some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

jeudi 18 mars 2010

Copying Beethoven (2006), The Visitor (2008)


Copying Beethoven là một phim tiểu sử mô tả lại giai đoạn cuối đời của Ludwig van Beethoven khi ông phải vật lộn với chứng điếc để cho ra đời tác phẩm vĩ đại nhất của mình - Bản giao hưởng số 9. Hình ảnh thiên tài của Beethoven (Ed Harris) trong phim được nhìn qua con mắt của một cô gái yêu nhạc cổ điển có tên Anna Holtz (Diane Kruger). Là sinh viên xuất sắc nhất của Nhạc viện Viên, Anna được chọn làm người chép nhạc (copyist) cho Beethoven, thiên tài số một của thành Viên nói riêng và giới sáng tác nhạc cổ điển nói chung. Tràn ngập niềm vui sướng được làm việc cho thần tượng, Anna tìm tới căn phòng tồi tàn và bừa bãi của Beethoven và phát hiện ra bộ mặt thứ hai của nhà soạn nhạc - một người khó chịu, trái tính trái nết, thường xuyên làm mất lòng người khác và nhất là đã ở cuối sườn dốc của sự nghiệp khi hào quang đã qua và chẳng còn ai muốn nghe những bản nhạc do thiên tài một thời ấy sáng tác. Beethoven không chỉ gần như điếc đặc, ông còn chẳng bao giờ muốn lắng nghe những mong muốn của người khác mà luôn xét đoán mọi việc theo ý của mình, kết quả là nhà soạn nhạc trở thành con người cô độc khi mà chính cháu trai của Beethoven, người ông hết mực yêu quý, cũng ghét bỏ ông chú và chỉ tìm tới căn hộ của nhà soạn nhạc mỗi khi thiếu tiền.

Nhưng chính trong giờ phút khó khăn nhất, Beethoven mới bộc lộ hết tư chất của một thiên tài âm nhạc, một nhạc sĩ không chỉ có sức cảm thụ phi thường "những âm thanh của Thượng Đế" mà còn sẵn sàng dốc hết sức lực để lao động sáng tạo. Người ta không bao giờ thấy Beethoven ngủ, vì mỗi khi buồn ngủ ông lại tự dội lên đầu vài gáo nước lạnh (một trong những nguyên nhân dẫn đến căn bệnh điếc của Beethoven) để có thể tiếp tục làm việc. Kết quả của những giờ phút lao động miệt mài ấy là Bản giao hưởng số 9 - tác phẩm vĩ đại nhất của Beethoven, một trong số ít những bản giao hưởng có đời sống vượt ra bên ngoài khuôn khổ của nhạc cổ điển (Bản giao hưởng số 9 đã được EU chọn làm "Liên quốc ca" của cộng đồng này). Trường đoạn Beethoven chỉ đạo dàn nhạc giao hưởng cùng dàn đồng ca trình diễn Bản giao hưởng số 9 chắc chắn là trường đoạn hoành tráng, xúc động và ấn tượng nhất của phim.


Trường đoạn xúc động nhất phim

Ý tưởng thì hay là vậy nhưng Copying Beethoven thực tế chỉ dừng lại ở mức một phim trung bình khá. Lý do đầu tiên là vì đạo diễn đã quá tham khi cố gắng khắc họa rõ cả hình ảnh của một Beethoven-thiên tài nhưng đầy tật xấu, và một Anna Holtz-đam mê âm nhạc bất chấp thân phận phụ nữ, và kết quả cuối cùng là ... "dở ông dở thằng", chẳng nhân vật nào để lại ấn tượng trong lòng khán giả. Cũng vì cố công miêu tả nhân vật Anna nên Copying Beethoven đã bỏ qua một chi tiết rất quan trọng liên quan đến việc sáng tác Bản giao hưởng số 9 của Beethoven, đó là việc ông thực sự gần như điếc hẳn khi sáng tác bản giao hưởng này chứ không chỉ hơi điếc, vẫn nghe loáng thoáng được nhạc và người khác nói như mô tả trong phim. Thật đáng tiếc cho Copying Beethoven vì đó mới thực sự là chi tiết đắt giá và thường xuyên được nhắc lại trong các sách tiểu sử của Beethoven như một minh chứng cho thiên tài và nghị lực phi thường của ông. Bên cạnh đó, do chỉ xoay quanh việc Beethoven sáng tác nhạc thế nào, Anna vật lộn với những tính xấu của ông ra sao, thành ra Copying Beethoven không có điểm nhấn và lại càng thiếu cảm xúc - cái cần nhất ở một bộ phim xoay quanh âm nhạc như thế này. Để so sánh thì có thể thấy Copying Beethoven kém rất xa Amadeus, bộ phim tiểu sử về cuộc đời đầy bất hạnh của một thiên tài nhạc cổ điển khác - Wolgang Amadeus Mozart. Amadeus tràn ngập cảm xúc, kịch tính (hơi nhiều quá mức) và dàn diễn viên thì diễn xuất tuyệt vời, Copying Beethoven thì chẳng có lấy một điểm nào khiến tôi hài lòng ngoại trừ trường đoạn biểu diễn Bản giao hưởng số 9 như đã nói ở trên. Thật tiếc cho một cái tứ hay đã không chuyển thể được thành những hình ảnh đẹp.


Một bộ phim quá chậm rãi và não nề. Phim nói về Walter Vale, một giáo sư đại học nhạt nhẽo và gần như không "sống" kể từ sau khi vợ ông, một nghệ sĩ dương cầm, qua đời. Walter bắt đầu tìm lại được giá trị cuộc sống nhờ cuộc gặp gỡ bất ngờ với Tarek, một tay trống người Syria, cùng vợ anh. Trong một lần giúp Walter tại ga tàu điện ngầm, Tarek bị cảnh sát New York bắt và đứng trước nguy cơ bị trục xuất vì là người nhập cư trái phép. Walter, giờ đã là một con người hoàn toàn khác, không còn cách nào khác ngoài việc bỏ dạy để lo cho Tarek và mẹ của anh.

Đạo diễn kiêm biên kịch của phim hóa ra chính là diễn viên đóng vai ông bố dượng trong 2012. Thomas McCarthy có vẻ rất hào hứng với đề tài người già cô đơn (dù anh mới chỉ tầm 40), ngoài The Visitor, McCarthy còn viết kịch bản cho Up. Nhìn chung thật khó nói The Visitor hay dở thế nào vì phim quá chậm, xem rất nản, lại mắc phải những hình mẫu (leimotif) cũ rích kiểu Hollywood khiến tôi rất khó chịu - người nhập cư tại sao cứ phải là nhập cư vì chính trị và đến từ Syria? Sống tốt nhưng sống bất hợp pháp thì làm sao có cảm giác "hòa nhập" trong xã hội được?... Với một kịch bản đầy những triết lý đi theo lối mòn như The Visitor thì không lạ khi Up cũng không thể có một kịch bản sáng tạo từ cùng một tác giả.

mardi 9 mars 2010

An Education (2009), Bright Star (2009)


Một bộ phim nhẹ nhàng về tuổi mới lớn. Nội dung phim có khá nhiều cliché nhưng cách xử lý đơn giản cùng diễn xuất nhẹ nhõm, tự nhiên của các diễn viên (đặc biệt là Carey Mulligan trong vai Jenny và Alfred Molina trong vai bố Jenny) đã giúp phim trở nên dễ xem nhưng vẫn cảm động và giữ được triết lý về thời điểm "vào đời" của một cô gái mới lớn với những lựa chọn khó khăn (và dễ sai lầm) về cuộc sống. Tôi đặc biệt thích cách bộ phim truyền tải thông điệp về sự quan trọng của gia đình, nơi những ông bố, bà mẹ tuy không phải lúc nào cũng hành động chính xác nhưng họ luôn hành động xuất phát từ tình yêu thương và sự lo lắng cho con cái, một điều không phải cô, cậu học trò nào ở cái tuổi 18 cũng có thể hiểu được. An Education còn có phần générique (opening credit) đầu phim rất ấn tượng, hoàn toàn có thể so sánh được với phần générique của Catch Me If You Can.


