some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

vendredi 7 décembre 2018

Widows (2018)


Chicago là một trong những thành phố giàu có và năng động nhất của nước Mỹ với vô số các toà nhà chọc trời và cơ hội làm giàu rộng mở ở mọi nơi, mọi lúc. Nhưng cũng chính tại Chicago, khoảng cách giàu-nghèo ngày một lớn, cùng nạn bạo lực đến từ các băng đảng hoành hành bởi luật quản lý súng lỏng lẻo đã biến cuộc sống của nhiều người dân, đặc biệt là những người da đen nghèo ở các khu phố ngoại ô Chicago trở thành cuộc vận lộn mưu sinh không lấy gì làm dễ chịu. Nếu so sánh với những mảnh đời khốn khó đó của các cư dân người Mỹ gốc Phi của Chicago thì rõ ràng Veronica Rawlings (Viola Davis) có thể được coi là một phụ nữ may mắn. Có một công việc chẳng thể đem lại nhiều tiền bạc – đại diện cho nghiệp đoàn giáo viên nhưng Veronica lại tận hưởng một cảnh đời giàu sang trong căn hộ cao cấp ngay trung tâm Chicago cùng chú cún cưng và đặc biệt là người chồng Harry (Liam Neeson) vốn luôn hết mực yêu thương, chiều chuộng vợ.

Nhưng Veronica chẳng thể ngờ được rằng cuộc sống sung sướng của bà lại bắt nguồn từ những đồng tiền bẩn thỉu từ các vụ trộm cướp của Harry. Là người đàn ông hào hoa, lịch lãm trước mặt vợ nhưng trong bóng đêm của thành phố Chicago, Harry lại là tay tướng cướp quỷ quyệt chịu trách nhiệm vạch ra đường đi nước bước cho ba tay đàn em là Carlos (Manuel Garcia-Rulfo), Florek Gunner (Jon Bernthal), và Jimmy Nunn (Coburn Goss). Nhưng đi đêm lắm rồi cũng có ngày gặp ma, trong một phi vụ ăn trộm 2 triệu đô la tiền vận động tranh cử của tay trùm băng đảng chuyển hướng sang làm chính trị Jamal Manning (Brian Tyree Henry), chiếc xe chở bộ tứ Harry, Carlos, Florek, và Jimmy bị nổ tung sau cuộc truy đuổi và đấu súng quyết liệt với cảnh sát Chicago. Vốn trước đó đã mất đi người con trai Marcus vì bị cảnh sát bắn nhầm trên đường, chỉ trong khoảnh khắc Veronica Rawlings lại mất đi nốt người chồng yêu thương và trở thành người goá phụ cô độc trong căn hộ xa hoa với chú chó trắng.

Sau cái đêm định mệnh cướp đi sinh mạng của băng cướp Harry, không chỉ có mình Veronica trở thành goá phụ. Carlos ra đi không chỉ bắt cô vợ người gốc Mỹ Latinh Linda Perelli (Michelle Rodriguez) rơi vào cảnh một mình nuôi con mà còn buộc Linda phải gánh lấy món nợ đến từ thói máu mê cờ bạc của chồng. Tuy là gã vũ phu thường động chân tay với vợ nhưng cái chết của Florek vẫn làm cô vợ trẻ Alice (Elizabeth Debicki) trở nên hụt hẫng vì không nghề nghiệp, không kinh nghiệm, không tương lai, và cũng chẳng có nổi một chỗ dựa tử tế khi mà bà mẹ người gốc Ba Lan của cô (Jacki Weaver) chỉ luôn toan tính mang thân xác của chính con gái mình ra để kiếm tiền. Và cũng như Linda, vợ của Jimmy là Amanda (Carrie Coon) còn chẳng có nổi thời gian để khóc thương cho chồng khi mà đứa con mới sinh của hai người vẫn còn đang luôn miệng đòi vòng tay của mẹ. 

Không phải đối mặt với cuộc sống khó khăn, cũng không rơi vào cảnh con cái nheo nhóc, nhưng cái chết của Harry lại đem đến cho Veronica một rắc rối chết người khác. Đó là khoản tiền 2 triệu đô Harry ăn cắp từ tay Jamal và gã em trai Jatemme (Daniel Kaluuya) – hai tay trùm băng đảng người da đen đang ấp ủ tham vọng lật đổ “đế chế” chính trị của bố con Tom (Robert Duvall) và Jack Mulligan (Colin Farrell) thông qua cuộc bầu cử hội đồng khu vực dân cư nghèo của Chicago. Ở xứ sở dân chủ tự do như nước Mỹ, ứng cử viên nào có càng nhiều tiền để quảng cáo vận động tranh cử thì càng có cơ hội thắng cử lớn, bởi vậy khi đối đầu với một gia đình người da trắng có truyền thống trong chính quyền, lại nổi tiếng là nhiều tiền “lại quả” từ các dự án xây dựng ở khu vực, thì món tiền 2 triệu đô là cả cơ hội đổi đời của Jamal và Jatemme. Sau vụ nổ cướp đi sinh mạng của Harry và biến chỗ tiền ăn cắp trở thành tro bụi, tất nhiên Jamal và Jatemme gán trách nhiệm lấy lại tiền cho Veronica. Hai gã cho bà đúng 1 tháng để trả lại chỗ tiền vận động tranh cử - một nhiệm vụ bất khả đối với một phụ nữ chưa bao giờ phải đối diện với khó khăn và cả đời sống ngay thẳng với nghề đại diện nghiệp đoàn giáo viên như Veronica. Tình cảnh trớ trêu này buộc Veronica phải tính đến giải pháp cuối cùng – “tiếp bước” Harry tiến hành một phi vụ trộm để có tiền trả nợ đời. Hỗ trợ cho Veronica trong vụ trộm “thế kỷ” này không ngoài ai khác mà chính là hai bà goá phụ Linda và Alice, cùng cô thợ cắt tóc kiêm vú em Belle (Cynthia Erivo). 

Bộ phim về băng trộm goá phụ Widows là tác phẩm mới nhất của đạo diễn người Anh Steve McQueen dựa trên loạt phim truyền hình cùng tên được hãng ITV của Anh phát sóng vào giữa thập niên 1980. Trước Widows, đạo diễn 49 tuổi người da màu mới chỉ có trong tay 3 phim điện ảnh là Hunger (2008), Shame (2011), và 12 Years a Slave (2013). Nhưng chỉ từng ấy tác phẩm cũng đã là quá đủ để Steve McQueen khẳng định tài năng trong dòng phim tâm lý và bi kịch tại Hollywood, đặc biệt là với giải Oscar phim hay nhất cho 12 Years a Slave. Bởi vậy mà khi khi đoạn phim quảng cáo đầu tiên của Widows ra mắt công chúng, nhiều người đã tỏ ra ngạc nhiên không chỉ vì tác phẩm mới nhất này của McQueen vắng bóng Michael Fassbender – diễn viên thể hiện một cách xuất sắc vai chính trong cả bộ ba Hunger, Shame và 12 Years a Slave, mà còn vì Widows mang màu sắc phim hành động – dòng phim hoàn toàn mới mẻ đối với một đạo diễn “chuyên trị” phim tâm lý như Steve McQueen. Sự ngạc nhiên, thậm chí là có phần nghi ngại đó là hoàn toàn có cơ sở, bởi dù có tài năng đã được kiểm chứng, lại có sự giúp sức của nhà văn nữ Gillian Flynn – tác giả tiểu thuyết và sau đó là kịch bản phim hình sự xuất sắc Gone Girl (2014), nhưng để chuyển từ các bộ phim đặc tả tâm lý, đi sâu vào nội tâm nhân vật và khá kén người xem như Hunger hay Shame sang dòng phim đòi hỏi nhịp phim nhanh, nhiều trường đoạn hành động lôi cuốn khán giả là một nhiệm vụ không hề dễ dàng đối với Steve McQueen.

Một tin mừng cho những người yêu phim của Steve McQueen là Widows có thể được coi là một thử nghiệm thành công của đạo diễn người Anh trong dòng phim mới. Trung thành với một tác phẩm hành động truyền thống, Widows có nhịp phim tương đối nhanh với nhiều pha hành động hồi hộp, kịch tính và đặc biệt là có nhiều bất ngờ với những nút thắt mở rất phù hợp với một bộ phim lấy đề tài “trộm cướp”. Đặc biệt là dù lấy trung tâm là những người phụ nữ mạnh mẽ có, yếu mềm có nhưng nhìn chung không quen với súng ống, bạo lực, Widows lại có rất nhiều cảnh phim gây bất ngờ về mức độ bạo lực, nhất là trong những phân đoạn có sự xuất hiện của Jatemme Manning – một vai diễn xuất sắc khác của Daniel Kaluuya, diễn viên được coi là phát hiện mới của Hollywood sau Get Out (2017) và Black Panther (2018). Widows là một bộ phim rất ít “người tốt” khi mà Chicago trong phim luôn phải oằn mình chịu đựng sự hoành hành của những tên tội phạm ưa thích bạo lực như Jamal, Jatemme, và những chính trị gia có bề ngoài hào nhoáng nhưng bên trong mục ruỗng như cha con nhà Mulligan. Trong một xã hội không có “người tốt” như vậy, tất nhiên những người phụ nữ phải đứng lên để bảo vệ bản thân, để đấu tranh cho tương lai của chính họ và những người họ yêu thương. Bởi thế Widows là một bộ phim về những phụ nữ mất mát, nhưng cũng là bộ phim về những người phụ nữ tìm thấy sức mạnh không chỉ về thể chất mà còn cả về tinh thần để có thể đương đầu với sóng gió cuộc đời mà không phải nấp sau hình bóng của bất cứ người đàn ông nào. Sự tương phản giữa một Veronica dịu dàng, lịch lãm ở đầu phim với “nữ tướng” Veronica đầy cơ bắp với tinh thần sắt thép ở cuối phim chính là hình ảnh tiêu biểu nhất cho chất nữ quyền đậm nét này của Widows. Bên cạnh Veronica, sự chuyển hoá đến bất ngờ của Alice từ cô nàng đỏng đảnh chỉ biết nằm dài trên giường tới một người phụ nữ độc lập tự tin ở nửa cuối phim qua diễn xuất nhiều màu sắc của Elizabeth Debicki cũng là một điểm sáng khác của Widows trong việc đưa các nhân vật nữ trở thành trung tâm, trở thành sức mạnh thật sự của tác phẩm thay vì chỉ mang tính “trang trí” như trong đa phần các bộ phim Hollywood của dòng phim hành động. 

Là đạo diễn xuất sắc của dòng phim tâm lý, tất nhiên Steve McQueen không thể bỏ qua thế mạnh đặc trưng này của ông trong Widows – và chất tâm lý đậm nét cũng chính là nhân tố tạo sự khác biệt cho Widows khi so sánh với những bộ phim hành động, phim “trộm cắp” truyền thống khác của Hollywood như Ocean's 8 (2018) – một tác phẩm cũng nói về một băng trộm “toàn nữ” phải đối mặt với một nhiệm vụ bất khả. Thậm chí là sau khi xem Widows, chắc chắn nhiều khán giả sẽ có cảm giác rằng khía cạnh tâm lý của phim có sức nặng, và còn để lại nhiều ấn tượng hơn cả những pha hành động hay những nút thắt mở bất ngờ của phim. Qua diễn xuất xuất sắc của dàn diễn viên nữ, đặc biệt là Viola Davis và Elizabeth Debicki, Widows đem đến cho khán giả một cái nhìn rất sâu về quá trình tìm lại mình của những người phụ nữ khi vấp phải nỗi đau khổ đến tột cùng – đó là cái chết của người thân yêu nhất. Thậm chí là đối với nhân vật trung tâm của phim Veronica, quá trình tìm lại mình này lại còn có nhiều khúc quanh không ai ngờ tới mà nếu không gây dựng cho mình một tinh thần mạnh mẽ, một ý chí tự lực thì khó có ai, bất kể là nam hay nữ có thể vượt qua được. Dòng phim hành động Hollywood không phải không có những nhân vật nữ đáng nhớ, từ Ellen Ripley của loạt phim Alien, Sarah Connor của loạt phim The Terminator, tới Cô Dâu trong Kill Bill (2003), rất nhiều bóng hồng đã khiến khán giả phải trầm trồ vì cách họ chiếm lĩnh màn ảnh và làm chủ những pha hành động ngẹt thở. Nhưng hiếm có ngôi sao hành động nào có được chiều sâu về mặt tâm lý, có quá trình tìm lại bản thân được mô tả sâu sắc, nhạy cảm, và chân thật như Veronica của Widows. Không chỉ Steve McQueen – đạo diễn nổi danh trong việc tạo dựng nhân vật có thể tự hào vì thành công của Veronica, mà việc hình ảnh “nữ tướng cướp ôm chó” của Widows đi được vào lòng người xem cũng là một thành công mới của Viola Davis – người thể hiện một cách xuất sắc cả hai bộ mặt nhẹ nhàng, nhạy cảm và cứng rắn, gai góc của Veronica trong phim. 

