some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

Affichage des articles dont le libellé est television. Afficher tous les articles
Affichage des articles dont le libellé est television. Afficher tous les articles

dimanche 29 octobre 2023

Matthew Perry, aka. Chandler Bing (1969 - 2023)

 

This quote above from “The One with Rachel’s Other Sister” (S09E08) is not only a very typical dialogue from the ever self-deprecating Chandler Bing, but turns out to be a prophecy as well. To me, Chandler is always the best character with the most memorable moments in any of the ten seasons of “Friends” and IS the true definition of a good and kind-hearted friend that anyone, including me, could hope for.

So long Mr. Bing, thank you for all the laughs and optimism that you brought me at my very lowest. I hope you will enjoy your afterlife as much as I will always enjoy your banters with your friends in “Friends”.

mardi 4 mai 2021

93rd Academy Awards (2021)


Ngày 9 tháng 2 năm 2020, lễ trao Giải Oscar lần thứ 92 được tổ chức tại Los Angeles với nhiều bất ngờ như việc bộ phim Ký sinh trùng của đạo diễn người Hàn Quốc Bong Joon-ho trở thành bộ phim châu Á đầu tiên giành giải thưởng cao nhất hay việc The Irishman của huyền thoại Martin Scorsese dù được đề cử ở 10 hạng mục nhưng lại phải ra về tay trắng. Nhưng Hollywood nói riêng, và cả nền điện ảnh thế giới nói chung có lẽ không thể nghĩ được rằng bất ngờ lớn nhất sẽ đến với họ không phải trong ngày hội lớn của điện ảnh này, mà là những gì ập đến với họ trong những tháng ngày sau đó - COVID-19. 142 triệu người mắc bệnh, trên 3 triệu người thiệt mạng, COVID-19 khiến cuộc sống của người dân khắp thế giới phải ngừng trệ, biến những hoạt động giải trí tưởng chừng đơn giản nhất như đi du lịch, tham gia các lễ hội đông người trở thành điều xa xỉ ở rất nhiều quốc gia. Nằm ở đáy sâu nhất của vòng xoáy ấy chính là điện ảnh. Khi mà gần như toàn bộ hệ thống rạp phim trên toàn cầu phải đóng cửa để ngăn ngừa COVID-19 lây lan, khi mà các phim trường, các đoàn làm phim phải ngừng hoạt động vì lệnh phong toả, giãn cánh triền miên, thì điện ảnh truyền thống gần như rơi vào trạng thái tê liệt. Và như thế, suốt hơn một năm kể từ ngày đại dịch COVID bùng nổ, niềm vui của người yêu phim, của người làm nghề điện ảnh phải bó hẹp vào màn ảnh nhỏ thông qua các thương hiệu cung cấp phim trực tuyến như Netflix, như HBOMax, như DisneyNow.

COVID-19 biến cả năm 2020 và nửa đầu năm 2021 trở thành năm đại thảm hoạ ("Annus horribilis") của điện ảnh, và cũng khiến lễ trao Giải Oscar lần thứ 93 không thể diễn ra theo đúng dự định vào cuối tháng 2 năm 2021. Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Hoa Kỳ (AMPAS) đã quyết định lùi lễ trao giải lại đúng 2 tháng, và lần đầu tiên kể từ năm 1934 đến nay cho phép các bộ phim công chiếu trong 2 năm - 2020 và 2021 được phép tham gia tranh giải. Trong bối cảnh chật vật và nhiều biến cố này, buổi tối ngày 25 tháng 4 sắp tới (giờ Hoa Kỳ) có sẽ là một trong những lễ trao giải đáng nhớ nhất trong lịch sử gần 100 tuổi của giải thưởng danh giá này và là niềm hy vọng của cả Hollywood về một sự khởi đầu mới, một vận hội mới.

Tâm điểm của Giải Oscar lần thứ 93 - hạng mục Phim hay nhất hiện là cuộc cạnh tranh giữa 8 ứng cử viên là The Father, Judas and the Black Messiah, Mank, Minari, Nomadland, Promising Young Woman, Sound of Metal, và The Trial of the Chicago 7. Đây cũng chính là 8 tác phẩm có nhiều đề cử nhất tại Giải Oscar năm nay trong đó nhiều nhất là Mank của David Fincher với 10 đề cử, ít nhất là Promising Young Woman với 5 đề cử và 6 ứng viên còn lại đều có 6 đề cử ở nhiều hạng mục quan trọng. Không chỉ giống nhau về số lượng đề cử, các ứng viên của hạng mục Phim hay nhất năm nay còn đều là các tác phẩm thuộc dòng chính kịch, kinh phí thấp, lấy bối cảnh đương đại và phản ánh những suy tư, xung đột của xã hội hiện đại - trào lưu chủ đạo của điện ảnh Hollywood trong vài năm trở lại đây. Sự tương đồng về chủ đề và chất lượng ngang sức ngang tài của các bộ phim này đã khiến hạng mục Phim hay nhất năm nay trở nên có phần khó đoán. Tuy vậy, nếu để chọn lựa thì tác phẩm mô tả cuộc sống và suy nghĩ của những người vô gia cư Mỹ Nomadland có lẽ đang có ưu thế hơn cả sau khi đã chiến thắng ở hạng mục này ở cả Giải BAFTA của Viện Hàn lâm Nghệ thuật Điện ảnh và Truyền hình Anh Quốc, Giải Quả cầu vàng, và Giải của Hiệp hội nhà sản xuất điện ảnh và truyền hình Hoa Kỳ (PGA). Theo thống kê của Metacritic thì Nomadland hiện đã thu thập tới 124 điểm nhờ 34 chiến thắng, 3 lần về nhì, và 16 lần được đề cử ở hạng mục phim hay nhất trong mùa trao giải điện ảnh năm nay. Đây là số điểm bỏ xa các đối thủ tiếp theo là Minari và Promising Young Woman (cùng 55 điểm) và cho thấy ưu thế khá rõ của bộ phim thứ 3 trong sự nghiệp của Chloé Zhao. Hơn thế nữa, cũng cần nhìn nhận thẳng thắn rằng chính việc Nomadland được đạo diễn bởi một nữ đạo diễn gốc Hoa với tuổi đời còn khá trẻ (39 tuổi) cũng là một lợi thế khác của bộ phim này trong quá trình đong đếm của các thành viên AMPAS, bởi Hollywood của hiện tại với xu hướng nhập thế, góp tiếng nói vào các vấn đề xã hội - chính trị nóng bỏng của nước Mỹ hiện đại chắc chắn sẽ không thể bỏ qua việc nước Mỹ hiện đang nhức nhối với nạn phân biệt, kỳ thị người gốc châu Á và những dư âm của phong trào MeToo đòi bình quyền trên mọi phương diện cho nữ giới. 

Đối thủ nặng ký nhất của Nomadland tại hạng mục Phim hay nhất hiện đang là Minari - bộ phim với tựa đề là tên tiếng Hàn của cây cần nước, và khắc hoạ sự chặng đường hoà nhập đầy gian nan của những người nhập cư gốc Hàn Quốc tại Hoa Kỳ. Tuy xếp sau Nomadland tại phần lớn các giải thưởng lớn gần đây, và cũng chỉ mới giành một giải đáng kể là Phim nước ngoài hay nhất tại lễ trao Giải Quả cầu vàng lần thứ 78, nhưng Minari lại chính là bộ phim mang tính thời sự bậc nhất tại thời điểm này ở một Hollywood đang hướng sự chú ý tới thân phận của những người nhập cư gốc châu Á. Cộng thêm ảnh hưởng ngày càng lớn từ làn sóng văn hoá Hàn Quốc ở Hoa Kỳ mà đỉnh cao chính là chiến thắng của Ký sinh trùng tại Giải Oscar năm 2020, Minari hoàn toàn vẫn có thể tạo nên những bất ngờ vào phút cuối cùng vào ngày 25 tháng 4 sắp tới. Tuy bằng điểm với Minari trên bảng xếp hạng của Metacritic (55 điểm) cho các ứng viên hạng mục phim hay nhất nhưng có lẽ bộ phim về nạn lạm dụng tình dục phụ nữ Promising Young Woman dù có phong vị mới mẻ cũng khó lòng có khả năng cạnh tranh, và đương nhiên là xác suất giành tượng vàng Oscar của các tác phẩm có điểm thấp hơn như "he Trial of the Chicago (31), Sound of Metal (28) hay Mank (17) là còn nhỏ nhoi hơn nữa.