Một bộ phim tuyệt vời khác của mùa phim Cannes 2009. Bright Star là bộ phim về mối tình giữa cô thiếu nữ 18 tuổi Fanny Brawne và nhà thơ không gặp thời John Keats, xen kẽ là những vần thơ đẹp đẽ nhưng bi thương của Keats - một trong những tên tuổi lớn nhất của thơ ca lãng mạn Anh. Mối tình của Fanny và Keats là một mối tình tuyệt vọng khi Keats, với thể trạng yếu đuối và gia cảnh cực kì khó khăn, không thể đáp lại mối tình đầu của cô gái mà anh yêu. Tuy nhiên Bright Star lại là một bộ phim lôi cuốn người xem (và dễ xem) vì nó quá đẹp, đẹp từ những cảnh quay đủ mọi sắc màu về nước Anh, đẹp từ tấm lòng nhân hậu, chân thật, vị tha của từng nhân vật, và tất nhiên đẹp từ phần thoại thi vị lấy cảm hứng từ những thi phẩm của Keats. Tôi cảm thấy bất ngờ vì một bộ phim "toàn người tốt" như Bright Star lại có thể lôi cuốn đến thế, có lẽ vì cái nền u ám của mối tình Fanny-Keats đã giúp cách ứng xử của từng nhân vật trở nên đẹp đẽ hơn, ngay cả nhân vật "xấu" nhất phim - Charles Brown cũng lại là một người hết lòng vì bạn bè, và khi không thể hết lòng vì Keats, Brown đã thốt lên những lời đau đớn nhưng không thể đẹp hơn về tình bạn của họ. Cảnh quay của Bright Star được nữ đạo diễn Jane Campion trau chuốt và lựa chọn một cách tinh tế, tôi chưa từng thấy một bộ phim nào mô tả thiên nhiên nước Anh đẹp như bộ phim này với cánh đồng hoa tím, những cánh rừng xơ xác mùa đông, tuyết trắng, và rất nhiều những cảnh khác. Nói một cách ngắn gọn thì Bright Star là bộ phim quá đẹp để có thể bị bỏ qua.

2010 Academy Awards


Kết quả Oscar năm nay còn ít bất ngờ hơn cả năm ngoái, có vẻ như Viện Hàn lâm "đành" phải trao Oscar phim ngoại ngữ cho El secreto de sus ojos thay vì The White Ribbon hay Un prophète để tạo ra chút ít thay đổi so với dự đoán của mọi người (giống trường hợp của Departures năm ngoái). Tiếc nuối nhất năm nay có lẽ là Jason Reitman cùng Up in the Air ra về tay trắng mặc dù nó từng rất được ca ngợi vào thời điểm công chiếu, James Cameron có lẽ không tiếc lắm vì dù sao bộ phim của ông cũng đã bỏ túi 2 tỷ + USD và chắc chắn sẽ còn được nhắc tới lâu hơn là The Hurt Locker, Quentin Tarantino thì trước giờ chưa từng hợp "gu" của Viện Hàn lâm nên việc Basterds chỉ có duy nhất một giải "an ủi" cũng là điều bình thường. Năm nay Sandra Bullock có một cái kết đẹp và "ấn tượng" (Oscar và Mâm xôi trong cùng một năm - lần đầu tiên trong lịch sử Hollywood), có lẽ sau cái Oscar này sự nghiệp (và tên tuổi) của Bullock sẽ dần đi xuống theo kiểu Julia Robert. Năm nay cũng đánh dấu thất bại toàn diện của điện ảnh châu Âu, ngoài Waltz đoạt giải cho một phim Mỹ thì châu Âu chỉ có hai chiến thắng nhỏ khác ở hạng mục phim hoạt hình ngắn (Logorama của Pháp) và trang phục (The Young Victoria của Anh).

Như thường lệ, đỏ là dự đoán đoạt giải, xanh là hy vọng đoạt giải, in đậm là đoạt giải:

BEST PICTURE
Avatar
The Blind Side
District 9
An Education
The Hurt Locker
Inglourious Basterds
Precious
A Serious Man
Up
Up In the Air

BEST DIRECTOR
James Cameron, Avatar
Kathryn Bigelow, The Hurt Locker
Quentin Tarantino, Inglourious Basterds
Lee Daniels, Precious
Jason Reitman, Up In The Air

BEST ACTOR
Jeff Bridges, Crazy Heart
George Clooney, Up In The Air
Colin Firth, A Single Man
Morgan Freeman, Invictus
Jeremy Renner, The Hurt Locker

BEST ACTRESS
Meryl Streep, Julie & Julia
Sandra Bullock, The Blind Side
Helen Mirren, The Last Station
Carey Mulligan, An Education
Gabourey Sidibe, Precious

BEST SUPPORTING ACTRESS
Penelope Cruz, Nine
Vera Farmiga, Up In the Air
Anna Kendrick, Up In the Air
Maggie Gyllenhaal, Crazy Heart
Mo’nique, Precious

BEST SUPPORTING ACTOR
Christoph Waltz, Inglourious Basterds
Matt Damon, Invictus
Stanley Tucci, The Lovely Bones
Woody Harrelson, The Messenger
Christopher Plummer, The Last Station

BEST ADAPTED SCREENPLAY
Neill Blomkamp, Terri Tatchell, District 9
Nick Hornby, An Education
Jesse Armstrong, Simon Blackwell, Armando Iannucci, Tony Roche, In The Loop
Geoffrey Fletcher, Precious
Jason Reitman, Sheldon Turner, Up In The Air

BEST ORIGINAL SCREENPLAY
Mark Boal, The Hurt Locker
Quentin Tarantino, Inglourious Basterds
Joel and Ethan Coen, A Serious Man
Alessandro Camon and Oren Moverman, The Messenger
Bob Peterson, Pete Docter, Up

DOCUMENTARY FEATURE
Burma VJ
The Cove
Food Inc.
The Most Dangerous Man In America: Daniel Ellsberg and the Pentagon Papers
Which Way Home

FILM EDITING
Avatar
District 9
The Hurt Locker
Inglourious Basterds
Precious

FOREIGN LANGUAGE FILM
Ajami
El Secreto Desus Ojos
The Milk of Sorrow
A Prophet
The White Ribbon

BEST ANIMATED PICTURE
Coraline
Fantastic Mr Fox
The Princess And The Frog
The Secret Of Kells
Up

mercredi 3 mars 2010

Worst Best Pictures Oscar


Poster ấn tượng nhất về lễ trao giải Oscar.