Tuy thành công trên nhiều mặt, đặc biệt là việc truyền hơi thở nữ quyền vào một tác phẩm hành động về đề tài “trộm cắp”, nhưng bộ phim ít nhiều mang tính thử nghiệm này của Steve McQueen có lẽ vẫn chưa sánh được với những bộ phim chặt chẽ và hoàn chỉnh trước đây của ông như 12 Years a Slave hay Shame. Do cố gắng chú trọng cả khía cạnh tâm lý và hành động nên kịch bản Widows chưa tạo được cảm giác mượt mà, thống nhất, đặc biệt là ở phần cuối của phim khi trường đoạn được coi là cao trào của phim – vụ trộm của băng “goá phụ” lại không thực sự gây nhiều ấn tượng từ quá trình “chuẩn bị” cho đến khi nút thắt mở cuối cùng được đem tới cho khán giả. Với nhiều nút thắt mở phải giải quyết, nhiều chi tiết về mặt tâm lý muốn đề cập, kịch bản của Widows vì thế mà cũng trở nên thiếu đất cho các nhân vật phụ. Ngoại trừ Veronica, Alice, Belle, hay Jatemme, các nhân vật khác của Widows không để lại nhiều dấu ấn, kể cả những vai do các diễn viên thực lực đảm nhận như vai Linda của Michelle Rodriguez hay Jack Mulligan của Colin Farrell. 

Một bộ phim hay không nhất thiết phải là một tác phẩm hoàn hảo, nhưng luôn phải là một tác phẩm lôi cuốn khán giả, khiến họ phải suy nghĩ về số phận các nhân vật trong phim, khơi gợi họ liên hệ bản thân đối với những số phận đa chiều ấy. Với người yêu phim, đặc biệt là các khán giả nữ, thì chắc chắn Widows là một tác phẩm như thế. Dù vẫn còn thiếu sót, Steve McQueen hoàn toàn có thể tự hào rằng ông đã cho ra đời một tác phẩm hành động xuất sắc nhưng lại đậm chất nữ quyền – yếu tố vốn ít được đề cập tới trong dòng phim hành động nhưng lại là đề tài nóng bỏng được cả Hollywood và xã hội Mỹ quan tâm trong thời gian gần đây.

========

mercredi 28 novembre 2018

The Dreamers (2003) (revised review)


Một review cũ viết lại nhân đạo diễn Bernardo Bertolucci vừa qua đời. 


Luôn được coi là một trong những quốc gia hàng đầu thế giới về nghệ thuật thứ bảy, nước Ý là cái nôi sản sinh ra nhiều đạo diễn danh tiếng như Federico Fellini, Michelangelo Antonioni, Roberto Rossellini, hay Vittorio De Sica. Các bộ phim Ý đã giành tới 14 giải Oscar cho phim nói tiếng nước ngoài hay nhất, rất nhiều các nghệ sĩ của Ý cũng đã thành danh tại Hollywood và quốc tế như đạo diễn Sergio Leone, nữ diễn viên Sophia Loren, hay nhà soạn nhạc Ennio Morricone. Nhưng tính cho tới năm 2018, chỉ có duy nhất một đạo diễn người Ý từng giành giải Oscar cho đạo diễn xuất sắc nhất - Bernardo Bertolucci với bộ phim Hoàng đế cuối cùng (The Last Emperor, 1987). Cũng là bộ phim duy nhất do Ý đầu tư từng giành giải Oscar cho phim hay nhất, Hoàng đế cuối cùng là khúc ca bi tráng về cuộc đời đầy biến động của Phổ Nghi – hoàng đế cuối cùng trong lịch sử Trung Quốc. Bên cạnh Hoàng đế cuối cùng, Bernardo Bertolucci còn có rất nhiều tác phẩm đáng nhớ trong sự nghiệp kéo dài hơn nửa thế kỷ của ông như Il conformista (1970), Last Tango in Paris (1972), hay 1900 (1976). Nhưng trong suốt gần hai thập niên cuối cùng trước khi qua đời vì bệnh ung thư phổi vào ngày 26 tháng 11 năm 2018 vừa qua, Bertolucci chỉ đem đến cho công chúng ba phim điện ảnh dài – Besieged (1998), The Dreamers (2003), và Me and You (2012). Trong số này thì có lẽ chỉ duy có The Dreamers là thực sự gây được nhiều tiếng vang vì những dấu ấn nghệ thuật đặc trưng cho vị đạo diễn người Ý ở buổi chiều tà của sự nghiệp.

The Dreamers (Những kẻ mộng mơ) là câu truyện tuổi mới lớn của hai anh em sinh đôi người Paris Isabelle (Eva Green), Théo (Louis Garrel) và Matthew (Michael Pitt), một thanh niên gốc California. Bộ ba Isabelle, Théo, và Matthew làm quen với nhau trong những ngày tháng Paris rực lửa vì hoạt động chống chính quyền của học sinh, sinh viên Pháp tham gia phong trào tháng Năm năm 1968. Vốn chẳng hào hứng với chính trị hay cách mạng, bộ ba tìm cách chạy trốn thực tại hỗn loạn bên ngoài bằng việc ẩn mình trong căn nhà của bố mẹ Théo, Isabelle để cùng nhau chìm đắm trong những suy nghĩ xa vời về triết học, âm nhạc, điện ảnh. Được sống giữa cái nôi văn hoá của thế giới, vừa đủ lớn để phần nào nắm được tinh thần tự do, giải phóng trong những tuyệt phẩm văn học, nghệ thuật vốn đang nở rộ trong thập niên 1960, và cũng vẫn đủ trẻ để chưa bị vướng bận bởi những suy nghĩ thực dụng về tiền bạc, về chính trị, Isabelle, Théo, và đặc biệt là Matthew đã có những ngày tháng đẹp đẽ nhất trong cuộc đời để khám phá bản thân, và cũng để nhận ra rằng rồi một ngày gần đây thôi, “những kẻ mộng mơ” cũng sẽ phải đối diện với sự thật khắc nghiệt để sống một cách thực sự thay vì chỉ dừng lại ở những giấc mơ nghệ thuật dang dở. 

The Dreamers là một phim hiếm hoi đề cập đến thế hệ trẻ của Pháp trong giai đoạn “Mai 68” (tháng Năm năm 1968). Đây là một giai đoạn lịch sử đặc biệt của nước Pháp khi mà xung đột về ý thức hệ giữa lớp sinh viên cánh tả và giới cầm quyền, đứng đầu là Charles De Gaulle – anh hùng nước Pháp trong Chiến tranh thế giới thứ hai nhưng lại là chính trị gia mang quan điểm thiên hữu, lên đến cực điểm. Vốn là một dân tộc có dòng máu cách mạnh chảy trong huyết quản, lại sống trong một đất nước lấy Tự do (liberté) làm phương châm sống đầu tiên, người Pháp, nhất là sinh viên Pháp luôn sẵn sàng đứng lên chống đối bất cứ chính sách nào của chính phủ bị họ coi là sai trái. Cộng thêm những ảnh hưởng của Cách mạng Văn hóa Trung Quốc và phong trào phản chiến chống Chiến tranh Việt Nam, phong trào biểu tình của sinh viên và thanh niên Pháp lên cao vào năm 1968 mà đỉnh điểm là tháng Năm – Mai 68. Nhưng cũng như nhiều cuộc “cách mạng nông nổi” khác, các cuộc biểu tình này cũng chẳng đi đến đâu, nước Pháp vẫn vậy, người dân Pháp vẫn vậy, chỉ có Đại học Paris (Université de Paris) bị giới cầm quyền Pháp chia nhỏ thành nhiều đại học nhỏ (nay là 13 đại học đánh số từ 1 đến 13) vì sợ sinh viên sẽ lại xách động một lần nữa.

Mặc dù giành tới hai giải thưởng Oscar cho The Last Emperor (cho hạng mục Đạo diễn xuất sắc nhất và Kịch bản chuyển thể xuất sắc nhất) vào năm 1988, nhưng tuổi ba mươi vào những năm 1970 có lẽ mới là giai đoạn đỉnh cao nhất trong sự nghiệp của Bernardo Bertolucci khi ông liên tiếp cho ra đời những tuyệt phẩm như Il conformista (1970), 1900 (1976), và đặc biệt là Last Tango in Paris (1972). Để có được cái tuổi 30 đầy đột phá ấy, Bernardo Bertolucci đã dành cả tuổi hai mươi để học hỏi, để sống, để trải nghiệm. Và đúng như tuyên bố của Bernardo Bertolucci, The Dreamers được làm ra để nói về tuổi trẻ của chính đạo diễn, người cũng trải qua cái tuổi hai mươi vào thời điểm những năm 1968 với niềm yêu thích điên cuồng nhạc rock và điện ảnh-đặc biệt là điện ảnh Làn sóng mới (Nouvelle Vague) của Pháp. Với nhạc nền là những bản rock của Jimi Hendrix, Jannis Joplin hay những khúc ca trữ tình Pháp phố biến thời thập niên 1960 của Charles Trenet và Françoise Hardy, The Dreamers có rất nhiều chi tiết, câu thoại, đoạn nhạc nhắc nhớ đến các bộ phim kinh điển, đặc biệt là các phim của thế hệ Làn sóng mới Pháp như A bout de souffre hay Les 400 coups. Đặc biệt có những trường đoạn Bertolucci cho quay lại y hệt những cảnh phim Làn sóng mới kinh điển như cảnh bộ ba Théo, Isabelle, Matthew chạy trong hành lang Bảo tàng Louvre. Tuy đã có nhiều bộ phim Pháp làm về giai đoạn “Mai 68” nhưng có lẽ hiếm có tác phẩm nào lại vừa thành công trong việc khắc họa sống động hình ảnh thanh niên Pháp những năm 1960, vừa mang đậm hơi thở của điện ảnh Pháp giai đoạn Làn sóng mới như The Dreamers. Hơn thế nữa, chứng kiến cái cách Matthew chìm sâu trong hơi thở nghệ thuật của Paris và những làn sóng tình cảm dạt dào của anh em Théo và Isabelle, có lẽ người xem cũng cảm nhận được phần nào hình ảnh của Bertolucci trong những năm tháng ông còn đang loay hoay tìm cho mình một chỗ đứng, một lẽ sống với nghệ thuật điện ảnh.