Tương tự như cuộc đua đến tượng vàng Oscar trong nhiều năm gần đây, Giải Oscar lần thứ 93 còn chứng kiến sự cạnh tranh giữa Nomadland và Minari ở hạng mục Đạo diễn xuất sắc nhất. Cùng là hai đạo diễn Mỹ với tuổi đời còn tương đối trẻ có gốc gác châu Á, nhưng một lần nữa nữ đạo diễn gốc Hoa của Nomadland là Chloé Zhao lại đang giành phần ưu thế trước Lee Isaac Chung - người đã viết nên kịch bản của Minari dựa trên chính những kỉ niệm thơ ấu trong một gia đình gốc Hàn định cư giữa mảnh đất Arkansas xa xôi của nam đạo diễn 42 tuổi này. Sự vượt trội của Chloé Zhao được thể hiện qua việc cô đã giành tới 47 giải đạo diễn xuất sắc nhất trong mùa giải thưởng điện ảnh năm nay, trong đó bao gồm tất cả các giải quan trọng nhất tại Giải Quả cầu vàng, Giải BAFTA, và giải của Hiệp hội đạo diễn điện ảnh và truyền hình Hoa Kỳ (DGA). Trong khi đó, các đối thủ của cô như Lee Isaac Chung hay nữ đạo diễn trẻ người Anh Emerald Fennell của tác phẩm đầu tay Promising Young Woman chỉ mới được xướng danh đúng một lần trong mùa trao giải năm nay. Hai ứng viên gạo cội hơn ở hạng mục này là Thomas Vinterberg (Another Round) và đặc biệt là tên tuổi David Fincher (Mank) thậm chí còn chưa giành được bất cứ chiến thắng nào. Một điểm đáng chú ý nữa của hạng mục này là việc nếu được xướng danh vào đêm trao giải ngày 25 tháng 4 sắp tới, Chloé Zhao sẽ trở thành nữ đạo diễn thứ hai chiến thắng ở hạng mục này sau Kathryn Bigelow - người giành Oscar năm 2009 cho The Hurt Locker.

Khó đoán hơn rất nhiều so với hai hạng mục nói trên, Giải Oscar cho nam chính xuất sắc nhất hiện vẫn có hai ứng viên ngang sức ngang tài là nghệ sĩ người Anh gốc Pakistan Riz Ahmed (Sound of Metal) và ngôi sao Báo Đen quá cố Chadwick Boseman (Ma Rainey's Black Bottom). Bằng diễn xuất ấn tượng trong vai một tay trống cả đời sống bằng âm nhạc nhưng bỗng nhiên mất hoàn toàn thính giác, Riz Ahmed đã giành tới 19 chiến thắng ở hạng mục nam chính xuất sắc nhất trong mùa giải thưởng năm nay với tổng số điểm theo thống kê điểm của Metacritic là 91 và chỉ thua duy nhất một vai diễn cũng về đề tài âm nhạc khác của Chadwick Boseman, người có 98 điểm nhờ 22 lần được xướng tên ở bục cao nhất tại các giải thưởng của mùa giải năm nay, trong đó có hai giải có giá trị dự báo quan trọng là Giải Quả cầu vàng lần thứ 78 và giải của Hiệp hội diễn viên Hoa Kỳ (SGA). Tuy Ma Rainey's Black Bottom không được đánh giá cao bằng Sound of Metal về nhiều phương diện, nhưng với việc giành được nhiều giải thưởng mang tính dự báo, và cái chết đột ngột ở tuổi 43 khiến cả Hollywood phải bàng hoàng, Chadwick Boseman nhiều khả năng sẽ vượt qua Riz Ahmed để trở thành nam diễn viên thứ hai giành tượng vàng Oscar cho nam chính xuất sắc nhất sau khi đã qua đời kể từ Peter Finch với vai diễn trong Network (1976). Nếu so với Chadwick Boseman và Riz Ahmed, thì cơ hội có lẽ không còn quá nhiều cho các ứng viên khác của hạng mục này là Anthony Hopkins (The Father), Steven Yeun (Minari) hay Gary Oldman (Mank) với tổng điểm giải thưởng giành được theo Metacritic lần lượt là 39, 27, và 12. Tuy vậy, hy vọng cũng không hẳn đã tắt cho ba nam diễn viên đã có diễn xuất hết sức đáng nhớ trong năm nay, bởi Anthony Hopkins đã bất ngờ chiến thắng ở giải BAFTA và ở tuổi 83 đang có cơ hội trở thành nam diễn viên già nhất từng được trao tượng vàng Oscar cho vai nam chính xuất sắc nhất, còn Steven Yeun nếu chiến thắng sẽ làm nên lịch sử khi là cái tên gốc Đông Á đầu tiên được xướng danh ở hạng mục này, và Oldman vốn luôn là nam diễn viên được Hollywood yêu thích với chiến thắng ở hạng mục này mới 4 năm trước nhờ vai diễn thủ tướng Anh Winston Churchill trong Darkest Hour (2017).

Cũng đang khiến giới dự đoán phải vò đầu bứt óc ở Giải Oscar năm nay là hạng mục nữ chính xuất sắc nhất khi mà Carey Mulligan (Promising Young Woman) và Frances McDormand (Nomadland) đều đã có 23 chiến thắng và 4 lần về nhì ở mùa giải năm nay với tổng điểm giải thưởng theo Metacritic lần lượt là 94 và 93 - do Mulligan nhỉnh hơn McDormand đúng một đề cử ở các giải thưởng cho vai nữ xuất sắc nhất. Quả thực, dù thể hiện hai vai diễn hết sức đối lập - với Carey Mulligan là cô gái mạnh mẽ Cassie với quyết tâm trả thù cho người bạn bị xâm hại tình dục, còn Frances McDormand là người phụ nữ trung niên Fern với tâm thế buông bỏ của một người vô gia cư rong ruổi trên khắp nẻo đường nước Mỹ, nhưng cả hai đều hết sức xuất sắc với nỗ lực nói lên những nỗi niềm chẳng mấy ai biết tới của người phụ nữ trong xã hội Mỹ hiện đại. Nếu phải lựa chọn, có lẽ chính McDormand mới là cái tên có phần nhỉnh hơn nhờ sự vượt trội của chính Nomadland trong mùa giải thưởng năm nay, và nhờ vào việc bà đã chiến thắng nữ diễn viên người Anh Carey Mulligan ngay trên chính "sân nhà" của cô tại Giải BAFTA. Nếu giành tượng vàng Oscar ở hạng mục này trong ngày 25 tháng 4 tới, McDormand sẽ có tới ba chiến thắng ở hạng mục danh giá nhà và sẽ chỉ còn xếp sau huyền thoại Katharine Hepburn về số lần giành giải. Tuy nhiên, người xem cũng không nên quên rằng hai ứng viên khác của hạng mục này là Viola Davis (Ma Rainey's Black Bottom) và Andra Day (The United States vs. Billie Holiday) cũng hoàn toàn có thể gây bất ngờ nhờ thủ vai hai huyền thoại của nền âm nhạc Mỹ là Ma Rainey và Billie Holiday, bởi Davis mới đây đã chiến thắng ở giải thưởng quan trọng mang tính dự báo SAG, còn Andra Day mới chính là người giành Giải Quả cầu vàng cho vai nữ chính xuất sắc nhất. Cái tên còn lại và cũng là trẻ nhất của hạng mục này - Vanessa Kirby (Pieces of a Woman) có lẽ cũng sẽ không quá buồn nếu không được giải, bởi cô mới ở những bước đầu chinh phục Hollywood và hoàn toàn có cơ hội vươn xa hơn, nếu không về mặt nghệ thuật thì cũng là mặt thương mại nhờ loạt phim Mission: Impossible.

Ở hạng mục Oscar cho nam phụ xuất sắc nhất, dù Paul Raci (Sound of Metal), Daniel Kaluuya (Judas and the Black Messiah), Leslie Odom Jr. (One Night in Miami), và Sacha Baron Cohen (The Trial of the Chicago 7) hiện vẫn đang bám sát nhau trên bảng thống kê điểm giải thưởng của Metacritic, thì ngôi sao của Get Out (2017) Daniel Kaluuya lại đang sở hữu ưu thế vượt trội nhờ chiến thắng ở các giải thưởng quan trọng nhất của hạng mục này ở Giải Quả cầu vàng, Giải BAFTA, và Giải SAG và sẽ nhiều khả năng tiếp nối làn sóng giành giải của các nam diễn viên người Mỹ gốc Phi ở Giải Oscar vài năm trở lại đây. Trào lưu này được thể hiện rất rõ ở chính hạng mục nam phụ của Oscar năm nay khi có tới 3/5 ứng viên là diễn viên người Mỹ gốc Phi - Daniel Kaluuya, Leslie Odom Jr., và Lakeith Stanfield (Judas and the Black Messiah). 

Tương tự như Kaluuya ở hạng mục nam phụ, nữ diễn viên 73 tuổi người Hàn Quốc Youn Yuh-jung với vai người bà ngoại lập dị trong Minari đang là ứng viên sáng giá nhất cho tượng vàng Oscar ở hạng mục nữ phụ, bởi bà đã giành tới 32 chiến thắng khác nhau của mùa giải thưởng năm nay, trong đó có hai giải rất quan trọng là BAFTA và SAG. Với tổng điểm giải thưởng theo thống kê của Metacritic lên đến 115, nữ diễn viên gạo cội với tuổi đời còn lớn hơn tuổi đời chính thức của đất nước Hàn Quốc của bà hiện đang vượt xa các đối thủ còn lại ở hạng mục này là Maria Bakalova (Borat Subsequent Movie, 76 điểm), Amanda Seyfriend (Mank, 44 điểm), Olivia Colman (The Father, 27), và Glenn Close (Hillbilly Elegy, 10). Nếu được xướng danh, Youn sẽ trở thành nữ diễn viên gốc châu Á thứ hai chiến thắng ở hạng mục này kể từ Miyoshi Umeki - nữ diễn viên người Mỹ gốc Nhật từng chiến thắng với Sayonara (1957).