Ai cũng biết là không phải cứ phim nào giành Oscar cho phim hay nhất (Best Picture) cũng là phim hay nhất năm. Ngoài chuyện thiên vị phim nói tiếng Anh (tất lẽ dĩ ngẫu) thì Viện Hàn lâm còn thường xuyên "lờ" đi các phim hài, hoạt hình và rất "chuộng" phim sử thi, phim về Holocaust hoặc phim ca nhạc (giai đoạn thập niên 1950 và 1960). Tạp chí Empire đã có một tổng kết rất đầy đủ về các phim từng giành Oscar cho phim hay nhất, từ danh sách này có thể lựa ra được một số phim "đáng được" coi là Phim hay nhất ... dở nhất trong lịch sử giải thưởng ("dở" so với bối cảnh bộ phim đoạt giải chứ chưa hẳn đã là một phim dở):


10. Forrest Gump (1994, Robert Zemeckis)
Lý do dở: Thực ra Forrest Gump chưa bao giờ bị coi là một phim tồi, ngược lại đây là một trong những phim sử thi hay nhất về lịch sử nước Mỹ hiện đại với diễn xuất không thể chê vào đâu được của Tom Hanks, vả lại Robert Zemeckis cũng xứng đáng được tưởng thưởng vì ... bộ ba Back to the Future của ông (vốn chưa từng được đề cử Oscar phim hay nhất). Lý do duy nhất khiến Gump lọt vào danh sách này là vì nó đã "nẫng" giải của hai trong số những bộ phim ấn tượng nhất của Hollywood trong vòng mấy chục năm trở lại đây - Pulp Fiction (bộ phim giành giải Cành cọ vàng cùng năm) và Shawshank Redemption (bộ phim cuối cùng cũng có "redemption" của nó bằng việc vượt qua Bố già trong danh sách bình chọn phim hay nhất của IMDb).

09. A Beautiful Mind (2001, Ron Howard)
Lý do dở: Phim của Ron Howard thường được làm rất gọn gàng, ít lỗi vặt về kịch bản và thực hiện, casting chuẩn, nhưng hay bị sa đà vào các tình tiết, câu thoại "sến". A Beautiful Mind cũng không phải một ngoại lệ, đây là một phim tiểu sử hay, cảm động về cuộc đời của John Nash với diễn xuất đáng nhớ của Russell Crowe (vai diễn xứng đáng đoạt Oscar vai nam chính hơn nhiều so với vai của Denzel Washington trong Training Day), tuy nhiên với vô số câu thoại sến (I need to believe, that something extraordinary is possible) và phần kết hẫng hụt, A Beautiful Mind khó lòng có thể so sánh với Amélie (một bộ phim "beautiful" hơn nhiều lần) hay The Lord of the Rings: The Fellowship of the Rings (tập được coi là hay nhất trong bộ ba).


08. Chicago (2002, Rob Marshall)
Lý do dở: Dù hay đến mấy thì phim ca nhạc (musical) vẫn chỉ được coi như một đặc sản của Hollywood (hoặc ... Bollywood) và thiếu đi những yếu tố để làm nên một tác phẩm đáng nhớ thực sự (trừ một vài ngoại lệ hiếm hoi như Singin' in the Rain hay West Side Story). Và khó có thể coi Chicago là một Oscar xứng đáng khi nó vượt qua những tên tuổi lớn (hơn nhiều) khác như The Lord of the Rings: Two Towers, The Pianist, The Hours hay Road to Perdition (một năm được mùa của phim bi).


07. Rocky (1976, John G. Avildsen)
Lý do dở: Rocky là bộ phim đáng nhớ vì chất Mỹ đậm đặc của nó cùng diễn xuất ấn tượng (không đồng nghĩa với xuất sắc) của Sylvester Stallone (người đã đánh cược sự nghiệp của mình với bộ phim này và thành công). Nhưng nếu xét về chất lượng nghệ thuật (tiêu chí hàng đầu cho một phim giành Oscar phim hay nhất) thì Rocky không thể nào đứng ngang hàng với những All The President's Men, Network và nhất là Taxi Driver (thất bại đầu tiên trong chuỗi thất bại "nổi tiếng" của Martin Scorsese).


06. Oliver! (1968, Carol Reed)
Lý do dở: Thời gian luôn là giám khảo công bằng nhất cho một bộ phim, Oliver! khó có thể so sánh được với một "siêu phẩm" của năm 1968 - 2001: A Space Odyssey (Stanley Kubrick chưa bao giờ là ứng cử viên được Oscar ưu ái, giải Oscar duy nhất ông từng được trao là cho hạng mục ... Kỹ xảo hình ảnh của 2001: A Space Odyssey).


05. Driving Miss Daisy (1989, Bruce Beresford)
Lý do dở: Năm 1989 không phải là một năm "được mùa" của Hollywood, tuy nhiên thì lý do này cũng không thể biện hộ cho quyết định khó hiểu của Viện Hàn lâm khi trao Oscar phim hay nhất cho một phim ... dở và nhàm chán như Driving Miss Daisy trong khi "lờ" đi những bộ phim xuất sắc hơn như Born on the Fourth of July, My Left Foot hay When Harry Met Sally.


04. Chariots of Fire (1981, Hugh Hudson)
Lý do dở: Chỉ sau vài năm, Chariots of Fire đã trôi dần vào dĩ vãng, điều đáng nhớ nhất của bộ phim giờ đây có lẽ chỉ là ... đoạn nhạc dạo của nó và việc nó không hiểu vì lý do gì đã vượt qua những Reds, Das Boot hay Raiders of the Lost Ark để giành Oscar phim hay nhất.


03. An American in Paris (1951, Vincente Minnelli)
Lý do dở: Tuy được coi là một bộ phim xuất sắc của "vua phim ca nhạc" Vincente Minnelli và giành rất nhiều giải Oscar, rõ ràng An American in Paris không thể so sánh được với A Streetcar Named Desire, An Ace in the Hole hay The African Queen.


02. Ordinary People (1980, Robert Redford)
Lý do dở: Một giải Oscar bất công đến mức người ta nói đùa rằng Robert Redford đã phải cố gắng ... trả nợ cho giải thưởng của mình bằng việc lập ra Liên hoan phim Sundance. Ngoài việc Redford là ... một trong những ngôi sao điện ảnh lớn nhất của thập niên 1970 thì người ta không thể tìm ra lý do gì để lý giải cho việc Ordinary People giật Oscar phim hay nhất từ tay The Shining, The Elephant Man và đặc biệt là Raging Bull (một thất bại đáng nhớ khác của Martin Scorsese).


