some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

Affichage des articles dont le libellé est 2019 film. Afficher tous les articles
Affichage des articles dont le libellé est 2019 film. Afficher tous les articles

mardi 4 mai 2021

93rd Academy Awards (2021)


Ngày 9 tháng 2 năm 2020, lễ trao Giải Oscar lần thứ 92 được tổ chức tại Los Angeles với nhiều bất ngờ như việc bộ phim Ký sinh trùng của đạo diễn người Hàn Quốc Bong Joon-ho trở thành bộ phim châu Á đầu tiên giành giải thưởng cao nhất hay việc The Irishman của huyền thoại Martin Scorsese dù được đề cử ở 10 hạng mục nhưng lại phải ra về tay trắng. Nhưng Hollywood nói riêng, và cả nền điện ảnh thế giới nói chung có lẽ không thể nghĩ được rằng bất ngờ lớn nhất sẽ đến với họ không phải trong ngày hội lớn của điện ảnh này, mà là những gì ập đến với họ trong những tháng ngày sau đó - COVID-19. 142 triệu người mắc bệnh, trên 3 triệu người thiệt mạng, COVID-19 khiến cuộc sống của người dân khắp thế giới phải ngừng trệ, biến những hoạt động giải trí tưởng chừng đơn giản nhất như đi du lịch, tham gia các lễ hội đông người trở thành điều xa xỉ ở rất nhiều quốc gia. Nằm ở đáy sâu nhất của vòng xoáy ấy chính là điện ảnh. Khi mà gần như toàn bộ hệ thống rạp phim trên toàn cầu phải đóng cửa để ngăn ngừa COVID-19 lây lan, khi mà các phim trường, các đoàn làm phim phải ngừng hoạt động vì lệnh phong toả, giãn cánh triền miên, thì điện ảnh truyền thống gần như rơi vào trạng thái tê liệt. Và như thế, suốt hơn một năm kể từ ngày đại dịch COVID bùng nổ, niềm vui của người yêu phim, của người làm nghề điện ảnh phải bó hẹp vào màn ảnh nhỏ thông qua các thương hiệu cung cấp phim trực tuyến như Netflix, như HBOMax, như DisneyNow.

COVID-19 biến cả năm 2020 và nửa đầu năm 2021 trở thành năm đại thảm hoạ ("Annus horribilis") của điện ảnh, và cũng khiến lễ trao Giải Oscar lần thứ 93 không thể diễn ra theo đúng dự định vào cuối tháng 2 năm 2021. Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Hoa Kỳ (AMPAS) đã quyết định lùi lễ trao giải lại đúng 2 tháng, và lần đầu tiên kể từ năm 1934 đến nay cho phép các bộ phim công chiếu trong 2 năm - 2020 và 2021 được phép tham gia tranh giải. Trong bối cảnh chật vật và nhiều biến cố này, buổi tối ngày 25 tháng 4 sắp tới (giờ Hoa Kỳ) có sẽ là một trong những lễ trao giải đáng nhớ nhất trong lịch sử gần 100 tuổi của giải thưởng danh giá này và là niềm hy vọng của cả Hollywood về một sự khởi đầu mới, một vận hội mới.

Tâm điểm của Giải Oscar lần thứ 93 - hạng mục Phim hay nhất hiện là cuộc cạnh tranh giữa 8 ứng cử viên là The Father, Judas and the Black Messiah, Mank, Minari, Nomadland, Promising Young Woman, Sound of Metal, và The Trial of the Chicago 7. Đây cũng chính là 8 tác phẩm có nhiều đề cử nhất tại Giải Oscar năm nay trong đó nhiều nhất là Mank của David Fincher với 10 đề cử, ít nhất là Promising Young Woman với 5 đề cử và 6 ứng viên còn lại đều có 6 đề cử ở nhiều hạng mục quan trọng. Không chỉ giống nhau về số lượng đề cử, các ứng viên của hạng mục Phim hay nhất năm nay còn đều là các tác phẩm thuộc dòng chính kịch, kinh phí thấp, lấy bối cảnh đương đại và phản ánh những suy tư, xung đột của xã hội hiện đại - trào lưu chủ đạo của điện ảnh Hollywood trong vài năm trở lại đây. Sự tương đồng về chủ đề và chất lượng ngang sức ngang tài của các bộ phim này đã khiến hạng mục Phim hay nhất năm nay trở nên có phần khó đoán. Tuy vậy, nếu để chọn lựa thì tác phẩm mô tả cuộc sống và suy nghĩ của những người vô gia cư Mỹ Nomadland có lẽ đang có ưu thế hơn cả sau khi đã chiến thắng ở hạng mục này ở cả Giải BAFTA của Viện Hàn lâm Nghệ thuật Điện ảnh và Truyền hình Anh Quốc, Giải Quả cầu vàng, và Giải của Hiệp hội nhà sản xuất điện ảnh và truyền hình Hoa Kỳ (PGA). Theo thống kê của Metacritic thì Nomadland hiện đã thu thập tới 124 điểm nhờ 34 chiến thắng, 3 lần về nhì, và 16 lần được đề cử ở hạng mục phim hay nhất trong mùa trao giải điện ảnh năm nay. Đây là số điểm bỏ xa các đối thủ tiếp theo là Minari và Promising Young Woman (cùng 55 điểm) và cho thấy ưu thế khá rõ của bộ phim thứ 3 trong sự nghiệp của Chloé Zhao. Hơn thế nữa, cũng cần nhìn nhận thẳng thắn rằng chính việc Nomadland được đạo diễn bởi một nữ đạo diễn gốc Hoa với tuổi đời còn khá trẻ (39 tuổi) cũng là một lợi thế khác của bộ phim này trong quá trình đong đếm của các thành viên AMPAS, bởi Hollywood của hiện tại với xu hướng nhập thế, góp tiếng nói vào các vấn đề xã hội - chính trị nóng bỏng của nước Mỹ hiện đại chắc chắn sẽ không thể bỏ qua việc nước Mỹ hiện đang nhức nhối với nạn phân biệt, kỳ thị người gốc châu Á và những dư âm của phong trào MeToo đòi bình quyền trên mọi phương diện cho nữ giới. 

Đối thủ nặng ký nhất của Nomadland tại hạng mục Phim hay nhất hiện đang là Minari - bộ phim với tựa đề là tên tiếng Hàn của cây cần nước, và khắc hoạ sự chặng đường hoà nhập đầy gian nan của những người nhập cư gốc Hàn Quốc tại Hoa Kỳ. Tuy xếp sau Nomadland tại phần lớn các giải thưởng lớn gần đây, và cũng chỉ mới giành một giải đáng kể là Phim nước ngoài hay nhất tại lễ trao Giải Quả cầu vàng lần thứ 78, nhưng Minari lại chính là bộ phim mang tính thời sự bậc nhất tại thời điểm này ở một Hollywood đang hướng sự chú ý tới thân phận của những người nhập cư gốc châu Á. Cộng thêm ảnh hưởng ngày càng lớn từ làn sóng văn hoá Hàn Quốc ở Hoa Kỳ mà đỉnh cao chính là chiến thắng của Ký sinh trùng tại Giải Oscar năm 2020, Minari hoàn toàn vẫn có thể tạo nên những bất ngờ vào phút cuối cùng vào ngày 25 tháng 4 sắp tới. Tuy bằng điểm với Minari trên bảng xếp hạng của Metacritic (55 điểm) cho các ứng viên hạng mục phim hay nhất nhưng có lẽ bộ phim về nạn lạm dụng tình dục phụ nữ Promising Young Woman dù có phong vị mới mẻ cũng khó lòng có khả năng cạnh tranh, và đương nhiên là xác suất giành tượng vàng Oscar của các tác phẩm có điểm thấp hơn như "he Trial of the Chicago (31), Sound of Metal (28) hay Mank (17) là còn nhỏ nhoi hơn nữa.

Tương tự như cuộc đua đến tượng vàng Oscar trong nhiều năm gần đây, Giải Oscar lần thứ 93 còn chứng kiến sự cạnh tranh giữa Nomadland và Minari ở hạng mục Đạo diễn xuất sắc nhất. Cùng là hai đạo diễn Mỹ với tuổi đời còn tương đối trẻ có gốc gác châu Á, nhưng một lần nữa nữ đạo diễn gốc Hoa của Nomadland là Chloé Zhao lại đang giành phần ưu thế trước Lee Isaac Chung - người đã viết nên kịch bản của Minari dựa trên chính những kỉ niệm thơ ấu trong một gia đình gốc Hàn định cư giữa mảnh đất Arkansas xa xôi của nam đạo diễn 42 tuổi này. Sự vượt trội của Chloé Zhao được thể hiện qua việc cô đã giành tới 47 giải đạo diễn xuất sắc nhất trong mùa giải thưởng điện ảnh năm nay, trong đó bao gồm tất cả các giải quan trọng nhất tại Giải Quả cầu vàng, Giải BAFTA, và giải của Hiệp hội đạo diễn điện ảnh và truyền hình Hoa Kỳ (DGA). Trong khi đó, các đối thủ của cô như Lee Isaac Chung hay nữ đạo diễn trẻ người Anh Emerald Fennell của tác phẩm đầu tay Promising Young Woman chỉ mới được xướng danh đúng một lần trong mùa trao giải năm nay. Hai ứng viên gạo cội hơn ở hạng mục này là Thomas Vinterberg (Another Round) và đặc biệt là tên tuổi David Fincher (Mank) thậm chí còn chưa giành được bất cứ chiến thắng nào. Một điểm đáng chú ý nữa của hạng mục này là việc nếu được xướng danh vào đêm trao giải ngày 25 tháng 4 sắp tới, Chloé Zhao sẽ trở thành nữ đạo diễn thứ hai chiến thắng ở hạng mục này sau Kathryn Bigelow - người giành Oscar năm 2009 cho The Hurt Locker.

Khó đoán hơn rất nhiều so với hai hạng mục nói trên, Giải Oscar cho nam chính xuất sắc nhất hiện vẫn có hai ứng viên ngang sức ngang tài là nghệ sĩ người Anh gốc Pakistan Riz Ahmed (Sound of Metal) và ngôi sao Báo Đen quá cố Chadwick Boseman (Ma Rainey's Black Bottom). Bằng diễn xuất ấn tượng trong vai một tay trống cả đời sống bằng âm nhạc nhưng bỗng nhiên mất hoàn toàn thính giác, Riz Ahmed đã giành tới 19 chiến thắng ở hạng mục nam chính xuất sắc nhất trong mùa giải thưởng năm nay với tổng số điểm theo thống kê điểm của Metacritic là 91 và chỉ thua duy nhất một vai diễn cũng về đề tài âm nhạc khác của Chadwick Boseman, người có 98 điểm nhờ 22 lần được xướng tên ở bục cao nhất tại các giải thưởng của mùa giải năm nay, trong đó có hai giải có giá trị dự báo quan trọng là Giải Quả cầu vàng lần thứ 78 và giải của Hiệp hội diễn viên Hoa Kỳ (SGA). Tuy Ma Rainey's Black Bottom không được đánh giá cao bằng Sound of Metal về nhiều phương diện, nhưng với việc giành được nhiều giải thưởng mang tính dự báo, và cái chết đột ngột ở tuổi 43 khiến cả Hollywood phải bàng hoàng, Chadwick Boseman nhiều khả năng sẽ vượt qua Riz Ahmed để trở thành nam diễn viên thứ hai giành tượng vàng Oscar cho nam chính xuất sắc nhất sau khi đã qua đời kể từ Peter Finch với vai diễn trong Network (1976). Nếu so với Chadwick Boseman và Riz Ahmed, thì cơ hội có lẽ không còn quá nhiều cho các ứng viên khác của hạng mục này là Anthony Hopkins (The Father), Steven Yeun (Minari) hay Gary Oldman (Mank) với tổng điểm giải thưởng giành được theo Metacritic lần lượt là 39, 27, và 12. Tuy vậy, hy vọng cũng không hẳn đã tắt cho ba nam diễn viên đã có diễn xuất hết sức đáng nhớ trong năm nay, bởi Anthony Hopkins đã bất ngờ chiến thắng ở giải BAFTA và ở tuổi 83 đang có cơ hội trở thành nam diễn viên già nhất từng được trao tượng vàng Oscar cho vai nam chính xuất sắc nhất, còn Steven Yeun nếu chiến thắng sẽ làm nên lịch sử khi là cái tên gốc Đông Á đầu tiên được xướng danh ở hạng mục này, và Oldman vốn luôn là nam diễn viên được Hollywood yêu thích với chiến thắng ở hạng mục này mới 4 năm trước nhờ vai diễn thủ tướng Anh Winston Churchill trong Darkest Hour (2017).

Cũng đang khiến giới dự đoán phải vò đầu bứt óc ở Giải Oscar năm nay là hạng mục nữ chính xuất sắc nhất khi mà Carey Mulligan (Promising Young Woman) và Frances McDormand (Nomadland) đều đã có 23 chiến thắng và 4 lần về nhì ở mùa giải năm nay với tổng điểm giải thưởng theo Metacritic lần lượt là 94 và 93 - do Mulligan nhỉnh hơn McDormand đúng một đề cử ở các giải thưởng cho vai nữ xuất sắc nhất. Quả thực, dù thể hiện hai vai diễn hết sức đối lập - với Carey Mulligan là cô gái mạnh mẽ Cassie với quyết tâm trả thù cho người bạn bị xâm hại tình dục, còn Frances McDormand là người phụ nữ trung niên Fern với tâm thế buông bỏ của một người vô gia cư rong ruổi trên khắp nẻo đường nước Mỹ, nhưng cả hai đều hết sức xuất sắc với nỗ lực nói lên những nỗi niềm chẳng mấy ai biết tới của người phụ nữ trong xã hội Mỹ hiện đại. Nếu phải lựa chọn, có lẽ chính McDormand mới là cái tên có phần nhỉnh hơn nhờ sự vượt trội của chính Nomadland trong mùa giải thưởng năm nay, và nhờ vào việc bà đã chiến thắng nữ diễn viên người Anh Carey Mulligan ngay trên chính "sân nhà" của cô tại Giải BAFTA. Nếu giành tượng vàng Oscar ở hạng mục này trong ngày 25 tháng 4 tới, McDormand sẽ có tới ba chiến thắng ở hạng mục danh giá nhà và sẽ chỉ còn xếp sau huyền thoại Katharine Hepburn về số lần giành giải. Tuy nhiên, người xem cũng không nên quên rằng hai ứng viên khác của hạng mục này là Viola Davis (Ma Rainey's Black Bottom) và Andra Day (The United States vs. Billie Holiday) cũng hoàn toàn có thể gây bất ngờ nhờ thủ vai hai huyền thoại của nền âm nhạc Mỹ là Ma Rainey và Billie Holiday, bởi Davis mới đây đã chiến thắng ở giải thưởng quan trọng mang tính dự báo SAG, còn Andra Day mới chính là người giành Giải Quả cầu vàng cho vai nữ chính xuất sắc nhất. Cái tên còn lại và cũng là trẻ nhất của hạng mục này - Vanessa Kirby (Pieces of a Woman) có lẽ cũng sẽ không quá buồn nếu không được giải, bởi cô mới ở những bước đầu chinh phục Hollywood và hoàn toàn có cơ hội vươn xa hơn, nếu không về mặt nghệ thuật thì cũng là mặt thương mại nhờ loạt phim Mission: Impossible.

