some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

Affichage des articles dont le libellé est 2017 film. Afficher tous les articles
Affichage des articles dont le libellé est 2017 film. Afficher tous les articles

dimanche 30 août 2020

Detroit (2017)


Trong lịch sử Hoa Kỳ, chiến thắng của phe Liên bang miền Bắc trước Liên minh chủ nô miền Nam trong Nội chiến Mỹ 1861-1865 thường được coi là một mốc son đánh dấu sự tan vỡ của những gông cùm nô lệ đã đè nặng lên những người Mỹ gốc Phi kể từ những ngày lập quốc. Tuy nhiên, cả thế kỷ sau ngày Tư lệnh quân đội miền Nam Robert E. Lee bỏ vũ khí đầu hàng, những người da màu tự do của nước Mỹ vẫn phải chịu vô số những khổ đau đến từ nạn phân biệt chủng tộc vốn chưa hề biến mất sau cuộc Nội chiến mà chỉ biến tướng thành những hình thức tinh vi hơn, tàn nhẫn hơn để siết chặt lấy cộng đồng người Mỹ gốc Phi từ thế hệ này sang thế hệ khác. Họ có thể là những người lính bán mạng ngoài chiến trường vì sứ mệnh “tự do” của nước Mỹ. Họ cũng có thể là những người thợ ngày ngày cần mẫn vặn từng con ốc, lắp từng khung cửa trong các phân xưởng lắp ráp của thủ phủ ô tô Detroit. Thậm chí họ cũng đã có chút danh tiếng nhờ giọng ca, ngón đàn vốn được các hãng ghi âm toàn-da-màu như Motown đưa đến mọi hang cùng ngõ hẻm của nước Mỹ. Nhưng phần lớn trong số họ vẫn phải sống trong các khu ổ chuột-chỉ-dành-cho-người-da-đen thiếu tiện nghi, thiếu an ninh, thiếu học hành vốn xuất hiện đầy rẫy ở các thành phố công nghiệp như Detroit trong bối cảnh người da trắng đã lùi ra các vùng ngoại vi giàu có để không phải sống cạnh những “người hàng xóm” bị họ coi là những người hạ đẳng. Giấc mơ con đè nát cuộc đời con, người Mỹ gốc Phi những năm giữa thế kỷ 20 chẳng có mấy cơ hội vươn lên đổi đời khi ngày ngày họ phải lo chuyện cơm áo gạo tiền trong cảnh nghèo túng, và tồi tệ hơn thế lại luôn phải chịu sự đàn áp cả về mặt thể xác và tinh thần của đội ngũ cảnh sát vốn đa phần da trắng và luôn thích đem dùi cui, súng ống, bạo lực để “nói chuyện”. Con giun xéo lắm cũng quằn, những năm 60 của thế kỷ trước cộng đồng người da màu Hoa Kỳ đã cất liên tiếng nói phản kháng mạnh mẽ với những cuộc tuần hành, biểu tình rầm rộ đòi quyền-được-làm-người diễn ra trên khắp nước Mỹ do các lãnh đạo tinh thần của người Mỹ gốc Phi như Mục sư Tin lành Martin Luther King hay tu sĩ Hồi giáo Malcolm X. Ngọn lửa căm hờn của người Mỹ gốc Phi cũng dẫn đến 159 cuộc bạo loạn ở các thành phố lớn trên khắp Hoa Kỳ chỉ trong năm 1967, trong đó đẫm máu nhất là cuộc bạo loạn nổ ra ở Detroit tháng 7 năm 1967 khi 43 người đã thiệt mạng, gần 1200 người bị thương, trên 7000 người bị bắt, và hơn 2000 toà nhà bị phá huỷ sau những cuộc đối đầu giữa người biểu tình da màu và lực lượng cảnh sát và thậm chí là vệ binh quốc gia và lính dù chính quy của quân đội Hoa Kỳ.

Cuộc bạo loạn ở Detroit năm 1967 và những bức bối, bất công của xã hội nước Mỹ chính là bối cảnh cho Detroit – tác phẩm được nữ đạo diễn từng giành giải Oscar Kathryn Bigelow thực hiện nhân dịp kỉ niệm 50 năm ngày diễn ra sự kiện đau buồn này. Bộ phim tái hiện lại một góc nhỏ - nhưng hết sức đẫm máu của cuộc bạo loạn năm 1967, đó là những sự kiện xảy ra ở Khách sạn Algiers trong đêm ngày 25 tháng 7 năm 1967 với sự dính líu của một số viên cảnh sát tai tiếng của thành phố Detroit, cũng như là nguồn gốc của nỗi đau chưa bao giờ dứt của rất nhiều người không may có mặt tại Algiers ngày hôm đó. Trong số những nhân chứng của sự kiện đau buồn ấy có Melvin Dismukes (John Boyega), một anh thợ đá da màu kiêm nghề nhân viên an ninh luôn tự tin vào khả năng thương thuyết, “hạ nhiệt” những ông chủ da trắng. Không đến nỗi phải ngày ngày lo nghĩ về miếng ăn và sự an toàn cho bản thân như Dismukes, Larry Reed (Algee Smith) lại được trời phú cho giọng hát trầm ấm của một nghệ sĩ da màu đích thực và chỉ còn cách hợp đồng thu âm với hãng Motown lừng danh có một bài hát với nhóm The Dramatics của anh và người bạn, người trợ lý Fred Temple (Jacob Latimore). Cứng tuổi hơn một chút so với Dismukes, Reed, hay Temple là Karl Greene (Anthony Mackie), một cựu binh trở về từ chiến trường Việt Nam đang phải lưu lại Algiers với hy vọng kiếm được việc làm ở thành phố công nghiệp hàng đầu của nước Mỹ này. Trái ngược với sự già dặn của Greene là nhóm bạn Carl Cooper (Jason Mitchell), Aubrey Pollard (Nathan Davis Jr), Michael Clark (Malcolm David Kelley) và Lee Forsythe (Peyton Alex Smith) và cả hai cô gái da trắng hiếm hoi giữa vô vàn khuôn mặt da màu ở Algiers là Julie Ann Hysell (Hannah Murray) và Karen Malloy (Kaitlyn Dever) – những người trẻ, rất trẻ vốn chỉ muốn tạm thoát khỏi khói lửa, bạo lực của bạo động và đàn áp bằng những điếu thuốc, những điệu nhạc jazz, hay những trò đùa vô thưởng vô phạt trong căn phòng áp mái của khách sạn Algier. Bất chấp việc cả thành phố Detroit đang chìm trong khói lửa, cướp bóc và vô số bạo lực, chẳng ai trong số những người có mặt ở Algiers buổi tối ngày hôm đó có thể ngờ rằng chỉ xuất phát từ một trò đùa như vậy của Carl mà họ sẽ phải chịu đựng một đêm dài trong hoả ngục của khủng bố và bạo lực đến từ những tay cảnh sát da trắng như Philip Krauss (Will Poulter), Ronald August (Jack Reynor), và Robert Paille (Ben O'Toole) – những kẻ mang danh bảo vệ công lý và sự bình an của người dân Detroit nhưng thực tế lại luôn tìm kiếm mọi cơ hội để trút cơn giận dữ, trút sự thèm khát được “trả hận” cho những “người da trắng” bằng đòn roi, thậm chí là sự chết chóc lên đầu những người da đen vô tội.

 

Detroit là một tác phẩm không hề dễ thực hiện bởi bộ phim động chạm tới một giai đoạn hết sức biến động của lịch sử nước Mỹ trong thập niên 1960, lại nói về một câu truyện, một sự kiện thực ra chưa từng có được một câu trả lời hoàn toàn xác đáng đến từ công lý, hay đến từ những người tham gia sự kiện đó. Lời giải thích nào mới là sự thật cho những bi kịch xảy ra trong đêm ngày 25 tháng 7 năm 1967 tại khách sạn Algiers? Ai là người phải chịu trách nhiệm cho bi kịch ấy? Tại sao bi kịch lại xảy ra với Reed, với Greene, với Fred, với Carl, với cả những người da đen khác ở Algiers, ở Detroit, ở trên khắp nước Mỹ? Để giải quyết bài toán phức tạp với rất nhiều câu hỏi, nhiều biến số ấy, nữ đạo diễn Kathryn Bigelow và nhà biên kịch của bà Mark Boal đã sử dụng một kịch bản hết sức linh hoạt, sử dụng một phần dẫn truyện mang tính chuyện kể lịch sử và mở đầu với rất nhiều đại cảnh, kèm theo những cảnh quay, những bức ảnh ghi lại cuộc bạo động năm 1967 để biến Detroit phần nào đó trở thành một bộ phim bán-tài-liệu ghi lại không khí thực sự của thành phố ô tô của nước Mỹ. Nhưng ngay sau phần mở đầu mang tính tạo dựng tiền đề, tạo dựng không khí và chuẩn bị tinh thần cho khán giả - kể cả những người chưa từng đọc, từng nghe về sự bất công truyền đời của số phận những người da màu sống trên đất Mỹ để họ có thể hiểu hơn những bối cảnh của đêm bi kịch tại Algier, Bigelow lập tức thu hẹp bối cảnh của Detroit nhưng đồng thời cũng tăng dần mức độ bạo liệt, nhịp độ căng thẳng của bộ phim để người xem có thể phần nào đó trải nghiệm cảm giác ở trong hoả ngục của những nạn nhân trong buổi tối định mệnh ấy. Cảm giác ngột thở với những thước phim đầy rẫy máu, đẫy rẫy bạo lực và luôn căng như dây đàn không phải là điều xa lạ đối với những khán giả từng yêu thích các bộ phim hành động, chiến tranh của nữ đạo diễn đã cận kề tuổi 70 Kathryn Bigelow như Point Break (1991), K-19: The Widowmaker (2002), Zero Dark Thirty (2012) và đặc biệt là bộ phim về những tay phá bom trong chiến tranh Iraq The Hurt Locker (2008) – tác phẩm giúp Bigelow trở thành nữ đạo diễn đầu tiên và cho đến nay vẫn là duy nhất giành được giải thưởng Oscar cho đạo diễn xuất sắc nhất. Nhưng Detroit không chỉ dừng lại ở việc mô tả sự lạnh lẽo, vô nhân tính của các hành động bạo lực, hay cảm giác nhỏ bé, mỏng manh của con người khi phải đứng trên ranh giới giữa sự sống và cái chết, bạo lực và kịch tính cao độ trong bộ phim chỉ là chất liệu, là cái cớ để Bigelow dần dần gợi mở cho khán giả lý do vì sao dù cả thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày Robert E. Lee phải đầu hàng trong Nội chiến Mỹ, dù người da màu đã dành được vô số thành tựu, đã đóng góp biết bao mồ hôi xương máu cho sự thịnh vượng của nước Mỹ, họ vẫn chỉ là những công dân hạng hai, những nạn nhân truyền đời, truyền kiếp cho nạn phân biệt chủng tộc của người Mỹ da trắng, của một nền công lý chưa bao giờ đứng về phía họ, của giới cảnh sát thừa quyền lực, thừa vũ khí nhưng thiếu tình người, thiếu sự thấu hiểu.