01. How Green Was My Valley (1941, John Ford)
Lý do dở: Ví dụ "kinh điển" nhất về quyết định sai lầm của Viện Hàn lâm trong việc trao giải Oscar phim hay nhất. John Ford là một trong những cái tên làm nên Hollywood Cổ điển nhưng How Green Was My Valley của ông thường xuyên bị "lôi ra" chỉ trích vì đơn giản nó đã vượt mặt Citizen Kane - bộ phim thường xuyên được đánh giá là xuất sắc nhất trong lịch sử điện ảnh Mỹ, đó là chưa kể tới một bộ phim đáng nhớ khác là The Maltesse Falcon.

vendredi 12 février 2010

Châu Tinh Trì - The King of Comedy (Part 2)

From Beijing with Love - thế chỗ cho khẩu Walther PPK sẽ là ... dao thái thịt

Không dừng lại ở vai trò diễn viên, Châu Tinh Trì bắt đầu tham gia viết kịch bản và đạo diễn với From Beijing with Love (đồng đạo diễn với Lý Lực Trì). Nhại 007 từ cái tên (From Russia with Love), đây là một phim gián điệp hài không có mặt Trương Mẫn hay Ngô Mạnh Đạt nhưng bù lại bạn diễn của Châu là Viên Vịnh Nghi - cựu hoa hậu Hồng Kông và là diễn viên đang ở đỉnh cao trong sự nghiệp (người đầu tiên giành 2 giải HKFA cho nữ diễn viên chính liên tiếp, trước cả Trương Mạn Ngọc) . Vị trí mới giúp Châu có thêm điều kiện để thể hiện khả năng và sức sáng tạo đáng kinh ngạc của anh, From Beijing with Love không còn dừng lại ở việc nhại các bộ phim "nội địa" và gây cười chủ yếu bằng những đoạn thoại hài "nhảm" cũng mang nặng tính "nội địa", thay vào đó tác phẩm đầu tay của Châu quay sang ... nhại hình ảnh của những hiện tượng văn hóa ở tầm quốc tế như 007, loạt phim/truyện Jurassic Park và cả ... phim khoa học viễn tưởng Nhật - một "nồi lẩu" về phong cách điện ảnh nhưng vẫn "ngon miệng" đối với khán giả nhờ vào "gia vị" Châu Tinh Trì. Nửa đầu thập niên 1990 chứng kiến sự bùng nổ của thị trường điện ảnh Hồng Kông khi các ngôi sao lớn tầm Lưu Đức Hoa, Trương Mạn Ngọc mỗi năm tham gia tới cả chục bộ phim, Châu Tinh Trì cũng không nằm ngoài trào lưu "tăng gia sản xuất" đó, năm 1995 Châu đồng đạo diễn và thủ vai chính (Tôn Ngộ Không/Chí Tôn Bảo) trong liền hai tập phim A Chinese Odyssey, chuyển thể từ tiểu thuyết bất hủ của văn học Trung Quốc là Tây du ký (và nhại thêm vô số tác phẩm khác như tiểu thuyết của Cổ Long hay Back to the Future). Tiếp nối thành công của bộ đôi Royal Tramp một năm trước đó, A Chinese Odyssey 1 và 2 cũng được người xem Hồng Kông đón nhận nồng nhiệt. Trong phim Châu thể hiện xuất sắc hình ảnh một Tôn Ngộ Không/Chí Tôn Bảo vừa phớt đời lại vừa bị giằng xé vì mối tình mới Tử Hà tiên tử, nàng tiên nữ xinh đẹp do Chu Ân thủ vai trong một mối tình theo kiểu ... Vương Gia Vệ (đây là giai đoạn Vương Gia Vệ đang thống trị dòng phim tâm lý Hồng Kông và Châu Tinh Trì cũng không bỏ qua việc "nhại" phim của Vương, trong A Chinese Odyssey nhân vật tử Hà tiên tử được xây dựng với hình ảnh "đa nhân cách" rất giống với vai Mộ Dung Yên/Mộ Dung Yến của Lâm Thanh Hà trong Đông Tà Tây Độc). Nếu như khả năng chọc cười của Châu trong phim không làm ai ngạc nhiên (vì đó là chuyện ... tất lẽ dĩ ngẫu) nhưng khán giả phải thực sự thán phục khi chứng kiến Châu Tinh Trì hoàn thành xuất sắc cả những trường đoạn bộc lộ tâm trạng dằn vặn của nhân vật, đây cũng là vai diễn đem lại cho Châu giải thưởng diễn xuất đầu tiên - giải vai nam chính xuất sắc nhất của Hội phê bình điện ảnh Hồng Kông. Do làm ... rất nhiều phim nên trong một năm Châu thường làm cả phim hài cổ trang (lấy bối cảnh lịch sử của Trung Quốc) và hiện đại (lấy bối cảnh hiện đại), năm 1995 nếu như hài cổ trang của Châu là A Chinese Odyssey 1, 2 thì hài hiện đại là hai tác phẩm Sixty Million Dollar Man và Out of the Dark. Out of the Dark của đạo diễn Lưu Trấn Vĩ là một trong những "thất bại" hiếm hoi trong giai đoạn này của Châu Tinh Trì khi nó không được ăn khách như các bộ phim khác của anh, lý do khá đơn giản là vì bộ phim theo bước From Beijing with Love "nhại" rất nhiều phim nước ngoài nhưng lại là những phim "độc" và không hẳn đã thuộc gu thưởng thức của số đông khán giả. Nói như vậy không có nghĩa đây là một phim tồi, trái lại nó có thể coi là một dấu ấn trong nửa đầu sự nghiệp của Châu vì ... chưa bao giờ Châu Tinh Trì tham gia một cái "nổi lầu" nhiều thức như Out of the Dark, từ Léon của Luc Besson (Châu đeo kính đen, mặc áo khoác, tay cầm chậu cây cảnh theo đúng kiểu Léon) đến phim kinh dị Mỹ như Poltergeist và cả ... (lại) phim Vương Gia Vệ (trong Out of the Dark Mạc Văn Úy đóng một vai có bề ngoài giống hệt với vai cô đã đóng trong Fallen Angels của Vương).