Một trong những khía cạnh gây tranh cãi nhất của The Dreamers là việc bộ phim có rất nhiều cảnh đặc tả Isabelle khoả thân và cảnh sinh hoạt tình dục giữa bộ ba Isabelle, Théo, và Matthew. Cũng như một tuyệt phẩm khác của Bernardo Bertolucci là Last Tango in Paris, bản gốc của The Dreamers bị gắn mác NC-17 – phim cấm khán giả dưới 17 tuổi vì những cảnh quay “nhạy cảm” dạng này và bộ phim vấp phải rất nhiều lời chỉ trích của những người cho rằng các cảnh quay khoả thân hay sinh hoạt tình dục chỉ làm bộ phim trở nên phản cảm trong mắt công chúng. Nhưng trong việc sản xuất một tác phẩm điện ảnh, bất cứ cảnh quay nào được giới thiệu đến người xem cũng là một lựa chọn nghệ thuật mang dấu ấn riêng của người đạo diễn. Và với cá nhân Bernardo Bertolucci, dù là Last Tango in Paris hay The Dreamers thì các cảnh quay khoả thân, hay sinh hoạt tình dục đều được thực hiện một cách hết sức trân trọng với những góc máy đẹp đẽ, nhạy cảm. Với riêng The Dreamers, những cảnh quay “nhạy cảm” khi được đặt vào bối cảnh chung của phim đều trở nên bình thường nhưng  hết sức cần thiết vì khi chứng kiến những phân đoạn đầy cảm xúc ấy, khán giả không hề cảm thấy có sự thô lậu, kích động ẩn dấu sau những hình ảnh rất đẹp về những người trẻ như Isabelle, như Théo, như Matthew. Những đường cong của Isabelle, những nụ hôn của cô dành cho Matthew – một chàng trai có vẻ đẹp tuổi đôi mươi không hề thua kém cô bạn người Pháp, hay những ánh mắt thương mến của ba người dành cho nhau trong những cảnh quay thân mật cả về mặt thể xác và tinh thần ấy chỉ làm nổi bật hơn những suy nghĩ trong trắng và ngơ ngác của cả bộ ba trước thời cuộc hỗn loạn. Trong ba người thì Matthew mang khuôn mặt ngây thơ nhất và anh cũng xa lạ nhất với thời cuộc với tư cách một người Mỹ không biết tiếng Pháp sống ở Paris mà không hề có bạn bè bản địa. Tuy nhiên chính Matthew lại nhanh chóng nhận ra nhất sự khắc nghiệt của cuộc sống bên ngoài, nhận ra rằng anh cùng hai người bạn chỉ là những kẻ ngờ ngệch đến xơ xác khi mà mồm thì luôn miệng triết học, điện ảnh, âm nhạc nhưng lại hoàn toàn xa lạ với cuộc sống. Vì thế mà Matthew muốn thoát ra khỏi cái ảo ảnh mà bộ ba tự tạo, anh cũng muốn kéo cả hai người bạn mình ra đối mặt với cuộc sống, để rồi nhận ra cái mong muốn của mình chỉ là mong muốn của một “kẻ mộng mơ” - “dreamer” - một hy vọng trong vô vọng về việc “cải tạo” hai con người mộng mơ thực sự, đưa họ trở lại với mặt đất. 

Tuy có một cái tứ rất hay về mâu thuẫn giữa tâm hồn mộng mơ và thực tại khắc nghiệt của những người trẻ, nhưng The Dreamers chưa hẳn đã là một bộ phim hoàn hảo về mặt cảm xúc như Last Tango in Paris. Dường như Bertolucci quá chú ý vào từng chi tiết, vào từng phân đoạn riêng lẻ mà lỏng tay với toàn cục, bởi vậy người xem có thể cảm thấy xúc động trước những cảnh quay riêng rẽ nhưng sau khi kết thúc bộ phim, mạch cảm xúc không còn đọng lại nhiều ngoài cặp mắt sâu thẳm buồn đến ngơ ngác của Isabelle ở cuối phim. Nhưng dù có thích The Dreamers hay không thì chẳng ai có thể phủ nhận rằng Eva Green chính là diễn viên nhập vai tốt nhất, không chỉ vì vẻ đẹp khác lạ và lôi quấn hay diễn xuất táo bạo mà còn bởi cô đã biến Isabelle thực sự trở thành một “daydreamer” - cô gái không chỉ xa rời cuộc sống mà còn xa rời ngay cả những cảm xúc bản thân và những người quen thuộc. 

Đã đúng nửa thế kỷ kể từ ngày “Mai 68” làm xáo trộn cuộc sống của người Paris và nước Pháp. Đã tròn ba thập niên kể từ ngày Bernardo Bertolucci được trao hai tượng vàng Oscar cao quý cho Hoàng đế cuối cùng. Bản thân đạo diễn người Ý cũng đã vừa từ biệt cuộc đời mà ông hết mực yêu quý vì căn bệnh ung thư phổi. Nhưng tuổi trẻ của ông, tuổi trẻ của những con người từng sống qua những ngày tháng của “Mai 68”, của điện ảnh Làn sóng mới sẽ vẫn còn lắng động trong lòng khán giả nhờ vào ánh mắt rất sâu, rất tình tứ của Eva Green trong vai cô gái mộng mơ Isabelle, nhờ vào The Dreamers – tác phẩm xuất sắc cuối cùng trong sự nghiệp của một đạo diễn huyền thoại.

=======

First Reformed (2017)


Từng có một thời Đức cha Ernst Toller (Ethan Hawke) tin vào Chúa trời và quân đội. Đó là khi Cha tuyên uý Toller phục vụ trong quân đội Hoa Kỳ để truyền đức tin mãnh liệt của ông đến với binh sĩ Mỹ. Một trong những người lính được thụ hưởng những lời răn dạy về Chúa trời, về Đức tin của Cha Toller như thế chính là con trai của ông – người đã vâng theo lời khuyến khích của chính cha mình tham chiến tại Iraq, để rồi phải bỏ mạng ở nơi đất khách quê người vì cuộc chiến vô nghĩa ấy. 

Cái chết của con trai khiến Đức cha Ernst Toller mất hoàn toàn niềm tin vào quân đội, vào gia đình, vào chính bản thân mình. Xuất ngũ, ly dị vợ, cha Toller chỉ còn nơi nương tựa duy nhất đó là sự che chở của Chúa trời tại ngôi nhà thờ nhỏ First Reformed ở thị trấn nhỏ lạnh lẽo Snowbridge. First Reformed được xếp vào hàng địa danh lịch sử của bang New York với tuổi đời lên tới 250 năm, nhưng có nhiệt thành đến mấy với những bài giảng thì Đức cha Ernst Toller cũng chẳng thể thu hút được nhiều người đến dự lễ trong căn nhà thờ gỗ ọp ẹp hẻo lánh nhất là trong thời buổi những Đại giáo đoàn như Abundant Life đã dành lấy hầu hết những người theo đạo nhờ cơ sở vật chất hiện đại, tiện nghi, những bài giảng hợp thời, và những nốt thánh ca trầm bổng qua giọng hát của ca đoàn trẻ trung, nhiệt huyết. Dù vậy thì cha Toller vẫn chẳng bận lòng. Bởi dù có phải hàng ngày làm hướng dẫn viên “bất đắc dĩ” cho những người khách đến thăm First Reformed, hay phải lặn lội vào tận trung tâm thành phố để làm “công tác ngoại giao” với Mục sư Jeffers (Cedric Kyles) thì cha Toller vẫn sẵn lòng để First Reformed tiếp tục là chỗ nương náu cho những tâm hồn còn vững niềm tin vào Chúa trời. 

Nhưng đến chính niềm tin tưởng chừng chẳng gì lay chuyển của Đức cha Ernst Toller cũng gặp phải thử thách khi Mary (Amanda Seyfried) - một trong số những con chiên ít ỏi còn trung thành với First Reformed nhờ ông thuyết phục chồng cô là Michael (Philip Ettinger) từ bỏ ý định thúc giục Mary đi phá cái thai đầu lòng của hai người. Là một nhà hoạt động môi trường cực đoan từng phải ngồi tù vì chống phá quyết liệt các hành động được coi là phá hoại môi trường của chính phủ và các tập đoàn lớn, Michael không muốn đứa con Mary đang mang trong bụng ra đời đơn giản vì không muốn đẩy đứa bé vào một xã hội đang tiến dần đến bờ vực diệt vong vì biến đổi khí hậu, vì một môi trường đã bị phá hoại tới mức không thể cứu vãn được. Thoạt nghe qua thì triết lý cực đoan tưởng chừng đơn giản, ngây thơ, và chứng tỏ một cuộc đời còn thiếu trải nghiệm của Michael rõ ràng chẳng thể tác động tới tâm trạng, suy nghĩ, và lòng tin vào Chúa trời của một người đã từng đối mặt với nhiều thử thách, đớn đau trong cuộc sống như cha Toller. Nhưng những sự kiện diễn ra sau cuộc gặp định mệnh giữa cha Toller và vợ chồng Mary – Michael hoá ra lại đánh dấu một bước ngoặt lớn lao cho cuộc sống một màu buồn tẻ của vị giáo sĩ. 

First Reformed là tác phẩm mới nhất của đạo diễn kiêm nhà biên kịch Paul Schrader. Với những khán giả trẻ thì cái tên Paul Schrader có lẽ không để lại nhiều ấn tượng khi đã từ lâu ông chỉ giới thiệu đến với người xem những tác phẩm kinh phí thấp với nội dung ở mức nhàng nhàng như The Canyons (2013) – bộ phim vốn được nhớ tới nhiều hơn với sự xuất hiện của ngôi sao thất thế Lindsay Lohan hay Dog Eat Dog (2016) - bộ phim do một ngôi sao hết thời khác là Nicolas Cage thủ vai chính. Nhưng với những người yêu điện ảnh của thập niên 1970, thập niên 1980 thì chắc chắn không ai có thể quên những kịch bản Paul Schrader đã viết cho đạo diễn Martin Scorsese như Taxi Driver (1976), Raging Bull (1980), hay The Last Temptation of Christ (1988). Không chỉ dừng lại ở đó, trong số những cái tên nổi bật của thế hệ New Hollywood – thế hệ đã vực dậy sức sáng tạo của nền điện ảnh Mỹ trong thập niên 1970 thì Paul Schrader còn được nhớ tới bởi những bài phê bình, phân tích phim sắc sảo, và đặc biệt là những bài viết giới thiệu các nhà làm phim quốc tế như Robert Bresson hay Yasujiro Ozu đến với những người làm điện ảnh và công chúng yêu phim Hoa Kỳ. Chính bởi vậy mà dù đã lâu không có tác phẩm nào đáng chú ý, nhưng người ta vẫn chờ đợi cơ hội được thấy lại tinh thần phản kháng vị nhân sinh mà Paul Schrader đã từng thổi vào những tác phẩm đáng nhớ của Hollywood như Taxi Driver hay The Last Temptation of Christ. 

Thời khắc ấy cuối cùng cũng đã tới với First Reformed – một tác phẩm mang trong mình dòng màu phản kháng của anh chàng tài xế taxi Travis Bickle – nhân vật chính của Taxi Driver nhưng được đặt trong bối cảnh xã hội nước Mỹ hiện đại – nơi những lo âu về di chứng của chiến tranh, về bất bình đẳng giàu nghèo những năm cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970 đã được thay thế bởi những mâu thuẫn và băn khoăn không thể giải đáp về những di chứng nặng nề của chủ nghĩa vật chất trong xã hội tư bản lên môi trường, lên đức tin tôn giáo, lên giá trị sống của mỗi con người. Cũng như anh chàng cựu binh Travis Bickle của Taxi Driver cô độc cùng cực tới mức phải lấy tấm gương phản chiếu để làm người bạn đồng hành, người cựu binh Ernst Toller của First Reformed cũng là một cá nhân lẻ loi chỉ biết chia sẻ suy tư với những trang nhật ký trong căn phòng tối tăm và những chai rượu uống dở. Và cũng như Travis Bickle đột nhiên thức tỉnh trước một xã hội đang dần mục nát vì tham nhũng, vì bất bình đẳng sau khi được chạm trán cô bé mại dâm vị thành niên Iris, ngọn lửa ham sống, tinh thần tự vấn trước những vấn đề nan giải của nước Mỹ hiện đại cũng chỉ được nhen nhóm trong lòng Đức cha Toller bởi người phụ nữ trẻ tuổi rụt rè nhưng đầy sức sống Mary. Nhưng khác với sự bạo liệt của Travis Bickle để lập tức phản kháng lại sự đè nén của các thế lực đen tối trong xã hội, người đàn ông trung niên Ernst Toller dường như cần nhiều thời gian hơn để dọn quang những bụi rậm băn khoăn trong tâm hồn chất chứa nhiều suy nghĩ, uẩn ức của ông trước khi tìm thấy con đường đi đích thực cho những tháng ngày còn lại của cuộc đời. Bởi vậy mà tuy có cấu trúc khá giống với Taxi Driver với nhiều mô-típ tương tự được trải đều từ đầu đến cuối phim, nhưng First Reformed lại tạo cho khán giả một cảm giác suy tư, nặng nề hơn hẳn nếu so với nhịp phim gấp gáp, đầy sức sống của Taxi Driver. Đã 41 năm kể từ ngày Taxi Driver ra mắt khán giả, có lẽ 41 năm ấy trải nghiệm cuộc đời, 41 năm thăng trầm ấy đã khiến cho Paul Schrader có một First Reformed vẫn phản kháng, vẫn lo âu, nhưng đã trầm ngâm, và bi quan hơn nhiều khi so với Taxi Driver. Dù vậy thì cách thức First Reformed phản ánh hiện thực và những mâu thuẫn của xã hội hiện đại vẫn là một đóng góp lớn của Paul Schrader cho điện ảnh Hollywood thời điểm hiện tại, bởi khán giả vẫn cần tới những bộ phim như thế để nhắc nhở cho họ về những khó khăn chúng ta đang đối mặt, những bài toán hóc búa về môi trường, về mặt trái của chủ nghĩa tư bản mà chúng ta vẫn cần phải tìm lời giải.