Ở hạng mục Oscar cho nam phụ xuất sắc nhất, dù Paul Raci (Sound of Metal), Daniel Kaluuya (Judas and the Black Messiah), Leslie Odom Jr. (One Night in Miami), và Sacha Baron Cohen (The Trial of the Chicago 7) hiện vẫn đang bám sát nhau trên bảng thống kê điểm giải thưởng của Metacritic, thì ngôi sao của Get Out (2017) Daniel Kaluuya lại đang sở hữu ưu thế vượt trội nhờ chiến thắng ở các giải thưởng quan trọng nhất của hạng mục này ở Giải Quả cầu vàng, Giải BAFTA, và Giải SAG và sẽ nhiều khả năng tiếp nối làn sóng giành giải của các nam diễn viên người Mỹ gốc Phi ở Giải Oscar vài năm trở lại đây. Trào lưu này được thể hiện rất rõ ở chính hạng mục nam phụ của Oscar năm nay khi có tới 3/5 ứng viên là diễn viên người Mỹ gốc Phi - Daniel Kaluuya, Leslie Odom Jr., và Lakeith Stanfield (Judas and the Black Messiah). 

Tương tự như Kaluuya ở hạng mục nam phụ, nữ diễn viên 73 tuổi người Hàn Quốc Youn Yuh-jung với vai người bà ngoại lập dị trong Minari đang là ứng viên sáng giá nhất cho tượng vàng Oscar ở hạng mục nữ phụ, bởi bà đã giành tới 32 chiến thắng khác nhau của mùa giải thưởng năm nay, trong đó có hai giải rất quan trọng là BAFTA và SAG. Với tổng điểm giải thưởng theo thống kê của Metacritic lên đến 115, nữ diễn viên gạo cội với tuổi đời còn lớn hơn tuổi đời chính thức của đất nước Hàn Quốc của bà hiện đang vượt xa các đối thủ còn lại ở hạng mục này là Maria Bakalova (Borat Subsequent Movie, 76 điểm), Amanda Seyfriend (Mank, 44 điểm), Olivia Colman (The Father, 27), và Glenn Close (Hillbilly Elegy, 10). Nếu được xướng danh, Youn sẽ trở thành nữ diễn viên gốc châu Á thứ hai chiến thắng ở hạng mục này kể từ Miyoshi Umeki - nữ diễn viên người Mỹ gốc Nhật từng chiến thắng với Sayonara (1957).

Trong một năm Oscar chứng kiến sự lên ngôi của rất nhiều nghệ sĩ gốc thiểu số và nghệ sĩ nữ, hai hạng mục Kịch bản xuất sắc nhất cũng đang cho thấy ưu thế của hai nhà đạo diễn kiêm biên kịch nữ là Emerald Fennell (Promising Young Woman - hạng mục Kịch bản gốc) và Chloé Zhao (Nomadland - hạng mục Kịch bản chuyển thể). Lần lượt giành tới 22 và 18 chiến thắng ở hạng mục kịch bản trong mùa giải thưởng năm nay với hai kịch bản rất đẹp về hình tượng những người phụ nữ dù rất khác nhau nhưng đều đẹp và đáng nhớ, Fennell và Zhao đang bỏ xa các đối thủ khác ở hạng mục này trong đó có cả những nhà biên kịch hàng đầu từng giành giải Oscar như Aaron Sorkin (The Trial of the Chicago 7 - Kịch bản gốc) hay Christopher Hampton (The Father - Kịch bản chuyển thể). Không phải Sorkin hay Hampton, đối thủ lớn nhất của Fennell ở hạng mục Kịch bản gốc có lẽ lại là Lee Isaac Chung với Minari, còn chính ngôi sao phim hài Sacha Baron Cohen và các cộng sự - tác giả kịch bản Borat Subsequent Movie mới là thử thách lớn nhất của Chloé Zhao trong việc giành tượng vàng Oscar ở hạng mục Kịch bản chuyển thể xuất sắc nhất.

Nếu như năm 2020 Bong Joon-ho đã làm nên lịch sử ở giải Oscar với việc được đề cử và chiến thắng ở cả hạng mục Phim hay nhất (trong vai trò nhà sản xuất), Đạo diễn xuất sắc nhất, và Kịch bản gốc xuất sắc nhất, thì chỉ sau đó một năm Chloé Zhao đang có cơ hội vượt qua cả thành tích đó bởi nữ đạo diễn 39 tuổi quê gốc Bắc Kinh này không chỉ là nhà sản xuất, đạo diễn, biên kịch của Nomadland mà cô còn kiêm luôn vai trò dựng phim - một hạng mục Nomadland cũng được đề cử, và có nhiều cơ hội giành giải Oscar lần thứ 93. Từng được coi là một trong những chỉ dấu quan trọng nhất cho việc ứng viên nào sẽ giành tượng vàng cuối cùng cho phim hay nhất bởi cái tên nào được xướng danh ở hạng mục Biên tập phim xuất sắc nhất thường sau đó cũng sẽ chiến thắng luôn ở hạng mục Phim hay nhất, kể từ năm 2010 tới nay, hạng mục Biên tập đã không còn mang quá nhiều ý nghĩa và thường được trao cho các tác phẩm vượt trội về mặt kỹ thuật và dàn dựng nhưng lại thiếu điểm để đi đến cái đích cuối cùng như Gravity (2013), Mad Max: Fury Road (2015), hay Dunkirk (2017). Khi đối chiếu với tiêu chí này, rõ ràng Chloé Zhao không hẳn đã có nhiều cơ hội bởi Nomadland có cách kể truyện và dàn dựng tương đối dung dị nếu so với các ứng viên khác của hạng mục này như Promising Young Woman (dựng phim Frédéric Thoraval), The Trial of the Chicago 7 (Alan Baumgarten), Sound of Metal (Mikkel E.G. Nielsen), và The Father (Yorgos Lamprinos).

Ở hạng mục Quay phim xuất sắc nhất của Giải Oscar lần thứ 93, thành công vang dội của Nomadland ở mùa giải thưởng năm nay đã đem cơ hội vươn tới tượng vàng cho Joshua James Richards - nhà quay phim còn ít người biết đến tới mức chưa có bài viết trên Wikipedia tiếng Anh, bởi người cộng sự nhiều năm của Chloé Zhao đã 31 lần được bước lên bục chiến thắng ở hạng mục quay phim trong mùa trao giải năm nay, bỏ xa các ứng viên tên tuổi khác (và đều có bài trên Wikipedia tiếng Anh) như Erik Messerschmidt (Mank, 4 lần), Dariusz Wolski (News of the World), Sean Bobbitt (Judas and the Black Messiah), và Phedon Papamichael (The Trial of the Chicago 7) - đều chưa chiến thắng lần nào. 

Trong một năm của nhiều bất chắc, hãng Pixar - chủ nhân của ứng viên nặng ký nhất cho hạng mục Phim hoạt hình dài hay nhất (Soul - đạo diễn Pete Docter và Dana Murray) cũng chưa hẳn đã cầm chắc trong tay tượng vàng như một thông lệ nhiều năm ở Giải Oscar bởi năm nay Wolfwalkers cũng đã gây tiếng vang lớn về chất lượng nghệ thuật và được nhiều người coi là cơ hội để Viện Hàn lâm "sửa sai" sau khi đã bỏ qua Tomm Moore - đạo diễn của Wolfwalkers trong hai lần trước đây anh được đề cử với The Secret of Kells (2009) và Song of the Sea (2014). Có một điều thú vị là không phải ai khác ngoài Pete Docter đã lấy đi cơ hội giành tượng vàng của Moore năm 2009 với tuyệt phẩm Up. 

Ở hai hạng mục phim dài cuối cùng là Phim tài liệu dài xuất sắc nhất và Phim quốc tế hay nhất, Giải Oscar lần thứ 93 cũng đã có những ứng cử viên sáng giá, đó là Time (đạo diễn Garrett Bradley - hạng mục Phim tài liệu) và bộ phim Đan Mạch Another Round (đạo diễn Thomas Vinterberg - hạng mục Phim quốc tế). Nói về những bất công trong nền tư pháp Hoa Kỳ mà người Mỹ gốc Phi phải đối mặt suốt cả trăm năm qua, Time hiện đã có tới 69 điểm giải thưởng theo thống kê của Metacritic, vượt xa các đối thủ như Collective (45 điểm), Crip Camp (21 điểm) hay The Mole Agent (không có điểm). Đối thủ lớn nhất của Time ở hạng mục này là bộ phim lấy bối cảnh biển cả My Octopus Teacher của Pippa Ehrlich và James Reed - bộ phim đã chiến thắng bất ngờ ở Giải BAFTA. Tuy nhiên trong bối cảnh nước Mỹ đang vừa trải qua vụ xét xử mang tính thế kỉ liên quan tới cái chết của người Mỹ gốc Phi dưới tay một cảnh sát, thì Time có lẽ sẽ vẫn là cái tên được Hollywood ưu ái trong đêm trao giải ngày 25 tháng 4 tới đây. Về phần mình, do Minari đã được "đôn" thẳng lên hạng mục Phim hay nhất, bộ phim xuất sắc Another Round của ngôi sao Mads Mikkelsen và đạo diễn Thomas Vinterberg đã nghiễm nhiên trở thành ứng viên nặng kí nhất khi mà Vinterberg còn được đề cử ở hạng mục Đạo diễn xuất sắc nhất và từ lâu đã được coi là một trong những đạo diễn có tiếng nhất của Đan Mạch trong vai trò đồng sáng lập của phong trào làm phim tối giản Dogme 95 cùng với Lars von Trier. Từng vuột mất tượng vàng trong lần đề cử năm 2012 của tác phẩm xuất sắc The Hunt và không có nhiều hy vọng vượt qua Chloé Zhao ở hạng mục đạo diễn năm nay, có lẽ Thomas Vinterberg đang rất mong sẽ "phá dớp" Oscar ở hạng mục Phim quốc tế hay nhất, bởi các đối thủ khác như Collective của đạo diễn Rumani Alexander Nanau, The Man Who Sold His Skin của đạo diễn người Tunisia Kaouther Ben Hania, và Quo Vadis, Aida? của đạo diễn đến từ Bosnia và Herzegovina Jasmila Žbanić đều không gây nhiều tiếng vang trong mùa trao giải năm nay, trong khi Em của thời niên thiếu của đạo diễn Hồng Kông Tăng Quốc Tường với chất lượng vừa phải có lẽ đã đủ hài lòng với một đề cử bất ngờ ở hạng mục này. 

Hơn một năm qua điện ảnh thế giới nói chung và Hollywood nói riêng đang trải qua những thời khắc biến động và có lẽ là khó khăn bậc nhất kể từ khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc. Bởi vậy mà rất nhiều người làm nghề, cũng như các khán giả yêu điện ảnh đang hướng về lễ trao Giải Oscar lần thứ 93 vào đêm ngày 25 tháng 4 sắp tới với nhiều dự đoán và hy vọng. Dự đoán và hy vọng về việc Viện Hàn lâm sẽ trao tượng vàng cho các tác phẩm thực sự hay, thực sự phản ánh những mong mỏi, khắc khoải của xã hội hiện đại là một phần. Nhưng có lẽ một phần lớn hơn, đó là hy vọng vào việc lễ trao Giải Oscar năm nay sẽ là cột mốc đánh dấu sự kết thúc cho một Năm thảm hoạ của điện ảnh thế giới, và mở ra một giai đoạn mới với những bộ phim hay, những cơ hội quay trở lại rạp phim cho khán giả, thực hiện những bộ phim mới cho giới làm điện ảnh. Rất mong rằng dù Nomadland, Minari, hay bất cứ bộ phim nào khác sẽ được vinh danh ở thời khắc quan trọng nhất của lễ trao giải đêm ngày 25 tháng 4 sắp tới, thì điện ảnh cũng sẽ sớm quay trở lại trong thời gian gần nhất như chính ước vọng của những khán giả và người làm phim dõi theo Giải Oscar năm nay, bởi chính trong những lúc khó khăn thế này, chúng ta mới lại càng cần những bộ phim hay, những cảm hứng đến từ các rạp phim, những hy vọng và niềm tin đến từ các câu thoại phim, như cái cách Scarlett O’Hara đã nói với khán giả trong đoạn kết của "Cuốn theo chiều gió" năm nào: " Sau tất cả, ngày mai là một ngày mới". 

=====

Bản đã biên tập trên Zing.

mardi 12 janvier 2021

92nd Academy Awards

 


Ngày 9 tháng 2 sắp tới, giải thưởng điện ảnh quan trọng nhất của năm – giải Oscar sẽ được tổ chức tại Nhà hát Dolby ở Thành phố Los Angeles, Hoa Kỳ. Lần thứ hai liên tiếp, và cũng mới là lần thứ hai sau ba thập niên tổ chức giải Oscar sẽ tiếp tục không có người dẫn chương trình chính, thay vào đó Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Hoa Kỳ sẽ mời các ngôi sao điện ảnh và các nhân vật nổi tiếng khác xướng danh các đề cử và cũng như công bố giải thưởng của từng hạng mục. Tất nhiên, dù có người dẫn chương trình hay không thì cả thế giới sẽ hướng sự chú ý về lễ trao giải Oscar lần thứ 92 chủ yếu để biết được những cái tên nào sẽ được vinh danh ở từng hạng mục, và quan trọng nhất là việc bộ phim nào sẽ được tôn vinh là tác phẩm xuất sắc nhất của năm điện ảnh 2019. 

Sau vài năm xáo trộn vì xu hướng áp đảo của các tác phẩm mang thông điệp chính trị và xã hội của thời đại, đặc biệt là về các vấn đề nhức nhối của xã hội Mỹ như tệ phân biệt chủng tộc, nạn quấy rối tình dục phụ nữ, hay sự chia rẽ của chính trường Hoa Kỳ, thì dường như Hollywood của năm 2019 đã quay trở lại quỹ đạo vốn có với rất nhiều phim bom tấn, không ít phim độc lập, và không hiếm bất ngờ đến từ các nhà làm phim người nước ngoài hoặc các tên tuổi còn ít được biết tới trong các đề tài quen thuộc với người xem nhiều thập niên qua như chiến tranh, gia đình, tình yêu, và tội ác. Gương mặt 2019 này của Hollywood được phản ánh rất rõ qua những cái tên được đề cử ở hạng mục Giải Oscar cho phim hay nhất. Ở đó người xem có thể thấy một sự đa dạng hiếm thấy trong thời gian gần đây của giải thưởng này khi 9 bộ phim là đại diện cho 9 dòng phim hoặc thể loại phim tương đối khác nhau. Đó là một tác phẩm sử thi về cuộc Đại chiến lần thứ I – tác phẩm 1917 của Sam Mendes – đạo diễn từng chiến thắng ở chính hạng mục này với tác phẩm điện ảnh đầu tay American Beauty (1999). Cũng từng chiến thắng ở hạng mục Phim hay nhất và tiếp tục đua tranh ở hạng mục quan trọng nhất năm nay là huyền thoại Martin Scorsese với bộ phim dài nhất trong số các ứng viên The Irishman làm về giới xã hội đen của Hoa Kỳ những năm giữa thế kỷ trước. Năm vừa qua, Martin Scorsese đã khiến dư luận xôn xao và thậm chí đã bị không ít người chỉ trích vì cho rằng những bộ phim siêu anh hùng như của hãng Marvel không nên được coi là một trải nghiệm điện ảnh thực sự. Trớ trêu thay là trong lễ trao giải Oscar lần thứ 92 sắp tới, The Irishman sẽ phải cạnh tranh với một đối thủ nặng ký thuộc dòng phim siêu anh hùng – bộ phim Joker của đạo diễn chuyên trị phim hài Todd Phillips. Chính tác phẩm xuất sắc bậc nhất của dòng phim siêu anh hùng với trung tâm là nhân vật gã hề Joker mới lại là bộ phim nhận được nhiều đề cử nhất từ Viện Hàn lâm cho đêm trao giải sắp tới với 11 đề cử, vượt lên trên 1917, The Irishman, và tác phẩm “áp chót” trong sự nghiệp của Quentin Tarantino Once Upon a Time in Hollywood. Lấy bối cảnh là chính thủ phủ điện ảnh Hollywood trong những năm 1970, Once Upon a Time in Hollywood cũng là một ứng viên cho hạng mục Phim hay nhất. Sự đa dạng của hạng mục Phim hay nhất năm nay còn nhờ sự góp mặt của một tác phẩm lấy đề tài đua xe thể thao – bộ phim Ford v Ferrari của đạo diễn James Mangold, tác phẩm tâm lý nói về cuộc chia ly của một cặp đôi hiện đại Marriage Story của Noah Baumbach, bộ phim hài lấy bối cảnh Thế chiến thứ hai Jojo Rabbit của Taika Waititi, và lần chuyển thể thứ bảy lên màn ảnh lớn tác phẩm kinh điển Little Women – bộ phim duy nhất của một nữ đạo diễn ở hạng mục này là Greta Gerwig. 