God of Cookery

Năm 1996 có thể coi là một bước ngoặt khi Châu Tinh Trì bắt đầu "hãm" lại tốc độ làm việc của anh, trong năm nay Châu chỉ tham gia hai bộ phim là Forbidden City Cop (Châu kiêm đạo diễn và biên kịch) và God of Cookery (Châu đồng đạo diễn). Forbidden City Cop thuộc dòng hài cổ trang, bộ phim nhại rất nhiều các tác phẩm khác nhau mà nhiều nhất là tiểu thuyết/phim chưởng Cổ Long, đoạn đầu của phim dựng lại gần như y nguyên bối cảnh cuộc quyết chiến trên đỉnh Tử Cấm Thành của Lục Tiểu Phụng, Diệp Cô Thành, Hoa Mãn Lâu và Tây Môn Xúy Tuyết, nhưng với tài đạo diễn của mình, Châu đã biến cái không khí căng thẳng, máu lửa của Cổ Long thành câu chuyện hài hước mà đến những độc giả trung thành nhất của họ Cổ cũng phải ôm bụng cười vì cách Châu "bóp méo" thần tượng của họ. Bộ phim thứ hai trong năm 1996 của Châu, God of Cookery, có nội dung khá "đơn giản" - một cuộc thi nấu ăn nhại theo chương trình Iron Chef của Nhật Bản cùng các manga ẩm thực Nhật và phim truyền hình TVB. Chữ đơn giản được đặt trong ngoặc kép vì thực sự God of Cookery không đơn giản chút nào, "thần ăn" Châu Tinh Trì bằng tài năng của mình đã cho ra đời bộ phim về ẩm thực xuất sắc nhất của điện ảnh Hồng Kông trong suốt mấy chục năm, bộ phim vừa hài hước, vừa ý nghĩa, vừa độc đáo tới mức sau đó nhiều đạo diễn ở Hồng Kông và ngoài Hồng Kông đã làm theo hướng đi của Châu mà không thể nào có nổi một bộ phim xuất sắc dù chỉ bằng một nửa của God of Cookery. Trong phim Châu Tinh Trì thủ vai "Thần ăn", một chuyên gia nấu nước bị "đệ tử" cùng tay tài phiện Ngô Mạnh Đạt lật đổ rồi phải tìm đường trở lại với vinh quang thông qua món bò viên với sự giúp sức của chị Gà tây - một trong những vai diễn ấn tượng nhất của Mạc Văn Úy. Bên cạnh ẩm thực, God of Cookery còn có cách nhại rất hài hước các bộ phim xã hội đen và võ thuật của Hồng Kông, từ bộ dạng kiểu "Bạch phát ma nữ" (tóc trắng) của Châu cho tới 18 người đồng Thiếu Lâm mà "Thần ăn" phải vượt qua. Tiếp nối phong cách của A Chinese Odyssey, chất tâm lý/bi kịch được Châu đưa vào God of Cookery nhiều hơn và giúp phim, dù vẫn hài hước, có được sự cân bằng và nhiều ý tưởng mới để khai phá, nó chứng tỏ rằng với tài nghệ của mình thì Châu chỉ có thể cho ra đời những bộ phim luôn hay và mới lạ hơn những tác phẩm đi trước nó.

Phát hiện ra Trương Bá Chi cũng có thể coi là một trong những "tác phẩm" thành công nhất của Châu Tinh Trì

Bộ phim lớn cuối cùng của Châu trong thập niên 1990 là King of Comedy (1999) - bộ phim "bi" nhất trong số các phim hài của anh trong giai đoạn này (nếu không kể A Chinese Odyssey - bộ phim có "sad ending" duy nhất trong sự nghiệp của Châu). Trong phim Châu thủ vai Doãn Thiên Cừu, một diễn viên kiểu "method actor" (diễn xuất nhập vai) nhưng không gặp thời, thi thoảng Thiên Cừu mới kiếm được những vai quần chúng trong các bộ phim lớn, và anh thường xuyên làm các đạo diễn điên tiết vì cách tiếp cận vai quần chúng ... theo kiểu "method actor" của mình. Còn công việc chính của Thiên Cừu là ... trông nom nhà văn hóa của khu phố và ... dạy diễn xuất miễn phí cho các cô tiếp viên nhà hàng. Một trong số đó là Liễu Phiêu Phiêu (vai diễn giúp Trương Bá Chi vụt sáng trong làng điện ảnh Hồng Kông), cô tiếp viên đanh đá tới mức sẵn sàng cầm ghế "xử lý" Thiên Cừu vì tội dám gọi các cô là "gái nhà hàng". Tình cảm của Liễu Phiêu Phiêu dành cho Thiên Cừu sau đó đã giúp anh có được tự tin với nghề diễn xuất, nhưng thành công chỉ đến với Thiên Cừu theo một cách mà không một khán giả nào có thể đoán ra (và tất nhiên cũng không đi theo lối mòn của bất cứ bộ phim Hồng Kông nào khác). Trong khi đạo diễn bộ phim này, có lẽ Châu đã đưa vào rất nhiều những chi tiết mà chính anh đã phải trải qua trong giai đoạn đầu khó khăn của sự nghiệp, những chi tiết đó cùng mối tình đẹp của Thiên Cừu và một Liễu Phiêu Phiêu trẻ trung, xinh tươi đã khiến khán giả thực sự cảm động, một hiệu ứng mà những bộ phim hài thời đầu thập niên 1990 của Châu, dù xuất sắc đến mấy, cũng khó lòng có được.

"Thằng Tinh" và "chú Đạt" - hình ảnh quen thuộc nhất của phim hài Châu Tinh Trì, Shaolin Soccer là phim cuối cùng hay người đóng chung cho tới nay

Phải hai năm sau King of Comedy, Châu mới lại cho ra đời bộ phim tiếp theo của mình, Shaolin Soccer. Bộ phim hài về đề tài bóng đá này đã không phụ lòng những khán giả hâm mộ Châu vốn đã phải "dài cổ" chờ đợi suốt 2 năm, hơn thế nó còn chinh phục cả những người chưa từng biết đến cái tên Châu Tinh Trì hoặc coi phim hài của anh là thứ "hài rẻ tiền". Trong bộ phim này, Châu đã tập hợp tất cả những gì tinh túy nhất của anh - từ niềm đam mê Lý Tiểu Long (phim có hẳn một nhân vật để pay homage cho họ Lý, và theo cái cách hào hùng nhất mà điện ảnh Hồng Kông có thể tạo được) và truyện tranh Nhật Bản (có thể coi Shaolin Soccer = Tsubasa + Thiếu Lâm), các câu thoại tung hứng hài hước với Ngô Mạnh Đạt, cách diễn hài tỉnh rụi, vô số chi tiết bất ngờ gây cười,... rồi đưa chúng lên một tầm cao mới cho thể loại phim thể thao. Shaolin Soccer dễ dàng phá vỡ kỷ lục phim ăn khách nhất ở Hồng Kông, chinh phục các thị trường điện ảnh quốc tế (rất nhiều khán giả chỉ biết tới Châu nhờ bộ phim này) và đặc biệt là khiến chính giới phê bình điện ảnh Hồng Kông phải ngả mũ kính phục khi trao cho Shaolin Soccer hầu hết các giải thưởng lớn trong lễ trao Giải thưởng điện ảnh Hồng Kông năm 2002, riêng Châu thì trở thành người đầu tiên trong lịch sử giải thưởng này giành cả giải Đạo diễn xuất sắc nhất và Vai nam chính xuất sắc nhất.