Nếu như tiếng vang của Taxi Driver không chỉ đến từ một kịch bản mang đầy hơi thở cuộc sống mà còn đến từ diễn xuất đã đi vào huyền thoại của Robert De Niro trong vai Travis Bickle, thì Paul Schrader có lẽ cũng đã hài lòng với lựa chọn Ethan Hawke cho vai Đức cha Ernst Toller của First Reformed. De Niro bùng nổ, ngạo nghễ bao nhiêu trong Taxi Driver thì Ethan Hawke lại lặng lẽ, trầm mình bấy nhiêu trước số phận cô đơn, trước một xã hội hiện đại đang bắt đầu có những dấu hiệu suy tàn. Xem Ethan Hawke diễn xuất, người xem luôn có cảm giác bất an trước một tâm hồn cô độc đang dần mất đi chỗ bám víu cuối cùng là đức tin vào Chúa trời nhưng cũng lại đang dần tìm thấy trong đêm tối cuộc đời sợi dây yêu sống. Có lẽ sẽ là hơi quá lời khi nói rằng Travis Bickle của Robert De Niro là hình ảnh phản kháng của Paul Schrader những năm trai trẻ, còn Ernst Toller của Ethan Hawke là tâm hồn buồn bã, nặng gánh suy tư của Paul Schrader trong buổi xế chiều của cuộc đời. Nhưng quả thực với những người yêu điện ảnh – những người đã dõi theo từng bước đường sự nghiệp của Paul Schrader, thì sự tương phản giữa hai vai diễn hết sức xuất sắc nhưng cách nhau tới hơn bốn thập niên của De Niro và Hawk hẳn đã đem lại nhiều cảm xúc, suy tư về bộ mặt đổi thay của xã hội, về cách tư duy vốn đã không còn như xưa của con người hiện đại. 

Taxi Driver dù đầy bạo lực, dù đầy những hình ảnh tăm tối của nước Mỹ nhưng cuối cùng lại khơi dậy trong lòng khán giả sự tin tưởng nhất định vào những tâm hồn Mỹ mạnh mẽ có khả năng thay đổi xã hội theo chiều hướng tốt đẹp hơn. Ngược lại, First Reformed tuy thanh bình, nhẹ nhàng nhưng lại ẩn chứa nhiều suy nghĩ bi quan về đà tụt dốc không gì có thể cứu vãn của xã hội hiện đại trước những tổn hại nặng nề về môi trường, về giá trị niềm tin. Trong bối cảnh một nước Mỹ đang bị chia rẽ hơn bao giờ hết về mặt chính trị và về quan điểm đối với vấn đề biến đổi khí hậu, chúng ta có lẽ cũng có thể hiểu được phần nào sự khác biệt về thế giới quan, về nhân sinh quan của Paul Schrader muốn truyền tải tới khán giả sau hơn bốn thập niên kể từ Taxi Driver. Nhưng chúng ta cũng đừng quên rằng dù đối diện với cuộc khủng hoảng niềm tin và sức khoẻ tưởng chừng không bao giờ có hồi kết, nhưng Đức cha Ernst Toller vẫn luôn suy tư, vẫn luôn tìm kiếm để gắng lấy lại ý nghĩa cho cuộc đời, gắng làm được điều gì đó vì một xã hội tốt đẹp hơn. Đó có lẽ cũng là thông điệp nhà làm phim đã ở vào buổi xế chiều của sự nghiệp Paul Schrader muốn truyền tải tới người xem – dù bất lực, dù bi quan, nhưng nếu muốn tìm thấy lại ý nghĩa của cuộc sống, muốn không trở nên cô đơn đến cùng cực giữa dòng đời thì cách duy nhất là chúng ta phải tự cải cách bản thân, tự dò đường để nhận ra những bất công, những vấn đề nan giải của cuộc sống để rồi từ đó tìm thấy lẽ sống cho riêng mình.

======

lundi 5 novembre 2018

Bohemian Rhapsody (2018)


Năm 1970, tại sân bay Heathrow, London người ta chợt thấy sự xuất hiện của một anh chàng công nhân bốc dỡ trẻ tuổi vụng về, gầy gò, răng “hô”, luôn lẩn thẩn cầm theo giấy bút để ghi lại ca từ cho những bài hát tự sáng tác. Đó là Farrokh “Freddie” Bulsara (Rami Malek) – cậu sinh viên kiêm ca sĩ nghiệp dư xuất thân từ một gia đình nhập cư gốc Parsi chạy nạn đến Anh từ mảnh đất xa xôi Zanzibar (nay thuộc Tanzania). Là cậu con trai yêu quý của ông bà Bomi (Ace Bhatti) và Jer Bulsara (Meneka Das) nhưng Freddie luôn làm họ phiền lòng vì không chịu quyết tâm học hành kiếm lấy một nghề nghiệp ổn định mà chỉ quanh quẩn hàng đêm với các câu lạc bộ âm nhạc – sân khấu của các ban nhạc nghiệp dư vô danh. Trong một đêm nhạc như thế, Freddie làm quen được với hai nhạc sĩ nghiệp dư là tay ghi-ta Brian May (Gwilym Lee) và nghệ sĩ trống Roger Taylor (Ben Hardy) của nhóm nhạc vừa tan rã vì thiếu ca sĩ Smile. Bằng tình yêu âm nhạc, và chất giọng cao hiếm có đối với một nam ca sĩ, Freddie đã thuyết phục thành công cậu sinh viên vật lý vũ trụ Brian và nha sĩ tương lại Roger bỏ ngang những môn học nhàm chán để tập trung cho ban nhạc mới với cái tên Queen. Với cá nhân Freddie, anh quyết tâm biến Queen trở thành cuộc đời mới của mình bằng việc thay đổi họ từ Bulsara sang Mercury, và bỏ hết thời gian, tâm sức cho các ca khúc của Queen, và cho người bạn gái mới quen Mary Austin (Lucy Boynton). Tài năng của Freddie Mercury, và sự ăn ý của anh cùng Brian, Roger, và tay ghi-ta bass John Deacon (Joseph Mazzello) đã nhanh chóng biến Queen trở thành ban nhạc được cả thế giới chú ý. Con đường đi tới vinh quang của Freddie Mercury và nhóm Queen mà đỉnh cao là buổi biểu diễn được đánh giá là huyền thoại bậc nhất trong lịch sử nhạc Rock tại nhạc hội Live Aid năm 1985, cùng quá trình thai nghén các nhạc phẩm đáng nhớ của Queen như Bohemian Rhapsody, như Love of My Life là nội dung chính của Bohemian Rhapsody – bộ phim mới nhất của đạo diễn Bryan Singer.

Bohemian Rhapsody là tác phẩm tiểu sử đầu tiên về cuộc đời của Freddie Mercury – một trong những nghệ sĩ nhạc Rock được công chúng hâm mộ nhất trong suốt nửa thế kỷ qua, từ khi ông còn tung hoành trên những sân khấu lớn thập niên 1970, thập niên 1980 cho tới tận ngày hôm nay khi Mercury đã qua đời được hơn một phần tư thế kỷ. Có lẽ bởi vậy mà việc lựa chọn được một gương mặt thật xứng đáng để vào vai thủ lĩnh của nhóm Queen là khó khăn đầu tiên và lớn nhất đối với những nhà sản xuất của Bohemian Rhapsody kể từ khi dự án thực hiện tác phẩm này được Brian May – tay ghi-ta chính của nhóm Queen công bố lần đầu vào năm 2010. Từ tên tuổi lớn của dòng phim hài Anh quốc Sacha Baron Cohen cho tới ngôi sao người Anh của bộ phim Perfume Ben Whishaw được các nhà sản xuất phim cân nhắc mời vào vai Freddie Mercury nhưng rồi cả hai đều bỏ cuộc giữa chừng vì những khác biệt trong cách tiếp cận khi đưa Mercury lên màn ảnh lớn. Tưởng chừng dự án Bohemian Rhapsody sẽ trở nên bế tắc từ khâu chọn lựa diễn viên, nhưng rồi công chúng lại hết sức bất ngờ với tin Rami Malek – một diễn viên người Mỹ vốn chủ yếu được biết tới qua loạt phim truyền hình Mr. Robot lại là cái tên được đạo diễn Bryan Singer chọn mặt gửi vàng cho vai diễn Freddie Mercury. Bất chấp việc vai diễn Elliot Alderson trong Mr. Robot của Malek luôn được coi là một trong những nhân vật đáng chú ý nhất của truyền hình Mỹ từ năm 2015 trở lại đây, những fan trung thành của nhóm Queen và người yêu điện ảnh nói chung ngay lập tức đã tỏ ý lo ngại với lựa chọn của đạo diễn Singer, không chỉ vì Malek là người Mỹ, mà quan trọng hơn cả là vì nam diễn viên này có vẻ ngoài không giống so với Freddie Mercury và anh cũng chưa bao giờ thể hiện được tài năng ca hát trên màn ảnh lớn. Đây là một lo lắng hoàn toàn có cơ sở bởi một trong những điểm thu hút khán giả đầu tiên ở bất cứ bộ phim tiểu sử nào là việc liệu diễn viên trong phim có giống với nhân vật ngoài đời mà họ thủ vai hay không. Những hoài nghi như vậy có lẽ cũng đặt thêm gánh nặng lên vai của Rami Malek, bởi không chỉ bị soi xét về khả năng diễn xuất, anh sẽ bị hàng triệu người yêu nhạc Queen chỉ trích nếu hình tượng Freddie Mercury mà anh mang lên màn ảnh lớn không “giống” với hình ảnh Freddie Mercury mà họ vẫn lưu giữ trong tim suốt nhiều thập niên qua.

Nhưng ngoài việc là một bộ phim tiểu sử về một nhân vật có thật thì Bohemian Rhapsody còn là một tác phẩm điện ảnh – nơi các nhà làm phim thể hiện khả năng sáng tạo với những thử nghiệm nghệ thuật khiến công chúng phải ngạc nhiên. Một trong những ví dụ điển hình cho khía cạnh này của các bộ phim tiểu sử là việc đạo diễn Danny Boyle lựa chọn Michael Fassbender – nam diễn viên có vẻ ngoài hoàn toàn không giống Steve Jobs để vào vai người sáng lập hãng Apple trong bộ phim cùng tên Steve Jobs (2015). Chắc chắn bất cứ người xem nào sau những phút đầu của Steve Jobs cũng sẽ cảm thấy “nhột nhạt” vì ngoài phần trang phục và đầu tóc thì hình ảnh Steve Jobs mà Fassbender giới thiệu với họ hoàn toàn không giống một chút nào so với hình ảnh thật của Steve Jobs vốn đã trở nên quá quen thuộc với công chúng qua các buổi giới thiệu sản phẩm của hãng Apple. Nhưng rồi càng xem, họ càng bị cuốn hút bởi một Steve Jobs-điện ảnh với cái thần thái không lẫn đi đâu được của một Steve Jobs-huyền thoại. Không biết có phải được khích lệ từ thành công này của Fassbender hay không mà ngay từ những phút đầu tiên của Bohemian Rhapsody, Rami Malek đã lập tức gạt bỏ được sự nghi ngại của công chúng với diễn xuất nhẹ nhàng, thanh thoát, tràn đầy khí chất yêu nhạc, yêu người, và yêu đời của Freddie Mercury. Từ một cậu thiếu niên nhập cư rụt rè trước cuộc đời đến “nhạc trưởng” của hàng trăm nghìn khán giả trong các buổi biểu diễn của Queen. Từ một chàng thanh niên chỉ biết đến gia đình, cô bạn gái Mary Austin, và bộ ba Brian May – Roger Taylor – John Deacon của nhóm Queen đến ông hoàng của những buổi tiệc thâu đêm suốt sáng với những người bạn đồng tính. Tất cả những sắc thái rất khác nhau đó của Freddie Mercury được Rami Malek thể hiện một cách thuyết phục tới mức khán giả nhanh chóng quên đi rằng quả thực dù có hoá trang đến mấy thì diện mạo của Malek cũng không có nhiều điểm tương đồng với hình ảnh Mercury trên những đoạn băng phỏng vấn mà người ta có thể dễ dàng tìm thấy trên YouTube. Đó là bởi Rami Malek đã đem tới cho người xem cả hai khuôn mặt hết sức khác nhau, hết sức khó thể hiện của Freddie Mercury – đó là khuôn mặt rực lửa, đắm say với sân khấu của một “Bà hoàng” của âm nhạc của công chúng, và khuôn mặt yếu đuối, thèm khát một tình yêu đích thực, thèm khát được sống với chính mình của một ngôi sao chỉ biết làm bạn với những chú mèo trong căn biệt thự xa hoa vắng bóng người. Nụ cười thường trực trên môi trong các buổi phỏng vấn truyền hình, hình ảnh đầy chất anh hùng ca giữa sân vận động Wembley, đó là những gì công chúng thường nhớ tới về Freddie Mercury – huyền thoại âm nhạc. Nhưng để đi vào sâu hơn trong những cung bậc cảm xúc của Mercury, để hiểu hơn những gì ông đã phải trải qua để vươn tới vinh quang, để tìm thấy lại vinh quang trong quãng đời ngắn ngủi, có lẽ họ sẽ phải tìm tới Freddie Mercury của Bohemian Rhapsody qua diễn xuất xuất sắc của Rami Malek.