Cái tên cuối cùng trong số 9 ứng viên – ứng viên gây ngạc nhiên nhất của hạng mục Phim hay nhất trong lễ trao giải Oscar năm nay là bộ phim đến từ Hàn Quốc Ký sinh trùng. Trong suốt lịch sử gần 100 năm của Giải Oscar, đây mới là lần thứ 11 một bộ phim không sử dụng ngôn ngữ chính là tiếng Anh được đề cử ở hạng mục cao quý nhất này. Nhưng ngạc nhiên hơn nữa là việc bộ phim mới nhất của đạo diễn tài năng Bong Joon-ho lại đang có cơ hội rất lớn để trở thành bộ phim nói tiếng nước ngoài đầu tiên giành tượng vàng Oscar quan trọng nhất bởi theo thống kê của trang web điện ảnh Metacritic thì hiện Ký sinh trùng đang vượt lên trên trong cuộc đua tới giải Oscar cho phim hay nhất sau khi đã đạt tới 88 điểm ở hạng mục này tại các giải thưởng điện ảnh trước đó nhờ vào 24 lần đứng lên bục cao nhất, bỏ xa Once Upon a Time In Hollywood (57 điểm), The Irishman (52 điểm), Marriage Story (50 điểm), và 1917 (47 điểm). Tuy nhiên, người dân Hàn Quốc cũng chưa thể chắc chắn về cơ hội ăn mừng chiến thắng mang tính lịch sử cho Ký sinh trùng, bởi tuy chỉ có 47 điểm theo tổng hợp của Metacritic, nhưng tác phẩm chiến tranh của đạo diễn Sam Mendes 1917 mới lại là tác phẩm được vinh danh Phim hay nhất tại các giải thưởng quan trọng tiền Oscar như Giải Quả cầu vàng (hạng mục phim chính kịch), giải BAFTA của Viện Hàn lâm Nghệ thuật Điện ảnh và Truyền hình Anh Quốc, và giải thưởng quan trọng nhất của Hiệp hội Nhà sản xuất điện ảnh Hoa Kỳ (PGA) và Đạo diễn điện ảnh Hoa Kỳ (DGA). Lấy đề tài chiến tranh, sử thi, dường như 1917 cũng hợp gu với các thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật điện ảnh Hoa Kỳ hơn là một tác phẩm hết sức thông minh nhưng lại đậm chất Hàn Quốc như Ký sinh trùng. Tất nhiên, những người ủng hộ Ký sinh trùng cũng có thể chỉ ra thực tế rằng tuy hai bộ phim của đạo diễn Bong Joon-ho và Sam Mendes so kè ở hầu hết các hạng mục chính, 1917 lại không có đề cử ở hạng mục Biên tập phim xuất sắc nhất như Ký sinh trùng trong khi chiến thắng ở hạng mục này lại được coi là một trong những chỉ dấu quan trọng nhất cho Phim hay nhất tại bất cứ đêm trao giải Oscar nào. Bởi vậy khán giả vẫn sẽ phải chờ đến đêm trao giải ngày 9 tháng 2 sắp tới mới có thể biết được liệu truyền thống – 1917 sẽ chiến thắng hay sự mới mẻ - Ký sinh trùng mới là cái tên lên ngôi. 

Trong số những cái tên đạo diễn kể trên, Martin Scorsese (The Irishman), Todd Phillips (Joker), Sam Mendes (1917), Quentin Tarantino (Once Upon a Time in Hollywood), và Bong Joon-ho (Ký sinh trùng) cũng là năm cái tên xuất hiện ở hạng mục ứng viên Giải Oscar cho đạo diễn xuất sắc nhất. Và cũng như ở hạng mục Phim hay nhất, đây có lẽ cũng lại là cuộc đua song mã giữa Bong – người đã giành tới 24 giải tiền Oscar và đạt 90 điểm theo thống kê của Metacritic và Mendes – người mới có 48 điểm nhưng lại chiến thắng ở nhiều giải thưởng quan trọng tiền Oscar như Giải Quả cầu vàng, Giải BAFTA, giải của Hiệp hội Đạo diễn điện ảnh Hoa Kỳ DGA. Tuy nhiên thì dù có chiến thắng hay không ở hạng mục này và hạng mục Phim hay nhất, rõ ràng Bong Joon-ho đã làm nên lịch sử cho điện ảnh Hàn Quốc khi “bắt” được công chúng Hoa Kỳ dần làm quen với các bộ phim dí dỏm, thông minh, và đậm chất Á Đông như Ký sinh trùng và giúp họ hiểu rằng văn hoá, truyền thống của một đất nước có bề dày lịch sử như Hàn Quốc hoàn toàn không chỉ dừng lại ở những ca khúc bắt mắt bắt tay của các ban nhạc k-pop như BTS, Blackpink. 

Rõ ràng hơn một chút so với cuộc đua song mã ở hạng mục Phim hay nhất và Đạo diễn xuất sắc nhất, hai hạng mục Vai nam chính và Vai nữ chính xuất sắc nhất của giải Oscar năm nay chứng kiến sự nổi trội nhất định của Joaquin Phoenix – người thủ vai gã hề Joker trong bộ phim cùng tên, và Renée Zellweger – ngôi sao trong bộ phim tiểu sử về giai đoạn cuối đời của huyền thoại Judy Garland. Từng được đề cử 3 lần ở giải Oscar và giành được vô số giải thưởng diễn xuất khác nhưng Joaquin Phoenix lại chưa từng được xướng danh ở các đêm trao giải của Viện Hàn lâm. Bởi vậy mà với diễn xuất tuyệt đỉnh sánh ngang với vai Joker từng đem lại giải Oscar cho Heath Ledger năm 2009, nhiều người hy vọng rằng Phoenix có thể phá dớp trong lễ trao giải Oscar lần thứ 92 sắp tới, nhất là sau khi nam diễn viên này đã chiến thắng ở các hạng mục tương tự của Giải Quả cầu vàng, Giải BAFTA, và giải của Hiệp hội diễn viên điện ảnh Hoa Kỳ (SAG). Trong lễ trao giải luôn có kẻ vui người buồn, và nếu Phoenix chiến thắng thì có lẽ người buồn nhất sẽ là Adam Driver – nam diễn viên đang gặt hái vô số thành công trong mùa trao giải năm nay nhờ vai diễn anh chàng đạo diễn bị vợ bỏ trong Marriage Story và thậm chí còn đang đứng trên Joanquin Phoenix theo bảng xếp hạng điểm giải thưởng của Metacritic với 95 điểm. Lần lượt với 32 và 19 điểm, có lẽ hai diễn viên gạo cội Antonio Banderas (vai Salvador Mallo trong Pain and Glory) và Leonardo DiCaprio (vai Rick Dalton trong Once Upon a Time in Hollywood) cũng không hy vọng nhiều vào cơ hội giành giải của mình. Nam diễn viên 72 tuổi Jonathan Pryce – người thủ vai Giáo hoàng Francis trong The Two Popes là cái tên cuối cùng trong số các ứng viên của hạng mục Vai nam chính xuất sắc nhất và có lẽ cũng là người có ít cơ hội nhất trong số các ứng viên của hạng mục này năm nay khi mà ông chưa giành được bất cứ giải thưởng tiền Oscar nào. 

Về phía hạng mục Vai nữ chính xuất sắc nhất, Zellweger chính là cái tên được xướng danh cùng với Phoenix ở hầu hết các giải thưởng quan trọng tiền Oscar như Giải Quả cầu vàng, Giải BAFTA, hay giải SAG. Vì vậy sẽ không ngạc nhiên khi nữ diễn viên 50 tuổi người Mỹ sẽ vượt qua các đối thủ nặng ký như Cynthia Erivo (vai Harriet Tubman trong Harriet), Scarlett Johansson (vai Nicole Barber trong Marriage Story), Saoirse Ronan (vai Josephine "Jo" March trong Little Women), và Charlize Theron (vai Megyn Kelly trong Bombshell) để giành tượng vàng thứ hai trong sự nghiệp 17 năm sau lần đầu cô chiến thắng với vai diễn phụ trong Cold Mountain (2003). Nếu kịch bản này trở thành sự thật thì sẽ thật tiếc cho ngôi sao 25 tuổi Saoirse Ronan bởi không chỉ là người trẻ nhất trong số các ứng viên của hạng mục Vai nữ chính xuất sắc nhất, cô còn được coi là ngôi sao đang lên của Hollywood với 3 đề cử Oscar chỉ trong vòng 5 năm, nhưng với số điểm giải thưởng Metacritic hiện đang tổng hợp cho cô là 22 – thua xa Nyong'o (86), Zellweger (66), và Johansson (56), thì khó có khả năng Ronan có thể “quá tam ba bận” giành được giải Oscar trong lần đề cử thứ tư của cô, bấp chấp việc vai Jo của cô trong Little Women thực sự xứng đáng là một trong những vai diễn xuất sắc nhất năm. 

Tương tự thông lệ nhiều năm, hạng mục Vai nam phụ và Vai nữ phụ xuất sắc nhất của giải Oscar năm nay có thể coi là tương đối dễ đoán định. Ở phía nam, vai diễn tay đóng thế Cliff Booth trong Once Upon a Time in Hollywood nhiều khả năng sẽ đem lại cho Brad Pitt tượng vàng Oscar thứ hai trong sự nghiệp nhưng mới là chiến thắng đầu tiên của anh ở hạng mục diễn xuất bởi Pitt được xướng tên lần đầu tiên là trong vai trò nhà sản xuất bộ phim 12 Years a Slave (2013). Theo thống kê của Metacritic, cho đến nay nam diễn viên 56 tuổi người Mỹ đã giành được tới 104 điểm giải thưởng nhờ vào việc chiến thắng ở 29 giải tiền Oscar, trong đó có cả ba giải mang tính chỉ dấu cho giải Oscar là Giải Quả cầu vàng, Giải BAFTA, và Giải SAG. Điểm chú ý duy nhất ở hạng mục không còn nhiều tính cạnh tranh này là việc Viện Hàn lâm đã lựa chọn được một dàn ứng viên hoàn toàn có thể xếp vào dạng huyền thoại với những tên tuổi đều đã giành ít nhất một giải Oscar hạng mục diễn xuất như Tom Hanks (được đề cử cho vai Fred Rogers trong A Beautiful Day in the Neighborhood), Anthony Hopkins (vai Giáo hoàng Benedict XVI trong The Two Popes), và bộ đôi của The Irishman là Al Pacino và Joe Pesci. 

Về phía hạng mục nữ phụ, Laura Dern cũng đang chiếm ưu thế vượt trội nhờ vai nữ luật sư láu cá Nora Fanshaw trong Marriage Story. Nếu giành tượng vàng ở hạng mục này, Dern sẽ vượt qua người thủ vai con gái của bà trong Little Women là Florence Pugh, nữ diễn viên có tới hai đề cử ở hạng mục diễn xuất năm nay là Scarlett Johansson (phim Jojo Rabbit) – người có tới hai đề cử giải Oscar năm nay ở cả hạng mục vai nữ chính và vai nữ phụ, ngôi sao đang lên Margot Robbie (Bombshell), và tên tuổi kì cựu Kathy Bates (Richard Jewell). Đáng ngạc nhiên là nếu nhìn vào bảng xếp hạng điểm giải thưởng của Metacritic, thì trong top 4 nữ diễn viên có điểm cao nhất ngoài Dern (84 điểm) và Pugh (49 điểm) thì có tới 2 cái tên thậm chí còn không được đề cử ở giải Oscar năm nay là Jennifer Lopez (Hustlers – 55 điểm), và Triệu Thục Trân (Farewell – 32 điểm). 

Cuộc đua đến tượng vàng cũng đã tương đối rõ ràng ở một số hạng mục điển hình như Phim quốc tế hay nhất (mới được đổi tên từ “Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất”) khi Ký sinh trùng của Bong Joon-ho tỏ ra vượt trội trong cả các giải thưởng tiền Oscar và bên ngoài phòng vé khi mà niềm tự hào mới của văn hoá Hàn Quốc đã giành hầu hết các giải tiền Oscar và nhờ đó có được số điểm vượt trội theo xếp hạng của Metacritic (123 điểm) khi so sánh với các ứng viên còn lại của hạng mục này là Corpus Christi của Ba Lan, Honeyland của Bắc Macedonia, Les Misérables của Pháp, và Pain and Glory của Tây Ban Nha. 

Một hạng mục dễ đoán định khác là giải Oscar cho quay phim xuất sắc nhất bởi Roger Deakins với những cú bấm máy dài không cắt và cách đặc tả sự đẫm máu của chiến tranh cực kì ấn tượng trong 1917 khó có thể tuột mất tượng vàng thứ hai sau 15 lần đề cử vào tay những người đồng nghiệp vốn cũng nổi tiếng không kém như Rodrigo Prieto (The Irishman), Lawrence Sher (Joker), Jarin Blaschke (The Lighthouse), và Robert Richardson (Once Upon a Time in Hollywood). 