Trong một năm Oscar chứng kiến sự lên ngôi của rất nhiều nghệ sĩ gốc thiểu số và nghệ sĩ nữ, hai hạng mục Kịch bản xuất sắc nhất cũng đang cho thấy ưu thế của hai nhà đạo diễn kiêm biên kịch nữ là Emerald Fennell (Promising Young Woman - hạng mục Kịch bản gốc) và Chloé Zhao (Nomadland - hạng mục Kịch bản chuyển thể). Lần lượt giành tới 22 và 18 chiến thắng ở hạng mục kịch bản trong mùa giải thưởng năm nay với hai kịch bản rất đẹp về hình tượng những người phụ nữ dù rất khác nhau nhưng đều đẹp và đáng nhớ, Fennell và Zhao đang bỏ xa các đối thủ khác ở hạng mục này trong đó có cả những nhà biên kịch hàng đầu từng giành giải Oscar như Aaron Sorkin (The Trial of the Chicago 7 - Kịch bản gốc) hay Christopher Hampton (The Father - Kịch bản chuyển thể). Không phải Sorkin hay Hampton, đối thủ lớn nhất của Fennell ở hạng mục Kịch bản gốc có lẽ lại là Lee Isaac Chung với Minari, còn chính ngôi sao phim hài Sacha Baron Cohen và các cộng sự - tác giả kịch bản Borat Subsequent Movie mới là thử thách lớn nhất của Chloé Zhao trong việc giành tượng vàng Oscar ở hạng mục Kịch bản chuyển thể xuất sắc nhất.

Nếu như năm 2020 Bong Joon-ho đã làm nên lịch sử ở giải Oscar với việc được đề cử và chiến thắng ở cả hạng mục Phim hay nhất (trong vai trò nhà sản xuất), Đạo diễn xuất sắc nhất, và Kịch bản gốc xuất sắc nhất, thì chỉ sau đó một năm Chloé Zhao đang có cơ hội vượt qua cả thành tích đó bởi nữ đạo diễn 39 tuổi quê gốc Bắc Kinh này không chỉ là nhà sản xuất, đạo diễn, biên kịch của Nomadland mà cô còn kiêm luôn vai trò dựng phim - một hạng mục Nomadland cũng được đề cử, và có nhiều cơ hội giành giải Oscar lần thứ 93. Từng được coi là một trong những chỉ dấu quan trọng nhất cho việc ứng viên nào sẽ giành tượng vàng cuối cùng cho phim hay nhất bởi cái tên nào được xướng danh ở hạng mục Biên tập phim xuất sắc nhất thường sau đó cũng sẽ chiến thắng luôn ở hạng mục Phim hay nhất, kể từ năm 2010 tới nay, hạng mục Biên tập đã không còn mang quá nhiều ý nghĩa và thường được trao cho các tác phẩm vượt trội về mặt kỹ thuật và dàn dựng nhưng lại thiếu điểm để đi đến cái đích cuối cùng như Gravity (2013), Mad Max: Fury Road (2015), hay Dunkirk (2017). Khi đối chiếu với tiêu chí này, rõ ràng Chloé Zhao không hẳn đã có nhiều cơ hội bởi Nomadland có cách kể truyện và dàn dựng tương đối dung dị nếu so với các ứng viên khác của hạng mục này như Promising Young Woman (dựng phim Frédéric Thoraval), The Trial of the Chicago 7 (Alan Baumgarten), Sound of Metal (Mikkel E.G. Nielsen), và The Father (Yorgos Lamprinos).

Ở hạng mục Quay phim xuất sắc nhất của Giải Oscar lần thứ 93, thành công vang dội của Nomadland ở mùa giải thưởng năm nay đã đem cơ hội vươn tới tượng vàng cho Joshua James Richards - nhà quay phim còn ít người biết đến tới mức chưa có bài viết trên Wikipedia tiếng Anh, bởi người cộng sự nhiều năm của Chloé Zhao đã 31 lần được bước lên bục chiến thắng ở hạng mục quay phim trong mùa trao giải năm nay, bỏ xa các ứng viên tên tuổi khác (và đều có bài trên Wikipedia tiếng Anh) như Erik Messerschmidt (Mank, 4 lần), Dariusz Wolski (News of the World), Sean Bobbitt (Judas and the Black Messiah), và Phedon Papamichael (The Trial of the Chicago 7) - đều chưa chiến thắng lần nào. 

Trong một năm của nhiều bất chắc, hãng Pixar - chủ nhân của ứng viên nặng ký nhất cho hạng mục Phim hoạt hình dài hay nhất (Soul - đạo diễn Pete Docter và Dana Murray) cũng chưa hẳn đã cầm chắc trong tay tượng vàng như một thông lệ nhiều năm ở Giải Oscar bởi năm nay Wolfwalkers cũng đã gây tiếng vang lớn về chất lượng nghệ thuật và được nhiều người coi là cơ hội để Viện Hàn lâm "sửa sai" sau khi đã bỏ qua Tomm Moore - đạo diễn của Wolfwalkers trong hai lần trước đây anh được đề cử với The Secret of Kells (2009) và Song of the Sea (2014). Có một điều thú vị là không phải ai khác ngoài Pete Docter đã lấy đi cơ hội giành tượng vàng của Moore năm 2009 với tuyệt phẩm Up. 

Ở hai hạng mục phim dài cuối cùng là Phim tài liệu dài xuất sắc nhất và Phim quốc tế hay nhất, Giải Oscar lần thứ 93 cũng đã có những ứng cử viên sáng giá, đó là Time (đạo diễn Garrett Bradley - hạng mục Phim tài liệu) và bộ phim Đan Mạch Another Round (đạo diễn Thomas Vinterberg - hạng mục Phim quốc tế). Nói về những bất công trong nền tư pháp Hoa Kỳ mà người Mỹ gốc Phi phải đối mặt suốt cả trăm năm qua, Time hiện đã có tới 69 điểm giải thưởng theo thống kê của Metacritic, vượt xa các đối thủ như Collective (45 điểm), Crip Camp (21 điểm) hay The Mole Agent (không có điểm). Đối thủ lớn nhất của Time ở hạng mục này là bộ phim lấy bối cảnh biển cả My Octopus Teacher của Pippa Ehrlich và James Reed - bộ phim đã chiến thắng bất ngờ ở Giải BAFTA. Tuy nhiên trong bối cảnh nước Mỹ đang vừa trải qua vụ xét xử mang tính thế kỉ liên quan tới cái chết của người Mỹ gốc Phi dưới tay một cảnh sát, thì Time có lẽ sẽ vẫn là cái tên được Hollywood ưu ái trong đêm trao giải ngày 25 tháng 4 tới đây. Về phần mình, do Minari đã được "đôn" thẳng lên hạng mục Phim hay nhất, bộ phim xuất sắc Another Round của ngôi sao Mads Mikkelsen và đạo diễn Thomas Vinterberg đã nghiễm nhiên trở thành ứng viên nặng kí nhất khi mà Vinterberg còn được đề cử ở hạng mục Đạo diễn xuất sắc nhất và từ lâu đã được coi là một trong những đạo diễn có tiếng nhất của Đan Mạch trong vai trò đồng sáng lập của phong trào làm phim tối giản Dogme 95 cùng với Lars von Trier. Từng vuột mất tượng vàng trong lần đề cử năm 2012 của tác phẩm xuất sắc The Hunt và không có nhiều hy vọng vượt qua Chloé Zhao ở hạng mục đạo diễn năm nay, có lẽ Thomas Vinterberg đang rất mong sẽ "phá dớp" Oscar ở hạng mục Phim quốc tế hay nhất, bởi các đối thủ khác như Collective của đạo diễn Rumani Alexander Nanau, The Man Who Sold His Skin của đạo diễn người Tunisia Kaouther Ben Hania, và Quo Vadis, Aida? của đạo diễn đến từ Bosnia và Herzegovina Jasmila Žbanić đều không gây nhiều tiếng vang trong mùa trao giải năm nay, trong khi Em của thời niên thiếu của đạo diễn Hồng Kông Tăng Quốc Tường với chất lượng vừa phải có lẽ đã đủ hài lòng với một đề cử bất ngờ ở hạng mục này. 