Châu luôn muốn "biến thành" thần tượng Lý Tiểu Long, kể từ những bộ phim thời đầu như Fist of Fury 1991 cho tới ở đây là Kung Fu Hustle

Lên đến đỉnh cao với Shaolin Soccer, Châu sẽ làm gì? Anh tiếp tục bắt người hâm mộ chờ đợi, lần này là ba năm, trước khi cho ra đời một bộ phim có tên Kung Fu Hustle. Tán tụng về những thành công thương mại hay nghệ thuật mà bộ phim này đạt được có lẽ là việc thừa thãi, vì hẳn ai thích phim hài và phim võ thuật đều đã xem qua (và đã thích) bộ phim này cũng như biết rằng nó là phim phá vỡ kỉ lục phim ăn khác nhất tại Hồng Kông (do Shaolin Soccer của chính Châu nắm giữ trước đó) và vượt qua cả 2046 và One Nite in Mongkok để giành giải phim hay nhất tại Giải thưởng điện ảnh Hồng Kông năm 2005. Nhưng đây cũng là bộ phim khiến các "fan ruột" của Châu Tinh Trì bắt đầu cảm thấy chút gì đó bất an vì nó đã tách khỏi cái "gốc" vốn khiến Châu trở nên nổi tiếng - mo lei tau (Ngô Mạnh Đạt không còn xuất hiện trong phim của Châu kể từ sau Shaolin Soccer), Kung Fu Hustle gây cười và gây ấn tượng nhờ phần kĩ xảo cực kì sáng tạo (cảnh chạy đua "kiểu hoạt hình" của Châu bắt chước những phim hoạt hình Hollywood từ thập niên 1930, 1940 nhưng vẫn khiến chính khán giả Mỹ phải "há hốc mồm" kinh ngạc vì chưa từng có phim Hollywood nào sử dụng kỹ xảo kiểu này). Có lẽ trong khi làm (=sản xuất, viết kịch bản, đạo diễn, diễn xuất) Kung Fu Hustle, Châu muốn bộc lộ mơ ước từ nhỏ của anh là ... biến thành Lý Tiểu Long với công phu tuyệt đỉnh kiểu ... Kim Dung - những kĩ xảo thượng thăng của Hollywood đã giúp anh hiện thực hóa giấc mơ này. Có lẽ lúc này Châu đã có quyền ngừng làm phim mà vẫn trở thành huyền thoại của điện ảnh Hồng Kông, và có khi điều đó lại tốt hơn cho những người hâm mộ Châu ngay từ ngày đầu thay vì việc họ "phải" chứng kiến một bộ phim không thành công như mong đợi - CJ7 hay những bộ phim nhảm (nhảm thực sự chứ không phải "nhảm" kiểu Châu Tinh Trì) như Dragonball Evolution hay Shaolin Girl mà Châu sản xuất.

jeudi 4 février 2010

Châu Tinh Trì - The King of Comedy (Part 1)


Ảnh: Áp phích phim Vua hài kịch (King of Comedy) với hai diễn viên chính Trương Bá Chi và Châu Tinh Trì.

Như đã nói ở entry Best Hong Kong films of the decade, Châu Tinh Trì xứng đáng là đạo diễn "hiệu quả" nhất trong thập niên ở xứ Cảng thơm khi mà 2 trong số 3 bộ phim Châu đã "chễm chệ" ở vị trí thứ 3 và thứ 4 của Top 10. Một kết quả ... chẳng khiến ai ngạc nhiên vì trong vòng 20 năm trở lại đây, Châu Tinh Trì luôn luôn được coi là ông "vua hài kịch" của điện ảnh Hồng Kông. Vậy điều gì đã khiến Châu giữ được "ngai vàng" lâu đến vậy?

Cùng sinh năm 1962, Lương Triều Vỹ và Châu Tinh Trì là bạn bè của nhau ngay từ ngày hai người mới bước vào cổng đài truyền hình TVB - bệ phóng cho nhiều ngôi sao của làng điện ảnh Hồng Kông. Cả Lương và Châu đều có khổ người nhỏ con, không có vẻ ngoài ăn hình như Lê Minh, Lưu Đức Hoa, cũng không có dáng vóc to lớn phù hợp với các vai hành động như Châu Nhuận Phát và lại càng chẳng có khả năng võ thuật siêu đẳng như Lý Liên Kiệt (Châu-một người mê mẩn với hình tượng Lý Tiểu Long, rất thích học võ nhưng do nhà nghèo nên chỉ học được vài tháng rồi bỏ). Nhưng nếu như Lương Triều Vỹ, với khả năng diễn xuất bẩm sinh, nhanh chóng được các đạo diễn của TVB chọn vào vai "đinh" Vi Tiểu Bảo trong loạt phim truyền hình Lộc đỉnh ký 1984 để rồi vụt sáng không lâu sau đó thì Châu Tinh Trì mãi chỉ "lẹt đẹt" trong vai trò một người dẫn chương trình cho thiếu nhi. Châu Tinh Trì bắt đầu được biết tới trên màn ảnh lớn với vai diễn trong Final Justice (1988) của ngôi sao phim hình sự Lý Tu Hiền. Vai diễn tay trộm ô tô trong phim này đã đem lại cho anh đề cử đầu tiên, và là đề cử duy nhất cho một vai "nghiêm túc", ở Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông năm 1989. Tuy nhiên với những nhược điểm mang tính khách quan của mình, Châu Tinh Trì chẳng thể vươn lên trong làng điện ảnh Hồng Kông vốn đang do những tên tuổi như Châu Nhuận Phát, Thành Long hay Lý Liên Kiệt thống trị.

Final Justice

Quanh đi quẩn lại với những vai phụ hoặc vai chính nhưng là của những bộ phim nhanh chóng rơi vào quên lãng, Châu Tinh Trì chỉ có thể đổi vận nhờ một cái tên ... làm nhiều người nhăn mặt khi nói về điện ảnh Hồng Kông - Vương Tinh. Nói đến các đạo diễn tiêu biểu của Hồng Kông thời cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990 người ta thường nhắc ngay tới Từ Khắc và Ngô Vũ Sâm, nhưng thực ra Vương Tinh cũng có ảnh hưởng lớn không kém tới thị trường điện ảnh lúc đó, chỉ khác ở chỗ các bộ phim của Vương dù ăn khách lại luôn bị chê bai thậm tệ. Phim của Vương Tinh hoặc chỉ chạy theo thị hiếu (loạt Thần bài, loạt Người trong giang hồ) hoặc có chất lượng nghệ thuật không cao, thậm chí là tệ hại (bao gồm rất nhiều phim cấp III như Raped by an Angel, Naked Killer hay Ebola Syndrome), vì thế Vương Tinh thường được gọi bằng những cái tên không lấy gì làm vẻ vang như "Master of Crappy Cinema" (Vua phim nhảm) hay "The Assasin of Hong Kong Cinema" (Kẻ ám sát điện ảnh Hồng Kông). Nhưng Vương Tinh chưa bao giờ lấy làm ngượng ngùng vì những biệt danh đó, ông tự hào là đằng khác và vẫn tiếp tục "chạy" theo thị hiếu vốn thay đổi như chong chóng của người dân Hồng Kông để cho ra đời những thể loại phim mới và những ngôi sao mới (tuy từ nửa sau thập niên 1990 vận may của Vương Tinh đã mất dần). Ngôi sao lớn nhất mà Vương Tinh từng phát hiện được không ai khác ngoài Châu Tinh Trì - diễn viên được ông chọn vào vai chính của All for the Winner, một phim hài nhại lại theo Thần bài (Châu Nhuận Phát đóng vai chính), bộ phim ăn khách nhất Hồng Kông mấy năm trước đó do Vương Tinh đạo diễn.