 

Thật khó có thể nói Detroit là một tác phẩm hoàn hảo. Phần diễn xuất trong phim không thực sự để lại nhiều ấn tượng dù bộ phim có sự xuất hiện của một số gương mặt tiềm năng như John Boyega – Finn của loạt phim Star Wars, Jason Mitchell - Eazy-E trong Straight Outta Compton (2015), hay Anthony Mackie – siêu anh hùng Falcon trong loạt phim siêu anh hùng của Marvel. Cách mô tả hình ảnh những người da đen luôn ở vào thế bị động, yếm thế xuyên suốt bộ phim cũng khiến Detroit vấp phải những chỉ trích về việc liệu nữ đạo diễn da trắng Bigelow có thực sự mô tả đúng những gì đã xảy ra ở Detroit năm 1967. Những điểm yếu này của Detroit, cùng chủ đề khá nặng nề và không thực sự được nhiều người biết đến của bộ phim đã khiến tác phẩm mới nhất này của Kathryn Bigelow chìm nghỉm sau khi công chiếu trước sự cạnh tranh của những tác phẩm siêu anh hùng, hay thậm chí là những bộ phim cũng nói về nạn phân biệt chủng tộc tại nước Mỹ nhưng khắc hoạ người da đen một cách chủ động, hào sảng như The Help (2011), Selma (2014), Straight Outta Compton hay gần đây nhất là bộ phim giành giải Oscar cho phim hay nhất Moonlight (2016). Có lẽ gần gũi hơn cả với Detroit là bộ phim về số phận bi thảm của những người nô lệ da đen trong buổi đầu lập nước của Hoa Kỳ 12 Years a Slave (2013) – một tác phẩm khác cũng từng được trao giải Oscar cho phim hay nhất. Nhưng khác với tác phẩm của đạo diễn da màu người Anh Steve McQueen vốn cực kì thành công cả ở phòng vé và tại các giải thưởng lớn, Detroit ra mắt công chiếu và chẳng để lại nhiều tiếng vang, bất chấp việc tác phẩm này ra đời trong không khí chính trị ngày một sục sôi của nước Mỹ ở vào thời điểm giao thời giữa chính quyền của tổng thống Barrack Obama – người da đen đầu tiên trở thành lãnh đạo nước Mỹ và Donald Trump – người bị báo chí, các nhà hoạt động cánh tả, và thậm chí là nhiều ngôi sao điện ảnh Hollywood cáo buộc là đã dung túng cho chủ nghĩa phân biệt chủng tộc trỗi dậy trở lại ở Hoa Kỳ. Đây quả thực là một điều hết sức đáng tiếc, bởi rất hiếm có một tác phẩm khắc hoạ một cách trực diện, rõ ràng, và chi tiết nguồn gốc, chân tướng, cũng như hậu quả của nạn phân biệt chủng tộc, đặc biệt là của giới cảnh sát Hoa Kỳ đối với người da màu sống ở xứ sở cờ hoa này. Có thể nói không ngoa rằng chỉ cần xem Detroit, khán giả sẽ có thể phần nào hiểu được tại sao những bi kịch như đêm kinh hoàng ở Algiers vẫn cứ lặp lại với người Mỹ gốc Phi một trăm năm, một trăm năm mươi năm và có lẽ còn nhiều năm sau nữa kể từ thời điểm kết thúc Nội chiến Hoa Kỳ.

 

Cuộc bạo động ở Detroit năm 1967 được coi là đỉnh điểm của Mùa hè nóng bỏng năm 1967 trong lịch sử nước Mỹ khi tổng thống Lyndon B. Johnson – người được coi là có những đóng góp đáng kể giải quyết tình trạng bất bình đẳng ở Hoa Kỳ nhờ chính sách “Great Society” - phải đối mặt với vô số cuộc biểu tình, bãi công, bạo động đòi bình quyền cho người da màu. Hơn nửa thế kỷ sau Mùa hè nóng bỏng ấy, những ngày đầu hè năm 2020 nước Mỹ lại chứng kiến vô số những cuộc biểu tình và cả bạo động đòi lại công bằng, đòi lại công lý cho những người da đen như George Floyd – những người đã phải bỏ mạng bởi nhiều lý do khác nhau dưới bàn tay của cảnh sát Mỹ. Nhiều người đã chỉ trích rằng chính những phát ngôn, và hành xử của tổng thống đương nhiệm Donald Trump đã tạo điều kiện để những bi kịch như cái chết của Floyd xảy ra ở nước Mỹ. Nhưng cũng có lập luận nói rằng kể cả dưới thời tổng thống da màu Obama, thì Hoa Kỳ cũng vẫn phải chứng kiến những bi kịch như thế - những bi kịch đã dẫn đến các cuộc bạo loạn ở Ferguson năm 2014, ở Baltimore năm 2015, hay cuộc thảm sát cảnh sát ở Dallas dưới họng súng bắn tỉa của Micah Xavier Johnson năm 2016. Trước đó nữa là cuộc bạo loạn khiến hàng chục người chết và khiến chính quyền phải cậy nhờ tới sự can thiệp của quân đội Mỹ tại Los Angeles năm 1992. Và xa hơn nữa là chính cuộc bạo động ở Detroit năm 1967 – một sự kiện mà quân đội Mỹ cũng phải góp mặt để ổn định tình hình. Vậy lý do là ở đâu? Vậy cảnh sát hay những người tham gia bạo loạn là người có lý? Đó là câu hỏi chưa ai có thể đưa ra một lời giải thích thực sự thoả đáng, nhưng là câu hỏi Kathryn Bigelow đã thực sự dũng cảm tìm cách trả lời thông qua đứa con nghệ thuật đầy bạo liệt Detroit bất chấp việc bà nhẽ ra có thể nghỉ hưu, hoặc lựa chọn những bộ phim siêu anh hùng nhẹ nhàng, nhiều màu sắc, giàu lạc quan hơn để đạo diễn. Đen tối, nhuốm màu bi kịch, chẳng ánh lên chất lạc quan hào sảng, Detroit có lẽ là một tác phẩm không hề dễ xem với những khán giả muốn tìm thấy cho mình sự giải trí, sảng khoái ở rạp chiếu phim. Nhưng với bất cứ ai muốn hiểu hơn về những ung nhọt của nạn phân biệt chủng tộc vẫn còn hiển hiện ở nước Mỹ, muốn cảm nhận được lý do tại sao các cuộc biểu tình đòi bình quyền đã và vẫn sẽ diễn ra dù cho ai là tổng thống của nước Mỹ, muốn tìm cho mình lời giải thích thoả đáng cho việc người da màu phải dùng tới bạo lực để nói lên tiếng nói phản kháng trong một xã hội vốn luôn đề cao chủ nghĩa dân chủ-phi-bạo-lực như của Hoa Kỳ, thì Detroit là tác phẩm xuất sắc để thưởng thức. Thật tiếc là Detroit đã không có được sự chú ý bộ phim này xứng đáng được hưởng khi ra mắt, nhưng hy vọng rằng với giá trị nhập thế, với sự nhức nhối về một tiếng nói lương tri cho số phận những người da đen trong lòng xã hội nước Mỹ, bộ phim của đạo diễn Kathryn Bigelow này sẽ còn được người xem nhớ tới, nhắc tới như một tác phẩm xuất sắc về nạn phân biệt chủng tộc ở Hoa Kỳ.


==============


Bài đã biên tập trên Zing.

mercredi 28 novembre 2018

First Reformed (2017)


Từng có một thời Đức cha Ernst Toller (Ethan Hawke) tin vào Chúa trời và quân đội. Đó là khi Cha tuyên uý Toller phục vụ trong quân đội Hoa Kỳ để truyền đức tin mãnh liệt của ông đến với binh sĩ Mỹ. Một trong những người lính được thụ hưởng những lời răn dạy về Chúa trời, về Đức tin của Cha Toller như thế chính là con trai của ông – người đã vâng theo lời khuyến khích của chính cha mình tham chiến tại Iraq, để rồi phải bỏ mạng ở nơi đất khách quê người vì cuộc chiến vô nghĩa ấy. 