Hơn một năm qua điện ảnh thế giới nói chung và Hollywood nói riêng đang trải qua những thời khắc biến động và có lẽ là khó khăn bậc nhất kể từ khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc. Bởi vậy mà rất nhiều người làm nghề, cũng như các khán giả yêu điện ảnh đang hướng về lễ trao Giải Oscar lần thứ 93 vào đêm ngày 25 tháng 4 sắp tới với nhiều dự đoán và hy vọng. Dự đoán và hy vọng về việc Viện Hàn lâm sẽ trao tượng vàng cho các tác phẩm thực sự hay, thực sự phản ánh những mong mỏi, khắc khoải của xã hội hiện đại là một phần. Nhưng có lẽ một phần lớn hơn, đó là hy vọng vào việc lễ trao Giải Oscar năm nay sẽ là cột mốc đánh dấu sự kết thúc cho một Năm thảm hoạ của điện ảnh thế giới, và mở ra một giai đoạn mới với những bộ phim hay, những cơ hội quay trở lại rạp phim cho khán giả, thực hiện những bộ phim mới cho giới làm điện ảnh. Rất mong rằng dù Nomadland, Minari, hay bất cứ bộ phim nào khác sẽ được vinh danh ở thời khắc quan trọng nhất của lễ trao giải đêm ngày 25 tháng 4 sắp tới, thì điện ảnh cũng sẽ sớm quay trở lại trong thời gian gần nhất như chính ước vọng của những khán giả và người làm phim dõi theo Giải Oscar năm nay, bởi chính trong những lúc khó khăn thế này, chúng ta mới lại càng cần những bộ phim hay, những cảm hứng đến từ các rạp phim, những hy vọng và niềm tin đến từ các câu thoại phim, như cái cách Scarlett O’Hara đã nói với khán giả trong đoạn kết của "Cuốn theo chiều gió" năm nào: " Sau tất cả, ngày mai là một ngày mới". 

=====

Bản đã biên tập trên Zing.

mardi 21 janvier 2020

Chàng dâng cá, Nàng ăn hoa! (2019)


Dù đã bước sang tuổi 34 nhưng cô tiếp viên hàng không Vân (Ngọc Anh) vẫn giữ được dáng vóc mảnh mai như một cô gái mới ở tuổi đôi mươi và nhất là vẻ đẹp mặn mà, hiền dịu thể hiện qua từng cử chỉ, lời nói. Bởi thế mà dù dành phần lớn thời gian để ruổi rong theo những chuyến bay phương xa, và ngay khi ở nhà cũng chỉ thu mình trong căn xép nhỏ cùng lũ mèo hoang, nhưng ở góc phố nghèo chẳng ai không biết tới Vân, trong đó có anh chàng đầu bếp trẻ tuổi Thăng (Lãnh Thanh). Chẳng có gì ngoài tài nghệ nấu nướng học được từ quán sushi, Thăng chỉ còn biết tìm đường tới trái tim của Vân thông qua những món ăn mà anh kì công chuẩn bị. Sơn hào hải vị phương xa có, ẩm thực đậm phương vị vùng quê Việt Nam cũng có, Thăng dần có được một vị trí trong cuộc sống và căn phòng chật chội của cô tiếp viên hàng không cô độc. Nhưng dường như những món ăn mà anh đầu bếp trẻ tuổi hào hoa dâng lên cô gái vốn chỉ quen “ăn hương ăn hoa” vẫn thiếu một cái gì đó để thực sự gắn kết tâm hồn của hai con người đã sẵn sàng trao cho nhau tất cả về mặt thể xác.

Là bộ phim mới nhất của đạo diễn Phan Đăng Di, tác phẩm dài 50 phút Chàng dâng cá, Nàng ăn hoa! nằm trong chuỗi 8 phim Câu chuyện ẩm thực (Food Lore) được kênh HBO Asia thực hiện để đem tới cho khán giả những góc nhìn mới về những món ăn đặc sắc nhất của châu Á và xoay quanh đó là cảm xúc, mảnh đời của những người dân đến từ tám mảnh đất khác nhau của châu Á. Tuy Câu chuyện ẩm thực có một “tổng đạo diễn” là nhà làm phim nổi tiếng Eric Khoo – người được coi là đã vực dậy cả nền điện ảnh Singapore, nhưng mỗi tập của loạt phim này lại là một góc nhìn, một câu chuyện hoàn toàn riêng biệt với chỉ một điểm chung đó là ẩm thực như một cái tứ để kết nối các nhân vật, để khơi gợi cho khán giả. Chàng dâng cá, Nàng ăn hoa! là tập thứ hai của Câu chuyện ẩm thực được HBO Asia đem tới công chúng, và quả thực ngay từ những khung hình đầu tiên với bối cảnh giản đơn đậm chất Sài Gòn và tông màu nhẹ nhàng dịu mắt, khán giả đã có thể nhận ra ngay cái chất Phan Đăng Di vốn đã rất quen thuộc với người yêu điện ảnh qua các tác phẩm gây nhiều tiếng vang qua Bi, đừng sợ! (2009) hay Cha và con và… (2015). Với thời lượng không dài và tuyến nhân vật cả chính lẫn phụ chưa tới hai bàn tay, bộ phim với cái tựa rất thơ này có một câu truyện hết sức đơn giản và dễ cảm nhận về tình yêu nồng nhiệt nhưng cũng ẩn chứa những trắc trở không ngờ giữa Thăng và Vân. Dù là một tác phẩm nằm trong chuỗi phim “ẩm thực” và cũng có rất nhiều cảnh quay các món ăn đẹp mắt, nhưng phần lớn thời lượng và những góc quay đẹp nhất của Chàng dâng cá, Nàng ăn hoa! được Phan Đăng Di dành để khắc hoạ vẻ đẹp một trẻ trung tràn đầy nhựa sống, một đằm thắm mặn mà của hai nhân vật chính của anh, và nhất là giúp khán giả có thể hiểu, có thể cảm được phần nào tình cảm hết sức nhiệt thành mà Vân và Thăng dành cho nhau. Một cô tiếp viên thường xuyên vắng nhà bởi những chuyến bay xa, những căn phòng chật hẹp nơi những chiếc quạt điện phải hoạt động hết công suất để tạm xua đi hơi nóng ngột ngạt, một bầu trời rất cao với rất nhiều tự do nhưng chẳng mấy ai có thể vươn tới – đó là những bối cảnh, những cái tứ mà khán giả thường thấy trong phim của Vương Gia Vệ - đạo diễn bậc thầy của vô vàn những cung bậc khác nhau của tình cảm đôi lứa. Không hiểu là vô tình hay hữu ý mà đó cũng lại là những cái tứ, những bối cảnh mà Phan Đăng Di mang đến cho khán giả trong Chàng dâng cá, Nàng ăn hoa! – một tác phẩm mượn món ăn để nói về cái cách một cặp đôi như thế, cặp đôi của Vân và Thăng, cố tìm đến với nhau, cố tìm được những nốt thật sự đồng điệu trong tâm hồn hai người. Là một đạo diễn chưa bao giờ ngại ngần sử dụng những cảnh quay “nhạy cảm” – nếu cần thiết để khắc hoạ tình cảm, sự khát khao mà các nhân vật trong phim dành cho nhau, Phan Đăng Di tất nhiên cũng không né tranh những góc quay thân mật như thế trong tác phẩm được làm để chiếu trên màn ảnh nhỏ như Chàng dâng cá, Nàng ăn hoa!. Dù theo thông tin trên báo chí những ngày vừa qua đã đề cập tới việc HBO Asia đã phải cắt một số cảnh bị coi là “quá nhạy cảm” – một thực tế mà người xem tác phẩm này ở Việt Nam hoàn toàn có thể cảm nhận được bởi những phân đoạn được biên tập tương đối hẫng hụt, nhưng kể cả với những cảnh vẫn còn được giữ lại trong phiên bản cuối cùng đến với công chúng, người xem vẫn có thể cảm nhận được rằng những góc máy mô tả Vân và Thăng môi kề môi, má áp má như vậy là hết sức cần thiết, và hết sức hiệu quả để nêu bật được những khao khát mà cặp đôi này dành cho nhau, đặc biệt là về phía Thăng – một hiệu ứng không dễ gì đạt được đối với một tác phẩm tương đối ngắn như Chàng dâng cá, Nàng ăn hoa!.

