh điển của tiểu thuyết trinh thám vì ý tưởng unreliable narrator, tức người dẫn chuyện không đáng tin. Nhiều người chỉ trích Agatha Christie vì cho rằng unreliable narrator đã phá hủy tính chất cơ bản nhất của truyện trinh thám, đó là theo dòng truyện hé lộ dần các chi tiết để độc giả có thể tham gia khám phá vụ án. Nhưng rõ ràng ý tưởng của Christie là cực kì thông minh vì như đã lặp lại rất nhiều lần trong đời sáng tác của mình, nữ nhà văn luôn nói: "kẻ thủ ác dù thông minh đến đâu thì càng nói nhiều sẽ càng bộc lộ sai lầm của mình", vả lại Roger Ackroyd thực ra cũng đi theo một nguyên tắc cơ bản của truyện trinh thám nói như Sherlock Holmes: "Sau khi loại trừ hết các khả năng không thể xảy ra thì khả năng cuối cùng, dù thiếu cơ sở đến đâu đi nữa, cũng là sự thật". Trong các bộ phim sử dụng unreliable narrator, tác phẩm kinh điển nhất có lẽ là The Usual Suspects, phim trinh thám vào loại xuất sắc và thông minh nhất (hai cái này khác nhau) của thập niên 1990.

Orient Express khác với Roger Ackroyd, tiểu thuyết này gây hứng thú nhờ cách xây dựng bối cảnh vụ án độc đáo cùng tính cách của các nghi phạm cực kì đặc sắc, tuy đây là một trong những tiểu thuyết có nhiều nghi phạm nhất của Christie nhưng nữ nhà văn vẫn dành đủ đất để tạo cho mỗi người một vẻ ngoài riêng và một tính cách cũng khác biệt. Đây cũng là tiểu thuyết có phần kết mượt và dễ gây cảm tình nhất của Agatha Christie, vừa nhân bản (một tính từ hiếm khi xuất hiện trong truyện trinh thám), vừa dí dỏm hài hước kiểu Anh và nhất là làm độc giả hài lòng. Orient Express được chuyển thể thành phim cùng tên, đây có lẽ là chuyển thể xuất sắc nhất của Hollywood đối với tiểu thuyết của Agatha Christie. Đây là bộ phim hội tụ cực nhiều diễn viên tên tuổi của điện ảnh Anh - Mỹ như Ingrid Bergman (giờ đã già và xấu hơn rất nhiều so với Casablanca), Lauren Bacall (vợ của ... người yêu Bergman trong Casablanca, nhưng cũng nổi tiếng nhờ phim hình sự), Sean Connery (lúc này đang ở đỉnh cao của thời kì James Bond), Vanessa Redgrave, Anthony Perkins (của Psycho), John Gielgud,... Phim chuyển thể khá trung thành tiểu thuyết của Agatha Christie, đặc biệt là trong việc xây dựng hình ảnh nhân vật Hercule Poirot - điều mà nhiều phim sau này không thể (hoặc không muốn) làm. Gần đây đạo diễn Hàn Quốc Park Chan-wook có phim Sympathy for Lady Vengeance cũng rất giống với mô-típ của Orient Express với phần hình ảnh mang tính thẩm mỹ cực kì đẹp. Phần kết của Lady Vengeance có không khí trả thù xuất sắc và cực kì gần gũi với Orient Express, thậm chí theo tôi phần này của Lady Vengeance còn được làm tốt hơn nhiều phần tương tự trong chuyển thể điện ảnh của Orient Express.

The ABC Murders bắt đầu bộc lộ ý tưởng của Agatha Christie trong việc xây dựng một perfect crime và perfect murder - kẻ không thể bị tòa án xét xử. Trong nhiều tiểu thuyết, Agatha Christie thường nhắc tới một perfect murder, đó là Iago - kẻ chỉ bằng cái mồm của mình mà tạo nên bi kịch của Othello và Desdemona. Iago của The ABC Murders là kẻ tội phạm đầu tiên của Christie sử dụng việc điều khiển ý chí của người khác để gây án. Đây cũng là một ý tưởng hết sức độc đáo của Agatha Christie và bà triển khai nó cực kì xuất sắc thông qua một không gian rộng lớn và những tình tiết hết sức "hình sự" theo kiểu The Big Four nhưng đáng tin và gần với hiện thực hơn The Big Four (tiểu thuyết theo kiểu Doyle của Christie) nhiều lần. Tạm thời tôi chưa nghĩ ra bộ phim nào làm theo ý tưởng này, nhưng Conan thì đã có hẳn một truyện lấy nguyên cảm hứng từ The ABC Murders.