Cái chết của con trai khiến Đức cha Ernst Toller mất hoàn toàn niềm tin vào quân đội, vào gia đình, vào chính bản thân mình. Xuất ngũ, ly dị vợ, cha Toller chỉ còn nơi nương tựa duy nhất đó là sự che chở của Chúa trời tại ngôi nhà thờ nhỏ First Reformed ở thị trấn nhỏ lạnh lẽo Snowbridge. First Reformed được xếp vào hàng địa danh lịch sử của bang New York với tuổi đời lên tới 250 năm, nhưng có nhiệt thành đến mấy với những bài giảng thì Đức cha Ernst Toller cũng chẳng thể thu hút được nhiều người đến dự lễ trong căn nhà thờ gỗ ọp ẹp hẻo lánh nhất là trong thời buổi những Đại giáo đoàn như Abundant Life đã dành lấy hầu hết những người theo đạo nhờ cơ sở vật chất hiện đại, tiện nghi, những bài giảng hợp thời, và những nốt thánh ca trầm bổng qua giọng hát của ca đoàn trẻ trung, nhiệt huyết. Dù vậy thì cha Toller vẫn chẳng bận lòng. Bởi dù có phải hàng ngày làm hướng dẫn viên “bất đắc dĩ” cho những người khách đến thăm First Reformed, hay phải lặn lội vào tận trung tâm thành phố để làm “công tác ngoại giao” với Mục sư Jeffers (Cedric Kyles) thì cha Toller vẫn sẵn lòng để First Reformed tiếp tục là chỗ nương náu cho những tâm hồn còn vững niềm tin vào Chúa trời. 

Nhưng đến chính niềm tin tưởng chừng chẳng gì lay chuyển của Đức cha Ernst Toller cũng gặp phải thử thách khi Mary (Amanda Seyfried) - một trong số những con chiên ít ỏi còn trung thành với First Reformed nhờ ông thuyết phục chồng cô là Michael (Philip Ettinger) từ bỏ ý định thúc giục Mary đi phá cái thai đầu lòng của hai người. Là một nhà hoạt động môi trường cực đoan từng phải ngồi tù vì chống phá quyết liệt các hành động được coi là phá hoại môi trường của chính phủ và các tập đoàn lớn, Michael không muốn đứa con Mary đang mang trong bụng ra đời đơn giản vì không muốn đẩy đứa bé vào một xã hội đang tiến dần đến bờ vực diệt vong vì biến đổi khí hậu, vì một môi trường đã bị phá hoại tới mức không thể cứu vãn được. Thoạt nghe qua thì triết lý cực đoan tưởng chừng đơn giản, ngây thơ, và chứng tỏ một cuộc đời còn thiếu trải nghiệm của Michael rõ ràng chẳng thể tác động tới tâm trạng, suy nghĩ, và lòng tin vào Chúa trời của một người đã từng đối mặt với nhiều thử thách, đớn đau trong cuộc sống như cha Toller. Nhưng những sự kiện diễn ra sau cuộc gặp định mệnh giữa cha Toller và vợ chồng Mary – Michael hoá ra lại đánh dấu một bước ngoặt lớn lao cho cuộc sống một màu buồn tẻ của vị giáo sĩ. 

First Reformed là tác phẩm mới nhất của đạo diễn kiêm nhà biên kịch Paul Schrader. Với những khán giả trẻ thì cái tên Paul Schrader có lẽ không để lại nhiều ấn tượng khi đã từ lâu ông chỉ giới thiệu đến với người xem những tác phẩm kinh phí thấp với nội dung ở mức nhàng nhàng như The Canyons (2013) – bộ phim vốn được nhớ tới nhiều hơn với sự xuất hiện của ngôi sao thất thế Lindsay Lohan hay Dog Eat Dog (2016) - bộ phim do một ngôi sao hết thời khác là Nicolas Cage thủ vai chính. Nhưng với những người yêu điện ảnh của thập niên 1970, thập niên 1980 thì chắc chắn không ai có thể quên những kịch bản Paul Schrader đã viết cho đạo diễn Martin Scorsese như Taxi Driver (1976), Raging Bull (1980), hay The Last Temptation of Christ (1988). Không chỉ dừng lại ở đó, trong số những cái tên nổi bật của thế hệ New Hollywood – thế hệ đã vực dậy sức sáng tạo của nền điện ảnh Mỹ trong thập niên 1970 thì Paul Schrader còn được nhớ tới bởi những bài phê bình, phân tích phim sắc sảo, và đặc biệt là những bài viết giới thiệu các nhà làm phim quốc tế như Robert Bresson hay Yasujiro Ozu đến với những người làm điện ảnh và công chúng yêu phim Hoa Kỳ. Chính bởi vậy mà dù đã lâu không có tác phẩm nào đáng chú ý, nhưng người ta vẫn chờ đợi cơ hội được thấy lại tinh thần phản kháng vị nhân sinh mà Paul Schrader đã từng thổi vào những tác phẩm đáng nhớ của Hollywood như Taxi Driver hay The Last Temptation of Christ. 

Thời khắc ấy cuối cùng cũng đã tới với First Reformed – một tác phẩm mang trong mình dòng màu phản kháng của anh chàng tài xế taxi Travis Bickle – nhân vật chính của Taxi Driver nhưng được đặt trong bối cảnh xã hội nước Mỹ hiện đại – nơi những lo âu về di chứng của chiến tranh, về bất bình đẳng giàu nghèo những năm cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970 đã được thay thế bởi những mâu thuẫn và băn khoăn không thể giải đáp về những di chứng nặng nề của chủ nghĩa vật chất trong xã hội tư bản lên môi trường, lên đức tin tôn giáo, lên giá trị sống của mỗi con người. Cũng như anh chàng cựu binh Travis Bickle của Taxi Driver cô độc cùng cực tới mức phải lấy tấm gương phản chiếu để làm người bạn đồng hành, người cựu binh Ernst Toller của First Reformed cũng là một cá nhân lẻ loi chỉ biết chia sẻ suy tư với những trang nhật ký trong căn phòng tối tăm và những chai rượu uống dở. Và cũng như Travis Bickle đột nhiên thức tỉnh trước một xã hội đang dần mục nát vì tham nhũng, vì bất bình đẳng sau khi được chạm trán cô bé mại dâm vị thành niên Iris, ngọn lửa ham sống, tinh thần tự vấn trước những vấn đề nan giải của nước Mỹ hiện đại cũng chỉ được nhen nhóm trong lòng Đức cha Toller bởi người phụ nữ trẻ tuổi rụt rè nhưng đầy sức sống Mary. Nhưng khác với sự bạo liệt của Travis Bickle để lập tức phản kháng lại sự đè nén của các thế lực đen tối trong xã hội, người đàn ông trung niên Ernst Toller dường như cần nhiều thời gian hơn để dọn quang những bụi rậm băn khoăn trong tâm hồn chất chứa nhiều suy nghĩ, uẩn ức của ông trước khi tìm thấy con đường đi đích thực cho những tháng ngày còn lại của cuộc đời. Bởi vậy mà tuy có cấu trúc khá giống với Taxi Driver với nhiều mô-típ tương tự được trải đều từ đầu đến cuối phim, nhưng First Reformed lại tạo cho khán giả một cảm giác suy tư, nặng nề hơn hẳn nếu so với nhịp phim gấp gáp, đầy sức sống của Taxi Driver. Đã 41 năm kể từ ngày Taxi Driver ra mắt khán giả, có lẽ 41 năm ấy trải nghiệm cuộc đời, 41 năm thăng trầm ấy đã khiến cho Paul Schrader có một First Reformed vẫn phản kháng, vẫn lo âu, nhưng đã trầm ngâm, và bi quan hơn nhiều khi so với Taxi Driver. Dù vậy thì cách thức First Reformed phản ánh hiện thực và những mâu thuẫn của xã hội hiện đại vẫn là một đóng góp lớn của Paul Schrader cho điện ảnh Hollywood thời điểm hiện tại, bởi khán giả vẫn cần tới những bộ phim như thế để nhắc nhở cho họ về những khó khăn chúng ta đang đối mặt, những bài toán hóc búa về môi trường, về mặt trái của chủ nghĩa tư bản mà chúng ta vẫn cần phải tìm lời giải.

Nếu như tiếng vang của Taxi Driver không chỉ đến từ một kịch bản mang đầy hơi thở cuộc sống mà còn đến từ diễn xuất đã đi vào huyền thoại của Robert De Niro trong vai Travis Bickle, thì Paul Schrader có lẽ cũng đã hài lòng với lựa chọn Ethan Hawke cho vai Đức cha Ernst Toller của First Reformed. De Niro bùng nổ, ngạo nghễ bao nhiêu trong Taxi Driver thì Ethan Hawke lại lặng lẽ, trầm mình bấy nhiêu trước số phận cô đơn, trước một xã hội hiện đại đang bắt đầu có những dấu hiệu suy tàn. Xem Ethan Hawke diễn xuất, người xem luôn có cảm giác bất an trước một tâm hồn cô độc đang dần mất đi chỗ bám víu cuối cùng là đức tin vào Chúa trời nhưng cũng lại đang dần tìm thấy trong đêm tối cuộc đời sợi dây yêu sống. Có lẽ sẽ là hơi quá lời khi nói rằng Travis Bickle của Robert De Niro là hình ảnh phản kháng của Paul Schrader những năm trai trẻ, còn Ernst Toller của Ethan Hawke là tâm hồn buồn bã, nặng gánh suy tư của Paul Schrader trong buổi xế chiều của cuộc đời. Nhưng quả thực với những người yêu điện ảnh – những người đã dõi theo từng bước đường sự nghiệp của Paul Schrader, thì sự tương phản giữa hai vai diễn hết sức xuất sắc nhưng cách nhau tới hơn bốn thập niên của De Niro và Hawk hẳn đã đem lại nhiều cảm xúc, suy tư về bộ mặt đổi thay của xã hội, về cách tư duy vốn đã không còn như xưa của con người hiện đại. 