Tuy có một Rami Malek hết sức xuất sắc nhưng Bohemian Rhapsody khó có thể được coi là một bộ phim trọn vẹn. Không trọn vẹn ngay từ quá trình sản xuất khi đạo diễn chính của tác phẩm này là Bryan Singer bị hãng 20th Century Fox sa thải khi Bohemian Rhapsody đã quay được hơn hai phần ba vì những rắc rối trong đời tư và trong quan hệ với chính các diễn viên của phim như Rami Malek. Không trọn vẹn cũng vì những người thân cận nhất và yêu quý Freddie Mercury bậc nhất như Jim “Miami” Beach – người quản lý lâu năm của nhóm Queen hay tay ghi-ta Brian May có tiếng nói rất lớn đối với kịch bản của Bohemian Rhapsody (Beach cũng là một trong hai nhà sản xuất của bộ phim), bởi vậy họ toàn toàn có lý do để giữ cho hình ảnh của Mercury trên phim là những hình ảnh đẹp đẽ nhất, đáng quý nhất, gần gũi nhất với những gì người hâm mộ vẫn mang theo trong tim của thủ lĩnh nhóm Queen. Chính việc những người thân thiết với Freddie Mercury ngay từ đầu đã muốn Bohemian Rhapsody là một bức chân dung thật đẹp về ông đã khiến Sacha Baron Cohen – một diễn viên có tài và có diện mạo khá gần gũi với Mercury phải bỏ cuộc. Và cũng chính sự chăm chút có phần hơi quá đà này đã khiến Bohemian Rhapsody về tổng thể không thực sự là một bộ phim tiểu sử xuất sắc khi mà hầu hết những chi tiết được giới thiệu trên phim về cuộc đời Freddie Mercury đều là những gì công chúng đã được biết đến qua sách báo, qua các bộ phim tài liệu về Mercury và nhóm Queen. Những ai mong đợi được nhìn thấy một Mercury khác, một Mercury chưa từng được nhắc tới qua báo chí, phim ảnh chắc chắn sẽ cảm thấy thất vọng với Bohemian Rhapsody, đặc biệt là khi những nhân vật được coi là quan trọng trong đời tư của Mercury như cô bạn gái Mary Austin, như người bạn trai cuối đời Jim Hutton, như nghệ sĩ DJ Kenny Everett chỉ được giới thiệu một cách hời hợt qua diễn xuất không nhiều ấn tượng của Lucy Boynton, Aaron McCusker, và Dickie Beau. Đáng tiếc nhất trong số này có lẽ là trường hợp của Mary Austin – người phụ nữ xinh đẹp, thông minh, và hết mực nhạy cảm, người được Freddie Mercury tin tưởng, yêu thương cả cuộc đời tới mức giao phó cho cô việc chôn cất nắm tro tàn của Mercury sau khi ông qua đời. Những ai đã từng xem các bộ phim tài liệu về nhóm Queen và Freddie Mercury như Freddie Mercury, the Untold Story (2000) chắc chắn sẽ không thể quên cái cách Mary Austin nói về Mercury với ánh mắt tràn đầy yêu thương, với giọng nói run run khi nhắc nhớ những giờ phút quan trọng khi Mercury thừa nhận với cô việc mình là người lưỡng tính. Người xem Bohemian Rhapsody khó có thể cảm nhận được những nốt cảm xúc tương tự như vậy từ diễn xuất của Lucy Boynton, một phần vì cô có quá ít đất diễn trong một tác phẩm nhẽ ra nên dành nhiều thời gian hơn cho những tương tác cá nhân vốn đã góp phần tạo dựng nên cuộc đời và sự nghiệp của Freddie Mercury. Và thật ra với những hạn chế về mặt kịch bản từ ngay trong quá trình sản xuất của Bohemian Rhapsody thì việc có thêm đất diễn chưa hẳn đã là điều kiện đủ để các diễn viên phụ toả sáng, bởi nếu so với hình ảnh lấp lánh của Rami Malek trong vai Freddie Mercury thì Gwilym Lee, Ben Hardy, và Joseph Mazzello đều tỏ ra mờ nhạt trong vai bộ ba còn lại của Queen Brian May – Roger Taylor – John Deacon. 

Ngay cả lựa chọn vốn sẽ làm hài lòng nhiều người yêu nhạc Queen của các nhà làm phim là tái dựng lại gần như toàn bộ 21 phút biểu diễn huyền thoại của Freddie Mercury và nhóm Queen trong nhạc hội Live Aid ngày 13 tháng 7 năm 1985 tại sân vận động Wembley cũng không hẳn là một lựa chọn tốt về mặt nghệ thuật. Bởi dù có cố gắng đến mấy thì Malek, hay bất cứ nam diễn viên nào của Hollywood cũng có thể tái hiện hoàn toàn hào quang trên sân khấu của Freddie Mercury – một trong những ca sĩ với uy lực sân khấu mạnh mẽ nhất trong lịch sử dòng nhạc Rock. Và cũng chẳng kỹ xảo điện ảnh nào có thể thực sự mô tả lại sức nóng mãnh liệt của 72 nghìn người xem cuồng nhiệt năm xưa tại sân Wembley khi cuốn theo giọng ca hào hùng của Mercury trong Bohemian Rhapsody hay We Are the Champions. Với 21 phút quý giá trong thời lượng 2 tiếng 14 phút đó của bộ phim, các nhà làm phim hoàn toàn có thể dành nhiều thời gian hơn cho những phút riêng tư của Freddie Mercury, đặc biệt là trong giai đoạn cuối đời nhiều biến động, hay để giới thiệu những ca từ tuyệt đẹp nhưng cũng bi tráng và phần nào phản ánh niềm tin lấp lánh vào cuộc đời của Mercury kể cả khi đã cận kề cái chết của hai bài hát Don’t Stop Me Now và The Show Must Go On – hai khúc ca chỉ được vang lên khi bộ phim đã kết thúc. Tất nhiên dù có chê trách như vậy nhưng khó khán giả nào, đặc biệt là những người yêu nhạc của nhóm Queen, có thể quên được cách bộ phim tái hiện lại quá trình Freddie Mercury và các bạn nhạc của anh thai nghén siêu phẩm Bohemian Rhapsody, hay cái cách những nốt nhạc của Love of My Life gắn chặt với tình yêu và số phận của chính Freddie Mercury. Chừng ấy thôi có lẽ đã là quá đủ để sau khi theo dõi bộ phim người yêu nhạc lại cắm tai nghe để đung đưa theo những giai điệu của Queen, hay để những người trẻ vốn chỉ quen với Rap, với K-Pop lên YouTube tìm kiếm những đoạn phim quay lại các buổi biểu diễn sống với hàng trăm nghìn khán giả nơi Freddie Mercury là nhạc trưởng, là “Bà hoàng”, là vị thánh âm nhạc. 

Sau khi công chiếu Bohemian Rhapsody đã vấp phải một số chỉ trích từ giới phê bình vì nội dung nhạt nhoà, và vì cách đề cập thiếu điểm nhấn, thiếu chi tiết phần về giới tính, về quan hệ đồng giới, về căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS của Freddie Mercury. Đó là những chỉ trích hoàn toàn xác đáng vì quả thực kịch bản của Bohemian Rhapsody là quá “hiền lành” so với cuộc đời nhiều biến động của Mercury, và việc “thay ngựa giữa dòng” cho vai trò đạo diễn phim đã làm mạch cảm xúc của phim phần nào thiếu đi hiệu quả cần thiết. Nhưng với những người yêu nhạc, những người muốn tìm những giờ phút yên bình với một tác phẩm về một thiên tài âm nhạc đầy dị biệt, thì Bohemian Rhapsody vẫn là một lựa chọn hoàn toàn hợp lý. Bởi hãy cứ nhìn vào cách Rami Malek hoá thân vào hình tượng Freddie Mercury bùng nổ trên sân khấu khi thể hiện Bohemian Rhapsody, người xem chắc chắn sẽ cảm thấy nhẹ lòng khi nhớ ra rằng dù đã chia tay chúng ta hơn một phần tư thế kỷ, Mercury vẫn có thể truyền cảm hứng sống, truyền cảm hứng yêu đời, yêu người cho người yêu nhạc qua những khúc ca bất hủ của Queen – những bài hát với ca từ “dễ hiểu” có, “khó hiểu” có, nhưng luôn tràn đầy cảm xúc để có thể đi thẳng vào lòng người như Bohemian Rhapsody, như Love of My Life, như Radio Ga Ga.

=====

vendredi 19 octobre 2018

See you at the cinema


To save time and have better seat, I always try the earliest showing time possible in the morning to go to the cinema. No different with this time with First Man, thus we had a pretty small audience and and me and another very old guy were the only two sitting through the whole post-credits of this film. Naturally we met each other ... in the WC afterward, praising the film (First Man is a good one, in my opinion, and his opinion also) and on the way out he shared with me his whole "watching schedule". It turned out that he bought the AMC membership (almost 20 bucks per month for three films per week, any format and showing time - a pretty cheap deal given the fact that IMAX 2D ticket for early morning sessions is already at 12 bucks, I could afford to buy the membership, though - impossible to find time to go to the cinema three times per week when I can hardly arrange time to watch one per month) and he watched almost every single film that comes out every month. He likes Lady Gaga's A Star Is Born, found The Sisters Brothers so so, and enjoyed The Equalizer 2, every film title that he watched, he wrote down in a yellowish piece of paper, with sign to indicate whether he likes it or not. Maybe he doesn't know that he can easily do that on IMDb or Rotten Tomatoes these days without having to keep a paper note all the time. Doesn't really matter, though, as he seemed to really enjoy his retirement (I suppose) going to the cinema. Maybe that was the reason why he bade farewell to me by saying "See you at the cinema". I'm not sure whether he knew, but that sentence really moved me, as it made me remember my favorite film critic Roger Ebert, who wrote his final piece on his website in March 2010 under the title See you at the movies, only a week before passing away due to terminal cancer. I miss Ebert's writing, he knew everything but never tried to show off his knowledge with reviews full of technicalities or anecdotes, rather his reviews were often very easy to read, with clear statement of whether or not he likes the film, since he really just wants to share his love (or in rare cases, hate) of films with his readers. I am just an amateur in his field (and forever will be), but always try to write something with similar spirit. At the end of the day, we watch film with different purposes, some to kill time, some to entertain, some to reflect, it is totally unnecessary to impose your idea, your opinion of a film upon others. As your experience watching a film is unique, the only thing we can, and should share after watching one is that we gain something, joy, knowledge, good memory while not wasting our time, and money for that film. 