Nhưng ngoài các hạng mục như vậy, người xem vẫn sẽ phải chờ qua ngày 9 tháng 2 sắp tới để có thể biết được Klaus hay Câu truyện đồ chơi 4 sẽ chiến thắng ở hạng mục Phim hoạt hình dài hay nhất, hay liệu huyền thoại của giới biên tập phim Thelma Schoonmaker liệu có thể một lần nữa giành giải Oscar với The Irishman ở hạng mục quen thuộc của bà – Biên tập phim xuất sắc nhất. Bên cạnh những bài diễn văn cảm động của những người lên nhận giải, thì chính những bất ngờ như vậy mới làm nên sự hấp dẫn của Giải Oscar, và trong bối cảnh bão hoà giải thưởng cũng như việc khán giả dần quay lưng với những hình thức giải trí truyền thống, thì giải thưởng lớn cuối năm này của Viện Hàn lâm thực sự cần những bất ngờ - những bất ngờ dễ chịu cho khán giả và giới thiệu cho họ những khám phá thực sự mới của Hollywood nói riêng và giới nghệ thuật điện ảnh nói chung. Sau một năm thế giới và bản thân nước Mỹ - nơi tổ chức giải Oscar đã phải chứng kiến quá nhiều tranh cãi, quá nhiều chia rẽ, quá nhiều bi kịch, quá nhiều nỗi lo, thì những tác phẩm vị nghệ thuật, vị nhân sinh mà giải Oscar giới thiệu đến với tác giả, những bất ngờ thú vị mà Viện Hàn lâm tạo ra cho người xem truyền hình, đó là những gì khán giả chúng ta nên mong đợi từ lễ trao giải Oscar lần thứ 92 diễn ra vào tối ngày 9 tháng 2 sắp tới.

========

Bài đã biên tập trên Zing.

mardi 29 décembre 2020

Diego Maradona (2019)

 


Với người hâm mộ bóng đá nói chung, Diego Maradona luôn được coi là một huyền thoại với cái chân trái huyền ảo và vô số những thành tích, kỷ lục trong lịch sử bóng đá thế giới. Nhưng với người dân Napoli - thành phố biển miền Nam nước Ý, Diego Maradona còn vĩ đại hơn thế - ông là vị Thánh cứu thế đã đưa đội bóng yêu quý của thành phố lên đỉnh cao của nước Ý và thế giới. Là lẽ sống của cả thành phố, là nguồn cảm hứng, là niềm vui cho từng trái tim Napoli trong suốt những năm đeo băng đội trưởng S.S.C. Napoli, để rồi phải cúi đầu ra đi trong sự tủi hận, câu truyện của Diego Maradona với Napoli là một trong những câu truyện giàu cảm xúc và đáng nhớ nhất trong lịch sử bóng đá thế giới, nhưng với người yêu bóng đá nói chung, và đặc biệt là những người trẻ của thiên niên kỷ mới vốn lớn lên với một vầng hào quang mới của bóng đá Argentina - Lionel Messi, thì những cung bậc cảm xúc khó tả của bóng đá Argentina, bóng đá Ý, và bóng đá Napoli thập niên 1980, nguồn cội của sự chia ly giữa Maradona và Napoli, và điểm bắt đầu cho sự sụp đổ của một tượng đài bóng đá như Diego vẫn là một thứ gì đó thực sự mới mẻ. 

Diego Maradona - bộ phim tài liệu mới nhất của đạo diễn người Anh Asif Kapadia chính là lời đáp cho những câu hỏi đó của người hâm mộ bóng đá. Lấy tư liệu từ trên 500 giờ phim chưa từng được công chiếu, Diego Maradona đã đem tới cho người xem một cái nhìn toàn diện về Diego Maradona, từ một cậu nhóc với tài chơi bóng bẩm sinh trên những đường phố của vùng ngoại ô Buenos Aires với ước mơ dùng đôi chân kiếm tiền cải thiện cho cuộc sống khó khăn của gia đình, cho tới một thiên tài trẻ tuổi với khả năng chơi bóng, kiểm soát bóng, và điều khiển trận đấu khiến bất cứ đội bóng nào cũng phải thèm khát, và tất nhiên là cả hình ảnh Diego trong những năm tháng đỉnh cao với màu áo của đội tuyển Argentina và S.S.C. Napoli khi ông sống trong vinh quang sân cỏ, xa hoa phú quý của tiền bạc và ma tuý, và sự soi mói của giới truyền thông cũng như người hâm mộ. 

Asif Kapadia là một cái tên không hề xa lạ với cả giới điện ảnh và người yêu thể thao bởi ông từng giành rất nhiều giải thưởng lớn với bộ phim tài liệu xuất sắc Senna (2010) về huyền thoại của đường đua công thức 1 Ayrton Senna. Ngay sau Senna, Asif Kapadia còn thực hiện một bộ phim tài liệu tiểu sử hết sức thành công khác - Amy (2015) về cuộc đời cô ca sĩ tài hoa nhưng yểu mệnh Amy Winehouse. Chiến thắng giải BAFTA cho phim tài liệu xuất sắc nhất với Senna, và giải Oscar ở cùng hạng mục cho Amy, Kapadia đã chứng minh được rằng bản thân cuộc đời, bản thân góc khuất của những thiên tài yểu mệnh đã là quá đủ để làm nên một câu truyện điện ảnh xuất sắc, những người như Ayrton Senna, hay Amy Winehouse chẳng cần thêm bất cứ thủ pháp kịch tính hoá hay tô hồng nào thêm để người xem nhớ đến họ, cảm nhận được một phần ước mơ, suy tư của họ. Kapadia tiếp cận Diego Maradona theo một cách tương tự. Dù không ra đi ở cái tuổi rất trẻ khi đang ở trên đỉnh cao sự nghiệp như Senna hay Amy, nhưng Diego Maradona có một câu truyện cũng giàu cảm xúc không kém bởi ông có một cuộc đời áo số đầy thăng trầm, trong đó đặc biệt phải kể tới những năm tháng bão tố khi Diego vừa muốn cống hiến cho thành phố yêu quý Napoli nhưng cũng phải sẵn sàng quay lưng với nước Ý để chiến đấu cho tổ quốc Argentina trên đấu trường World Cup. Chẳng cần nhiều dẫn dắt trong vai trò một người kể chuyện, Asif Kapadia đã để chính những hình ảnh tư liệu, những lời bộc bạch của Maradona vẽ lại từng bước đường đời của người danh thủ và thuật lại cho khán giả vô số những mâu thuẫn trong cuộc đời của Diego. Dành tình yêu vô tận cho gia đình từ thủa bé nhưng sẵn sàng từ chối nhận cậu con trai ngoài giá thú, có tài năng thiên bẩm với bóng đá đẹp nhưng cũng chẳng ngần ngại kết thân với giới mafia, trân quý tình cảm của người hâm mộ bóng đá Napoli nhưng căm ghét đến tận xương tuỷ sự soi mói của công chúng, Diego Maradona là một con người của những mâu thuẫn - những mâu thuẫn được Asif Kapadia lặp đi lặp lại xuyên suốt chiều dài 130 phút của bộ phim tài liệu mới nhất của ông. Đi sâu vào đời tư và các góc khuất của Maradona qua rất nhiều thước phim từ chính chiếc máy cầm tay của Diego và người vợ cũ Claudia, nhưng Kapadia cũng không quên nhắc nhớ người xem về bối cảnh lịch sử và xã hội chung đã tạo nên một huyền thoại mang tên Maradona. Có thể kể tới việc Kapadia lồng thất bại của Argentina trong cuộc chiến giành lại hòn đảo Falklands từ tay người Anh bên cạnh những thước phim về hai bàn thắng đã đi vào lịch sử của Maradona, đặc biệt là bàn thắng "Bàn tay của Chúa", trong chiến thắng của tuyển Argentina trước tuyển Anh tại World Cup 1986 để nhấn mạnh với khán giả rằng đây không chỉ là một chiến thắng mở đường cho Argentina của đội trưởng Maradona tới Cúp Vàng, mà còn là sự động viên tinh thần lớn lao, là niềm tự hào cho cả đất nước Argentina - một sự động viên chỉ Maradona mới có thể đem lại. Cũng chính nhờ cách tiếp cận tương tự, Kapadia đã giúp người xem hiểu được rằng tại sao Maradona - từ vị thế của một Thánh bóng đá ở xứ Napoli, lại bị người dân Napoli quay mặt sau World Cup 1990 bởi họ có thể tha thứ cho các bê bối đời tư của Diego nhưng không bao giờ có thể tha thứ một cầu thủ đã "dám" đánh bại nước Ý trên chính sân nhà, trong giải đấu quan trọng nhất của đất nước vốn ham mê bóng đá chẳng kém gì Argentina này. 

Nếu so với một bộ phim tài liệu tiểu sử xuất sắc khác về cuộc đời Maradona là Maradona by Kusturica (2008) của đạo diễn người Serbia Emir Kusturica thì Diego Maradona của Asif Kapadia có lẽ chưa vẽ được một bức tranh thực sự tổng thể về cuộc đời Diego bởi tác phẩm mới của đạo diễn người Anh không đề cập tới những năm tháng hậu sân cỏ của Diego, hay có những chia sẻ, suy nghĩ của chính Diego và những cái tên đã gắn liền với cuộc đời anh như người vợ cũ Claudia. Nhưng với bất cứ người mộ điệu điện ảnh hay thể thao nào, Diego Maradona vẫn thực sự là một bộ phim tài liệu hay, và chân thực về cuộc đời của một cầu thủ vĩ đại. Bởi qua Diego Maradona, người xem lại càng hiểu được tại sao sau vô số những bê bối đời tư hay rắc rối với luật pháp, Maradona lại vẫn là một huyền thoại. Đơn giản là vì trong suốt cuộc đời mình, Maradona chưa bao giờ mất đi tình yêu chân thành, thậm chí là có đôi chút ngây thơ với trái bóng, và đã luôn cố gắng hết sức để có được những pha bóng đẹp, có được những vinh quang trên sân cỏ, có được những câu truyện đầy cảm hứng về nỗ lực không ngừng nghỉ để vươn tới đỉnh cao bất chấp khó khăn từ mọi phía. Với Maradona, bóng đá là cuộc đời, nhưng cũng bởi thế cuộc đời ông có quá nhiều khúc quanh chẳng thể ngờ tới. Với người hâm mộ, Maradona là hiện thân cho tình yêu bóng đá, và cũng là bài học cảnh giác về cách bất cứ mộ thiên tài nào cũng có thể rơi từ đỉnh cao xuống vực sâu bởi cám dỗ, bởi sự trớ trêu của số phận. Xin cảm ơn Asif Kapadia vì một tác phẩm hay về Maradona, và xin cảm ơn Maradona, vì tất cả.

=====

Bài đã biên tập trên Zing.

lundi 17 février 2020

Parasite (2019) - How does its win affect Korea?



Với những khán giả yêu điện ảnh thế giới nói chung, chiến thắng ngày vang dội của đạo diễn Bong Joon-ho và bộ phim mới nhất của ông Ký sinh trùng trong Lễ trao giải Oscar lần thứ 92 ngày hôm qua với 4 tượng vàng, trong đó có tượng vàng quan trọng nhất ở hạng mục Phim hay nhất chắc chắn là một tin vui không chỉ vì Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật điện ảnh Hoa Kỳ đã vinh danh cách làm phim thông minh, phi truyền thống theo màu sắc rất Hàn Quốc thay vì lựa chọn thông thường với các bộ phim sử thi về chiến tranh, về xã hội, về lịch sử nước Mỹ như 1917, Marriage Story, hay The Irishman. Nhưng với đất nước Hàn Quốc, có lẽ đây là một thời khắc lịch sử mà không chỉ giới điện ảnh, mà cả xã hội Hàn Quốc đã mong chờ từ rất lâu sau vô số những nỗ lực vượt bậc từ kinh tế tới văn hoá. Dù Samsung từ lâu đã sánh vai với Apple trong thị trường hàng tiêu dùng điện tử, những chiếc xe Hyundai hay Kia đang lăn bánh ngày một nhiều trên mọi nẻo đường từ châu Âu tới nước Mỹ, nhưng cả giới lãnh đạo và người dân Hàn Quốc từ rất lâu vẫn tin rằng đất nước Hàn Quốc chỉ có thể thực sự sánh vai cùng các cường quốc trong khu vực – đặc biệt là với người hàng xóm Nhật Bản khi mà nền văn hoá, những giá trị truyền thống của đất nước này được thế giới biết đến, tôn trọng, và yêu thích.

Trong lĩnh vực âm nhạc, tham vọng này của Hàn Quốc được thể hiện rất rõ qua việc xuất khẩu dòng nhạc k-pop với những giai điệu bắt tay và các nhóm nam, nhóm nữ có vẻ ngoài cũng như kỹ năng nhảy hoàn hảo. Sau gần một phần tư thế kỷ, chiến lược dài hạn này của Hàn Quốc đã giúp “Làn sóng Hàn” hay “Hàn lưu” (Hallyu) có được vị trí vững chắc ở khắp khu vực Đông Á, Đông Nam Á và Trung Cận Đông. Tưởng như ca khúc Gangnam Style của Psy đã là đỉnh cao của Hallyu khi trong một thời gian ngắn trở thành ca khúc nổi bật nhất Internet với cả tỷ lượt xem trên YouTube. Nhưng kể từ khi nhóm nhạc nam BTS công phá thành công thị trường Hoa Kỳ từ khoảng 3 năm trở lại đây, thì k-pop từ một thể loại nhạc chỉ chiếm thiểu số nay mới thực sự có được chỗ đứng vững chắc ở các thị trường lớn của Mỹ - Âu với rất nhiều cái tên thường xuyên xuất hiện trên truyền hình Hoa Kỳ hay bán sạch vé ở các đêm nhạc tổ chức tại sân vận động với hàng vạn người xem như BTS, Blackpink, NCT 127.

Nhưng k-pop xét cho cùng với người dân Hàn Quốc chỉ là nhạc giải trí thuần tuý. Ngay ở chính Hàn Quốc thì các ngôi sao k-pop cũng không hẳn đã được người dân Hàn Quốc nâng niu như những ngôi sao opera và nhạc cổ điển như Jo Sumi, Kun-Woo Paik và chỉ đến khi BTS gây dựng được tên tuổi tại thị trường Hoa Kỳ thì cả chính phủ và người dân Hàn Quốc mới thực sự nhận ra rằng hoá ra k-pop hoàn toàn có khả năng đem quyền lực mềm của đất nước này lan toả đến mọi ngóc ngách của thế giới. Nhưng với một quốc gia coi trọng danh hiệu và thể diện như Hàn Quốc, thì thành công của BTS với giới trẻ toàn cầu chưa hẳn đã là đủ bởi họ chưa đem về được cho đất nước này những giải thưởng tầm cỡ như Giải Grammy trong âm nhạc hay giải Man Booker Quốc tế trong văn học – giải thưởng mà nữ nhà văn được Hàn Quốc coi là “quốc bảo” Han Kang đã giành được vào năm 2016. Điện ảnh chính là lĩnh vực người Hàn đặt rất nhiều niềm tin trong vòng ba thập niên qua trong khía cạnh này, đặc biệt là từ khi Oldboy của đạo diễn Park Chan-wook giành được Giải thưởng lớn – giải thưởng cao quý thứ hai của Liên hoan phim Cannes năm 2003. Nhưng trong suốt gần hai thập niên kể từ sau thành công của Oldboy, điện ảnh Hàn ở tầm quốc tế cũng chỉ có được một số thành tựu trong việc “xuất khẩu” các đạo diễn hàng đầu của họ sang Hollywood như Park Chan-wook, Bong Joon-ho, hay Kim Jee-woon với các sản phẩm dù không thất bại nhưng cũng không đạt được quá nhiều tiếng vang. Đỉnh cao nhất trong các nỗ lực của các nhà làm phim Hàn có lẽ là giải Sư tử vàng – giải cao quý nhất tại Liên hoan phim Venice của đạo diễn Kim Ki-duk cho bộ phim Pietà. Tuy nhiên với tính cách không được lòng người Hàn, lại là tác giả của nhiều bộ phim gây tranh cãi, trong đó có Pietà, chẳng mấy người Hàn Quốc cảm thấy vui vì chiến thắng của đạo diễn dị nhân Kim Ki-duk. 