Five Little Pigs được nhiều người cho là tác phẩm xuất sắc nhất của Agatha Christie (cùng với Roger Ackroyd). Ý tưởng của Five Little Pigs là một vụ án trong quá khứ được kể qua 5 lời kể khác nhau, 5 góc nhìn khác nhau trong đó có 1 là của hung thủ thực sự. Đây là tiểu thuyết gây hứng thú bậc nhất cho độc giả vì họ có được toàn bộ thông tin như Hercule Poirot, và nếu đủ thông minh thì họ hoàn toàn có thể đoán được kẻ thủ ác. Theo tôi Five Little Pigs cũng là một tiểu thuyết vào hàng cảm động nhất của Agatha Christie vì các nhân vật được bà xây dựng rất "người" với vô số tình cảm trái ngược và hành xử trái ngược. Bộ phim gần gũi nhất với Five Little Pigs là tác phẩm nổi tiếng của Akira Kurosawa, Rashomon. Cả hai cùng nói về những vụ án trong quá khứ được xây dựng qua nhiều lời kể khác nhau, tuy nhiên Rashomon có lẽ vẫn độc đáo hơn vì lời kể của từng người trong bộ phim này mang đậm dấu ấn cá nhân hơn rất nhiều so với Five Little Pigs. Hơn nữa phần kết kiểu bỏ ngỏ của Rashomon cũng khiến người xem phải suy nghĩ chứ không chỉ dừng lại ở mức cảm thấy thỏa mãn (và thanh thản) như ở Five Little Pigs. Tất nhiên, Christie luôn là tác giả hướng tới nhu cầu của độc giả nhiều hơn là giải quyết nhu cầu sáng tạo của riêng mình, vì vậy cái kết của Five Little Pigs là dễ hiểu so với phong cách chung của Christie và không hề làm mất đi giá trị chung của tiểu thuyết.

Curtain: Poirot's Last Case là tiểu thuyết cuối cùng của Christie về Poirot nơi lần đầu tiên trong lịch sử, một nhân vật văn học xuất chúng và được nhiều người yêu mến bị tác giả "giết chết". Đây là một tiểu thuyết buồn bã, mơ hồ nhưng chứa đựng kẻ tội phạm xuất sắc nhất trong suốt sự nghiệp của Agatha Christie. Kẻ thủ ác trong Curtain là tội phạm duy nhất của Christie đạt tới "cảnh giới" điều khiển người khác giết người thay vì dùng chính bàn tay của mình gây án, hơn nữa tên này còn nguy hiểm ở chỗ động cơ gây án của gã hoàn toàn không nhằm vào tiền bạc, danh vọng hay những mục tiêu thông thường của tội phạm, về mặt này Curtain có thể sánh nganh với Three Act Tragedy, tiểu thuyết có phần kết bất ngờ vào loại gần nhất của Christie vì một lý do đơn giản - động cơ không thể tin nổi của thủ phạm. Chỉ có một nhà văn am hiểu rất sâu về tâm lý học như Agatha Christie mới có thể tạo nên được những tiểu thuyết như Curtain, và Curtain cũng xứng đáng là một tiểu thuyết hàng đầu của dòng văn học trinh thám về tội phạm tâm lý học. Phim hình sự Hollywood có rất nhiều hình mẫu nhân vật tội phạm gây án thông qua tay người khác, nhưng để đạt tới mức như Curtain thì tôi chưa thấy có phim nào.

Có hai đề tài của truyện trinh thám tôi không thấy Agatha Christie động tới - đó là tiểu thuyết xoay quanh các vụ xử án và tiểu thuyết bắt đầu bằng chính hành động gây ác của thủ phạm để rồi sau đó độc giả phải đoán xem hắn che giấu tội ác thế nào (đây là đề tài thường xuyên được Conan lặp lại một cách thông minh). Thể loại phim xoay quanh các vụ xử án thường xuyên được Hollywood nhắc tới, nhưng kinh điển hơn cả có lẽ là Witness for the Prosecution (chuyển thể từ truyện ngắn của chính Christie), Anatomy of a Murder 12 Angry Men.

(còn tiếp)