Taxi Driver dù đầy bạo lực, dù đầy những hình ảnh tăm tối của nước Mỹ nhưng cuối cùng lại khơi dậy trong lòng khán giả sự tin tưởng nhất định vào những tâm hồn Mỹ mạnh mẽ có khả năng thay đổi xã hội theo chiều hướng tốt đẹp hơn. Ngược lại, First Reformed tuy thanh bình, nhẹ nhàng nhưng lại ẩn chứa nhiều suy nghĩ bi quan về đà tụt dốc không gì có thể cứu vãn của xã hội hiện đại trước những tổn hại nặng nề về môi trường, về giá trị niềm tin. Trong bối cảnh một nước Mỹ đang bị chia rẽ hơn bao giờ hết về mặt chính trị và về quan điểm đối với vấn đề biến đổi khí hậu, chúng ta có lẽ cũng có thể hiểu được phần nào sự khác biệt về thế giới quan, về nhân sinh quan của Paul Schrader muốn truyền tải tới khán giả sau hơn bốn thập niên kể từ Taxi Driver. Nhưng chúng ta cũng đừng quên rằng dù đối diện với cuộc khủng hoảng niềm tin và sức khoẻ tưởng chừng không bao giờ có hồi kết, nhưng Đức cha Ernst Toller vẫn luôn suy tư, vẫn luôn tìm kiếm để gắng lấy lại ý nghĩa cho cuộc đời, gắng làm được điều gì đó vì một xã hội tốt đẹp hơn. Đó có lẽ cũng là thông điệp nhà làm phim đã ở vào buổi xế chiều của sự nghiệp Paul Schrader muốn truyền tải tới người xem – dù bất lực, dù bi quan, nhưng nếu muốn tìm thấy lại ý nghĩa của cuộc sống, muốn không trở nên cô đơn đến cùng cực giữa dòng đời thì cách duy nhất là chúng ta phải tự cải cách bản thân, tự dò đường để nhận ra những bất công, những vấn đề nan giải của cuộc sống để rồi từ đó tìm thấy lẽ sống cho riêng mình.

======

lundi 5 mars 2018

Phantom Thread (2017)






Thủ đô nước Anh Luân Đôn những năm sau chiến tranh thế giới thứ hai vẫn là một đô thành cổ kính với vẻ đẹp quý tộc, đài các và những con người hết mực thanh lịch, hết mực trân trọng vẻ đẹp truyền thống. Đại diện tiêu biểu nhất cho tính cách người Luân Đôn những năm 1950 ấy là nhà tạo mẫu nổi tiếng Reynolds Woodcock (Daniel Day-Lewis) – tác giả của vô số những bộ váy đẹp tới ngột thở và là niềm mơ ước của không chỉ giới quý tộc Anh mà cả những công nương, công chúa từ các hoàng gia châu Âu khác. Thừa hưởng từ người mẹ quá cố tình yêu thời trang và sự chăm chút cho từng đường kim mũi chỉ ngay từ tuổi niên thiếu, Woodcock luôn đem đến cho khách hàng của ông những bộ váy vừa sang trọng một cách cổ điển, vừa đủ tinh tế để tôn lên vẻ đẹp riêng của người khoác lên mình bộ váy đó. Để có được những sản phẩm thời trang đầy chất nghệ thuật ấy, Reynolds Woodcock chọn cho mình một cuộc sống đẹp nhưng nhiều phần đơn độc. Ông dành phần lớn thời gian thu mình trong không gian sáng tạo và phó mặc việc quản lý nhà mốt Woodcock lẫn cuộc đời riêng của chính ông cho người thân duy nhất là bà chị gái Cyril (Lesley Manville). Nhưng dù có muốn tách mình khỏi cuộc sống trần tục đến mấy thì Woodcock vẫn cần có những nàng thơ trong đời – những cô gái trẻ với dáng hình cân đối có thể giúp ông ướm thử những ý tưởng sáng tạo trước khi đem chúng đến với khách hàng. Tất nhiên rất nhiều cô gái trẻ khó lòng cưỡng lại lời mời gọi trở thành nàng thơ trong nhà mốt Woodcock, không chỉ bởi tài năng và sự nổi tiếng của nhà tạo mốt hàng đầu Luân Đôn, mà còn vì ông thực sự là một người đàn ông tế nhị, và chu đáo với phụ nữ. Nhưng rồi họ nhanh chóng nhận ra rằng Woodcock trân trọng các nàng thơ của ông theo cái cách những người thợ may chăm chút cho các ma-nơ-canh bằng gỗ của họ - sự trân trọng hoàn toàn mang tính chất nghề nghiệp lạnh lẽo và hoàn toàn thiếu vắng tình cảm yêu thương giữa con người với con người. Hơn thế nữa, bà chị gái khó tính Cyril Woodcock cũng luôn sẵn lòng giúp Reynolds loại bỏ những nàng thơ như Johanna (Camilla Rutherford) khi họ có ý muốn vượt khỏi ranh giới nghề nghiệp ấy để lại gần hơn với tâm hồn tinh tế của bậc thầy thời trang. Một trong những cô gái trẻ đã phải lòng Reynolds Woodcock như vậy là cô hầu bàn Alma Elson (Vicky Krieps). Yêu Reynolds ngay từ cái nhìn đầu tiên, Alma nhanh chóng nhận lời trở thành nàng thơ mới nhất của nhà mốt Woodcock để được sống bên ông, để được ông hàng ngày khoác lên cơ thể cân đối của cô những bộ váy giúp tôn lên vẻ đẹp ngây thơ đến nao lòng của Alma. Nhưng khác với những nàng thơ “cũ” của Reynolds, Alma quyết tâm dùng tình cảm và sự mạnh mẽ của cô để tìm ra con đường đi vào trái tim của nhà tạo mẫu bất chấp cái nhìn dò xét của bà Cyril và quyết tâm hi sinh cả đời cô độc vì nghệ thuật của chính Reynolds Woodcock. Liệu Alma có trở thành một nạn nhân “mới” trên bước đường sáng tạo của Reynolds? Hay tình yêu mãnh liệt của cô sẽ giúp Elma mở được cánh cửa tâm hồn đóng chặt của nhà tạo mẫu danh tiếng?

Phantom Thread là bộ phim mới nhất của Paul Thomas Anderson – một trong những đạo diễn có phong cách riêng biệt nhất của Hollywood đương đại. Tính cho đến trước tác phẩm về thế giới thời trang này thì đạo diễn 47 tuổi Anderson đã cho ra đời 7 bộ phim khác nhau về bối cảnh, cốt truyện, và thể loại nhưng luôn có sức hút rất riêng nhờ tuyến nhân vật luôn sở hữu tính cách độc đáo, cấu trúc phim mở với phần kết thường chứa đựng những câu hỏi chưa lời giải đáp, và những bi kịch cá nhân được khai thác một cách hết sức nhân văn, thấm thía. Với truyện phim chủ yếu diễn ra trong không gian chật hẹp của nhà mốt Woodcock hay căn biệt thự chốn đồng quê của nhà tạo mẫu, và chỉ xoay quanh bộ ba Reynolds, Cyril, và Elma, Phantom Thread có thể coi là một trong những kịch bản giới hạn nhất về mặt bối cảnh và tuyến nhân vật của Paul Thomas Anderson – người luôn chắp bút cho tất cả các bộ phim ông đạo diễn. Nhưng sự hạn chế về mặt không gian và nhân vật như vậy không hề làm ảnh hưởng tới chất lượng nghệ thuật hay chất Paul Thomas Anderson của bộ phim, bởi ở Phantom Thread người xem vẫn được chứng kiến cách đạo diễn người Mỹ khắc họa hết sức sống động và tinh tế cách những tâm hồn đồng điệu tìm đến với nhau, hay sự biến đổi tâm lý bên trong những con người tưởng chừng lạnh lùng nhưng lại vô cùng nhạy cảm và dễ bị tổn thương vì sự cô độc. Trong thế hệ đạo diễn cùng thời ở Hollywood thì có lẽ khó ai có thể vượt qua được Paul Thomas Anderson về khía cạnh phân tích tâm lý nhân vật. Bất kể đó là những tác phẩm có rất nhiều số phận như Boogie Nights (1997), Magnolia (1999), The Master (2012) hay chỉ tập trung vào một vài nhân vật như Punch-Drunk Love (2002), There Will Be Blood (2007), Paul Thomas Anderson đều khiến khán giả phải rung động vì cách ông bóc tách từng lớp tâm hồn của mỗi nhân vật, gợi mở cho người xem những bi kịch trong tim các nhân vật đó qua những chi tiết, tuyến truyện lúc nhẹ nhàng, lúc bạo liệt nhưng luôn mang giá trị nhân văn gần gũi với khán giả. Với Phantom Thread, người xem lại một lần nữa có được may mắn ấy khi họ được Paul Thomas Anderson đem đến từng góc cạnh trong tâm hồn đẹp đẽ nhưng đầy phức tạp của Reynolds và Elma và những sợi chỉ tình cảm vô hình dần kết nối hai số phận rất khác biệt này. Theo từng nốt nhạc tuyệt phẩm của Jonny Greenwood – thành viên nhóm nhạc rock nổi tiếng Radiohead và là nhà soạn nhạc quen thuộc trong các bộ phim của Paul Thomas Anderson, tính cách và suy nghĩ của Reynolds và Elma dần biến đổi trước mắt khán giả bởi sự xuất hiện của những xung đột giữa sự hy sinh và lòng ích kỉ, giữa tình yêu cô độc với nghệ thuật, nghề nghiệp và khao khát được sẻ chia những khoảnh khắc hạnh phúc với người mình yêu. Phantom Thread là tác phẩm đầu tiên của Paul Thomas Anderson sau 7 bộ phim đậm chất Mỹ lấy bối cảnh nước Anh và các nhân vật người Anh, và chắc chắn những người dân của xứ đảo sương mù nổi tiếng với tính cách lạnh lùng cao ngạo nhưng tinh tế “phớt Ăng-lê” sẽ rất hài lòng khi thấy Paul Thomas Anderson xử lý những xung đột tình cảm như vậy một cách nhẹ nhàng, tế nhị, vừa đủ để gợi mở cho khán giả chứ không đầy ắp thoại và những cảm xúc sôi động “kiểu Mỹ”.