“Ký sinh trùng” là một trường hợp rất khác. Đạo diễn Bong Joon-ho và nam diễn viên chính của phim Song Kang-ho từ lâu đã được coi là đạo diễn và diễn viên “quốc dân” của người Hàn với rất nhiều những bộ phim ăn khách như The Host (2006). Phim của Bong, do Song đóng chính luôn được lòng người Hàn vì đậm chất Hàn Quốc, nói rất nhiều về lịch sử, văn hoá, và những khía cạnh sâu thẳm trong lòng người dân đất nước này với các tác phẩm xuất sắc như Memories of Murder (2003), The Host và Mother (2009). Ký sinh trùng – một bộ phim đặc chất Bong Joon-ho đã làm nên lịch sử khi giành cả giải Cành cọ vàng đầu tiên cho Hàn Quốc tại Liên hoan phim Cannes và bây giờ là giải Phim hay nhất tại giải Oscar – chiến thắng đầu tiên của một bộ phim nói tiếng nước ngoài trong lịch sử 92 năm của giải thưởng này - kỳ tích mà chưa một cường quốc điện ảnh Á Đông hay châu Âu nào làm được, kể cả người hàng xóm Nhật Bản. 

Người Hàn Quốc hẳn đang rất tự hào vì Ký sinh trùng. Không chỉ bởi tác phẩm này đã giới thiệu được chất Hàn Quốc đậm đặc trong điện ảnh đến với công chúng thế giới để họ không chỉ yêu thích mà còn thấy trân trọng. Hơn thế, tượng vàng Oscar này của Ký sinh trùng đã tiếp thêm cho Hàn Quốc niềm tin rằng họ thực sự đã sánh vai được với các cường quốc văn hoá khác trên thế giới, và Làn sóng Hàn – quyền lực mềm của đất nước Hàn Quốc sẽ không chỉ là một hiện tượng nhất thời mà sẽ có chỗ đứng vững bền trong đời sống tinh thần của người dân nhiều nước – điều mà khi bắt đầu dân chủ hoá những năm đầu thập niên 1980 những người Hàn Quốc lạc quan nhất có lẽ cũng không thể nghĩ tới. 

=========

Parasite (2019) - Tại sao, Oscar?



Một bên là tác phẩm sử thi về “Cuộc chiến vĩ đại” – Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đến từ vị đạo diễn người Anh từng giành giải Oscar cho phim hay nhất ngay với tác phẩm đầu tay và được quay bởi một trong những tên tuổi quan trọng nhất của giới quay phim Hollywood. Một bên là một bộ phim của Hàn Quốc, lấy bối cảnh Hàn Quốc, sử dụng tiếng Hàn, đến từ một đạo diễn chưa từng bao giờ được đề cử ở giải Oscar. Liệu tác phẩm nào trong số này sẽ là người chiến thắng trong các giải thưởng “Phim hay nhất” của mùa giải thưởng điện ảnh 2019? Với cái gu trao giải vốn có của giới điện ảnh Âu – Mỹ, có lẽ nhiều người sẽ lựa chọn tác phẩm đầu tiên, và thực tế cũng đã cho thấy rằng tác phẩm này – bộ phim 1917 của đạo diễn người Anh Sam Mendes đã vượt qua bộ phim Hàn Quốc Ký sinh trùng ở gần như toàn bộ các giải thưởng tiền Oscar quan trọng nhất như Giải Quả cầu vàng, Giải BAFTA của Viện Hàn lâm Nghệ thuật Điện ảnh và Truyền hình Anh Quốc, giải Phim hay nhất của Hiệp hội các nhà sản xuất điện ảnh Hoa Kỳ (PGA). Bởi thế mà không chỉ người hâm mộ và các nhà báo về điện ảnh, mà đến chính giới cá cược cũng không đánh giá cao Ký sinh trùng bằng 1917 trong cuộc đua tới giải thưởng quan trọng nhất năm của điện ảnh thế giới – Giải Oscar cho phim hay nhất. Theo trang tổng hợp cá cược Vegas Insider, nếu đặt cược 100 đô la Mỹ vào việc 1917 giành giải thì bạn sẽ chỉ có thêm được 20 đô la Mỹ nếu bộ phim này thực sự chiến thắng, còn nếu Ký sinh trùng là lựa chọn đúng của bạn, thì 100 đô la đặt cược sẽ mang lại cho bạn tới 300 đô la Mỹ. 

Vậy mà bất chấp mọi dự đoán và lịch sử trao giải của chính giải Oscar, Ký sinh trùng của đạo diễn người Hàn Quốc Bong Joon-ho đã vượt qua 1917 để trở thành tác phẩm nói tiếng nước ngoài đầu tiên giành được Giải Oscar cho phim hay nhất – một kỳ tích mà 10 tác phẩm nói tiếng nước ngoài khác từng được đề cử ở hạng mục này không thể làm được dù cho đó là những tác phẩm thuộc dạng kinh điểm của điện ảnh thế giới như La Grande Illusion (1938) và Z (1969) của Pháp, Life Is Beautiful (1998) của Ý, hay Ngọa Hổ Tàng Long (2000) của Đài Loan. Điều gì đã làm nên thành công bất ngờ của Ký sinh trùng? Trước tiên bất ngờ này có thể đến từ chính Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật điện ảnh Hoa Kỳ (AMPAS) – cơ quan chủ quản của Giải Oscar. Sau vài năm liên tục nhức đầu vì việc phải lựa chọn các tác phẩm “vị nghệ thuật” hay “vị nhân sinh” trong bối cảnh xã hội và chính trị nước Mỹ có nhiều biến động và chia rẽ, có lẽ bản thân các thành viên của Viện Hàn lâm – những người được quyền bỏ các lá phiếu cuối cùng chọn phim chiến thắng cũng muốn tìm kiếm một cái gì đó mới mẻ từ các cái tên tranh giải, đặc biệt là sau một năm giải Oscar gây thất vọng lớn cho công chúng với việc chọn Green Book (2018) – một tác phẩm không nổi trội nhưng lại phù hợp với các trào lưu đòi bình quyền đang diễn ra sôi nổi ở Hoa Kỳ làm cái tên chiến thắng cuối cùng. Nếu so với bộ phim xuất sắc nhưng rất “truyền thống” là 1917 thì rõ ràng Ký sinh trùng quá sức mới mẻ với cách tiếp cận thông minh, giàu chất ẩn dụ về một vấn đề xã hội mang tính phổ quát – mâu thuẫn giai cấp trong một xã hội tư bản hiện đại và thịnh vượng. Hơn thế nữa, nếu chưa từng xem các tác phẩm tiêu biểu của dòng phim trinh thám và film noir Hàn Quốc như The Quiet Family (1998) của Kim Jee-woon hay Memories of Murder (2003) của chính Bong Joon-ho, hẳn nhiều thành viên của AMPAS cũng cảm thấy bất ngờ với cách xây dựng nhân vật và tạo dựng kịch tính của truyện phim thông qua vô số nút thắt mở không ai có thể lường trước của đạo diễn 50 tuổi người miền Nam Hàn Quốc. Tính mới chính là thế mạnh vượt trội của Ký sinh trùng so với cả 8 tác phẩm nghiêm cẩn nhưng không quá đột phá của hạng mục Phim hay nhất giải Oscar năm nay, và có lẽ chính tính mới này đã đẩy cán cân ủng hộ của AMPAS nghiêng về phía tác phẩm của đạo diễn Bong Joon-ho trong những phút cuối cùng. Ở đây, khán giả cũng có thể phỏng đoán rằng việc trao giải thưởng lớn nhất cho một tác phẩm phần nào đó đại diện cho cộng đồng thiểu số trong xã hội Mỹ - những người gốc Á như Ký sinh trùng cũng là một quyết định hợp lòng của AMPAS trong bối cảnh dù đã rất cố gắng nhưng đến tận lễ trao giải năm nay giải Oscar vẫn bị chỉ trích là “toàn da trắng”, “toàn nam giới” – “thương hiệu” mà không thành viên nào của Viện Hàn lâm còn muốn dính dáng trong bối cảnh giới điện ảnh Hollywood luôn là những người đi đầu trong các phong trào xã hội hiện đại của Hoa Kỳ.

Lời giải thích thứ hai cho chiến thắng đầy ngạc nhiên của Ký sinh trùng có lẽ nằm ở ảnh hưởng ngày càng lớn của văn hóa Hàn Quốc trên thế giới nói chung và trong chính lòng nước Mỹ nói riêng. Ở mặt trận điện ảnh, Hàn Quốc là một trong những quốc gia “xuất khẩu” đạo diễn hàng đầu ở Hollywood với việc bộ ba Park Chan-wook, Bong Joon-ho, và Kim Jee-won – những đạo diễn có cách làm phim hết sức hiện đại sau khi gây dựng được sự nghiệp ở quê hương đã dần tạo được tên tuổi ở xứ cờ hoa sau những thành công nhất định cả về mặt nghệ thuật và doanh thu. Sau khi giành Giải thưởng lớn tại Liên hoan phim Cannes – một trong những giải thưởng điện ảnh lớn nhất của Hàn Quốc ở tầm quốc tế với Oldboy (2003), Park Chan-wook đã lấn sân sang Hollywood với tác phẩm nói tiếng Anh, sử dụng các ngôi sao Hollywood là Stoker (2013) trước khi quay trở về Hàn Quốc thực hiện bộ phim đậm chất Hàn The Handmaiden nhưng vẫn được công chúng Mỹ hết sức yêu thích. Bậc thầy phim xã hội đen Hàn Quốc Kim Jee-woon sau khi cho ra đời một loạt các tác phẩm “toàn Hàn Quốc” được người yêu điện ảnh hành động ca ngợi như A Bittersweet Life (2005) và I Saw the Devil (2010) cũng được hãng Lionsgate tín nhiệm giao đạo diễn bộ phim hành động The Last Stand với sự xuất hiện của hai ngôi sao Arnold Schwarzenegger và Johnny Knoxville. “Đi sau” nhưng lại “đến đích trước”, Bong Joon-ho sau nhiều năm được coi là ông vua phòng vé của Hàn Quốc với Memories of Murder (2003) và The Host (2006) mới bắt đầu tạo dựng tên tuổi của mình ở các liên hoan phim quốc tế với với Mother (2009) và sau đó 10 năm là Ký sinh trùng – tác phẩm giành về cho Hàn Quốc Giải Cành cọ vàng đầu tiên tại Liên hoan phim Cannes. Sau khi hợp tác với Park Chan-wook trong tác phẩm hành động lấy bối cảnh thời hậu tận thế Snowpiercer (2013) – bộ phim tương đối thành công về doanh thu và gây ảnh hưởng tới mức một loạt phim truyền hình cùng tên lấy cảm hứng từ bộ phim này sẽ được hãng TNT của Hoa Kỳ phát trong năm 2020, Bong Joon-ho đã được hãng Netflix mời thực hiện bộ phim khoa học giả tưởng Okja (2017) – một trong những tác phẩm gốc được đánh giá cao của Netflix. Khác với những cái tên gốc Hàn nhưng tạo dựng tên tuổi hoàn toàn ở Hoa Kỳ như Jennifer Yuh (đạo diễn của Kung Fu Panda 2, Kung Fu Panda 3, và The Darkest Minds), Steven Yeun (ngôi sao gắn liền với thành công của The Walking Dead), hay Sandra Oh (tên tuổi lớn của loạt phim truyền hình Grey's Anatomy), Park Chan-wook, Bong Joon-ho, hay Kim Jee-won theo thời gian đã làm được một kì tích đó là giúp công chúng Hoa Kỳ - những người vốn không thực sự cởi mở với các tác phẩm nghệ thuật mang đậm chất địa phương của các quốc gia khác dần cảm và hiểu được chất Hàn Quốc trong các bộ phim dù là sản xuất ở Hàn Quốc hay Hoa Kỳ của các đạo diễn này. Thất bại toàn diện năm 2013 của đạo diễn tên tuổi Spike Lee khi cố làm lại Oldboy của Park Chan-wook lại càng cho người Mỹ thấy rằng cái chất Hàn Quốc, cái chất Á Đông không phải là thứ dễ dàng “làm lại” hay mô phỏng nếu thiếu sự thấu hiểu, sự tinh tế vốn đã ăn vào máu của những người Hàn Quốc 100% như Park, như Bong, như Kim. Bởi vậy sẽ là không ngoa khi đưa ra nhận xét rằng thành công hiện tại của Ký sinh trùng chính là đỉnh điểm thăng hoa của một quá trình tích lũy lâu dài đến từ bộ ba Park Chan-wook, Bong Joon-ho, và Kim Jee-won tương tự như cái cách “Ba người bạn Mexico” Alfonso Cuarón, Alejandro González Iñárritu và Guillermo del Toro đã chinh phục Hollywood trong vòng 3 thập niên trở lại đây.

Cuối cùng, dù tương đối khác nhau nhưng giới quan sát vẫn hoàn toàn có thể sự trùng lặp giữa việc Ký sinh trùng gây tiếng vang cả trong phòng vé (doanh thu bộ phim trên toàn thế giới đã lên tới trên 160 triệu, trong đó có trên 35 triệu đến từ thị trường Mỹ - con số kỷ lục cho một tác phẩm Hàn Quốc) và trong cuộc đua giành giải thưởng điện ảnh với sự lên ngôi của các ban nhạc k-pop thuộc Làn sóng văn hóa Hàn (Hallyu) ở Hoa Kỳ và trên thế giới mà tiêu biểu là BTS. Sau nhiều thập niên chỉ làm mưa làm gió ở thị trường châu Á, BTS kể từ vài năm trở lại đây đã mở ra cánh cửa cho các bạn nhạc k-pop chiếm lĩnh thị trường nhạc trẻ Âu – Mỹ nhờ những giai điệu bắt mắt và kỹ năng nhảy tuyệt hảo. Dù các thành viên của AMPAS có lẽ không còn ở độ tuổi khán giả của BTS hay Blackpink, nhưng việc gương mặt đẹp và tên tuổi của những RM, Jungkook (thành viên BTS), Jennie (thành viên Blackpink), hay Taeyong (thành viên NCT 127) liên tục xuất hiện trên truyền hình và truyền thanh Hoa Kỳ cũng phần nào đó tạo sự thiện cảm nhất định của công chúng Mỹ nói chung – trong đó có các thành viên của AMPAS với văn hóa đại chúng Hàn Quốc.

Vì AMPAS không công khai lý do hay số lượng các phiếu bầu cho từng ứng viên của hạng mục Phim hay nhất, nên chúng ta sẽ không bao giờ thực sự giải thích được tại sao Ký sinh trùng từ một ẩn số lớn lại biến thành thắng lợi lịch sử của điện ảnh Hàn Quốc tại lễ trao Giải Oscar lần thứ 92 như vậy. Nhưng có một điều chắc chắn rằng thắng lợi này của Ký sinh trùng và của đạo diễn Bong Joon-ho sẽ tạo cơ hội cho giới làm điện ảnh của châu Á tiếp tục tiếp cận Hollywood và công chúng Mỹ bằng chính phong cách đậm chất địa phương của họ - thay vì phải Mỹ hóa hoàn toàn như Lý An đã làm trong thập niên 1990. Chúng ta hoàn toàn có thể hy vọng rằng trong thời gian tới đây, Hollywood sẽ giới thiệu tới công chúng Mỹ và thế giới những tác phẩm thực sự mang phẩm chất Á Đông nhưng vẫn kể được những câu truyện mang tính phổ quát như cách “Ký sinh trùng” đã làm nên lịch sử ngày 9 tháng 2 năm 2020 vừa qua.