Trong bộ phim của đạo diễn Lưu Chấn Vỹ này (Vương Tinh chỉ đóng vai trò nhà sản xuất của All for the Winner) Châu Tinh Trì vào vai Tinh, một thanh niên Đại lục có "công lực" thâm hậu tới mức có thể nhìn xuyên thấu các lá bài hay hộp xúc xắc. Trong lần tới Hồng Kông thăm ông chú tên Đạt (Ngô Mạnh Đạt), Tinh được chú Đạt dạy chơi cờ bạc và nhanh chóng vươn lên địa vị "Thánh bài" mới của Hồng Kông. Và ngoài đời Châu Tinh Trì cũng vụt sáng để trở thành siêu sao mới của điện ảnh xứ Cảng thơm khi công chúng ngay lập tức bị lôi cuốn bởi cách diễn hài hước, tự nhiên với cái vẻ ngoài vô tư lự của họ Châu. All for the Winner trở thành phim ăn khách nhất trong lịch sử điện ảnh Hồng Kông, vượt qua chính Thần bài, bộ phim mà nó nhại lại.

All for the Winner - a star is born

All for the Winner không chỉ đánh dấu bước ngoặt sự nghiệp cho Châu, nó còn giới thiệu cho công chúng những đặc điểm sau này đã trở thành thương hiệu trong phim hài Châu Tinh Trì, đó là dàn diễn viên phụ với Ngô Mạnh Đạt hay "chú Đạt", người tiếp tục đóng vai sidekick cho "thằng Tinh" trong gần 20 phim tiếp theo, cũng phải kể tới Trương Mẫn, nữ diễn viên xinh đẹp này sau đó còn đóng với Châu tới 10 phim và thường xuyên thủ vai bạn gái hoặc thậm chí là vợ của Châu Tinh Trì. All for the Winner cũng chứa đựng đặc điểm nổi bật nhất của phim hài hay cách diễn hài theo kiểu Châu Tinh Trì - chọc cười khán giả bằng những câu thoại liến thoắng đôi khi chẳng ăn nhập gì với nội dung phim nhưng lại là chất kết dính cho từng cảnh phim ngắn và nhất là yếu tố gây cười cực kì hiệu quả, tất nhiên với điều kiện là khán giả phải hiểu được ít nhiều cái nền văn hóa (Quảng Đông-Hồng Kông) của những câu thoại hài hước đó. Những bộ phim hài mo lei tau (vô lý đầu) như vậy đã trở thành dòng phim duy nhất mà Châu Tinh Trì theo đuổi và hoàn thiện trong suốt 10 năm sau đó. Nhưng đó cũng là chi tiết hạn chế khiến Châu chỉ có thể nổi tiếng, cực kì nổi tiếng, trong cộng đồng nói tiếng Hoa và những nước chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc - như Việt Nam, còn với điện ảnh phương Tây thì cái tên Châu Tinh Trì chỉ được biết tới nhờ Đội bóng Thiếu Lâm (2001) - một phim cực kì ít yếu tố mo lei tau, đơn giản vì khán giả phương Tây khó lòng có thể cười trước những câu thoại đụng tới các chi tiết của một tiểu vùng văn hóa tương đối riêng biệt ở châu Á. Bên cạnh trademark này, phim của Châu cũng tạo được chỗ đứng riêng nhờ diễn xuất tỉnh rủi nhưng lại cực kì hài hước của Châu Tinh Trì cùng những chi tiết nhại lại các bộ phim, nhân vật nổi tiếng và kịch bản đơn giản về kết cấu nhưng cực kì sáng tạo về nội dung khiến khán giả không thể đoán được bộ phim sẽ diễn ra theo chiều hướng nào (và vì thế sẽ tiếp tục cười cho đến ... cuối phim).

Sau All For The Winner, Châu Tinh Trì tiếp tục khẳng định vị trí của mình qua những bộ phim mang phong cách tương tự nhưng được trau chuốt hơn để làm nổi bật khả năng diễn xuất (và chọc cười) của Châu. Đúng với phong cách "thấy bở đào mãi" của mình, Vương Tinh kết hợp Lưu Đức Hoa - ngôi sao của Thần bài bên cạnh Châu Nhuận Phát, và Châu Tinh Trì để cho ra đời Thần bài II, và sau đó đưa Châu Tinh Trì ... quay ngược lại thời gian để trở thành thần bài bên cạnh người đẹp Đại lục Củng Lợi trong God of Gamblers Part III - Back to Shanghai, một bộ phim cũng nhại lại tác phẩm lừng danh gắn với tên tuổi của Châu Nhuận Phát khác, đó là Bến Thượng Hải. Không dừng lại ở việc nhại những phim đã có tiếng tăm, "nhị Tinh" (Vương Tinh - Châu Tinh Trì) còn thành công trong những phim hài lấy đề tài hoàn toàn mới như Tricky Brains (1991, phim cuối cùng Châu hợp diễn với Lưu Đức Hoa) và đặc biệt là loạt phim hành động hài Fight Back to School (1991) do Trần Gia Thượng đạo diễn. Trong phim này, Châu Tinh Trì thủ vai một đặc cảnh (cảnh sát đặc nhiệm) được giao nằm vùng trong một trường cấp III để điều tra một vụ ăn trộm súng. Ý tưởng độc đáo - "nhét" một cảnh sát với tài nghệ siêu đẳng vào lốt một cậu học sinh cấp III đã giúp Châu tận dụng được tối đa khả năng diễn hài của mình, tung hứng với Châu như thường lệ vẫn là "cô giáo xinh đẹp" Trương Mẫn và "đồng nghiệp nằm vùng" Ngô Mạnh Đạt với vô số những cảnh quay hài hước vô cùng đáng nhớ như Châu thổi bóng bay bằng ... bao cao su hay đỡ giẻ lau bảng của giáo viên với phong cách rất ... cảnh sát. Được coi là một trong những phim "đinh" của Châu Tinh Trì trong thập niên 1990, Fight Back to School đã phá kỉ lục về doanh thu ở Hồng Kông của All For the Winner.