Bên cạnh truyện phim giàu cảm xúc, Chàng dâng cá, Nàng ăn hoa! còn xứng đáng được ngợi khen vì những góc máy đẹp về những khung cảnh tưởng chừng quá sức bình dị không có gì đặc biệt của mảnh đất Việt qua tài năng của nhà quay phim Phạm Quang Minh, Chỉ dài chưa đầy một tiếng đồng hồ, nhưng tác phẩm mới nhất của đạo diễn Phan Đăng Di vì thế vẫn để lại những ấn tượng nhất định trong lòng khán giả không chỉ qua những cảnh quay về các món ăn ngon, mà còn là những hình ảnh đặc biệt như con thuyền đêm mắc kẹt giữa bãi sông khô cạn. Tương tự như vậy, phần nhạc phim cũng được Phan Đăng Di nâng niu và sử dụng một cách hết sức tinh tế để không cần quá phô trương nhưng vẫn khiến người xem phải lắng nghe, phải ngẫm nghĩ dù chỉ là những câu hát nhẹ thoáng qua bờ môi của Vân từ Người ơi người ở đừng về cho tới Auld Lang Syne. Phần nghe và phần nhìn của Chàng dâng cá, Nàng ăn hoa! vì thế mà có lẽ là hơi nhỉnh hơn một chút nếu so với diễn xuất của Ngọc Anh và Lãnh Thanh trong vai Vân và Thăng, bởi cả hai đều sở hữu ngoại hình hết sức phù hợp với nhân vật cũng như có được những giờ phút thăng hoa bên nhau trên màn ảnh, nhưng vẫn có cảm giác Ngọc Anh và Lãnh Thanh vẫn còn thiếu chút gì đó để hoàn toàn nhập vai, đặc biệt là với phần thoại và đài từ còn đây đó những phút giây chưa thực sự tự nhiên để khán giả phải thốt lên “diễn mà như không diễn”. Cũng vẫn còn có chút gì đó gượng ép đó là cách Phan Đăng Di sử dụng ẩm thực, sử dụng các món ăn, sử dụng cách các nhân vật nghĩ về các món ăn để khắc hoạ tính cách và thậm chí là số phận của các nhân vật. Trong một bối cảnh khác không phải chuỗi Câu chuyện ẩm thực của Eric Khoo và với thời lượng phim dài hơn, có lẽ Phan Đăng Di sẽ còn có nhiều cơ hội hơn để đem tới cho khán giả những nốt khác trong bản tình ca vui có, buồn cũng rất nhiều giữa Vân và Thăng thay vì một phần kết khá “dị” và ít nhiều hẫng hụt. Và đạo diễn người gốc Nghệ An khi đó có lẽ cũng sẽ không phải đưa quá nhiều cảnh nấu nướng và mô tả các món ăn dù rất ngon nhưng thực ra không để lại quá nhiều ấn tượng, hay kích thích về mặt vị giác cho khán giả vào Chàng dâng cá, Nàng ăn hoa!. Nhưng dù muốn dù không, người xem, đặc biệt là người xem Việt Nam vẫn nên “cảm ơn” HBO Asia vì đã tạo điều kiện để Phan Đăng Di đem một góc nhìn rất Việt Nam về ẩm thực, một câu truyện rất Việt Nam về tình yêu đôi lứa đến với khán giả trong nước và quốc tế. Chỉ hy vọng rằng những lùm xùm về việc “cắt hay không cắt”, “cảnh nào là cảnh nóng trong phim” sẽ không làm khoả lấp đi giá trị thật sự của Chàng dâng cá, Nàng ăn hoa! – một tác phẩm điện ảnh đẹp về đất nước Việt, món ăn Việt, và tâm hồn Việt.

=====

dimanche 29 septembre 2019

Once Upon a Time In Hollywood (2019)


Thập niên 1950 và đầu những năm 1960, điện ảnh và truyền hình Mỹ vẫn là thế giới của những ngôi sao Hollywood “kiểu cũ” – những diễn viên có vẻ đẹp cổ điển rất sáng màn hình, rất phù hợp với những vai diễn người hùng màn bạc, nhưng thường có khả năng diễn xuất hạn hẹp và luôn xuất hiện “trăm vai như một” từ tác phẩm này qua tác phẩm khác. Một trong những ngôi sao tiêu biểu như thế của Hollywood là Rick Dalton (Leonardo DiCaprio). Dù trùng họ với một đảng cướp khét tiếng đầu thế kỷ 20 ở Hoa Kỳ, nhưng Rick khiến người xem từ trẻ đến già phải mê đắm với hình ảnh tay súng chuyên săn tội phạm bị truy nã để lĩnh thưởng trong loạt phim truyền hình Bounty Law. Những năm tháng danh vọng ấy không chỉ giúp Rick có đủ tiền sở hữu một dinh thự rộng lớn trên những ngọn đồi nhà giàu nhìn xuống Los Angeles, mà còn giúp anh tìm được người bạn, người cộng sự thân thiết Cliff Booth (Brad Pitt) – anh chàng cựu binh với quá khứ bí hiểm luôn sẵn sàng “hứng đạn” cho Rick trên phim trường trong vai trò diễn viên đóng thế các cảnh mạo hiểm (nói theo Cliff là carry the load cho Rick), và cả ngoài đời thường trong vai trò tài xế-kiêm bạn tâm giao-kiêm vệ sĩ.

Chìm ngập trong khói thuốc lá và ánh hào quang tưởng chừng không bao giờ tắt, có lẽ Rick không nhận ra rằng xã hội vẫn ngày một đổi thay, và Hollywood cũng không nằm ngoài vòng quay đó. Thay thế cho những ngôi sao chỉ biết diễn cương, chỉ biết áp đặt hình ảnh rất riêng của họ lên màn ảnh như Rick là một thế hệ diễn viên lao động hết sức mình để nhập vai (method acting), để biến mất trong vai diễn như cô bé Trudi Fraser (Julia Butters) – bạn diễn nhỏ tuổi của Rick trong loạt phim cao bồi kiểu mới Lancer. Những diễn viên nhập vai một cách xuất sắc, cùng các đạo diễn mới nổi với các đề tài mang đậm tính xã hội như Roman Polanski (Rafał Zawierucha) – hàng xóm của Rick trong một dinh thự còn lộng lẫy nguy nga hơn nhiều lần chính là làn sóng mới đã thổi hơi thở hiện đại, trẻ trung vào Hollywood, biến Hollywood kinh điển mà Rick hết mực yêu quý trở thành một Hollywood khác – Hollywood Mới (New Hollywood). Hollywood Mới không có chỗ cho những diễn viên một màu, bởi thế người hùng màn bạc Rick dần phải làm quen với những vai diễn phản diện “làm nền” cho các ngôi sao mới trẻ trung hơn, biết diễn xuất hơn như James Stacy (Timothy Olyphant) – người hùng trung tâm của Lancer. Và tất nhiên cùng với đó Cliff cũng không còn nhiều cơ hội trong các vai diễn đóng thế, nhất là khi anh có một quá khứ khiến nhiều người phải e ngại và từng gây rắc rối trên phim trường khi “cả gan” chê bai và gây sự với ngôi sao võ thuật được công chúng yêu thích bậc nhất khi đó là Lý Tiểu Long (Mike Moh). Mất đi vinh quang và những vai diễn, niềm hy vọng duy nhất còn lại của Rick là sự ủng hộ từ những người yêu phim cũ như nhà sản xuất Marvin Schwarz (Al Pacino) – người luôn động viên Rick hãy sang Roma để thử sức với dòng phim cao bồi “kiểu Ý” (Spaghetti Western), còn với Cliff, là chú chó pit bull Brandy và những tác phẩm điện ảnh, truyền hình cũ kĩ nhưng đủ để anh xem qua ngày đoạn tháng.

Chưa từng mơ tới ngày sự nghiệp và cuộc sống lụi tàn dần theo sự đổi thay của xã hội và của Hollywood, tất nhiên Rick và Cliff cũng không thể ngờ được rằng cuộc sống của cả hai sẽ lại bị đảo lộn một lần nữa bởi sự xuất hiện của gia đình người hàng xóm mới Roman Polanski và Sharon Tate (Margot Robbie). Polanski và Tate khiến khu phố yên tĩnh nơi Rick trú ngụ bao năm trở nên náo nhiệt nhờ sự nổi tiếng của chính cặp vợ chồng – một là đạo diễn đang lên với tác phẩm kinh dị gây tiếng vang Rosemary’s Baby, còn một là gương mặt trẻ đẹp của những bộ phim gây xôn xao dư luận như Valley of the Dolls và The Wrecking Crew, và nhờ vào những vị khách nổi tiếng không kém mà cặp đôi này mời tới dinh thự của họ như Jay Sebring (Emile Hirsch) – bạn trai cũ của Tate. Danh tiếng đôi khi cũng kéo theo rắc rối, khi căn hộ của Polanski và Tate cũng lại lọt vào tầm ngắm của nhóm dị giáo do Charles Manson (Damon Herriman) cầm đầu. Những tín đồ của Manson như “Squeaky” Fromme (Dakota Fanning), như “Tex” Watson (Austin Butler), như “Pussycat” (Margaret Qualley) tôn thờ lối sống từ bỏ vật chất tới mức sẵn sàng lục rác để kiếm ăn qua ngày hay sống chung trong những căn hộ chật chội, bẩn thỉu trong trang trại kiêm phim trường bỏ hoang của ông lão mù George Spahn (Bruce Dern). Với lối sống đó, tất nhiên “Gia đình Manson” thù ghét những người giàu có, thành công như vợ chồng Polanski-Tate. Liệu Rick và Cliff có bị “vạ lây” vì lý tưởng quái đản của “Gia đình Manson”, hay không cần tới sự xuất hiện của những Pussycat, những Squeaky thì cuộc sống của Rick, của Cliff cũng sẽ mờ dần trong bóng tối của một Hollywood cũ đã đi vào dĩ vãng?