======

See you at the movies by Roger Ebert.

First Man (2018)


Ngày 21 tháng 7 năm 1969, nhà du hành vũ trụ người Mỹ Neil Armstrong trở thành người đầu tiên đặt chân lên Mặt Trăng, một kỳ tích vĩ đại về khoa học và công nghệ của loài người trong thế kỷ 20. Chỉ một năm nữa thôi nước Mỹ và thế giới sẽ kỉ niệm tròn nửa thế kỷ chuyến bay không gian Apollo 11 đã đưa Neil Armstrong, Buzz Aldrin, và Michael Collins tới Mặt Trăng, nhưng có lẽ câu nói của Armstrong "Đây là bước đi nhỏ bé của một người, nhưng là bước tiến khổng lồ của nhân loại" khi đặt chiếc ủng vũ trụ của ông xuống bề mặt cằn cỗi, lạnh lẽo và hoang vắng đến siêu thực của Mặt Trăng vẫn còn nguồn cảm hứng cho những người ham muốn tìm tòi, khám phá những thử thách mới mẻ và khó khăn của loài người. 

Hàng trăm triệu người xem truyền hình đã được chứng kiến những thước phim đen trắng quay lại cảnh Neil Armstrong và Buzz Aldrin cắm lá cờ sao vạch của Hoa Kỳ lên Mặt Trăng. Cũng đã rất nhiều học sinh có cơ hội được đọc những trang sách mô tả cuộc đua quyết liệt vào vũ trụ giữa Liên Xô và Hoa Kỳ những năm 1950, 1960 mà chuyến du hành Apollo 11 của Armstrong, Aldrin, và Collins được coi là một trong những điểm nhấn đáng nhớ nhất. Nhưng có lẽ không nhiều người biết rằng để có được thời khắc vươn tới Mặt Trăng, cá nhân Neil Armstrong và những thành viên của Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Hoa Kỳ NASA đã phải vượt qua vô số thử thách về mặt kỹ thuật và thể chất, cũng như phải trải nghiệm rất nhiều những mất mát về mặt tinh thần khi chứng kiến sự hy sinh của chính những người đồng nghiệp, đồng đội trong các chuyến bay thất bại. Đây cũng chính là nội dung của First Man – bộ phim mới nhất của đạo diễn Damien Chazelle với kịch bản chuyển thể từ cuốn tiểu sử chính thức về Neil Armstrong First Man: The Life of Neil A. Armstrong của tác giả James R. Hansen. Trong First Man, người xem lần đầu tiên được chứng kiến một cách chi tiết trên màn ảnh lớn chuyến bay từ Trái Đất tới Mặt Trăng dài 8 ngày của Neil Armstrong (Ryan Gosling), Buzz Aldrin (Corey Stoll), và Michael Collins (Lukas Haas) trong phi vụ Apollo 11. Nhưng không chỉ dừng lại ở đó, First Man còn đưa tới cho khán giả cuộc hành trình gian nan, vất vả không kém mà Armstrong phải trải qua từ khi còn là một phi công lái thử nghiệm chiếc máy bay North American X-15 năm 1961 cho đến thành công “một nửa” của chuyến bay Gemini 8 năm 1966, và kết thúc là bước chân đầu tiên của loài người trên Mặt Trăng ngày 21 tháng 7 năm 1969. Là “người đầu tiên” không có nghĩa là “người đơn độc”, luôn sát cánh bên Neil Armstrong trong những năm thử thách đó là những người bạn phi hành gia như Ed White (Jason Clarke), như Elliot See (Patrick Fugit), những người đồng nghiệp nhiệt thành như Deke Slayton (Kyle Chandler), và tất nhiên là người vợ luôn hết mực ủng hộ chồng Janet Shearon (Claire Foy). 

Vốn thường chứa đựng những câu truyện phiêu lưu mạo hiểm, đầy tính gợi mở dễ dàng lôi cuốn người xem, các cuộc du hành không gian đã trở thành đề tài quen thuộc ở Hollywood thậm chí từ trước khi Neil Armstrong đặt chân lên Mặt Trăng năm 1969 với tác phẩm kinh điển 2001: A Space Odyssey (1968) của đạo diễn Stanley Kubrick. Nhưng phải chờ tới khi kỹ nghệ đồ hoạ vi tính được các nhà làm phim Mỹ hoàn thiện trong thập niên 1980 và được khích lệ bởi thành công vang dội của hai thương hiệu Star Wars và Star Trek, đề tài thám hiểm vũ trụ mới thực sự cất cánh trên màn ảnh lớn với rất nhiều tác phẩm vừa ăn khách lại vừa được đánh giá cao về mặt nghệ thuật như Apollo 13 (1995) của Ron Howard, Gravity (2013) của Alfonso Cuarón, Interstellar (2014) của Christopher Nolan, và gần đây nhất là The Martian (2015) của Ridley Scott. Nếu xét trên khía cạnh này thì hẳn nhiều người đã cho rằng Damien Chazelle – đạo diễn trẻ hàng đầu của Hollywood ở thời điểm hiện tại sau liên tiếp hai thành công của Whiplash (2014) và La La Land (2016) sẽ rất dễ dàng chinh phục khán giả và giới phê bình với First Man – tác phẩm về một trong những sự kiện đáng nhớ nhất, kỳ vĩ nhất trong lịch sử nước Mỹ và lịch sử chinh phục không gian của loài người. Nhưng thực tế thì hoàn toàn không phải như vậy, bởi nếu nhìn kỹ thì người xem có thể thấy ngay rằng các bộ phim về không gian muốn thành công thường phải viện tới các đề tài hoàn toàn mang tính khoa học viễn tưởng như loạt phim Star Wars, Star Trek, hoặc nếu dựa trên sự kiện có thật thì đó phải là những sự kiện phải có cốt truyện cực kì kịch tính như chuyến bay thảm hoạ Apollo 13. Lựa chọn “ưu tiên” tối đa cho không gian giả tưởng này có một lý do rất đơn giản, đó là vì việc tạo ra các kỹ xảo điện ảnh về không gian “như thật” là hoàn toàn trong tầm tay của một nền điện ảnh vượt trội về mặt kỹ thuật và công nghệ như Hollywood, nhưng làm thế nào để truyền tải tới người xem cảm giác thật của những nhà du hành vũ trụ khi tiếp cận những chân trời mới lại là bài toán khó với bất cứ đạo diễn điện ảnh nào. Việc Chazelle lựa chọn cuốn tiểu sử chính thức về Neil Armstrong của James R. Hansen để chuyển thể lên màn ảnh lớn, và việc anh quyết định hợp tác với nhà biên kịch “chuyên trị” các sự kiện có thật trong lịch sử nước Mỹ là Josh Singer – tác giả kịch bản của các bộ phim đậm chất tài liệu gây tiếng vang như Spotlight (2015) và The Post (2017) cho thấy rằng Damien Chazelle đã quyết tâm chinh phục một mảng đề tài khó nhằn vốn chưa có nhiều tác phẩm đại diện của dòng phim khám phá không gian – các bộ phim về những cuộc thám hiểm vũ trụ “có thật”. Một thử thách khác của Damien Chazelle khi thực hiện First Man đó là việc khác với Apollo 13 – chuyến bay giông tố từng được Ron Howard chuyển thể rất thành công với sự thể hiện của Tom Hanks trong vai đội trưởng chuyến bay Jim Lovell, Apollo 11 của Neil Armstrong là một chuyến du hành vũ trụ tương đối suôn sẻ, không nhiều kịch tính. Hơn thế nữa là khác với nhiều nhà du hành vũ trụ vốn nổi tiếng hoạt ngôn, tích cực tham gia hoạt động xã hội như Buzz Aldrin thì Neil Armstrong lại nổi tiếng là người kín tiếng, không thích biểu lộ tâm trạng, hạn chế tiếp xúc với công chúng tới mức ông được gia đình đặt biệt danh là “người hùng miễn cưỡng của nước Mỹ” (“Reluctant American hero”). Chuyển thể một sự kiện nổi bật nhưng ít kịch tính, và khắc hoạ một nhân vật nổi tiếng nhưng ít cảm xúc như vậy trong một tác phẩm điện ảnh được công chúng đòi hỏi là phải chân thực nhưng vẫn hấp dẫn như First Man rõ ràng là một thử thách lớn kể cả với một đạo diễn từng giành giải Oscar như Damien Chazelle.

Vậy Damien Chazelle đã giải quyết thế nào bài toán chuyển tải cảm xúc khám phá không gian của những nhà du hành vũ trụ có thật, trong những chuyến bay có thật đến với khán giả? Câu trả lời nằm ở phần hình ảnh và âm nhạc tuyệt đỉnh của First Man. Chịu trách nhiệm cho phần hình ảnh của First Man là nhà quay phim người Thuỵ Điển Linus Sandgren – người từng giành giải Oscar cho quay phim xuất sắc nhất ngay trong lần hợp tác đầu tiên với Damien Chazelle qua bộ phim ca vũ La La Land. Nếu như nếu như La La Land tràn ngập những bối cảnh rực rỡ, đa dạng, và tươi vui của thành phố đông đúc, chật chội Los Angeles, thì phần hình ảnh của First Man lại là sự kết hợp một cách nhịp nhàng giữa các bối cảnh chật hẹp, rung lắc đến ngột thở của buồng lái tàu vũ trụ với không gian rộng lớn, bao la đến choáng ngợp từ tầng bình lưu của Trái Đất cho tới bề mặt Mặt Trăng. Chính sự tương phản về mặt không gian này đã giúp khán giả cảm nhận được phần nào cảm giác của chính những phi hành gia như Neil Armstrong trong khoảnh khắc vượt khỏi sự đeo bám của lực hấp dẫn Trái Đất để vươn tới những chân trời loài người chưa từng chạm tới. Chính cái cảm giác vươn cao, vươn xa để được thấy mình thực sự nhỏ bé trước sự vô tận của không gian, để được thấy mình chạm tới những thế giới mà qua hàng ngàn, hàng vạn năm con người mới chỉ có thể quan sát bằng mắt thường và kính viễn vọng đã giúp Neil Armstrong và các đồng đội của ông vượt qua những bài tập mệt mỏi đến nôn mửa với máy ly tâm, đã đem lại cho họ sức mạnh để “nhồi nhét” 600 trang sách động lực học tên lửa chỉ trong một tiết học, đã tạo cho họ niềm tin vào tương lai của các chuyến bay vũ trụ đầy bất trắc sau sự hy sinh của chính những người bạn đồng cam cộng khổ trong NASA. Dưới những góc máy xuất sắc của Sandgren, khán giả cũng đã có thể phần nào hiểu được cái cảm giác này qua First Man, đặc biệt là qua những cảnh quay đắt giá và có thể coi là xúc động nhất trong phim như khi Neil Armstrong lái chiếc X-15 vươn tới ranh giới giữa khí quyển Trái Đất và khoảng không vũ trụ, hay khi mô-đun mang tên đại bàng (“Eagle”) chở Neil Armstrong và Buzz Aldrin chạm xuống bề mặt trắng toát và bụi bặm của Mặt Trăng.