Một bộ phim tinh tế như Phantom Thread tất nhiên cần tới những diễn viên đủ nhạy cảm và tài năng để đưa cảm xúc, suy nghĩ của các nhân vật tới khán giả mà không cần phải dùng tới quá nhiều thoại hoặc cách diễn thậm xưng. Bộ ba được Paul Thomas Anderson trao niềm tin trong Phantom Thread là hai diễn viên gạo cội người Anh Daniel Day-Lewis và Lesley Manville và gương mặt mới người Luxembourg Vicky Krieps với vai diễn “chào sân” Hollywood. Đặc biệt sự hiện diện của Daniel Day-Lewis trong Phantom Thread thậm chí là đề tài được nhiều người quan tâm hơn việc một đạo diễn nổi tiếng như Anderson có tác phẩm mới đầu tiên sau 3 năm, bởi ngôi sao từng giành tới 3 tượng vàng Oscar cho vai nam chính xuất sắc nhất đã tuyên bố rằng đây sẽ là bộ phim cuối cùng trước khi ông giải nghệ điện ảnh. Day-Lewis được coi là một diễn viên cực kì kén phim vì ông luôn phải bỏ hết tâm sức và trí tuệ để hoàn toàn nhập vai vào từng nhân vật – ông chỉ có vỏn vẹn 7 vai diễn trên màn ảnh lớn trong vòng 20 năm qua với phần nhiều trong số đó được đánh giá là những vai diễn xuất sắc, thậm chí được xếp vào hàng kinh điển như trong Gangs of New York (2002), There Will Be Blood, hay Lincoln (2012). Bởi vậy người xem đã hết sức mong đợi Phantom Thread để được chứng kiến Daniel Day-Lewis cúi chào khán giả lần cuối với một vai diễn như thế nào. Quả thực, với vai diễn Reynolds Woodcock, Day-Lewis đã đáp lại sự kì vọng của khán giả và niềm tin của Anderson – đạo diễn bộ phim đem lại giải Oscar thứ hai cho ông là There Will Be Blood. Khác hẳn với vai diễn Daniel Plainview bùng nổ và bạo liệt trong There Will Be Blood, Reynolds Woodcock qua diễn xuất của Daniel Day-Lewis lại là hiện thân của sự tinh tế và tâm hồn yêu cái đẹp kiểu Anh khi mà ngay từ những giây phút đầu tiên của Phantom Thread, Day-Lewis đã khiến khán giả phải nín thở vì những cử chỉ và lời nói vô cùng nhẹ nhàng, ý nhị nhưng luôn chứa đựng ý nguyện sắt đá hy sinh tất cả vì nghệ thuật của Reynolds. Và cùng với sự tiến triển của truyện phim, sự sắt đá trong tâm hồn đó của Reynolds Woodcock được Daniel Day-Lewis dần biến đổi thành những giờ phút mỏng manh trong tâm hồn chỉ bằng ánh mắt biết nói, chỉ bằng sự im lặng đầy do dự đến từ kĩ năng diễn xuất khó ai sánh bằng của ngôi sao hàng đầu Hollywood. Nếu so với những nhân vật có sẵn sức nặng của lịch sử mà Daniel Day-Lewis từng hóa thân như Christy Brown trong My Left Foot (1989), Bill Đồ Tể trong Gangs of New York, Daniel Plainview trong There Will Be Blood, hay tổng thống Lincoln trong Lincoln thì rõ ràng một nhà tạo mẫu với tính cách có phần kì dị như Reynolds Woodcock khó có thể sánh được về mặt tạo ấn tượng đối với khán giả. Nhưng với kịch bản xuất sắc của Paul Thomas Anderson và diễn xuất đã đến tầm tuyệt phẩm của Daniel Day-Lewis, ngay cả những người xem bình thường nhất cũng có thể tìm thấy một phần tâm hồn mình khi chứng kiến Reynolds Woodcock loay hoay trong cuộc tìm kiếm hạnh phúc đích thực trong cuộc đời ông, nhất là sau khi bức tường lạnh lùng bao quanh trái tim của nhà tạo mẫu dần tan chảy trước tình cảm nồng nhiệt của cô gái trẻ Alma. Thật khó có thể nói rằng Day-Lewis có cơ hội giành tượng vàng Oscar thứ 4 trong sự nghiệp khi mà hạng mục vai nam chính trong mùa giải thưởng điện ảnh năm nay chứng kiến sự thống trị gần như là tuyệt đối của Gary Oldman với vai diễn thủ tướng Winston Churchill trong Darkest Hour. Nhưng nếu như Daniel Day-Lewis vẫn quyết tâm từ giã nghiệp diễn viên điện ảnh như ông đã nói, thì Reynolds Woodcock hoàn toàn xứng đáng là vai diễn khép lại một trong những sự nghiệp xuất sắc nhất trong lịch sử Hollywood của Day-Lewis bởi ở vai diễn này người xem có thể cảm nhận được tất cả sự nhạy cảm, tinh tế, và nhập vai đến quên mình vốn đã làm nên thương hiệu của ngôi sao đã đến tuổi lục thập người Anh này.

Nếu như những lời khen cho Daniel Day-Lewis có thể coi là “đương nhiên” bởi tài năng đã được kiểm chứng của ông, thì khán giả cũng nên dành sự trân trọng cho Lesley Manville và đặc biệt là Vicky Krieps vì hai nữ diễn viên này vẫn tìm được chỗ đứng trong bộ phim với những vai diễn xuất sắc không hề bị phủ bóng bởi sức hút điện ảnh mãnh liệt của Day-Lewis. Trong tiếng Anh, cụm từ stiff upper lip (“môi trên không mấp máy”)  thường được dùng để ví von cho tính cách “phớt Ăng-lê” của người dân xứ đảo sương mù – luôn kiên định và không biểu lộ cảm xúc ra bên ngoài dù trong bất cứ tình huống nào. Qua sự thể hiện của Manville, Cyril Woodcock có lẽ chính là một trong những hiện thân xuất sắc nhất của stiff upper lip trên màn ảnh lớn vài năm trở lại đây khi mà bà chị khó tính của Reynolds Woodcock không chỉ là cái neo với thực tại cho nhà tạo mẫu vốn luôn bay bổng với những hình vẽ và chi tiết, mà Cyril còn chính là chỗ dựa về mặt tinh thần cho Reynolds trong những phút yếu lòng. Tuy không thực sự là một gương mặt quen thuộc ở Hollywood nhưng Lesley Manville được coi là một trong những tên tuổi lớn trong giới diễn xuất điện ảnh và sân khấu của Anh, vì vậy sự xuất sắc của bà trong vai Cyril Woodcock cũng đã nằm trong dự đoán của báo giới và người yêu điện ảnh. Bởi vậy ngạc nhiên lớn nhất của Phantom Thread có lẽ là sự xuất hiện của cái tên mới Vicky Krieps trong vai Alma Elson. Không hề lép vế trước tên tuổi của Day-Lewis với nhân vật giàu chiều sâu Reynolds Woodcock, cô gái trẻ Alma của Krieps nhanh chóng chiếm được cảm tình từ khán giả nhờ vẻ đẹp ngây thơ, khỏe khoắn ở phần đầu phim, rồi từ đó khiến họ đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác với sự biến đổi đầy ấn tượng về tính cách, về những câu thoại và cử chỉ thông minh đến từ “nàng thơ” mới nhất của nhà mốt Woodcock. Sự chủ động, nhiệt thành trong tình yêu của Alma đã bổ sung một cách hoàn hảo cho sự bị động, do dự, và thu mình của Reynolds để làm nên một bức tranh sống động về tình yêu, về cách thức những con người đang yêu tìm đến với nhau qua những sợi chỉ vô hình của sự đồng điệu. Một Reynolds tinh tế và dị biệt, một Cyril lạnh lùng và quyết đoán, một Alma sôi nổi, nhiệt thành, chỉ ba nhân vật đó thôi cũng đã giúp Phantom Thread sở hữu tuyến nhân vật xuất sắc bậc nhất trong số các tác phẩm điện ảnh của Hollywood năm 2017, và hoàn toàn có thể sánh ngang với những bộ phim với tuyến nhân vật hết sức dày dặn khác của Paul Thomas Anderson như Boogie Nights, Magnolia, hay The Master.
 