Nếu chỉ dựa trên những cái tên nhân vật của Once Upon a Time in Hollywood (Ngày xưa ở Hollywood), chắc hẳn nhiều khán giả cũng đã đoán ra rằng với tác phẩm mới nhất này của mình, đạo diễn Quentin Tarantino đã quay trở lại với đề tài “viết lại lịch sử” sau Inglourious Basterds (2009) – bộ phim giả tưởng về vụ ám sát thành công Hitler, và Django Unchained (2012) – tác phẩm đưa người da đen từ vị thế bị áp bức trong xã hội vẫn còn tệ nô lệ ở miền Nam nước Mỹ trở thành anh hùng mã thượng kiểu cao bồi miền Tây – vai trò trước giờ Hollywood mới chỉ dành cho các diễn viên da trắng. Với Ngày xưa ở Hollywood, câu truyện Quentin muốn viết lại gần hơn với hiện tại – đó là vụ thảm sát Sharon Tate và những người bạn tại ngôi biệt thự số 10050 đường Cielo do những tín đồ của Charles Manson gây ra tháng 8 năm 1969. Nhưng cũng như Inglourious Basterds và Django Unchained, Ngày xưa ở Hollywood không chỉ là một “sự kiện lịch sử viết lại”, mà còn là một lát cắt về quá khứ được nhìn qua lăng kính của một nghệ sĩ hết mực yêu điện ảnh. Trung thành với phong cách “thập cẩm” kể từ những tác phẩm thời kỳ đầu như Pulp Fiction (1994) hay Kill Bill (2003-2004), Quentin Tarantino lồng vào Ngày xưa ở Hollywood rất nhiều cách thể hiện, rất nhiều chi tiết gợi nhớ đến những dòng phim mà một thời chính Tarantino, cùng rất nhiều khán giả của ông vẫn hằng yêu quý. Đó là hình ảnh những chàng cao bồi “kiểu cũ” trong các bộ phim của John Ford, đó là những câu thoại và bộ phim “giả tưởng” nhắc nhớ đến bộ ba phim cao bồi kiểu Ý Dollar Trilogy của Sergio Leone, đó là những thước phim và thậm chí là bóng dáng của những ngôi sao tóc ngắn “kiểu Kim Novak” làm khán giả nghĩ ngay đến dòng phim kinh dị - giật gân của Alfred Hitchcock và Roman Polanski, và tất nhiên không thể kể tới hình ảnh đã đi vào huyền thoại của Lý Tiểu Long và các tác phẩm võ thuật đã làm cả Hollywood mê đắm của ông.

Có lẽ sẽ phải mất tới vài trang giấy chỉ để liệt kê những chi tiết liên quan đến lịch sử điện ảnh trong Ngày xưa ở Hollywood, bởi tác phẩm mới nhất này của Quentin Tarantino dường như được ông làm chủ yếu để chia sẻ với khán giả của mình tình yêu vô hạn với điện ảnh, với lịch sử điện ảnh, với lịch sử Hollywood – những thứ đã tạo nên thương hiệu, tạo nên danh tiếng, tạo nên phong cách riêng của Tarantino trong suốt ba thập niên qua. Bởi vậy mà với những tín đồ của điện ảnh, chắc chắn Ngày xưa ở Hollywood sẽ là một kho báu để họ có thể khám phá từng khung hình, từng câu thoại để tìm lại những dấu ấn của điện ảnh Hollywood trong quá khứ, để thấy được Hollywood và xã hội nước Mỹ trong buổi giao thời những cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970 đã được phản chiếu lên phim ảnh thời kì này như thế nào. Vô số chi tiết ẩn dụ nhắc nhớ điểm xuyết từ đầu đến cuối phim có thể là điểm cộng với các “con mọt” điện ảnh, nhưng với công chúng muốn tìm những giờ phút thư giãn, hẳn không phải ai cũng có thể tận hưởng nửa đầu của Ngày xưa ở Hollywood bởi phim có nhịp độ khá chậm, không có quá nhiều sự kiện nổi bật hay các trường đoạn hành động, đối thoại ngẫu hứng vốn thường được Quentin Tarantino rải đều như trong Inglourious Basterds, Django Unchained, hay gần đây nhất là The Hateful Eight (2015). Đặc biệt với những khán giả bên ngoài nước Mỹ, không thực sự quan tâm tới lịch sử Hoa Kỳ trong giai đoạn rất nhiều biến chuyển những năm 1960, 1970, thì nửa đầu Ngày xưa ở Hollywood thậm chí có thể coi là một tác phẩm nhàm chán với quá nhiều góc máy đặc tả “kiểu Tarantino” – đặc biệt là các cảnh quay lấy tâm điểm là … bàn chân nhân vật, trừ phi họ thực sự chờ đón câu truyện được Quentin Tarantino viết lại cho vụ ác man rợ của “Gia đình Manson” tháng 8 năm 1969.

Một trong những điểm tạo nên sự khác biệt cho phong cách Tarantino đó là việc các bộ phim của ông có phần thoại cực kì xuất sắc, với những câu thoại dí dỏm, lý thú nếu đặt trong bối cảnh riêng của đoạn đối thoại, và lại mang tính dẫn dắt, ẩn dụ, kết nối các phân đoạn, các nhân vật tưởng chừng chẳng có gì liên quan tới nhau. Trong Ngày xưa ở Hollywood, người xem sẽ bắt gặp rất nhiều những câu thoại như vậy để rồi đi từ việc gật đầu tán thưởng với những câu thoại nhắc nhớ đến các bộ phim nổi tiếng như Rosemary’s Baby tới chỗ phải “ngã ngửa” vì ngạc nhiên khi thấy Quentin Tarantino kết nối những câu nói tưởng chừng bâng qươ đó với những trường đoạn quan trọng trong phim. Cũng chính qua những câu thoại “vô thưởng vô phạt” nhưng thực ra hết sức ý nhị đó, Quentin Tarantino cũng đã minh hoạ được một Hollywood nói riêng và xã hội nước Mỹ nói chung trong những năm có rất nhiều mâu thuẫn, rất nhiều xung đột tiềm ẩn, nơi các diễn viên da trắng vẫn còn phân biệt chủng tộc một cách thậm tệ với những người da màu, người Mexico, nơi trẻ con lớn lên cùng những bộ phim đầy ắp các cảnh quay bạo lực hay khói thuốc lá. Đặc biệt nhất là việc tuy là lá thư ngỏ lời yêu quý đến Hollywood của quá khứ, nhưng qua những câu thoại do chính tay ông viết nên, Quentin Tarantino cũng lại ngầm chỉ trích, châm biếm những mặt trái của Hollywood như vết nhơ lạm dụng tình dục trẻ em của chính Roman Polanski, sự gian dối của những ngôi sao sẵn sàng quảng cáo thuốc lá dù biết thứ sản phẩm độc hại này đang huỷ hoại sức khoẻ của chính họ, và thậm chí là hành xử có phần hợm hĩnh trên phim trường của các tên tuổi lớn. Từ những phút đầu tiên cho tới tận những khung hình cuối cùng, Quentin Tarantino động tới đủ mọi khía cạnh của Hollywood qua cách nhìn, quan điểm của ông mà chẳng ngoại trừ bất cứ ai, bất cứ chủ đề nào dù cho đó là những huyền thoại được nhiều người trân trọng như Lý Tiểu Long. Chính phân đoạn mô tả Lý Tiểu Long trên phim trường lại gây nên tranh cãi lớn nhất trong một tác phẩm đề cập tới một trong những tội ác gây chấn động nhất ở Hollywood – vụ giết hại Sharon Tate của các tín đồ “Gia đình Manson”. Với những người tôn thờ ngôi sao võ thuật họ Lý hay người thân của ông như con gái Lý Hương Lan thì Quentin Tarantino đã cố tình xúc phạm, hiểu sai hình ảnh của nam diễn viên quá cố. Về phần mình, Tarantino lại cho rằng ông chỉ mô tả đúng những gì đã được đọc, được nghe về Lý Tiểu Long để làm bức tranh về một Hollywood-của-quá-khứ của ông được đầy đủ, đa sắc hơn. Bên nào cũng có lý của họ, nhưng với người yêu điện ảnh, những tranh cãi đó chỉ càng nói nên một điều rằng Ngày xưa ở Hollywood đã thực sự chạm tới những gì được coi là mang tính đại diện về một thời dĩ vãng của Hollywood. Ở thời buổi phim “tiền truyện-hậu truyện”, thời buổi phim siêu anh hùng, thời buổi “phim làm lại”, có mấy ai dám bỏ trí tuệ, công sức, và thời gian để tạo nên một tác phẩm chỉn chu – dù cho có nhiều tranh cãi, mới mẻ - dù “học” rất nhiều từ những nghệ sĩ, bộ phim đi trước, để dành riêng cho những người yêu điện ảnh như Quentin Tarantino với Ngày xưa ở Hollywood?