=======

lundi 10 février 2020

Little Women (2019)


Trong những năm những người đàn ông khoác áo lính của Liên bang miền Bắc và Liên minh miền Nam đang giao tranh quyết liệt trên các chiến trường đẫm máu của cuộc Nội chiến Hoa Kỳ, thì tại thị trấn nhỏ Concord bang miền Bắc Massachusetts, gia đình nhà March hoàn toàn là một thế giới thu nhỏ của những người phụ nữ nhỏ bé. Đó là bà Marmee March (Laura Dern), người phụ nữ hiền hậu và đảm đang một nách phải quản bốn cô con gái đang trong độ tuổi mới lớn, đồng thời vẫn phải quán xuyến mọi việc trong nhà và tham gia các hoạt động xã hội với hy vọng ông March (Bob Odenkirk) sẽ trở về với vợ và con gái sau khi chiến trường tắt tiếng súng. Bốn cô con gái của vợ chồng ông March là bốn tính cách hoàn toàn trái ngược. Chị cả Margaret "Meg" (Emma Watson) dịu dàng với vẻ đẹp của một cô thiếu nữ mới lớn và mong ước được trở thành một phần của giới nghệ sĩ và thượng lưu thông qua việc tìm được một tấm chồng “đáng giá” trong những buổi khiêu vũ dành cho các cô gái trẻ. Hoàn toàn trái ngược với chị gái, cô con gái thứ hai của nhà March là Josephine "Jo" (Saoirse Ronan) lại sở hữu tính cách mạnh mẽ, bướng bỉnh nhất quyết không chịu nhún nhường trước bất cứ ai nhưng lại sẵn lòng đặt cả trái tim và khối óc vào những trang viết như một nhà văn nữ thật sự. Không đam mê viết lách, cô con gái thứ ba của nhà March là Amy (Florence Pugh) với năng khiếu vẽ bẩm sinh lại nuôi trong mình ước mộng được trở thành một hoạ sĩ đại tài bất chấp việc cô gái mới vừa qua tuổi dậy thì luôn chịu lép vế trước hai cô chị nhiều máu nghệ sĩ Meg và Jo. Không rõ có phải được sinh ra cuối cùng sau ba người chị gái có tính cách mạnh mẽ, mà cô út Elizabeth "Beth" (Eliza Scanlen) lại là người ít nói, bẽn lẽn nhất dù là người sở hữu ngón tay điêu luyện nhất trên những phím đàn. Dù cuộc sống thời chiến có vất vả giữa vùng quê lạnh lẽo xứ New England, nhưng tình yêu thương và niềm tin vào cuộc sống giúp gia đình nhà March có một cuộc sống yên bình, hạnh phúc tưởng chừng không gì chia cắt. 

Bảy năm sau những ngày hoa mộng ấy, Jo xuống Thành phố New York để kiếm tìm cơ hội với ngòi bút – một thử thách chẳng hề dễ dàng trong một xã hội dù đã có chút hiện đại nhưng vẫn còn đầy ắp định kiến và tâm lý trọng nam khinh ngữ, đặc biệt là trong những lĩnh vực đòi hỏi tính sáng tạo, và sự độc lập, như nghề viết. Dù có những người bạn tốt như anh chàng “giáo sư” người Pháp Friedrich Bhaer (Louis Garrel) luôn sẵn lòng ở bên cô trong lúc khó khăn, nhưng sự khốc liệt của trong làng văn New York để có được một vị trí giữa những nhà văn nam giới đã khiến Jo vẫn có những giây phút yếu lòng, khi cô nhớ lại ngôi nhà nhỏ ở Concord cùng các chị em gái của cô, và ngẫm nghĩ về lý do tại sao cái gia đình nhỏ bé mà hạnh phúc ấy, và bản thân cuộc đời của chính cô lại thay đổi hoàn toàn kể từ khi có sự xuất hiện của anh chàng lãng tử Theodore "Laurie" (Timothée Chalamet) – cháu trai duy nhất của ông lão hàng xóm giàu có và tốt bụng Laurence (Chris Cooper). 

Là bộ phim thứ ba trong sự nghiệp đạo diễn của nữ đạo diễn đang lên Greta Gerwig, nhưng đây đã là lần thứ bảy Little Women (Những cô gái nhỏ) được chuyển thể lên màn ảnh lớn trong vòng một thế kỷ qua. Đó là bởi cuốn tiểu thuyết thứ hai trong sự nghiệp của nhà văn nữ Louisa May Alcott với một nội dung đơn giản là kể lại một phần cuộc đời nhiều sự kiện của bà cùng các chị em gái nơi thôn quê New England ngay sau khi ra đời năm 1868 đã được coi là một hiện tượng của văn học Hoa Kỳ không chỉ bởi nội dung giản dị, lôi cuốn, mà còn vì đây là một trong những tác phẩm văn học đầu tiên của văn đàn Mỹ xây dựng được hình ảnh những người phụ nữ độc lập, năng động trong bối cảnh nước Mỹ nói riêng và xã hội phương Tây nói chung vẫn còn đang ở trong tình trạng trọng nam khinh nữ hết sức nặng nề. Thông điệp nữ quyền thấm đẫm trong tác phẩm của nữ nhà văn người Massachusetts có lẽ chính là lý do chính thúc đẩy Greta Gerwig chắp bút viết kịch bản và tự tay đạo diễn lần chuyển thể điện ảnh thứ bảy của Little Women sau thành công vang dội của tuyệt phẩm dành cho tuổi mới lớn Lady Bird (2017). Với kinh phí chỉ vỏn vẹn 10 triệu đô la, Lady Bird của Gerwig đã gây tiếng vang lớn với 5 đề cử Oscar với cách kể truyện chân thành, cảm động về những trăn trở đầu đời của cô thiếu nữ Lady Bird (Saoirse Ronan) đang gắng tìm kiếm cho mình chân trời mới, sự vô giá của tình yêu thương giữa người thân trong gia đình, và cả mối dây liên hệ vô hình giữa mỗi cá nhân với nơi chôn nhau cắt rốn của bản thân. Ở Little Women một lần nữa người xem lại được lặng ngắm những câu chuyện đầy tình người ấy qua diễn xuất tràn đầy năng lượng và tình cảm của chính Saoirse Ronan trong vai Jo – nhân vật trung tâm và cũng là người kể chuyện của cả bộ phim. Thừa hưởng phần nội dung gốc của một tác phẩm đã được xếp vào hàng kinh điển, Little Women có tuyến nhân vật hết sức dày dặn, nhiều màu sắc, nhiều cung bậc cảm xúc và cực kì đáng nhớ. Bởi vậy mà không chỉ Jo của Saoirse Ronan mà các gần như toàn bộ tuyến nhân vật của Little Women đều tạo được dấu ấn khác biệt, từ sự hồn hậu, ngây thơ đến nao lòng của Beth qua sự thể hiện của nữ diễn viên tuổi mới ngoài đôi mươi Eliza Scanlen, cho đến cái cách sóng gió cuộc đời dần làm nhoà đi sự vô ưu trong tâm tính của Amy nhờ diễn xuất tuyệt vời của Florence Pugh, và tất nhiên không thể không kể đến sự xuất hiện dù không nhiều nhưng luôn toả ra sự ấm áp của tình mẹ đến từ Bà March – một trong hai vai phụ xuất sắc của năm 2019 đến từ cùng một cái tên Laura Dern. 

Để tạo sự khác biệt so với những chuyển thể trước đây của Little Women, Greta Gerwig cũng lựa chọn cho mình một cách tiếp cận hiện đại trong việc chuyển thể tiểu thuyết đã được xuất bản từ năm 1868 với cách sắp xếp phi tuyến xen kẽ giữa “hiện tại” màu xám của năm 1868 với “quá khứ” màu hồng của những năm Nội chiến cùng cách kể chuyện kết hợp cả góc nhìn của người thứ ba và người thứ nhất. Cấu trúc tương đối phức tạp này của Little Women khiến tác phẩm mới nhất của Greta Gerwig trở nên tương đối khó theo dõi nếu so với sự giản dị của Lady Bird. Nhưng càng xem, khán giả sẽ càng thấy cuốn hút trước các tuyến truyện đan xen như chính cuộc đời rất nhiều nút thắt của Jo, của Amy, của Laurie. Và quan trọng hơn thế, cách kể chuyện hiện đại của Greta Gerwig cũng tạo ra sự khác biệt và mới mẻ cho lần chuyển thể thứ bảy của Little Women, một thử thách không hề dễ dàng cho bất cứ đạo diễn nào khi phải đưa lên màn ảnh lớn một tác phẩm đã được xếp vào hàng kinh điển và đã được chuyển thể trước đó bởi nhiều đạo diễn tài năng và dàn diễn viên thượng hạng như Gillian Armstrong (phiên bản năm 1994 với sự xuất hiện của Winona Ryder trong vai Jo và Christian Bale trong vai Laurie) hay George Cukor (phiên bản năm 1933 với sự xuất hiện của Katharine Hepburn trong vai Jo và Douglass Montgomery trong vai Laurie). Sự mới mẻ của Little Women còn đến từ tài năng của hai cái tên Pháp trong đoàn làm phim của Greta Gerwig – đó là nhà quay phim Yorick Le Saux và nhà soạn nhạc Alexandre Desplat. Với những góc máy lạ và cách chọn ánh sáng cũng như tông màu dịu ngọt, Yorick Le Saux không chỉ đem lại cho vùng đất New England của nước Mỹ thế kỷ 19 một vẻ đẹp bình yên, thân thuộc, mà còn giúp đặc tả tâm trạng và số phận những người phụ nữ nhỏ bé nhà March trong những thời khắc quan trọng của cuộc đời họ thông qua dáng hình, màu sắc mà chẳng cần tới bất cứ câu thoại nào. Về phần mình, Alexandre Desplat lại một lần nữa chứng tỏ sự mát tay của ông trong việc viết nhạc cho những bộ phim có nhịp độ nhẹ nhàng, đòi hỏi chiều sâu cảm xúc. Người xem có thể quên nội dung cuộc trò chuyện giữa Jo và Beth trên bãi biển năm nào, nhưng chắc chắn họ chẳng thể quên cái cách hai chị em dựa vào nhau trong cái lạnh đến tê người đến từ gió biển trong một ngày u ám điển hình của vùng đất phương Bắc New England. Và người xem cũng có thể quên tên anh chàng “giáo sư” thẳng tính Friedrich nhưng có lẽ sẽ không thể quên cái cách anh giáo sư dạo nên những nốt nhạc da diết của bản xô-nát số 8 của Beethoven trên chiếc đàn thân yêu của Beth – những nốt nhạc nói lên nỗi lòng của tất cả những thành viên nhà March khi nghĩ về những người họ yêu quý. Những thành công riêng của Yorick Le Saux và Alexandre Desplat đã khoác lên Little Women – một tiểu thuyết đã có trên 150 năm tuổi một tấm áo khác biệt, mới mẻ, gần gũi và hết sức lôi cuốn.

Trái ngược với cái tên của mình (có thể dịch là “Những cô gái nhỏ” hay “Những người phụ nữ nhỏ bé”), Little Women là câu truyện về những người phụ nữ mạnh mẽ, dám yêu, dám sống, dám lựa chọn cho mình một số phận thay vì chịu sự sắp đặt của cha mẹ, của xã hội, của định kiến người đời. Chẳng cần lên gân với những thông điệp mang tính cổ động, tuyên truyền, cũng chẳng cần kịch tính hóa một cách quá mức cần thiết những câu chuyện buồn mà đời người ai chẳng có, Little Women vẫn tạo được sự đồng cảm từ khán giả nhờ rất nhiều những lát cắt vui có, buồn có, nhưng đều rất đẹp, rất đời về những người phụ nữ nhà March. Sau khi xem xong phim, có lẽ mỗi khán giả sẽ đem về cho một mình một câu truyện riêng từ Little Women. Đó có thể là bài học về cách yêu và cách mở lòng cho tình yêu của những cô gái mới lớn như Jo, như Amy. Đó có thể là bài học về cách vượt qua gánh nặng của cơm áo gạo tiền để biến tình yêu, sự nhiệt huyết với nghiệp viết trở thành thành công và danh tiếng dài lâu. Hoặc đó có thể là bài học giản đơn về cách dung hòa những mâu thuẫn trong tính cách, trong lối sống hiện hữu ở bất cứ gia đình nào để mọi thành viên trong gia đình yêu thương và hiểu nhau hơn. Nhưng chắc chắn rằng mỗi người trong số chúng ta sau khi xem xong Little Women của Greta Gerwig đều có thể cảm nhận được rằng đây là một tác phẩm của những người phụ nữ, làm về những người phụ nữ, và để nói lên sự trân quý và tin yêu hết mực của những người làm phim dành cho phụ nữ.

========

The Two Popes (2019)


Là một quốc gia với diện tích vỏn vẹn 44 héc ta và dân số 1000 người, nhưng Vatican trong suốt chiều dài lịch sử của mình lại luôn được coi là một trong những tiếng nói quan trọng nhất của nền chính trị thế giới với tầm tác động vươn đến mọi quốc gia, châu lục, mọi ngõ ngách của xã hội hiện đại. Đó là bởi đây là nơi đặt trụ sở của Toà thánh Vatican – trái tim của Giáo hội Công giáo La Mã và là nơi đặt niềm tin của trên một tỷ tín đồ Công giáo vốn chiếm tới một phần sáu dân số thế giới. Cũng vì thế mà Giáo hoàng – người đứng đầu Toà thánh Vatican và Giáo hội Công giáo La Mã cũng đương nhiên được coi là một trong những nhân vật quyền lực nhất thế giới, là gương mặt được hàng trăm triệu, thậm chí là cả tỷ người hướng đến với hy vọng được dẫn dắt, soi sáng trong cuộc sống tinh thần trong một xã hội hiện đại vốn ngày càng thiếu đi niềm tin và vẫn còn quá nhiều đói nghèo, bi kịch. Để thực hiện trách nhiệm dẫn dắt tín đồ theo tiếng gọi của Chúa Trời như vậy, thông thường một vị Giáo hoàng sau khi được bầu tại cuộc mật nghị của các Hồng y sẽ tại vị cho đến cuối đời như cái cách Giáo hoàng John Paul II đã đứng đầu Toà thánh trong suốt 26 năm trước khi qua đời năm 2005. Tuy nhiên cho tới năm 2013, người kế nhiệm của Giáo hoàng John Paul II là Giáo hoàng Benedict XVI đã khiến cả Giáo hội Công giáo La Mã và thế giới nói chung bất ngờ khi tuyên bố từ bỏ vị trí người đứng đầu của Toà thánh Vatican – một quyết định mà sau gần tám thế kỷ của lịch sử Công giáo người ta mới lại được chứng kiến. 

Từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, tín đồ Công giáo và cả thế giới lại phải nhận thêm một bất ngờ khác khi biết tin mật nghị của các Hồng y được tổ chức sau khi Giáo hoàng Benedict XVI từ chức lại lựa chọn Đức Hồng y Jorge Mario Bergoglio trở thành người kế nhiệm với danh hiệu Giáo hoàng Francis. Lấy cái tên Francis từ để vinh danh Thánh Francis thành Assisi – vị thánh của người nghèo, Giáo hoàng Francis không chỉ là người Nam Mỹ đầu tiên đạt tới được ngôi vị cao nhất trong Giáo hội Công giáo La Mã mà còn sở hữu tính cách và phong thái hoàn toàn trái ngược với vị tiền nhiệm gốc Đức Benedict XVI. Một bên là tính cách Đức, một bên là tâm hồn Latinh của một người con đất nước Argentina, nếu Hồng y Joseph Aloisius Ratzinger – tên thật của Giáo hoàng Benedict XVI nghiêm cẩn, bảo thủ, trọng nghi lễ bao nhiêu thì Hồng y Bergolio lại nồng nhiệt, khao khát sự đổi mới, và coi trọng sự giản dị đến mức xơ xài bấy nhiêu. Điểm chung duy nhất của cả hai có lẽ chỉ là tình yêu đối với niềm tin Công giáo, và trách nhiệm đã – trong trường hợp của Giáo hoàng Benedict XVI, và đang – trong trường hợp của Giáo hoàng đương nhiệm Francis trong việc dẫn dắt hơn một tỉ tín đồ Công giáo và là chỗ dựa tinh thần cho họ trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Tại sao  Giáo hoàng Benedict XVI lại từ chức? Liệu Hồng y Ratzinger khi từ đỉnh cao trở về nghỉ hưu có nghĩ ngợi gì khi mà các Hồng y khác lại lựa chọn một người khác biệt hoàn toàn như Giáo hoàng Francis để làm người kế nhiệm cho ông? Và liệu hai vị Giáo hoàng còn có điểm chung nào khác, hay những xung đột về mặt tính cách sẽ mãi đẩy họ rời xa nhau bất chấp niềm tin chung của cả hai người? Đó là nội dung chính của tác phẩm The Two Popes – bộ phim mới nhất của đạo diễn người Brazil Fernando Meirelles. Lấy bối cảnh chính là Cung điện Castel Gandolfo – dinh thự mùa hè của các Giáo hoàng và Nhà nguyện Sistine của Toà thánh Vatican trong những ngày Hè nóng bỏng của năm 2012 khi Giáo hoàng Benedict XVI đang vấp phải vô số khó khăn về sức khoẻ và rắc rối đến từ các bê bối của cộng sự thân tín tới mức phải cân nhắc quyết định từ chức, The Two Popes xoay quanh những buổi đối thoại về giáo lý và chuyện đời của Giáo hoàng Benedict XVI (Anthony Hopkins) và Đức Hồng y Bergoglio (Jonathan Pryce) – người bay từ Argentina tới Vatican chỉ với nguyện vọng được Giáo hoàng chấp thuận đơn xin nghỉ hưu mà không ngờ rằng vị lãnh đạo tối cao của mình còn có một ý định rất khác khi gọi ông tới Toà thành.

Thực ra nếu không xem The Two Popes thì khán giả nói chung cũng hẳn đã rất quen thuộc với hình ảnh một Giáo hoàng Francis giản dị trong ăn mặc và phong thái nhưng hết sức cấp tiến trong cách nghĩ và phát ngôn với rất nhiều những tuyên bố thẳng thắn vốn hiếm khi gặp ở Toà thánh Vatican – nơi luôn cố gắng giữ khoảng cách nhất định với các sự kiện chính trị, hay các trào lưu xã hội đương đại. Giáo hoàng Francis không ngại bày tỏ quan điểm ủng hộ toàn cầu hoá, ủng hộ cuộc chiến chống biến đổi khí hậu, ủng hộ việc chấp thuận dân di cư từ nước nghèo sang nước giàu, và cũng sẵn sàng phản đối các lãnh đạo muốn lèo lái quốc gia của họ theo chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa bảo hộ. Và dù đã rút lui vào hậu trường đã được 7 năm kể từ ngày từ chức Giáo hoàng, nhưng Đức Hồng y Ratzinger – hay Giáo hoàng Benedict XVI ngày còn tại vị hẳn vẫn để lại ấn tượng với những ai hay theo dõi thời sự về quan điểm hết sức bảo thủ trong mọi vấn đề liên quan đến Công giáo hay Toà thánh. Vừa là ánh sáng soi đường cho cả tỷ giáo dân Công giáo, vừa là đích ngắm của vô số hãng truyền thông và thậm chí là báo chí lá cải trong tư cách một “người của công chúng”, tất nhiên người dân ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới đều ít nhiều biết tới những góc cạnh này trong cuộc đời và tính cách của hai vị Giáo hoàng. Tuy nhiên, có lẽ không nhiều người biết về quá khứ đau thương của Giáo hoàng Francis những ngày Đức cha Jorge Mario Bergoglio còn đang là một giáo sĩ Dòng Tên sống trong một xã hội Argentina đang rên xiết dưới gót giày bạo tàn của chế độ độc tài quân sự. Và hẳn cũng không mấy ai từng được nghe những nốt đàn réo rắt của Giáo hoàng Benedict XVI – người tuy có thể không biết gì về văn hoá đương đại, về Beatles, về Yellow Submarine, nhưng lại tinh thông hiếm ai bằng về khả năng tiếng Latinh và những ngón đàn dương cầm cổ điển. Những gương mặt rất khác ấy của hai người đàn ông gần với Chúa Trời hơn bất cứ tín đồ Công giáo cũng được khắc hoạ rất rõ trong The Two Popes – một tác phẩm không chỉ đơn thuần là những cuộc đối thoại đầy triết lý của hai vị Giáo hoàng. Với sự cộng tác của nhà biên kịch xuất sắc Anthony McCarten, Fernando Meirelles đã chứng tỏ rằng sau những thất bại liên tiếp của Blindness (2008) và 360 (2011), ông vẫn còn nguyên vẹn khả năng xử lý những đề tài dù rất khác nhau nhưng đều hết sức phức tạp, đậm chất thực tế gai góc như tác phẩm đã đưa tên tuổi ông đến với thế giới là Cidade de Deus (2002) và sau đó là The Constant Gardener (2005). Nhưng bối cảnh nhuốm màu bạo lực và bi thương của Cidade de Deus với những vụ đấu súng đẫm máu giữa các băng đảng đường phố ở Brazil, và của The Constant Gardener về một Lục địa Đen đầy rẫy tội ác rõ ràng là mảnh đất màu mỡ cho Meirelles đẩy kịch tính và mức độ hấp dẫn của phim vượt quá cả sự mong đợi của khán giả. The Two Popes không có được cái may mắn đó khi bộ phim này có thể tóm gọn chỉ trong một câu rất ngắn – cuộc đối thoại về đức tin của hai người già. Nhưng chính bằng việc đưa vào cuộc nói chuyện những mảnh ghép tưởng chừng rời rạc nhưng mang tính kết nối rất lớn để làm bật lên cả chất đạo và đời của cuộc đối thoại giữa Giáo hoàng Benedict XVI và Đức Hồng y Bergoglio mà The Two Popes không chỉ cung cấp cho khán giả thêm rất nhiều câu truyện ít được biết tới về hai nhân vật vốn đã quá nổi tiếng với công chúng, mà còn giúp người xem có thêm được sự hứng thú khi được theo dõi hai vị lãnh tụ tối cao của tôn giáo có số lượng tín đồ đông nhất thế giới nói chuyện về Chúa nhưng qua đó vẫn bộc lộ được họ là những người bình thường, với những suy tư, mong muốn, thậm chí là những nỗi buồn hết sức đời thường. 

Dù Fernando Meirelles hoàn toàn xứng đáng với những lời khen về tài năng biến một “cuộc nói chuyện của hai ông già” trở thành The Two Popes hấp dẫn từ đầu tới cuối, nhưng sau khi xem phim có lẽ một số khán giả vẫn sẽ cảm thấy đôi phần thất vọng bởi đạo diễn người Brazil chọn cách tiếp cận khá an toàn khi mô tả hai vị Giáo hoàng, đặc biệt là đối với Đức Hồng y Bergoglio hay Giáo hoàng Francis sau này. Đó là vì ngay cả khi so sánh với hình ảnh của một vị Giáo hoàng khác của phim – Giáo hoàng Benedict XVI thì Đức Hồng y Bergoglio của The Two Popes hiện ra hết sức thánh thiện và cao quý vượt mức của bất cứ người bình thường nào. Có thể Fernando Meirelles chỉ đơn thuần là tôn trọng sự thật khi khắc hoạ chân dung Giáo hoàng Francis. Nhưng bởi The Two Popes vẫn né tránh những chủ đề gai góc nhất liên quan tới Giáo hội Công giáo như nạn ấu dâm của giáo sĩ Công giáo, hay tệ tham nhũng từng một thời lan tràn trong lòng Vatican, và cả xu hướng suy giảm niềm tin đối với Công giáo nói riêng và tôn giáo nói chung của dân chúng các nước phát triển, nên người xem vẫn khó có thể cảm thấy chắc chắn rằng hình ảnh của Đức Hồng y Bergoglio – Giáo hoàng Francis họ đang được chiêm ngưỡng trên màn hình lớn kia có thực sự phản ánh được suy nghĩ thâm trầm và cá tính phức tạp của một người đứng đầu tôn giáo đông tín đồ nhất thế giới hay không.

Ấn tượng lớn nhất của The Two Popes để lại trong lòng khán giả có lẽ chính là sự ăn ý đến hoàn hảo trong diễn xuất của hai diễn viên gạo cội được Fernando Meirelles mời đảm nhận hai vai chính của phim, đó là Jonathan Pryce trong vai Đức Hồng y Jorge Mario Bergoglio và Anthony Hopkins trong vai Giáo hoàng Benedict XVI. Trong một tác phẩm có nhịp điệu chậm rãi và không quá nhiều kịch tính, Pryce và Hopkins đã thể hiện một cách hết sức xuất sắc sự thanh thản nhưng thâm trầm đặc trưng của những vị lãnh tụ tôn giáo – những người hiểu hơn ai hết sức mạnh của Chúa Trời trong việc soi sáng đưa đường cho tín đồ của Người, và cũng đồng thời là những học giả uyên bác về thần học, về triết học, về vốn sống và nhân sinh quan vốn chỉ có thể có được khi đã đi hết phần lớn cuộc đời để trải nghiệm. Với đài từ rất đẹp và cặp mắt biết nói, nam diễn viên 72 tuổi người xứ Wales Jonathan Pryce chắc chắn sẽ làm chính Giáo hoàng Francis phải tự hào vì đã bằng tài năng diễn xuất của mình giới thiệu được đến với công chúng một Đức Hồng y Bergoglio có cuộc đời đầy sự kiện và chưa bao giờ hết tâm tư vì số phận của những người nghèo khổ, của những tín đồ Công giáo đang ngày ngày hướng về phía ông để tìm kiếm cơ hội lắng nghe những lời khuyên nhủ, những chia sẻ chân tình có sức mạnh giúp họ gượng đứng dậy để đi về phía trước. Phải vào vai một nhân vật có cá tính trầm buồn tới mức hiếm khi thể hiện tình cảm ra mặt là Giáo hoàng Benedict XVI, nhưng huyền thoại điện ảnh 82 tuổi Anthony Hopkins – một đồng hương người xứ Wales của Jonathan Pryce cũng đã hết sức thành công trong việc tạo dựng nên hình ảnh một vị Giáo hoàng bảo thủ, truyền thống nhưng thực ra vẫn ẩn chứa trong lòng rất nhiều tâm trạng, nhất nhiều suy nghĩ tưởng chừng không thể sẻ chia với ai khác ngoài Chúa Trời. 

Không phải là một tác phẩm hoàn hào và cũng không thực sự dễ xem đối với những khán giả muốn tìm kiếm cho mình những phút giây giật gân hồi hộp để giải trí, nhưng The Two Popes chắc chắn sẽ vẫn có những khán giả trung thành của riêng mình. Bởi bộ phim mới nhất của đạo diễn Fernando Meirelles có thể coi như một khoảng lặng cần thiết giữa dòng đời tấp nập để khán giả được dừng lại và cảm nhận nhân sinh quan, thế giới quan, và cả những suy nghĩ, tâm thế về niềm tin tôn giáo, niềm tin vào con người của hai cái tên đã và đang là ngọn đuốc soi lối cho hàng triệu người trên khắp thế giới.

=======

vendredi 24 janvier 2020

1917 (2019)


Tháng Tư năm 1917, sau ba năm đẫm máu của cuộc Thế chiến lần thứ nhất, thế trận giữa Phe Đồng minh và Liên minh Trung tâm tại mặt trận phía Tây vẫn chưa thực sự ngã ngũ khi mà binh sĩ hai bên vẫn phải ẩn mình trong những hầm hào chật hẹp ở miền Bắc nước Pháp để tránh cái chết gần như là chắc chắn cho bất cứ ai cả gan đặt chân vào vành đai trắng giữa hai chiến tuyến no man’s land. Trong bối cảnh ấy, quân Đức – lực lượng trụ cột của Liên minh Trung tâm khiến toàn bộ Phe Đồng minh bất ngờ khi tung tin sẽ rút khỏi chiến tuyến họ đã dùng không biết bao nhiêu máu thịt để chiếm và giữ từ tay người Pháp và đồng minh của họ là người Anh. Cho rằng đây là cơ hội nghìn năm có một để giáng một đòn chí mạng vào lính Đức, tiểu đoàn 2 của Trung đoàn Devonshire dưới sự chỉ huy của đại tá Mackenzie (Benedict Cumberbatch) được lệnh cấp tốc vượt chiến tuyến để đánh chặn quân Đức đang rút lui. 

Chỉ một ngày trước kế hoạch tổng tấn công của tiểu đoàn Mackenzie, ở phía sau chiến tuyến của người Anh, tướng Erinmore (Colin Firth) lại nhận được mật báo rằng kịch bản của quân Đức chỉ là một cái bẫy để kéo 1600 lính của đại tá Mackenzie trở thành mồi ngon cho những cỗ pháo Đức đã được lên nòng chờ sẵn. Không có cách nào liên lạc với Mackenzie bởi đường dây điện thoại đã bị cắt đứt do binh lính của Trung đoàn Devonshire đã di chuyển qua chiến tuyến của người Đức và vượt quá tầm với của đường dây điện thoại giao liên. Không còn thời gian và cũng không còn giải pháp khác, tướng Erinmore buộc phải giao phó mật lệnh huỷ cuộc tấn công của tiểu đoàn Mackenzie cho hai anh chàng binh nhất Tom Blake (Dean-Charles Chapman) và Will Schofield (George MacKay) để hai người lính với khuôn mặt non choẹt này vượt qua chiến tuyến và vành đai trắng mang tới cho đại tá Mackenzie trước buổi bình minh của cuộc tấn công. Từng tham gia và thậm chí là giành được huân chương dũng cảm tại chiến trường ở Sommes – một trong những cối xay thịt khủng khiếp nhất của Thế chiến thứ nhất, Schofield hiểu hơn ai hết hiểm nguy và cái chết rình rập trong từng hố đạn pháo, từng đoạn hầm hào của vành đai trắng và tỏ rõ sự ngần ngừ khi phải nhận nhiệm vụ liều chết do tướng Erinmore giao cho. Nhưng trách nhiệm của một người bạn, một người đồng đội cũng lại khiến Schofield không thể bỏ mặc Tom Blake – người một sống hai chết vẫn quyết tâm vượt chiến tuyến bởi lý do đơn giản là ở phía bên kia, trong 1600 người lính của đại tá Mackenzie có trung uý Joseph Blake (Richard Madden), anh trai của Tom, và bằng mọi giá – kể cả chính mạng sống của mình, Tom Blake không muốn để anh trai phải rơi vào cạm bẫy giăng sẵn của kẻ thù.