Nhắc tới dòng phim du hành vũ trụ không ai có thể quên được 2001: A Space Odyssey – tác phẩm đã khiến nhiều thế hệ khán giả trở nên mê đắm với không gian và những cuộc chinh phục vũ trụ nhờ vào vô số những đột phá về mặt kĩ xảo và hình ảnh của đạo diễn huyền thoại Stanley Kubrick. Bên cạnh phần hình ảnh thì một trong những khía cạnh thường được nhắc tới của 2001: A Space Odyssey là cách Kubrick sử dụng âm nhạc, và khoảng lặng, để giúp khán giả cảm thấy mình được là một phần của cuộc hành trình tới Mặt Trăng của các phi hành gia trong phim. Nếu như các bản nhạc cổ điển hùng tráng như Dòng Danube xanh của Johann Strauss II và đặc biệt là khúc mở đầu “Mặt Trời mọc” trong Also sprach Zarathustra của Richard Strauss được Kubrick vang lên trong phim để đem lại cho người xem cảm giác về sự bao la vô tận của vũ trụ, thì tại rất nhiều thời điểm trong 2001: A Space Odyssey, bao trùm lại là sự im lặng đến run người để nhắc nhớ họ một điều rằng những hình ảnh mà họ đang được chứng kiến thuộc về một thế giới khác, thuộc về một khoảng không khác nơi con người chỉ là những tạo vật xa lạ, nhỏ bé, và mỏng manh. Bởi vậy, hẳn những người từng yêu quý 2001: A Space Odyssey sẽ cảm thấy xúc động khi xem First Man của Damien Chazelle, bởi âm nhạc, và những khoảng lặng cũng chính là một điểm nhấn của bộ phim về một chuyến du hành có thực tới Mặt Trăng này. Vốn thành danh từ hai bộ phim về âm nhạc là Whiplash và La La Land, Damien Chazelle và người bạn lâu năm Justin Hurwitz – nhà soạn nhạc cho tất cả các tác phẩm của Chazelle kể từ ngày hai người còn ngồi chung giảng đường ở Đại học Harvard chắc hẳn đã đặt nhiều hy vọng vào việc tái hiện được cảm xúc mà 2001: A Space Odyssey đem lại cho khán giả qua cách sử dụng âm thanh. Và quả thực, dù có thể chê First Man vì thời lượng dài hay kịch bản thiếu điểm nhấn nhưng chắc chắn không khán giả nào không cảm thấy xúc động khi nghe những âm thanh hoài cổ của bản Lunar Rhapsody cất lên trong khoang tàu chật hẹp của Apollo 11, hay khi những nốt nhạc da diết của Justin Hurwitz cuốn theo những bước đi chậm rãi của Neil Armstrong trên bề mặt Mặt Trăng – một hình ảnh gợi nhớ tới phân đoạn nổi tiếng của 2001: A Space Odyssey khi các phi hành gia tiếp xúc với phiến đá đen bí ẩn lần đầu tiên trong một hố thiên thạch rộng lớn của vệ tinh duy nhất này của Trái Đất. Và cũng như 2001: A Space Odyssey, xen kẽ giữa các bản nhạc trong First Man cũng là vô số những khoảng tĩnh lặng cần thiết để người xem có thời gian bình tâm suy ngẫm về sự nhỏ bé của con người và Trái Đất giữa Vũ trụ bao la, suy ngẫm về khát khao chinh phục của những nhà du hành như Neil Armstrong, suy ngẫm về giá trị của những hy sinh về thời gian, về của cải, về cả tính mạng mà loài người đã bỏ ra để vươn được tới những địa điểm hoàn toàn xa lạ và chẳng có lấy một sự sống như Mặt Trăng. 

Tất nhiên, dù là phim tiểu sử nhưng First Man không phải là một phim tài liệu, bởi vậy chỉ thành công về mặt hình ảnh và âm thanh chưa thể là đủ nếu tác phẩm mới nhất của Damien Chazelle không kể được một câu truyện lôi cuốn khán giả về Neil Armstrong. Về khía cạnh này, sự miễn cưỡng trong giao tiếp với công chúng và bộc lộ tâm tư, tình cảm của Neil Armstrong được Chazelle và nhà biên kịch Josh Singer bù đắp bằng một loạt các nhân vật phụ xoay quanh cuộc đời Armstrong, và những bi kịch đời tư và bi kịch trong công việc vốn không hẳn trung thành 100% với cuộc đời nhà du hành vũ trụ huyền thoại. Nếu so sánh với hiệu quả cảm xúc về phần nhìn và phần nghe của phim thì việc xây dựng nhân vật trong phim chưa hẳn đã là điểm thành công nhất của First Man khi thời lượng phim không thể đủ để từng nhân vật phụ tạo dựng được chỗ đứng trong lòng khán giả bởi vai trò của họ thường xuyên bị khoả lấp bởi các phân đoạn dài và kịch tính hơn nhiều về những trục trặc kĩ thuật mà NASA gặp phải khi hướng tới Mặt Trăng. Kể cả hình tượng Neil Armstrong trong First Man tuy đem lại cảm hứng cho người xem với lòng khao khát khám phá không gian cũng không hẳn là một nhân vật ấn tượng về chiều sâu cảm xúc, một phần vì sự cô độc trong im lặng vốn là đặc trưng cho một nhà du hành kinh nghiệm đã chai sạn vì vô số những tai nạn và mất mát, một phần vì mạch cảm xúc của phim thường xuyên bị ngắt quãng giữa những bi kịch đời tư và những thành công trong sự nghiệp của Armstrong, và một phần bởi diễn xuất không thực sự có nhiều đột phá của Ryan Gosling nếu so sánh với các vai diễn xuất sắc khác của anh trong Drive (2011) và La La Land. Bởi vậy mà kể cả khi bộ phim khép lại với một phân đoạn hết sức xúc động, hết sức riêng tư của Neil Armstrong trên Mặt Trăng, hiệu quả cảm xúc mà cảnh phim này mang lại có lẽ cũng không hẳn được như ý muốn của Chazelle và Singer bởi cảm giác thiếu tự nhiên, thiếu mạch cảm xúc của cảnh phim với cuộc hành trình dài đằng đẵng từ chiếc X-15 đến Mặt Trăng của Armstrong. Điểm sáng lớn nhất trong dàn diễn viên của First Man có lẽ là Claire Foy – nữ diễn viên thủ vai người vợ giàu sức chịu đựng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ của Neil Armstrong. Vốn đã được coi là nữ diễn viên hàng đầu của màn ảnh nhỏ Anh-Mỹ trong vài năm trở lại đây với các vai diễn xuất sắc trong Wolf Hall và The Crown, Claire Foy mới chỉ thực sự “chào sân” Hollywood trong năm 2018 với một loạt vai diễn trong First Man, Unsane và sắp tới là vai diễn quan trọng Lisbeth Salander trong The Girl in the Spider's Web. Nhưng chỉ với riêng vai Janet Shearon trong First Man, Foy cũng đã khiến khán giả phải ngả mũ thán phục vì cô thậm chí còn toả sáng hơn cả bạn diễn Ryan Gosling bằng diễn xuất hết sức mạnh mẽ, đặc biệt là qua cặp mắt xanh ngắt giàu cảm xúc. Qua sự thể hiện của Claire Foy, người xem thực sự cảm nhận được những xung đột về mặt cảm xúc của một người vợ vừa muốn chồng mình làm nên lịch sử trong vai trò “Người đầu tiên”, vừa muốn người mình hết mực thương yêu ấy tránh khỏi những hiểm nguy rình rập của các cuộc du hành đầy chết chóc để mãi là “Người đàn ông của gia đình”. Chỉ nhìn vào ánh mắt sâu thẳm của Claire Foy thôi khán giả cũng phần nào có thể hiểu được rằng tại sao dù có cách xa Trái Đất hàng trăm nghìn cây số giữa khoảng không tĩnh lặng mênh mông của vũ trụ thì Neil Armstrong vẫn luôn cảm thấy bình yên nhất là khi được nghe những bản nhạc gắn liền với người vợ phương xa.

Ngay sau khi ra mắt công chúng, First Man đã vấp phải sự chỉ trích từ một số chính trị gia hoặc khán giả quá khích bởi họ cho rằng việc Damien Chazelle bỏ qua một trong những hình ảnh mang tính biểu tượng nhất của cuộc thám hiểm Mặt Trăng của Neil Armstrong và đồng đội là một hành động “không yêu nước”, không trân trọng thành quả nước Mỹ đạt được với chương trình Apollo trong bối cảnh ganh đua quyết liệt với Liên Xô. Ở chiều ngược lại, một số cũng lại cho rằng First Man là một bộ phim ca ngợi quá mức thành tựu khoa học kỹ thuật của nước Mỹ trong thập niên 1950, 1960 mà quên đi vô số những bi kịch mà nước Mỹ phải đối mặt trong cùng giai đoạn đó về mặt xung đột sắc tộc, xã hội, về những bước đầu sa lầy của nước Mỹ tại Việt Nam. Đó quả thực là những lời chỉ trích hết sức không cần thiết, bởi First Man đầu tiên và trên hết là bộ phim về Neil Armstrong, và về khát khao khám phá, chinh phục khoảng không của loài người chứ không phải một tác phẩm điện ảnh giới hạn về một thời điểm nhất định trong lịch sử của nước Mỹ. Có lẽ những người chỉ trích First Man đã quên rằng câu nói đầu tiên của Neil Armstrong – một người nổi tiếng dè dặt và ít phát biểu hoa mỹ khi đặt chân xuống bề mặt Mặt Trăng lại là "Đây là bước đi nhỏ bé của một người, nhưng là bước tiến khổng lồ của nhân loại". Chúng ta có thể cảm nhận được rằng Armstrong coi thành công của chuyến bay Apollo 11 và của cả chương trình không gian của NASA xứng đáng được coi là thành công chung của loài người sau nhiều thiên niên kỷ chỉ có thể ngắm nhìn “chị Hằng” từ một khoảng cách tưởng chừng chẳng bao giờ có thể khoả lấp. Chỉ khi coi thành công của Neil Armstrong là thành tựu chung như vậy, chúng ta mới có thể khuyến khích tất cả các quốc gia cùng chung tay trong công cuộc khám phá không gian nhiều vinh quanh nhưng cũng đầy rẫy nguy hiểm. Bởi đã hơn nửa thế kỷ sau những hy sinh lớn lao, thậm chí phải trả bằng máu và sinh mạng của Neil Armstrong và đồng đội, chỉ mới đây thôi chúng ta lại phải chứng kiến những cuộc chuyến bay vào vũ trụ thất bại như của tai nạn của cuộc phóng tên lửa Soyuz MS-10 ngày 11 tháng 10 năm 2018 vốn suýt chút nữa đã cướp đi sinh mạng của hai nhà phi hành một người Nga, một người Mỹ. Sau mỗi thất bại như thế, con người sẽ có thêm kinh nghiệm và bài học cần thiết để bay cao hơn, bay xa hơn vào trong vũ trụ. Nhưng điều đó chỉ có thể xảy ra nếu loài người vẫn mãi giữ trong mình khao khát chinh phục khoảng không, và tình yêu với những vẻ đẹp siêu thực ngoài không gian mà Neil Armstrong, mà Buzz Aldrin và đồng đội của họ luôn mang trong tim, và luôn sẵn sàng chia sẻ với cả thế giới. Tình yêu với không gian đó có lẽ cũng là thứ quan trọng nhất Damien Chazelle muốn truyền tải tới khán giả qua First Man. Và ở khía cạnh đó, chẳng ai có thể chỉ trích First Man, một bộ phim xứng đáng được coi là món quà kỉ niệm cho cả người yêu điện ảnh và không gian hướng tới dịp kỉ niệm nửa thế kỷ ngày Neil Armstrong đặt chân lên Mặt Trăng trong năm 2019.

========

mardi 16 octobre 2018

Eighth Grade (2018)


Tuổi dậy thì mộng mơ nhưng cũng lắm rắc rối, từ chuyện làm thế nào để tốt nghiệp lên lớp, đến chuyện làm thế nào để giải quyết đống mụn trứng cá trên mặt bằng các bộ lọc của Instagram để có được những bức ảnh “nhiều like” nhất, rồi tất nhiên là việc làm sao để thu hút sự chú ý của cậu nhóc chơi bóng rổ “cool” nhất trường. Là một cô bé đang chuẩn bị kết thúc lớp 8 để bước sang cấp III, tất nhiên cô bé 13 tuổi Kayla Day (Elsie Fisher) vấp phải tất cả những rắc rối ấy, chưa kể tới việc cô “bị” cả lớp bầu tặng giải thưởng “Người im lặng nhất lớp” vì bản tính nhút nhát, và tất nhiên không thể bỏ qua việc cô bé hàng ngày bị ông bố gà trống nuôi con Mark Day (Josh Hamilton) quấy rầy bằng những câu hỏi và trò đùa “vô duyên hết mức”. Nơi trú ẩn duy nhất của Kayla là mạng xã hội, nơi cô bé có thể bấm “thích” những bức ảnh lung linh của các cô bạn, cậu bạn cùng lớp – những người bạn-xa lạ mà cô chẳng bao giờ dám mở miệng làm quen ngoài đời. Mạng xã hội cũng là nơi duy nhất cô có thể chia sẻ tài năng của mình đến với công chúng qua những đoạn phim chia sẻ “kinh nghiệm sống” trong đó “YouTuber” Kayla Day hiện ra một cách chững chạc, tự tin với những lời khuyên đáng giá cho những người bạn khán giả cùng lứa, dù rằng lượng khán giả đó hẳn không có nhiều vì phần lớn các đoạn phim của cô bé trên YouTube chỉ có “0 lượt xem”. Kayla chỉ thực sự thấy thoải mái, vui tươi khi được tiếp xúc với người bạn cấp III của cô như Olivia (Emily Robinson) – người đã đem đến cho cô bé một tương lai “tươi đẹp” của tương lai cấp III qua những câu chuyện và người bạn “cool” hết mức có thể. Nhưng để bước tới được ngưỡng cửa cấp III ấy, Kayla Day nhút nhát vẫn sẽ phải cố vượt qua hết những ngày tháng cuối cùng của năm lớp 8 – Eighth Grade. 