Một điểm sáng không thể không nhắc tới khác của Ngày xưa ở Hollywood đó là diễn xuất xuất sắc của Leonardo DiCaprio. Hoàn toàn khác với sự nham hiểm của tay chủ nô miền Nam Calvin J. Candie trong Django Unchained, Rick Dalton của DiCaprio trong Ngày xưa ở Hollywood là hình ảnh của một ngôi sao điện ảnh sắp hết thời với cách nhìn đời đầy bi quan sau những trải nghiệm về những góc sáng và tối của Hollywood, vừa tuyệt đối thờ ơ với những biến đổi thực sự của xã hội và của chính Hollywood đang diễn ra bên ngoài những phim trường, bên ngoài những trang kịch bản vốn là cuộc sống bao nhiêu năm của người hùng điện ảnh với cái họ tướng cướp. Với tài năng của mình, DiCaprio đã đem tới cho khán giả một Rick Dalton với rất nhiều cung bậc cảm xúc, với cách phản ứng hết sức khác nhau với thực tại khắc nghiệt của một ngôi sao hết thời. Số phận của Rick Dalton trong Ngày xưa ở Hollywood vừa là bi kịch của một nhân tố chậm thay đổi khi làn sóng của một Hollywood Mới vị-nhân-sinh đột ngột ập tới, vừa là câu truyện lãng mạn pha chút hài hước của một tâm hồn luôn yêu điện ảnh, luôn hết mình vì điện ảnh, luôn muốn sống mãi trong không khí của một Hollywood-vị-nghệ-thuật. Khi so sánh với DiCaprio, các ngôi sao khác như Brad Pitt trong vai Cliff Booth, Margot Robbie trong vai Sharon Tate, hay ngôi sao gạo cội Al Pacino trong vai diễn nhỏ Marvin Schwarz có phần bị lép vế tuy rằng cách xây dựng nhân vật dày dặn, chu đáo của Quentin Tarantino cùng tài năng của những cái tên lớn này vẫn giúp Cliff, giúp Tate, giúp Schwarz trở thành những phần không thể tách rời để tạo nên một Hollywood rất riêng, một Hollywood-của-ngày-xưa.

Không phải là một tác phẩm hoàn hảo, nhưng không ai có thể phủ nhận được rằng Ngày xưa ở Hollywood là một lá thư chân thành và đặc sắc của Quentin Tarantino gửi tới khán giả để chia sẻ tình yêu của ông với điện ảnh nói chung và với Hollywood ở buổi giao thời giữa làn sóng cũ và làn sóng mới. Quentin Tarantino đã nhiều lần khẳng định rằng mình sẽ chỉ làm 10 phim trước khi “rửa tay gác kiếm”, có lẽ vì vậy mà ở bộ phim áp chót này, Tarantino thực sự muốn dựng nên một tác phẩm riêng cho bản thân mình, bất chấp việc tác phẩm đó có chứa đựng quá nhiều chi tiết ẩn dụ và có nhịp phim tương đối chậm không hẳn đã hấp dẫn với người xem phim đại chúng. Nhưng với rất nhiều những khán giả khác đã chia sẻ tình yêu điện ảnh với Quentin Tarantino trong suốt mấy thập niên vừa qua, chắc chắn họ sẽ cảm và thấm được câu truyện cổ tích-mà-không phải là cổ tích trong Ngày xưa ở Hollywood.

======

vendredi 7 décembre 2018

Widows (2018)


Chicago là một trong những thành phố giàu có và năng động nhất của nước Mỹ với vô số các toà nhà chọc trời và cơ hội làm giàu rộng mở ở mọi nơi, mọi lúc. Nhưng cũng chính tại Chicago, khoảng cách giàu-nghèo ngày một lớn, cùng nạn bạo lực đến từ các băng đảng hoành hành bởi luật quản lý súng lỏng lẻo đã biến cuộc sống của nhiều người dân, đặc biệt là những người da đen nghèo ở các khu phố ngoại ô Chicago trở thành cuộc vận lộn mưu sinh không lấy gì làm dễ chịu. Nếu so sánh với những mảnh đời khốn khó đó của các cư dân người Mỹ gốc Phi của Chicago thì rõ ràng Veronica Rawlings (Viola Davis) có thể được coi là một phụ nữ may mắn. Có một công việc chẳng thể đem lại nhiều tiền bạc – đại diện cho nghiệp đoàn giáo viên nhưng Veronica lại tận hưởng một cảnh đời giàu sang trong căn hộ cao cấp ngay trung tâm Chicago cùng chú cún cưng và đặc biệt là người chồng Harry (Liam Neeson) vốn luôn hết mực yêu thương, chiều chuộng vợ.

Nhưng Veronica chẳng thể ngờ được rằng cuộc sống sung sướng của bà lại bắt nguồn từ những đồng tiền bẩn thỉu từ các vụ trộm cướp của Harry. Là người đàn ông hào hoa, lịch lãm trước mặt vợ nhưng trong bóng đêm của thành phố Chicago, Harry lại là tay tướng cướp quỷ quyệt chịu trách nhiệm vạch ra đường đi nước bước cho ba tay đàn em là Carlos (Manuel Garcia-Rulfo), Florek Gunner (Jon Bernthal), và Jimmy Nunn (Coburn Goss). Nhưng đi đêm lắm rồi cũng có ngày gặp ma, trong một phi vụ ăn trộm 2 triệu đô la tiền vận động tranh cử của tay trùm băng đảng chuyển hướng sang làm chính trị Jamal Manning (Brian Tyree Henry), chiếc xe chở bộ tứ Harry, Carlos, Florek, và Jimmy bị nổ tung sau cuộc truy đuổi và đấu súng quyết liệt với cảnh sát Chicago. Vốn trước đó đã mất đi người con trai Marcus vì bị cảnh sát bắn nhầm trên đường, chỉ trong khoảnh khắc Veronica Rawlings lại mất đi nốt người chồng yêu thương và trở thành người goá phụ cô độc trong căn hộ xa hoa với chú chó trắng.

Sau cái đêm định mệnh cướp đi sinh mạng của băng cướp Harry, không chỉ có mình Veronica trở thành goá phụ. Carlos ra đi không chỉ bắt cô vợ người gốc Mỹ Latinh Linda Perelli (Michelle Rodriguez) rơi vào cảnh một mình nuôi con mà còn buộc Linda phải gánh lấy món nợ đến từ thói máu mê cờ bạc của chồng. Tuy là gã vũ phu thường động chân tay với vợ nhưng cái chết của Florek vẫn làm cô vợ trẻ Alice (Elizabeth Debicki) trở nên hụt hẫng vì không nghề nghiệp, không kinh nghiệm, không tương lai, và cũng chẳng có nổi một chỗ dựa tử tế khi mà bà mẹ người gốc Ba Lan của cô (Jacki Weaver) chỉ luôn toan tính mang thân xác của chính con gái mình ra để kiếm tiền. Và cũng như Linda, vợ của Jimmy là Amanda (Carrie Coon) còn chẳng có nổi thời gian để khóc thương cho chồng khi mà đứa con mới sinh của hai người vẫn còn đang luôn miệng đòi vòng tay của mẹ. 

Không phải đối mặt với cuộc sống khó khăn, cũng không rơi vào cảnh con cái nheo nhóc, nhưng cái chết của Harry lại đem đến cho Veronica một rắc rối chết người khác. Đó là khoản tiền 2 triệu đô Harry ăn cắp từ tay Jamal và gã em trai Jatemme (Daniel Kaluuya) – hai tay trùm băng đảng người da đen đang ấp ủ tham vọng lật đổ “đế chế” chính trị của bố con Tom (Robert Duvall) và Jack Mulligan (Colin Farrell) thông qua cuộc bầu cử hội đồng khu vực dân cư nghèo của Chicago. Ở xứ sở dân chủ tự do như nước Mỹ, ứng cử viên nào có càng nhiều tiền để quảng cáo vận động tranh cử thì càng có cơ hội thắng cử lớn, bởi vậy khi đối đầu với một gia đình người da trắng có truyền thống trong chính quyền, lại nổi tiếng là nhiều tiền “lại quả” từ các dự án xây dựng ở khu vực, thì món tiền 2 triệu đô là cả cơ hội đổi đời của Jamal và Jatemme. Sau vụ nổ cướp đi sinh mạng của Harry và biến chỗ tiền ăn cắp trở thành tro bụi, tất nhiên Jamal và Jatemme gán trách nhiệm lấy lại tiền cho Veronica. Hai gã cho bà đúng 1 tháng để trả lại chỗ tiền vận động tranh cử - một nhiệm vụ bất khả đối với một phụ nữ chưa bao giờ phải đối diện với khó khăn và cả đời sống ngay thẳng với nghề đại diện nghiệp đoàn giáo viên như Veronica. Tình cảnh trớ trêu này buộc Veronica phải tính đến giải pháp cuối cùng – “tiếp bước” Harry tiến hành một phi vụ trộm để có tiền trả nợ đời. Hỗ trợ cho Veronica trong vụ trộm “thế kỷ” này không ngoài ai khác mà chính là hai bà goá phụ Linda và Alice, cùng cô thợ cắt tóc kiêm vú em Belle (Cynthia Erivo). 