Phantom Thread là một tác phẩm điện ảnh đẹp. Bộ phim đẹp vì những bộ váy tuyệt hảo gợi nhớ về cái chất quý tộc vốn đã phai nhạt rất nhiều trong những năm 1950 ở nước Anh. Bộ phim đẹp vì phần nhạc phim lôi cuốn của Jonny Greenwood và những góc quay đặc tả các góc cạnh ấn tượng của từng nhân vật do chính Paul Thomas Anderson góp tay thực hiện. Nhưng trên hết, bộ phim đẹp vì những nhân vật với tính cách đặc sắc, vì những sợi chỉ tình cảm vô hình kết nối họ thông qua nỗi sợ sự cô đơn, thông qua lòng khát khao được yêu, được ở bên người mình yêu. Và xin khán giả hãy đừng quên rằng, khi xem bộ phim đẹp ấy, họ cũng đã được chứng kiến vai diễn cúi chào màn ảnh lớn lần cuối cùng của Daniel Day-Lewis – một trong những tên tuổi lớn nhất và xuất sắc nhất của điện ảnh Hollywood.

======

Bản đã biên tập trên Zing.

jeudi 8 février 2018

The Post (2017)

Năm 1966 chuyên gia phân tích quân sự Daniel Ellsberg (Matthew Rhys) được cử sang Việt Nam để khảo sát thực trạng cuộc chiến đang đến hồi khốc liệt của quân đội Hoa Kỳ. Tận mắt chứng kiến thương vong ngày càng tăng của lính Mỹ, Dan Ellsberg nhanh chóng nhận ra rằng đây là một cuộc chiến vô vọng cho chính phủ Hoa Kỳ - một nhận định được chính bộ trưởng quốc phòng Mỹ Robert McNamara (Bruce Greenwood) thừa nhận với Ellsberg và với tổng thống Lyndon Johnson trên chuyến bay quay trở lại quê hương. Nhưng trước sự ngạc nhiên của Dan Ellsberg, Bob McNamara ngay khi đặt chân xuống phi trường đã thản nhiên tuyên bố với báo giới rằng chiến trường đang tiến triển theo chiều hướng có lợi cho nước Mỹ và chiến thắng cuối cùng là mục tiêu hoàn toàn khả thi. Sau vài năm suy nghĩ về những người lính Mỹ đã phải bỏ mạng một cách vô nghĩa trên chiến trường Việt Nam vì những lời nói dối trắng trợn để giữ thể diện của các quan chức như McNamara, Dan Ellsberg quyết định phải để công chúng Mỹ biết được sự thật rằng họ đã bị chính quyền nhiều đời tổng thống Mỹ lừa dối hết lần này tới lần khác trong các vấn đề liên quan tới chiến tranh Việt Nam. Từ viện nghiên cứu quân sự RAND, Ellsberg đã tuồn ra ngoài hàng nghìn trang tài liệu mật chứa đựng sự thực về cuộc chiến và sẵn sàng cung cấp chúng cho báo giới để phổ biến rộng rãi cho độc giả nước Mỹ. 

Tất nhiên với những nhà báo như Ben Bradlee (Tom Hanks) – tổng biên tập tờ The Washington Post hay the Post thì những báo cáo mật của Dan Ellsberg là cơ hội nghìn năm có một để thực hiện trách nhiệm xã hội của một nhà báo chân chính – đưa sự thực tới công chúng, và cũng là dịp để một tờ báo đang thất thế ở thị trường trong nước như the Post giành độc giả từ những đối thủ cạnh tranh mạng mẽ hơn rất nhiều như The New York Times. Sau khi chính tờ The New York Times bị chính quyền của tổng thống Mỹ khi đó là Nixon kiện ra toà vì đã đăng một phần các báo cáo của Dan Ellsberg với lý do làm lộ bí mật quân sự của Mỹ tại Việt Nam thì Ben Bradlee lại càng có cơ sở để đăng tiếp “hồ sơ Lầu Năm Góc” này để bảo vệ quyền tự do ngôn luận của báo giới Mỹ. Nhưng với những người chủ báo như bà Katharine Graham (Meryl Streep) – nữ chủ tịch sở hữu tờ the Post thì “đăng hay không đăng” là một bài toán hóc búa hơn rất nhiều, bởi bà không chỉ có trách nhiệm với độc giả như Bradlee mà còn có trách nhiệm với sinh mệnh của tờ the Post vốn khi đó vừa phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng và phải tránh tối đa các rắc rối chính trị có thể tác động tới các nhà đầu tư của tờ báo tương tự như việc tờ The New York Times phải ngừng đăng “hồ sơ Lầu Năm Góc” vì bị chính phủ kiện. Trở thành người phụ nữ đầu tiên làm chủ một tờ báo lớn tại Hoa Kỳ - nơi tệ trọng nam khinh nữ vẫn còn rất phổ biến trong những năm 1960, 1970 sau cái chết đột ngột của chồng, bà Graham còn phải mày mò đi tìm lời giải cho bài toán “đăng hay không đăng” dưới sức ép của những tiếng nói bảo thủ trong ban giám đốc-toàn-đàn-ông của tờ the Post, và từ mối quan hệ thân tình bà phải mất nhiều năm gây dựng với các quan chức trong chính quyền, bao gồm cả chính Bob McNamara. 

Vốn liên quan tới các sự kiện và nhân vật lịch sự có thật, chắc chắn nhiều khán giả sẽ dễ dàng đoán ra được lựa chọn cuối cùng của Katharine Graham có tác động thế nào tới xã hội Mỹ nói chung và tương lai của tờ the Post nói riêng. Nhưng chặng đường đầy khó khăn để đi tới lời giải bài toán “đăng hay không đăng” thì có lẽ chưa nhiều người biết tới, và đó chính là nội dung của bộ phim The Post – tác phẩm điện ảnh mới nhất của đạo diễn nổi tiếng Steven Spielberg.