Eighth Grade (“Lớp tám”) là một bộ phim của những người trẻ, làm về những người trẻ. Đạo diễn bộ phim Bo Burnham có lẽ là một trong những nhà làm phim đầu tiên có gốc gác là “YouTuber” – những nghệ sĩ đi lên từ những đoạn phim ngắn “tự biên, tự diễn” được công chúng yêu thích trên YouTube để rồi từ đó vươn tới những sân khấu ngoài đời, và rồi là màn ảnh lớn của Hollywood. Tất nhiên không phải ai trong “thế hệ YouTube” cũng có một sự nghiệp nhiều đột phá như Burnham, chàng thanh niên mới 28 tuổi nhưng đã có tới 12 năm được công chúng biết tới qua nhiều vai trò như ca sĩ, nhạc sĩ, nhà thơ, nghệ sĩ hài độc thoại, diễn viên, và giờ là đạo diễn phim điện ảnh. Nhưng những thành công liên tiếp từ thế giới ảo cho đến thế giới thật chưa bao giờ làm Burnham quên rằng anh còn là thành viên của “thế hệ Z” – thế hệ của những đứa trẻ 9X, 0X lớn lên cùng với Internet, chia sẻ vui buồn với xã hội ảo của Instagram, của Facebook, của Snapchat nhiều hơn là dành thời gian cho bố mẹ, cho những cuộc trò chuyện mặt đối mặt với bè bạn, cho những sân chơi lấm lem bùn đất ngoài đời. Khả năng kết nối vô tận của Internet, cùng quyền được lựa chọn danh tính ảo trên mạng xã hội đã giúp những đứa trẻ của “thế hệ Z” được trở thành hình mẫu mà các em mơ ước, được phô diễn những khả năng riêng biệt của bản thân đến với muôn vàn những “khán giả ảo” mà không sợ họ biết rằng sau lớp vỏ “YouTuber”, “Instagrammer” hào nhoáng cũng chỉ là những đứa trẻ còn đang ẩm ương ở cái tuổi mới lớn. Nhưng lợi thế này của Internet, của mạng xã hội cũng lại tiềm ẩn vô số những rủi ro cho những đứa trẻ còn đang phải trải nghiệm giai đoạn định hình tính cách, bởi trong nhiều trường hợp nơi thể hiện cá tính, chỗ trú ẩn tinh thần trong thế giới ảo lại xâm chiếm hết cuộc sống của các em, biến các em trở thành những “con nghiện” mạng xã hội và cố gắng tối đa xa lánh cuộc sống thực, lảng tránh việc tương tác với những con người thực sự yêu quý các em ở ngoài đời. Bo Burnham từng có những trải nghiệm như thế, và đó chính là một trong những lý do anh viết kịch bản Eighth Grade, lý do anh đem tới khán giả cô bé Kayla Day – nhân vật đại diện cho cảm giác bất an tuổi đầu đời trước những thay đổi cả về mặt thể chất và tinh thần của những đứa trẻ “thế hệ Z” như Burnham. 

Dòng phim về tuổi mới lớn vốn không phải là một đề tài xa lạ ở Hollywood với rất nhiều tác phẩm được công chúng ưa thích cũng như giành nhiều giải thưởng lớn kể từ thập niên 1970 như American Graffiti (1973), The Breakfast Club (1985), Almost Famous (2000), Juno (2008), và gần đây nhất là bộ đôi phim xuất sắc về những rung động đầu đời của các cô bé, cậu bé vị thành niên Lady Bird và Call Me By Your Name (2017). Có một điểm chung dễ nhận thấy trong các bộ phim về tuổi mới lớn này đó là bối cảnh của phim thường là mái trường cấp III của những đứa trẻ nổi loạn tuổi 17, 18, bởi đây là mảnh đất màu mỡ cho những xung đột về nội tâm và những đề tài khó và dễ lôi cuốn khán giả như rắc rối về gia đình, tình cảm, thậm chí là tình dục của giới trẻ. Chọn cho mình bối cảnh mái trường cấp II với nhân vật là những cô bé, cậu bé mới 12, 13 tuổi, Bo Burnham rõ ràng gặp nhiều trở ngại hơn trong việc biến kịch bản của anh thành một bộ phim thu hút người xem, một phần cái tuổi ẩm ương mới dậy thì vẫn còn đậm chất ngây thơ của cô bé Kayla Day không phải là điều kiện thuận lợi để Bo Burnham “cấy” những xung đột nội tâm vốn đòi hỏi sự định hình nhất định về mặt tính cách, và một phần khác vì khán giả sẽ đặc biệt nhạy cảm khi thấy những nội dung gây nhiều tranh cãi như tình yêu, tình dục lại được nhắc tới trong một bộ phim nói về lứa tuổi mộng mơ như Eighth Grade. Nhưng Burnham không lùi bước. Anh lôi cuốn khán giả đến với Eigthth Grade bằng cách kể chuyện nhẹ nhàng, thủ thỉ nhưng vẫn đủ mọi cung bậc cảm xúc từ ngây thơ đến ngơ ngác như cô bé Kayla Day “ngoài đời” khi phải đối mặt với những người bạn “già trước tuổi”, tới thẳng thắn, chân thành nhưng hết mực tình cảm như “YouTuber” Kayla Day. Và Burnham cũng chẳng e ngại việc Eigthth Grade bị Hiệp hội Điện ảnh Hoa Kỳ gắn mác R (phim không dành cho người dưới 16 tuổi mà không có người lớn đi cùng) vì anh muốn đề cập đến cuộc sống thực sự của “thế hệ Z” vốn bị “phơi nhiễm” với các đề tài tình yêu, tình dục từ rất sớm qua môi trường Internet và điện thoại di động. Có lẽ khi miêu tả những chi tiết rất nhạy cảm như việc những đứa trẻ mới còn chưa đủ tuổi vị thành niên mà đã trao đổi những đoạn tin nhắn có nội dung nhạy cảm (“sexting”), hay một ông nhóc cấp III “gạ tình” một cô bé còn mới đang học lớp 8, Bo Burnham tin rằng việc để những khán giả “người lớn” của Eigthth Grade hiểu hơn về cuộc sống, về suy nghĩ, về những khiếm khuyết đến mức gây sốc mà con em của họ có thể mắc phải là cần thiết, là đáng giá hơn việc đưa ra một bộ phim hiền lành, nghiêm cẩn như cô bé “YouTuber” Kayla Day. Bởi chắc chắn nhiều bà mẹ, ông bố như Mark Day (Josh Hamilton) vẫn luôn coi con cái của mình là cục vàng bé bỏng, ngây thơ không chút tì vết, vẫn luôn coi mái trường cấp II là chốn mộng mơ nơi con em của họ chỉ phải đau đầu với những bài văn con tính. Dám đề cập đến nội dung gây sốc như câu chuyện giới tính của trẻ chưa đến tuổi vị thành niên đã là việc khó, Bo Burnham còn chứng tỏ được tài năng biên kịch và đạo diễn của anh trong việc lồng những chi tiết gây sốc đó một cách tự nhiên vào nội dung của phim, khiến chúng vừa trở thành một phần hữu cơ trong cuộc sống của những đứa trẻ như Kayla Day mà không khiến khán giả cảm thấy gượng gạo khi xem, nhưng vẫn đủ độ nhấn nhá, độ cảnh báo để những ông bố, bà mẹ phải quan tâm hơn tới những đứa con còn ở tuổi mộng mơ nhưng đã kịp có những suy nghĩ “người lớn”. 

Khen Eighth Grade trong việc miêu tả cuộc sống, suy nghĩ của những đứa trẻ lớp 8 cũng có nghĩa là chúng ta phải khen ngợi Elsie Fisher – cô diễn viên nhí được Bo Burnham phát hiện vì chính những đoạn phim cô bé đăng tải lên YouTube. Burnham cho biết anh lựa chọn Fisher bởi đằng sau vẻ tự tin của một “YouTuber” của cô bé là một tính cách nhút nhát, mỏng manh không hề “diễn” mà Burnham rất muốn gửi gắm cho hình tượng cô bé lớp 8 Kayla Day. Không phụ công tin tưởng của “người đàn anh” trên YouTube, cô bé mặt đầy mụn trứng cá Kayla Day qua sự thể hiện của Elsie Fisher đã thực sự chinh phục được khán giả bằng lối diễn tự nhiên, truyền cảm, đặc biệt là trong những phân đoạn có sự xuất hiện của cả Kayla và ông bố gà trống nuôi con Mark Day của cô bé. Chứng kiến sự tương tác giữa Elsie Fisher và Josh Hamilton – người thủ vai Mark Day, chắc chắn nhiều ông bố sẽ cảm thấy rất xúc động vì cái cách Kayla tỏ vẻ “lờ” đi ông bố đã vụng về kém “sành điệu” lại còn cố theo đuôi con gái khi cô gặp những người bạn mới hơn tuổi, để rồi nhận ra rằng chính ông bố suốt ngày “bám đuôi” con gái ấy mới chính là người yêu thương cô bé nhất, mới chính là người có vòng tay luôn giang rộng để cô bé tựa vào những lúc buồn bã, mệt mỏi trên con đường trở thành “người lớn”. Với những ai chưa từng làm cha mẹ, xin hãy nhìn Elsie Fisher hoá thân vào vai Kayla Day để thấy những đứa con trong tương lai của họ sẽ phải gặp khó khăn đến nhường nào trên bước đường trưởng thành, kể cả khi được bao bọc bởi tình thương của cha mẹ. Và với những cô nhóc, cậu nhóc mới lớn, xin hãy xem Josh Hamilton thể hiện Mark Day để hiểu hơn được việc cha mẹ của các cô cậu vẫn luôn cố gắng để hiểu con cái bằng những nỗ lực, thử nghiệm không phải lúc nào cũng thành công nhưng luôn xuất phát từ trái tim, từ tình mẫu tử, phụ tử vô tận của họ. 

Cuộc hành trình khám phá bản thân, khám phá những người xung quanh của cô bé Kayla Day trong Eighth Grade không hề dễ dàng với rất nhiều nỗi buồn, không ít thất vọng, và tràn đầy dư vị bối rối, nhút nhát của một cô bé vẫn còn hơi “phục phịch” và mặt còn đầy trứng cá giữa chúng bạn già hơn tuổi. Tốt nghiệp lớp 8, Kayla Day sẽ phải bước vào những năm tháng cấp III hứa hẹn sẽ còn nhiều băn khoăn, bão tố hơn rất nhiều. Và sau cấp III sẽ là đại học, sẽ là những tháng ngày phải làm “người lớn” thật sự. Có lẽ cũng như ông Mark, khán giả của bộ phim sau khi được chia sẻ hơn một tiếng rưỡi chiều dài của Eighth Grade với cô bé Kayla đáng yêu sẽ mong rằng cô bé sẽ bỏ lại được sau lưng sự rụt rè, nhút nhát quá mức để thực sự chứng tỏ được vẻ tự tin mà cô đã thể hiện trong tư cách “YouTuber”, đồng thời cũng lại luôn mang trong mình tình yêu với cuộc sống, với bạn bè, và với ông bố gà trống nuôi con của cô. Bởi, ngay cả khi những đoạn phim cô tải lên YouTube chỉ có 1 “lượt xem”, thì Kayla vẫn có thể chắc chắn rằng lượt xem đó đến từ ông Mark – người luôn coi cô là cô bé đáng yêu nhất, thông minh nhất, tài năng nhất trong toàn thể những cô bé lớp 8 trên Trái Đất này.   

=========