Bộ phim về băng trộm goá phụ Widows là tác phẩm mới nhất của đạo diễn người Anh Steve McQueen dựa trên loạt phim truyền hình cùng tên được hãng ITV của Anh phát sóng vào giữa thập niên 1980. Trước Widows, đạo diễn 49 tuổi người da màu mới chỉ có trong tay 3 phim điện ảnh là Hunger (2008), Shame (2011), và 12 Years a Slave (2013). Nhưng chỉ từng ấy tác phẩm cũng đã là quá đủ để Steve McQueen khẳng định tài năng trong dòng phim tâm lý và bi kịch tại Hollywood, đặc biệt là với giải Oscar phim hay nhất cho 12 Years a Slave. Bởi vậy mà khi khi đoạn phim quảng cáo đầu tiên của Widows ra mắt công chúng, nhiều người đã tỏ ra ngạc nhiên không chỉ vì tác phẩm mới nhất này của McQueen vắng bóng Michael Fassbender – diễn viên thể hiện một cách xuất sắc vai chính trong cả bộ ba Hunger, Shame và 12 Years a Slave, mà còn vì Widows mang màu sắc phim hành động – dòng phim hoàn toàn mới mẻ đối với một đạo diễn “chuyên trị” phim tâm lý như Steve McQueen. Sự ngạc nhiên, thậm chí là có phần nghi ngại đó là hoàn toàn có cơ sở, bởi dù có tài năng đã được kiểm chứng, lại có sự giúp sức của nhà văn nữ Gillian Flynn – tác giả tiểu thuyết và sau đó là kịch bản phim hình sự xuất sắc Gone Girl (2014), nhưng để chuyển từ các bộ phim đặc tả tâm lý, đi sâu vào nội tâm nhân vật và khá kén người xem như Hunger hay Shame sang dòng phim đòi hỏi nhịp phim nhanh, nhiều trường đoạn hành động lôi cuốn khán giả là một nhiệm vụ không hề dễ dàng đối với Steve McQueen.

Một tin mừng cho những người yêu phim của Steve McQueen là Widows có thể được coi là một thử nghiệm thành công của đạo diễn người Anh trong dòng phim mới. Trung thành với một tác phẩm hành động truyền thống, Widows có nhịp phim tương đối nhanh với nhiều pha hành động hồi hộp, kịch tính và đặc biệt là có nhiều bất ngờ với những nút thắt mở rất phù hợp với một bộ phim lấy đề tài “trộm cướp”. Đặc biệt là dù lấy trung tâm là những người phụ nữ mạnh mẽ có, yếu mềm có nhưng nhìn chung không quen với súng ống, bạo lực, Widows lại có rất nhiều cảnh phim gây bất ngờ về mức độ bạo lực, nhất là trong những phân đoạn có sự xuất hiện của Jatemme Manning – một vai diễn xuất sắc khác của Daniel Kaluuya, diễn viên được coi là phát hiện mới của Hollywood sau Get Out (2017) và Black Panther (2018). Widows là một bộ phim rất ít “người tốt” khi mà Chicago trong phim luôn phải oằn mình chịu đựng sự hoành hành của những tên tội phạm ưa thích bạo lực như Jamal, Jatemme, và những chính trị gia có bề ngoài hào nhoáng nhưng bên trong mục ruỗng như cha con nhà Mulligan. Trong một xã hội không có “người tốt” như vậy, tất nhiên những người phụ nữ phải đứng lên để bảo vệ bản thân, để đấu tranh cho tương lai của chính họ và những người họ yêu thương. Bởi thế Widows là một bộ phim về những phụ nữ mất mát, nhưng cũng là bộ phim về những người phụ nữ tìm thấy sức mạnh không chỉ về thể chất mà còn cả về tinh thần để có thể đương đầu với sóng gió cuộc đời mà không phải nấp sau hình bóng của bất cứ người đàn ông nào. Sự tương phản giữa một Veronica dịu dàng, lịch lãm ở đầu phim với “nữ tướng” Veronica đầy cơ bắp với tinh thần sắt thép ở cuối phim chính là hình ảnh tiêu biểu nhất cho chất nữ quyền đậm nét này của Widows. Bên cạnh Veronica, sự chuyển hoá đến bất ngờ của Alice từ cô nàng đỏng đảnh chỉ biết nằm dài trên giường tới một người phụ nữ độc lập tự tin ở nửa cuối phim qua diễn xuất nhiều màu sắc của Elizabeth Debicki cũng là một điểm sáng khác của Widows trong việc đưa các nhân vật nữ trở thành trung tâm, trở thành sức mạnh thật sự của tác phẩm thay vì chỉ mang tính “trang trí” như trong đa phần các bộ phim Hollywood của dòng phim hành động. 

Là đạo diễn xuất sắc của dòng phim tâm lý, tất nhiên Steve McQueen không thể bỏ qua thế mạnh đặc trưng này của ông trong Widows – và chất tâm lý đậm nét cũng chính là nhân tố tạo sự khác biệt cho Widows khi so sánh với những bộ phim hành động, phim “trộm cắp” truyền thống khác của Hollywood như Ocean's 8 (2018) – một tác phẩm cũng nói về một băng trộm “toàn nữ” phải đối mặt với một nhiệm vụ bất khả. Thậm chí là sau khi xem Widows, chắc chắn nhiều khán giả sẽ có cảm giác rằng khía cạnh tâm lý của phim có sức nặng, và còn để lại nhiều ấn tượng hơn cả những pha hành động hay những nút thắt mở bất ngờ của phim. Qua diễn xuất xuất sắc của dàn diễn viên nữ, đặc biệt là Viola Davis và Elizabeth Debicki, Widows đem đến cho khán giả một cái nhìn rất sâu về quá trình tìm lại mình của những người phụ nữ khi vấp phải nỗi đau khổ đến tột cùng – đó là cái chết của người thân yêu nhất. Thậm chí là đối với nhân vật trung tâm của phim Veronica, quá trình tìm lại mình này lại còn có nhiều khúc quanh không ai ngờ tới mà nếu không gây dựng cho mình một tinh thần mạnh mẽ, một ý chí tự lực thì khó có ai, bất kể là nam hay nữ có thể vượt qua được. Dòng phim hành động Hollywood không phải không có những nhân vật nữ đáng nhớ, từ Ellen Ripley của loạt phim Alien, Sarah Connor của loạt phim The Terminator, tới Cô Dâu trong Kill Bill (2003), rất nhiều bóng hồng đã khiến khán giả phải trầm trồ vì cách họ chiếm lĩnh màn ảnh và làm chủ những pha hành động ngẹt thở. Nhưng hiếm có ngôi sao hành động nào có được chiều sâu về mặt tâm lý, có quá trình tìm lại bản thân được mô tả sâu sắc, nhạy cảm, và chân thật như Veronica của Widows. Không chỉ Steve McQueen – đạo diễn nổi danh trong việc tạo dựng nhân vật có thể tự hào vì thành công của Veronica, mà việc hình ảnh “nữ tướng cướp ôm chó” của Widows đi được vào lòng người xem cũng là một thành công mới của Viola Davis – người thể hiện một cách xuất sắc cả hai bộ mặt nhẹ nhàng, nhạy cảm và cứng rắn, gai góc của Veronica trong phim. 

Tuy thành công trên nhiều mặt, đặc biệt là việc truyền hơi thở nữ quyền vào một tác phẩm hành động về đề tài “trộm cắp”, nhưng bộ phim ít nhiều mang tính thử nghiệm này của Steve McQueen có lẽ vẫn chưa sánh được với những bộ phim chặt chẽ và hoàn chỉnh trước đây của ông như 12 Years a Slave hay Shame. Do cố gắng chú trọng cả khía cạnh tâm lý và hành động nên kịch bản Widows chưa tạo được cảm giác mượt mà, thống nhất, đặc biệt là ở phần cuối của phim khi trường đoạn được coi là cao trào của phim – vụ trộm của băng “goá phụ” lại không thực sự gây nhiều ấn tượng từ quá trình “chuẩn bị” cho đến khi nút thắt mở cuối cùng được đem tới cho khán giả. Với nhiều nút thắt mở phải giải quyết, nhiều chi tiết về mặt tâm lý muốn đề cập, kịch bản của Widows vì thế mà cũng trở nên thiếu đất cho các nhân vật phụ. Ngoại trừ Veronica, Alice, Belle, hay Jatemme, các nhân vật khác của Widows không để lại nhiều dấu ấn, kể cả những vai do các diễn viên thực lực đảm nhận như vai Linda của Michelle Rodriguez hay Jack Mulligan của Colin Farrell. 

Một bộ phim hay không nhất thiết phải là một tác phẩm hoàn hảo, nhưng luôn phải là một tác phẩm lôi cuốn khán giả, khiến họ phải suy nghĩ về số phận các nhân vật trong phim, khơi gợi họ liên hệ bản thân đối với những số phận đa chiều ấy. Với người yêu phim, đặc biệt là các khán giả nữ, thì chắc chắn Widows là một tác phẩm như thế. Dù vẫn còn thiếu sót, Steve McQueen hoàn toàn có thể tự hào rằng ông đã cho ra đời một tác phẩm hành động xuất sắc nhưng lại đậm chất nữ quyền – yếu tố vốn ít được đề cập tới trong dòng phim hành động nhưng lại là đề tài nóng bỏng được cả Hollywood và xã hội Mỹ quan tâm trong thời gian gần đây.

========