Tác giả kịch bản chính của The Post là nữ biên kịch trẻ tuổi Liz Hannah – người bắt đầu thai nghén bộ phim về đề tài báo chí này sau khi đọc quyển tự truyện từng giành giải Pulitzer Personal History của chính Katharine Graham. Hoàn thành năm 2016, The Post của nữ biên kịch trẻ tuổi được coi là một trong những kịch bản triển vọng nhất của Hollywood và nhanh chóng được nhà sản xuất phim quyền lực Amy Pascal mua lại để chuyển thể lên màn ảnh lớn với một đội ngũ làm phim “toàn sao” gồm đạo diễn Steven Spielberg và bộ đôi diễn viên hàng đầu của điện ảnh Mỹ là Meryl Streep và Tom Hanks. Quả thực với chất lượng sản xuất gần đến mức tuyệt hảo dưới bàn tay đạo diễn của Spielberg và bộ ba cộng sự thân thiết của ông là nhà quay phim Janusz Kamiński, nhạc sĩ huyền thoại John Williams, và biên tập phim từng 8 lần được đề cử giải Oscar Michael Kahn, The Post đã tái dựng hết sức thành công không khí của xã hội và chính trường Mỹ những năm 1960, 1970. Nền tảng kỹ thuật vững chắc này của bộ phim, cùng sự hỗ trợ về mặt hoàn thiện kịch bản của Josh Singer-tác giả từng giành giải Oscar kịch bản gốc xuất sắc nhất cho một tác phẩm nổi tiếng khác về đề tài báo chí là Spotlight (2015) rõ ràng là những điều kiện không thể thuận lợi hơn để đạo diễn gạo cội Steven Spielberg khai thác được hết tiềm năng từ tác phẩm đầu tay của Liz Hannah. Không phụ sự mong đợi của người yêu điện ảnh, The Post - một bộ phim nói về các nhân vật và sự kiện của hơn 40 năm trước vẫn mang đậm tính thời sự nóng hổi với nhịp phim mạch lạc, tuyến nhân vật rõ ràng, và cốt truyện vừa giữ được nét chân thực lịch sử vừa phản ánh hơi thở hiện đại của xã hội nước Mỹ vốn chưa hết bàng hoàng vì những bê bối liên quan tới chính quyền và giới quân sự Mỹ vốn chỉ được công chúng biết tới sau các vụ tiết lộ bí mật nhà nước của Chelsea Manning và Edward Snowden, cùng với tình trạng đối đầu căng thẳng kéo dài giữa chính phủ mới của Hoa Kỳ dưới thời tổng thống Donald Trump và báo giới Mỹ với hai tiếng nói tiên phong đến từ chính tờ The Washington Post và The New York Times. Tuy nhiên, những người yêu lịch sử, đặc biệt là những ai quan tâm tới các sự kiện xoay quanh "Hồ sơ Lầu Năm Góc” – một trong những yếu tố chính dẫn đến việc công chúng Mỹ thực sự quay lưng lại với chính quyền nước này trong giai đoạn cuối của Chiến tranh Việt Nam chắc chắn sẽ khó có thể hài lòng với The Post, bởi tuy được thực hiện hết sức nghiêm cẩn nhưng bộ phim lại tập trung vào việc mô tả hình ảnh của Katharine Graham và Ben Bradlee thay vì nhân vật trung tâm của sự kiện lịch sử quan trọng này – Daniel Ellsberg. Tất nhiên không ai có thể phủ nhận rằng Graham và Bradlee có góp công trong việc đưa “Hồ sơ Lầu Năm Góc” ra ánh sáng dư luận, nhưng người phát hiện ra sự dối trá của chính giới Mỹ, người sẵn sàng gánh chịu nguy cơ bị toà truy tố tội gián điệp và phản quốc để đưa sự thật tới công chúng, người bất chấp nguy hiểm đi tìm những nhà báo còn lương tri để hợp tác là Daniel Ellsberg. Qua những phân đoạn ngắn ngủi có sự xuất hiện của Ellsberg trong The Post người xem phần nào cũng có thể cảm nhận được sự hy sinh vì chân lý của nhà hoạt động phản chiến này, nhưng từng đó là chưa đủ để họ có được đánh giá đầy đủ về vai trò của ông đối với tiến trình lịch sử của nước Mỹ, nhất là khi chân dung giản dị của Ellsberg trong phim bị phủ bóng bởi hình ảnh của Graham và Bradlee đúng như cách cái tên diễn viên người xứ Wales Matthew Rhys – người thủ vai Ellsberg hoàn toàn bị lu mờ trước hai tên tuổi lớn nhất của Hollywood là Meryl Streep (vai Katherine Graham) và Tom Hanks (vai Ben Bradlee). Có lẽ chính vì tầm quan trọng lịch sử vượt trội như vậy của nhân vật phụ Daniel Ellsberg mà Steven Spielberg phải dùng tới thủ pháp xây dựng hình ảnh nhân vật một cách kịch tính nhưng khá gượng gạo, thậm chí là mang hơi hướng tuyên truyền thái quá ở phần cuối phim khi The Washington Post phải đối diện với phán quyết của Toà án tối cao Hoa Kỳ để làm bật lên vai trò của Katherine Graham và Ben Bradlee trong bối cảnh chung của bộ phim. Ngay cả việc sử dụng các thủ pháp điện ảnh này cũng không thực sự giúp Graham và Bradlee có được chỗ đứng vững chắc trong lòng khán giả, bởi sự phát triển tính cách của các nhân vật này xuyên suốt bộ phim cũng không để lại nhiều ấn tượng, nhất là khi người xem thường xuyên “phải” nghe chính các nhân vật này hoặc những người xung quanh giải thích một cách khá liễu về suy nghĩ và lựa chọn của họ thay vì “được” tự chứng kiến và hiểu lý do cho những lựa chọn ấy thông qua các chi tiết kịch bản tinh tế. Vì vậy nếu so sánh với một tác phẩm tiểu sử-lịch sử khác của Steven Spielberg là Lincoln (2012) thì The Post tỏ ra nhỉnh hơn về sự hấp dẫn của truyện phim nhưng lại thua kém hẳn về chiều sâu kịch bản và nhân vật. Đặc biệt cách The Post đẩy tờ The Washington Post lên tuyến đầu của cuộc chiến bảo vệ quyền tự do ngôn luận trong vụ “Hồ sơ Lầu Năm Góc” chắc chắn cũng sẽ khiến nhiều người phải thất vọng vì không phải ban biên tập của the Post mà chính là các phóng viên của tờ The New York Times như Neil Sheehan mới là những người bất chấp sự an toàn của bản thân nổ phát súng đầu tiên hỗ trợ Ellsberg trong cuộc tấn công vào pháo đài gian trá của chính quyền Mỹ. Vì vậy mà tuy The Post có thể được ca ngợi trong việc đề cao giá trị nhập thế của báo chí trong giai đoạn nước Mỹ đang gặp nhiều bất ổn dưới thời tổng thống mới Donald Trump, nhưng khó có thể coi đây là một tác phẩm xuất sắc của dòng phim lịch sử, nhất là khi so sánh với các bộ phim cũng lấy đề tài báo chí như Spotlight hay All the President's Men (1976) – tác phẩm cũng nói về vai trò lịch sử của các phóng viên tờ The Washington Post trong việc hạ bệ tổng thống Richard Nixon sau vụ bê bối Watergate nhưng với góc nhìn sát với lịch sử và để lại nhiều suy ngẫm trong lòng khán giả.

Dù khen hay chê kịch bản của The Post nhưng bất cứ ai sau khi xem tác phẩm này cũng sẽ phải thừa nhận rằng Tom Hanks và đặc biệt là Meryl Streep đã hoàn thành một cách trọn vẹn các vai diễn của họ. Nếu như vai Ben Bradlee của Tom Hanks có thể coi là “dễ nhập vai” vì tính cách nồng nhiệt, bùng nổ của nhân vật này thì Streep đã một lần nữa chứng tỏ tại sao bà lại có nhiều đề cử tại giải Oscar đến như vậy với cách diễn kìm ném, sâu sắc để vừa thể hiện sự do dự, bị động bên ngoài của một Katherine Graham rất phụ nữ, rất lịch thiệp, vừa khắc hoạ được niềm tin sắt đá vào giá trị của báo chí và sự chủ động dần chín muồi bên trong người chủ tờ báo được coi là trụ cột tương lai của báo giới chính thống Mỹ. Có lẽ nếu còn sống hẳn bà Katherine Graham cũng sẽ rất hài lòng khi chứng kiến Meryl Streep thể hiện hình ảnh của mình, bởi qua vai diễn của Streep người xem vừa có thể cảm nhận được tình yêu của bà chủ báo với tờ The Washington Post – một di sản của gia đình bà và cũng là đại diện ưu tú cho quyền tự do ngôn luận của hiến pháp Hoa Kỳ, vừa hiểu được sự vươn lên không gì ngăn cản nổi của những người phụ nữ trong xã hội hiện đại. Trong thời buổi nhiễu loạn thông tin với mạng xã hội, với “fake news”, với chủ nghĩa dân tộc và dân tuý tràn lan như hiện nay, công chúng sẽ cần nhiều hơn những nhà báo như Ben Bradlee, và những chủ báo như Katherine Graham, bởi chỉ với những người sẵn sàng dùng ngòi bút làm vũ khí bảo vệ sự thật như vậy, những mặt trái của xã hội, những lời nói dối của những người nắm quyền lực mới có thể bị phơi bày. Tuy không phải là một bộ phim hoàn hảo nhưng chắc chắn The Post cũng sẽ góp phần vào việc kêu gọi và khuyến khích các nhà báo trở thành những Bradlee, những Graham mới của xã hội hiện đại.

====

jeudi 25 janvier 2018

The Shape of Water (2017)


Xã hội nước Mỹ những năm đầu thập niên 1960 là bức tranh của những mảng màu đối nghịch – màu xanh hy vọng từ một nền kinh tế tăng trưởng và khoa học-kỹ thuật tiến bộ không ngừng thời hậu Chiến tranh thế giới thứ hai, màu vàng bệnh tật đến từ những tàn dư của tệ phân biệt đối xử với những nhóm người thiểu số như người da màu, người đồng tính, người khuyết tật, và màu đỏ từ nỗi lo sợ “hiểm hoạ Sô viết” của người dân và chính phủ Mỹ. Với riêng Elisa Esposito (Sally Hawkins) đời có lẽ chỉ có một màu xám xịt khi tài sản của cô gái câm chỉ là cuộc sống cô độc trong căn gác mái đơn sơ trên một rạp phim cũ kĩ của thành phố Baltimore, và công việc lau dọn đơn giản, nhàm chán cho một cơ sở nghiên cứu bí mật của chính phủ Mỹ. Điểm sáng duy nhất trong cuộc đời cô có lẽ chỉ là tình bạn với ông hoạ sĩ láng giềng Giles (Richard Jenkins) và cô đồng nghiệp da đen Zelda Fuller (Octavia Spencer), nhưng bản thân họ cũng có những nỗi lo riêng – với Giles là những tháng ngày thất nghiệp triền miên và sự hắt hủi của người đời dành cho ông-một người đồng tính, và với Zelda là sự dè bỉu thường nhật của những kẻ phân biệt chủng tộc. Bởi thế, dù an nhiên đến mấy, nhưng Elisa mãi chỉ như một cô cá bé nhỏ, câm lặng bơi giữa biển người xa lạ, cam phận trong những lồng kính cuộc đời của cô – căn hộ bé nhỏ, những chuyến buýt chật hẹp, và hành lang dài ngột ngạt của cơ sở nghiên cứu ngầm. Nhưng rồi màu hồng của tình yêu, của niềm vui cuộc sống cũng đến với Elisa khi cô gặp một người cá thực sự - chàng Người cá (Doug Jones) bị viên thượng tá Richard Strickland (Michael Shannon) bắt về từ những dòng sông Nam Mỹ xa xôi chỉ bởi chàng có khả năng sống lưỡng cư cả ở trên bờ và dưới nước. Ở chàng Người cá, Elisa tìm thấy tất cả những gì cô mong muốn trong cuộc sống – một người bạn câm lặng nhưng chân thành, một tấm lòng sẵn sàng chia sẻ với Elisa từ quả trứng luộc tới tình yêu âm nhạc, và trên hết là một tâm hồn đồng điệu trong nỗi cô đơn đến cùng cực. Vui sướng trước tia lửa hạnh phúc bất ngờ le lói, nhưng Elisa cũng lại nhanh chóng nhận ra rằng cô chẳng có nhiều thời gian để nhen nhóm, và gìn giữ ngọn lửa ấy khi mà viên sĩ quan tàn bạo Strickland thừa lệnh vị tướng năm sao Frank Hoyt (Nick Searcy) nhất quyết ép tiến sĩ Robert Hoffstetler (Michael Stuhlbarg) phải giết chàng Người cá để có tiêu bản nghiên cứu phục vụ cuộc chạy đua không gian đang đến hồi quyết liệt giữa Hoa Kỳ và Liên Xô. Elisa chỉ có hai lựa chọn – hoặc buông xuôi nhìn chàng Người cá héo tàn dưới bàn tay tàn bạo của cơ sở nghiên cứu bí mật, hoặc tìm cách đưa chàng trở về với thiên nhiên bằng sức lực yếu đuối trong câm lặng của cô.