Theo chia sẻ của đạo diễn người Anh Sam Mendes – đạo diễn của bộ phim giành giải Oscar American Beauty (1999) và bộ đôi phim ăn khách về điệp viên 007 Skyfall (2012) và Spectre (2015) thì ông làm 1917 là để kể lại câu chuyện chiến trường của người ông – nhà văn có tiếng Alfred Mendes về thời gian ông làm giao liên cho quân đội Anh trên những chiến trường đẫm máu của cuộc đại chiến thế giới lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Vốn là nhà làm phim với sở trường là các tác phẩm bi kịch – từ cuộc sống tưởng chừng đẹp đẽ nhưng ngột ngạt của một gia đình trung lưu người Mỹ trong American Beauty, cho tới con đường diệt vong của những người đã lỡ bước chân vào nghiệp băng đảng trong Road to Perdition (2002), và cả sự tan vỡ của những mỗi tình tưởng chừng không thể chia cắt trong Revolutionary Road (2008), có lẽ Sam Mendes đã tìm thấy một đề tài nữa đúng với khẩu vị của mình ở bi kịch của những người lính phải chui rúc không khác gì những con chuột cống trong những hầm hào của Mặt trận phía Tây Chiến tranh thế giới lần thứ nhất để lẩn trốn cái chết. Trong cuộc chiến hầm hào ấy, cái chết có thể đến đột ngột cho những ai dám cả gan ló đầu ra khỏi các chiến hào hay bước chân vào những vành đai trắng chằng chịt hố bom và dây thép gai, nhưng sự diệt vong cũng có thể thẩm thấu một cách từ từ qua da thịt của những người lính phải dán mình nhiều ngày, thậm chí là nhiều tháng trong không gian chật hẹp, nhớp nháp của hầm hào bên cạnh vô số chuột bọ, bệnh tật, và áp lực tâm lý nặng nề của những số phận hàng ngày phải đối mặt với cái chết. Nhưng kịch bản 1917 của Sam Mendes và nữ biên kịch trẻ Krysty Wilson-Cairns không chỉ dừng lại ở đó. Bộ phim còn là câu truyện về niềm tin, về khả năng sinh tồn, về sức sống mãnh liệt của con người và thiên nhiên trước sức tàn phá khủng khiếp của bom đạn, của ngọn lửa vô tình của chiến tranh điêu tàn. Người xem có thể cảm nhận được rõ ràng tinh thần sống của 1917 qua chuyến đi đầy hiểm nguy của hai người lính trẻ nhưng luôn giữ trong mình niềm tin tới đích Blake và Schofield. Chẳng ai có thể sống sót một khi đã đặt chân vào vành đai trắng – những sĩ quan kinh nghiệm đầy mình như trung uý Leslie (Andrew Scott) đã thẳng toẹt như vậy khi “tiểu đội hai người” xin quyền vượt chiến tuyến để thi hành nhiệm vụ cảm tử tướng Erinmore đã giao phó. Nhưng Blake và Schofield vẫn quyết tâm dấn thân vào nghĩa địa của người, ngựa, và bom mìn ấy để đi tìm sự sống cho trung uý Joseph Blake và 1599 người khác trong tiểu đoàn của đại tá Mackenzie. Và cũng chính niềm tin vào sự sống ấy đã giúp hai người lính trẻ phát hiện ra rằng họ không phải những người duy nhất tin vào sự sống – bởi đây đó trong những trang trại nham nhở vì đạn pháo, giữa những căn nhà đổ sụp vì bom mìn, phía dưới những thành phố đang ngùn ngụt cháy bởi ngọn lửa của lính Đức thì cuộc sống vẫn đang sinh sôi nảy nở với những em bé khát sữa, và cả những chú bò sữa thủng thẳng gặm cỏ bất chấp cái chết rình rập. 

Cách đây 35 năm, đạo diễn Liên Xô Elem Klimov đã đem tới cho khán giả một tác phẩm được coi là xuất sắc bậc nhất của dòng phim chiến tranh trong lịch sử điện ảnh - Idi i smotri hay Hãy đến. Tác phẩm của hãng phim danh tiếng Mosfilm là chuyến hành trình đối diện với những hậu quả khủng khiếp từ Chiến tranh thế giới lần thứ hai của cậu bé Florya. Từ chỗ là một con người, đúng hơn là một đứa bé mới lớn, cậu bị bom đạn làm cho điếc, rồi bị sự dã man của lính Đức làm cho mất nốt cái giác quan quan trọng nhất của một con người – cảm giác rằng mình tồn tại bất chấp thực tế trớ trêu rằng Florya mới chính là người sống sót duy nhất. Thật tình cờ rằng khi so sánh gương mặt con trẻ của diễn viên Aleksei Kravchenko – người được đạo diễn Klimov giao thủ vai Florya với tạo hình của Schofield qua sự thể hiện của George MacKay, người xem sẽ tìm thấy nhiều nét tương đồng. Đó cùng là những gương mặt tròn trịa không nhiều góc cạnh kiểu người hùng, đó cùng là những đôi mắt buồn đến ngơ ngác nhất là sau khi phải chứng kiến cái chết, phải đối mặt với những xác người, xác động vật chết vì chiến tranh ở mọi nơi, mọi lúc. Cũng như Elem Klimov, Sam Mendes không ngần ngại “bắt” khán giả phải cảm nhận sự chết chóc và bạo lực của chiến tranh một cách trực diện với những cảnh quay không khoan nhượng từ góc nhìn của các nhân vật trong phim của họ về cái cách con người hành hạ và huỷ diệt con người, cái cách sự khốn khổ của nạn nhân của bạo lực tột cùng đó còn tiếp tục ngay cả sau khi họ đã chết khi mà những cái xác không hồn của họ trở thành mồi ngon cho quạ, cho thú hoang, cho sự gặm nhấm từ từ nhưng vô tình của thiên nhiên. Và cũng xuất sắc như Kravchenko, MacKay đã thể hiện rất thành công sự thương tổn sâu sắc của binh nhất Schofield khi đi qua muôn mặt của chiến tranh trên con đường đi tìm sự sống cho tiểu đoàn của đại tá Mackenzie. Tất nhiên Schofield không phải cậu bé mới lớn như Florya. Anh lính trẻ từng tham chiến ở Sommes – mặt trận từng chứng kiến hơn một triệu binh sĩ của hai phía bỏ mạng chỉ trong vòng ba tháng. Anh lính trẻ cũng trải nghiệm sự sống và cái chết nơi hầm hào nhiều tới mức chai sạn, nhiều tới mức sẵn sàng đổi tấm huân chương cao quý giành được vì lòng dũng cảm ở Sommes để lấy một chai vang Pháp cho thoả cơn khát. Nhưng chỉ từng ấy thôi cũng là không đủ để chuẩn bị cho Schofield để đối mặt với vô số những chết chóc và bi kịch rải đầy trên đường thi hành nhiệm vụ cảm tử cùng người đồng đội Tom Blake. Chỉ nhờ có kinh nghiệm chiến đấu dày dạn, và nhất là nhờ vào niềm tin mãnh liệt rằng “mình có thể đi tới đích”, Schofield mới có thể lết được qua từng dặm đường của chiến tranh mà không mất đi cái cảm giác còn sống, được sống như Florya trong Idi i smotri và tạo nên một 1917 dù bi kịch nhưng vẫn nhiều niềm tin hơn, nhiều hy vọng hơn tác phẩm năm xưa của đạo diễn Elem Klimov. 

Câu truyện của Schofield và Blake trên chiến trường giúp 1917 trở thành một bộ phim hay, nhưng phần hình ảnh của tác phẩm nhờ vào sự hợp tác giữa Sam Mendes và nhà quay phim vĩ đại Roger Deakins mới biến 1917 trở thành một tuyệt phẩm. Được biên tập như một bộ phim không hề có cắt cảnh, 1917 thực chất bao gồm rất nhiều cảnh quay dài được dựng một cách khéo léo để tạo cảm giác từ đầu đến cuối Roger Deakins không hề đóng máy để chuyển cảnh mà theo sát từng bước đi của Schofield và Blake trên con đường chông gai tìm kiếm đại tá Mackenzie. 1917 sử dụng rất nhiều góc máy cận cảnh và đặc tả nhân vật để giúp khán giả có cảm giác họ cũng là một thành viên của “tiểu đội hai người” phải đối mặt với những hiểm nguy và sự tàn khốc của chiến tranh vốn là một “đặc sản” của nhà quay phim 70 tuổi người Anh – người từng giành tới 15 đề cử Oscar cho quay phim xuất sắc nhất. Bên cạnh đó, Deakins cũng xen kẽ vào đó những cảnh quay tầm trung để người xem thấy được quy mô của cuộc chiến, sự khác biệt của từng quang cảnh làng mạc, thiên nhiên, chiến trường mà Schofield và Blake đã bước qua. Điểm đáng khâm phục đối với Roger Deakins và đội ngũ kỹ thuật của 1917 là việc tuy tác phẩm chiến tranh này có rất nhiều bối cảnh cực khó, từ những hầm hào chật hẹp ướt át cho tới những đồng cỏ rộng lớn mênh mông và tất nhiên không thiếu sự gồ ghề, góc cạnh, những chướng ngại tưởng chừng không thể vượt qua điển hình cho một cuộc chiến hầm hào, nhưng tất cả cảnh quay của bộ phim dù rất dài nhưng đều tạo cảm giác mượt mà, liền mạch với chất lượng quay rất cao và chứng tỏ đoàn làm phim của 1917 đã phải bỏ rất nhiều thời gian và công sức để lên kế hoạch kỹ lưỡng cho từng cảnh quay, từng cử động của các diễn viên trước khi bắt tay vào thực hiện bộ phim dài tới 2 tiếng này. Kết quả của từ sự cố gắng của Sam Mendes, Roger Deakins và những thành viên khác trong đoàn làm phim 1917 là một tác phẩm “không cắt” hoàn toàn có thể sánh ngang với bộ phim “không cắt” xuất sắc từng giành giải Oscar Birdman (2014) của bộ đôi đạo diễn-quay phim người Mexico Alejandro G. Iñárritu và Emmanuel “Chivo” Lubezki hay những cảnh quay hành động dài hàng chục phút của Children of Men (2006) – một thành quả nghệ thuật khác của Chivo Lubezki với đạo diễn Alfonso Cuarón. Nhưng quan trọng hơn thế, sự liền mạch, và trực diện trong cách quay của 1917 giúp bộ phim truyền tải được tới khán giả một cách trọn vẹn những cung bậc tình cảm hết sức khác nhau của một người lính giữa chiến trường tàn khốc – sự ngộp thở trong hầm hào hay phía dưới mặt nước đục ngầu của những con sông hung dữ, suy nghĩ run run ngập ngừng khi phải đối mặt với cái yên lặng đến rợn người của vành đai trắng no man’s land, và cả cảm giác máu chảy rần rật trong huyết quản khi phải chạy trốn cái chết đuổi theo sau lưng – cái chết đến từ hòn tên mũi đạn chưa bao giờ biết phân biệt địch với thù. Với tài năng của Roger Deakins tỏa ra từ từng khung hình, cộng thêm xúc tác quan trọng là phần nhạc phim bi tráng của Thomas Newman – nhà soạn nhạc đã song hành với Sam Mendes kể từ thành công của bộ phim đầu tay American Beauty, có thể nói không ngoa rằng “1917” là một trong những tác phẩm hành động – sử thi xuất sắc nhất trong vòng mười năm trở lại đây của Hollywood và thậm chí có phần còn nổi trội hơn cả Dunkirk (2017) – tác phẩm lấy bối cảnh Chiến tranh thế giới thứ hai của đạo diễn Christopher Nolan vốn có rất nhiều cảnh quay xuất sắc nhưng lại sử dụng cách tiếp cận nhân vật hơi có phần quá anh hùng, quá bi kịch nếu phải so với sự gần gũi, dễ liên tưởng, dễ cảm nhận của Schofield hay Blake dưới bàn tay nhào nặn của Sam Mendes.

1917 không phải là một tác phẩm hoàn hảo. Cách xây dựng nhân vật và phong cách quay “không cắt” của bộ phim giúp 1917 có được cảm giác hết sức chân thực của một tác phẩm hiện đại về đề tài chiến tranh, nhưng kịch bản của Sam Mendes và Krysty Wilson-Cairns dường như vẫn chứa đựng một số điểm thắt, chi tiết “tình cờ” nhưng tạo cảm giác không hề ngẫu nhiên, thậm chí còn là hơi gượng ép để tạo thêm kịch tính cho một tác phẩm hành động – chiến tranh vốn đã có quá nhiều kịch tính. Những khán giả khó tính có thể coi cách xây dựng kịch bản như vậy đã phần nào đó làm hỏng ý đồ “hiện thực hóa”, “chân thực hóa” cuộc chiến của Sam Mendes đối với 1917. Nhưng nhìn ở một khía cạnh khác, kịch tính và cao trào liên tục của 1917 lại đã giúp bộ phim có được một chuyến du hành qua chiến tranh – chạy trốn cái chết hết sức đáng nhớ của các nhân vật chính. Chỉ hơn hai thập niên sau những sự kiện của 1917, châu Âu và thế giới nói chung lại phải đối diện với một cuộc đại chiến khác – Thế chiến thứ hai. Trong cuộc chiến còn tàn bạo, khốc liệt hơn cả cuộc đại chiến đầu tiên ấy, một trong những ca khúc được binh lính Anh yêu quý nhất đó là nhạc phẩm The White Cliffs of Dover (Những vách đá trắng ở Dover) qua giọng hát của Vera Lynn. Không nói tới vinh quang của cuộc chiến, không nói tới những tấm huân chương, những danh hiệu cao quý, The White Cliffs of Dover chỉ gợi những người lính Anh nhớ tới những gì quen thuộc nhất, thân thương nhất nơi quê hương, đó là những vách đá trắng ở Dover, những thung lũng đầy hoa, những đàn cừu thản nhiên gặm cỏ. 1917 cũng là một tác phẩm như thế. Bộ phim không hề tô son điểm phấn cho chiến tranh, không hề cố khắc họa những người hùng của chiến trận hay tô đậm hào quang của những cái chết trên chiến trường. Trái lại Mendes và Deakins chỉ tập trung để mô tả những góc cạnh xấu xí nhất, tàn bạo nhất của cuộc chiến và khắc họa số phận của những người bình thường nhất khi bị đặt vào những nơi hiểm nguy nhất. Nhưng kết phim 1917 vẫn cho người xem niềm tin, niềm tin rằng số phận nhân vật họ đang nín thở theo dấu từ đầu bộ phim vẫn còn le lói chút gì đó hy vọng, niềm tin rằng kể cả giữa khốc liệt của chiến trường, vẫn còn đó nhân tính, tình người. Một tác phẩm lấy đề tài chiến tranh như thấm đẫm tinh thần phản chiến và mang trong mình rất nhiều niềm tin, 1917 xứng đáng là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của điện ảnh Hollywood năm 2019. 

========