Fight Back to School - typo này cũng nhại lại Back to the Future thì phải

Với thành công ngày càng nở rộ của mình, Châu lại nhanh chóng phá bỏ kỉ lục doanh thu của Fight Back to School bằng một bộ phim khác - Justice, My Foot! (1992), một phim pháp đình (xử án) cổ trang (bối cảnh thời nhà Thanh) do đạo diễn lúc này còn chưa có tiếng tăm lắm Đỗ Kỳ Phong thực hiện. Thế chỗ của Trương Mẫn trong bộ phim này là Mai Diễm Phương, diễn viên uy lực hàng đầu của Hồng Kông lúc này với cách diễn có lửa (nhiều khi lấn áp cả bạn diễn nam), Ngô Mạnh Đạt cũng xuất hiện nhưng lần đầu tiên trong vai trò "đối thủ" của đại trạng sư Tống Chí Kiệt-Châu Tinh Trì. Nằm trong cơn sốt phim pháp đình thời đó của Hồng Kông - Đài Loan (với những Hồ sơ trinh sát, Hồ sơ công tố và đặc biệt là Bao Thanh Thiên), Justice, My Foot! có nội dung không thực sự đặc sắc, vẫn là phá án-bào chữa nhưng với "cái mồm" của Châu Tinh Trì thì đến con kiến cũng phải bò ra khỏi hang để mua vé xem phim với kết quả là Justice, My Foot! trở thành phim ăn khách nhất Hồng Kông năm 1992. Các phim xếp từ thứ 2 đến thứ 5 trong danh sách phim ăn khách năm đó là All's Well, Ends Well (phim mở đầu cho dòng phim "Cung hỉ phát tài" vào dịp đầu năm mới ở Hồng Kông), Royal Tramp, Royal Tramp II và Fight Back to School II, tất cả ... đều vẫn do Châu Tinh Trì đóng vai chính! Bộ đôi Royal Tramp do Vương Tinh sản xuất là môi trường không thể thuận lợi hơn cho Châu Tinh Trì "trổ tài" khi anh được giao diễn nhân vật hài hước và đặc sắc nhất trong truyện kiếm hiệp của Kim Dung - Vi Tiểu Bảo của Lộc đỉnh ký. Dù thua Justice, My Foot! về mặt doanh thu nhưng có lẽ chất lượng của Royal Tramp phải xếp trên một bậc khi Vương Tinh đã tìm được công thức tốt nhất để chuyển thể Lộc đỉnh ký lên màn ảnh lớn - Châu Tinh Trì + nhấn mạnh yếu tố hài hước + nhại phim kiếm hiệp đương thời (như Tiếu ngạo giang hồ) + dàn diễn viên nữ xinh đẹp (Trương Mẫn, Khưu Thục Trinh, Lý Gia Hân, Viên Khiết Anh và đặc biệt là Lâm Thanh Hà - vẻ đẹp ấn tượng nhất của điện ảnh Hồng Kông trong suốt mấy chục năm qua). Bên cạnh Royal Tramp, Fight Back to School II vẫn tiếp tục phong độ của phần đầu tiên và còn giới thiệu được một ngôi sao trẻ xinh đẹp và tài năng cho điện ảnh Hồng Kông - Chu Ân, truyền thống "phát hiện tài năng nữ mới" của Châu Tinh Trì bắt đầu từ chính bộ phim này.

Royal Tramp (Tân Lộc đỉnh ký) với Vi Tiểu Bảo-Châu Tinh Trì và Thần Long thánh nữ-Lâm Thanh Hà

mardi 2 février 2010

2010 Academy Awards nominations


Đến hẹn lại lên, một ngày sau khi đề cử của "giải thưởng" Mâm xôi vàng được công bố thì các ứng viên cho Oscars lần thứ 82 cũng xuất đầu lộ diện.

Như thường lệ, đỏ là dự đoán đoạt giải, xanh là hy vọng đoạt giải:

BEST PICTURE
Avatar
The Blind Side
District 9
An Education
The Hurt Locker
Inglourious Basterds
Precious
A Serious Man
Up
Up In the Air
===
The Hurt Locker và Up In the Air đang "ngon trớn" trong các lễ trao giải thì Avatar đột nhiên xuất hiện và giật luôn giải Quả cầu vàng khiến cho hạng mục này năm nay trở nên rất khó đoán. Việc nâng lên 10 đề cử cho hạng mục này rút cục không giải quyết được vấn đề gì ngoài việc một số phim tự dưng được ... đề cử cho vui, điển hình là The Blind Side. Hy vọng cho Inglourious Basterds có lẽ chỉ là 1%, 99% còn lại thì chia đều 40% cho The Hurt Locker, 35% cho Avatar và 24% cho Up In the Air.

BEST DIRECTOR
James Cameron, Avatar
Kathryn Bigelow, The Hurt Locker
Quentin Tarantino, Inglourious Basterds
Lee Daniels, Precious
Jason Reitman, Up In The Air
===
Lại một hạng mục khó đoán khác, nhưng tỉ lệ sẽ là 51% cho Bigelow và 49% cho Cameron.

BEST ACTOR
Jeff Bridges, Crazy Heart
George Clooney, Up In The Air
Colin Firth, A Single Man
Morgan Freeman, Invictus
Jeremy Renner, The Hurt Locker
===
Jeff Bridges chắc giải năm nay như Sean Penn của năm ngoái, họa chăng chỉ có Renner có cơ hội "phá đám" nhưng cũng là rất nhỏ.

BEST ACTRESS
Meryl Streep, Julie & Julia
Sandra Bullock, The Blind Side
Helen Mirren, The Last Station
Carey Mulligan, An Education
Gabourey Sidibe, Precious
===
Khó đoán hơn năm ngoái nhiều lần khi Winslet nổi bật hơn tất cả, năm nay cơ hội chia đều cho 4 người Streep, Bullock, Mirren và Mulligan nhưng Bullock đang có lợi thế với những chiến thắng ở các giải thưởng gần đây nhất.

BEST SUPPORTING ACTRESS
Penelope Cruz, Nine
Vera Farmiga, Up In the Air
Anna Kendrick, Up In the Air
Maggie Gyllenhaal, Crazy Heart
Mo’nique, Precious
===
Tuy Mo'nique đã 99% nắm chắc giải ở hạng mục này nhưng cũng phải khen ngợi bộ đôi Farmiga-Kendrick của Up In the Air và Maggie Gyllenhaal của Crazy Heart, tất cả đều đã có những vai diễn ấn tượng trong năm.

BEST SUPPORTING ACTOR
Christoph Waltz, Inglourious Basterds
Matt Damon, Invictus
Stanley Tucci, The Lovely Bones
Woody Harrelson, The Messenger
Christopher Plummer, The Last Station
===
99% cho Waltz, hạng mục này dễ đoán tương tự năm ngoái.

BEST ADAPTED SCREENPLAY
Neill Blomkamp, Terri Tatchell, District 9
Nick Hornby, An Education
Jesse Armstrong, Simon Blackwell, Armando Iannucci, Tony Roche, In The Loop
Geoffrey Fletcher, Precious
Jason Reitman, Sheldon Turner, Up In The Air
===
Có lẽ Reitman sẽ được "an ủi" bằng một Oscar ở hạng mục này.

BEST ORIGINAL SCREENPLAY
Mark Boal, The Hurt Locker
Quentin Tarantino, Inglourious Basterds
Joel and Ethan Coen, A Serious Man
Alessandro Camon and Oren Moverman, The Messenger
Bob Peterson, Pete Docter, Up
===
70% giải sẽ về tay Mark Boal của The Hurt Locker.

DOCUMENTARY FEATURE
Burma VJ
The Cove
Food Inc.
The Most Dangerous Man In America: Daniel Ellsberg and the Pentagon Papers
Which Way Home

FILM EDITING
Avatar
District 9

The Hurt Locker
Inglourious Basterds
Precious

FOREIGN LANGUAGE FILM
Ajami
El Secreto
Desus Ojos
The Milk of Sorrow
A Prophet
The White Ribbon

BEST ANIMATED PICTURE
Coraline
Fantastic Mr Fox
The Princess And The Frog
The Secret Of Kells
Up
===
Thật đáng tiếc vì Ponyo đã không có đề cử.