Trước hết có thể khẳng định rằng The Shape of Water không phải là một bộ phim hoàn hảo, đặc biệt là về mặt kịch bản. Dưới ngòi bút biên kịch của Guillermo del Toro và Vanessa Taylor, kịch bản của bộ phim, nhất là ở những phân cảnh hành động, vẫn còn một số điểm chưa hợp lý và tiết tấu của phim cũng không thực sự nhịp nhàng với phần giữa có nhiều chi tiết không tạo được ấn tượng mạnh về mặt cảm xúc đối với khán giả. Thêm vào đó, việc xây dựng tuyến nhân vật của The Shape of Water cũng vẫn còn thiếu sự cân bằng vì nhân vật chàng Người cá tương đối nhạt nhoà và thiếu chiều sâu cần thiết nếu so sánh với các nhân vật khác của bộ phim. Với những khuyết điểm như vậy về mặt kịch bản, bộ phim đã có thể trở thành một tác phẩm thường thường bậc trung dưới bàn tay của một đạo diễn không mạnh về mặt hình ảnh và cảm xúc. Nhưng rất may cho The Shape of Water, đạo diễn của tác phẩm này không phải ai khác mà chính là Guillermo del Toro – tên tuổi gắn liền với những bộ phim về “quái vật” vừa xuất sắc về mặt hình ảnh, vừa khơi gợi rất nhiều cảm xúc trong lòng khán giả. Được biết tới nhiều nhất các tác phẩm hành động đậm chất khoa học giả tưởng như Blade II (2002), Hellboy (2004), Hellboy II: The Golden Army (2008), Pacific Rim (2013), đạo diễn người Mexico luôn đem tới cho khán giả những chi tiết và nhân vật giả tưởng vừa hết sức sáng tạo, lại vừa gợi nhớ tới những giấc mơ từ thủa thơ bé của mỗi chúng ta về những siêu quái vật và siêu anh hùng. Mộ trong những nhân vật “quái vật” ấy – nhà bác học nửa người nửa cá Abe Sapien trong Hellboy và Hellboy II chính là một trong những nguồn cảm hứng để Guillermo del Toro tạo nên hình dáng kì dị của chàng Người cá của The Shape of Water, nhân vật do chính Doug Jones – diễn viên của vai Abe Sapien năm xưa thủ diễn. Nhưng một nguồn cảm hứng khác cho The Shape of Water là mối tình người đẹp-quái thú trong bộ phim khoa học giả tưởng của đạo diễn Jack Arnold Creature from the Black Lagoon (1954) – một trong những tác phẩm điện ảnh gắn liền với tuổi thơ của Guillermo del Toro. Với The Shape of Water, del Toro muốn viết lại mối tình dang dở trong Creature from the Black Lagoon thành câu truyện cổ tích thời hiện đại của riêng ông – một mô-típ ông đã từng rất thành công với hai tác phẩm được đánh giá cao về mặt nghệ thuật là The Devil's Backbone (2001) và Pan's Labyrinth. Bằng việc tập trung vào thế mạnh hình ảnh của The Shape of Water vốn chứa đựng đầy những chi tiết nửa thực nửa mơ của một tác phẩm cổ tích thời hiện đại, Guillermo del Toro đã phần nào khoả lấp được điểm yếu trong kịch bản của bộ phim và khiến khán giả hoàn toàn bị lôi cuốn vào từng giây, từng phút của mối tình lãng mạn, nên thơ giữa cô gái câm Elisa và chàng Người cá.

Nổi lên từ vai cô gái lý lắc trong Happy-Go-Lucky (2008) và từng được đề cử giải Oscar cho vai nữ phụ xuất sắc nhất với vai diễn trong Blue Jasmine (2013) nhưng nữ diễn viên người Anh Sally Hawkins chưa thực sự gây dựng được một sự nghiệp đáng kể ở Hollywood, một phần có lẽ vì vẻ ngoài nhỏ bé, đượm chất yếu đuối của cô tỏ ra phù hợp hơn với các tác phẩm hiện thực lấy đề tài xã hội của Mike Leigh (đạo diễn Happy-Go-Lucky) hơn là các bộ phim Hollywood vốn thường ưa chuộng các diễn viên có vẻ đẹp hào nhoáng, cuốn hút khán giả ngay từ cái nhìn đầu tiên. Nhưng với nhân vật cô gái câm Elisa, cái đạo diễn Guillermo del Toro cần không phải là ấn tượng ban đầu có phần phù phiếm như vậy, mà là một nữ diễn viên với khả năng diễn xuất nội tâm đủ xuất sắc để lột tả những cung bậc cảm xúc mạnh mẽ có, mong manh có của một cô gái đơn côi mà không cần phải dùng tới bất cứ câu thoại nào. Bởi vậy, ở cái tuổi tứ thập, cuối cùng Hawkins đã lại thực sự có một vai diễn “để đời” để cô có thể bộc lộ toàn bộ tài năng diễn xuất nội tâm hiếm có ở Hollywood của mình. Thay cho khẩu hình của lời nói là những cử chỉ lúc mềm mại, lúc dứt khoát của ngôn ngữ kí hiệu, thay cho những câu thoại phải thốt ra nơi đầu môi là ánh mắt như phơi bày cả tâm can của nhân vật, Sally Hawkins thực sự đã khiến The Shape of Water trở thành một tác phẩm hết sức trọn vẹn về mặt cảm xúc. Tuy chiều sâu về số phận và tính cách của Elisa tạo cho Sally Hawkins rất nhiều đất diễn để thể hiện khả năng diễn xuất, nhưng chỉ có một tâm hồn đồng cảm sâu sắc với nhân vật, và sự hy sinh hết mình vì vai diễn mới có thể giúp Hawkins thực sự khiến khán giả cuốn theo cặp mắt và đôi tay hết sức tự nhiên của cô gái câm mà quên đi những bước nhảy tương đối đột ngột về mặt cảm xúc của bộ phim cổ tích thời hiện đại này. Sự mong manh và đơn độc của cô gái câm Elisa phần nào đó gợi nhớ tới cô bé Ofelia (Ivana Baquero), nhân vật trung tâm của Pan's Labyrinth – một trong những tác phẩm đáng nhớ nhất trong sự nghiệp của Guillermo del Toro, nhưng diễn xuất đầy xúc cảm của Hawkins, đặc biệt là trong những phân cảnh thể hiện tình cảm với chàng Người cá, đã giúp Elisa không chỉ dừng lại ở sự yếu đuối và cô đơn ấy mà còn vươn lên trở thành một nhân vật đại diện cho những tâm hồn tinh tế, hoài cổ, nhưng dám yêu, dám sống, và dám mơ ước. Với những ai đã từng dõi theo các bước đường sự nghiệp của Guillermo del Toro, từ The Devil's Backbone tới Hellboy, từ Pan’s Labyrinth tới Crimson Peak, chắc chắn họ sẽ nhận ra rằng hình tượng nhân vật Elisa Esposito chính là đại diện cho những giá trị nghệ thuật mà del Toro đã theo đuổi bấy lâu nay. Chắc hẳn đạo diễn người Mexico đã hết sức hài lòng với quyết định của ông trong việc lựa chọn Sally Hawkins cho vai diễn này, bởi cô đã thể hiện một cách trọn vẹn tiếng lòng nghệ thuật của del Toro, và chứng tỏ rằng vẫn còn đó rất nhiều những tâm hồn đồng điệu và thấu hiểu những hy sinh bấy lâu nay của ông vì nghệ thuật, vì những mô-típ điện ảnh mà ông theo đuổi.

Tất nhiên thành công của Sally Hawkins đã đóng góp rất nhiều vào thành công chung của The Shape of Water, nhưng không vì thế mà khán giả có thể quên những nhân vật xoay quanh cuộc đời của Elisa như viên sĩ quan Strickland, ông hoạ sĩ hàng xóm Giles, cô đồng nghiệp Zelda, hay vị tiến sĩ bí hiểm Hoffstetler qua diễn xuất của những tên tuổi tài năng như Michael Shannon, Richard Jenkins, Octavia Spencer, và Michael Stuhlbarg. Không có quá nhiều đất diễn, nhưng dàn diễn viên phụ của The Shape of Water đã đem đến cho khán giả rất nhiều những gương mặt, mảnh đời hết sức khác nhau nhưng đều hết sức đáng nhớ và gợi lên nhiều suy ngẫm về tội ác và hình phạt, về giá trị của tình người trong những góc khuất tăm tối của xã hội và cuộc đời. Chứng kiến sự biến đổi về mặt tính cách và suy nghĩ của những nhân vật phụ do Shannon, Jenkins, Spencer và Stuhlbarg thể hiện, có lẽ nhiều người trong số chúng ta sẽ nhận ra rằng dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, sự dũng cảm hy sinh vì tình yêu con người, vì lẽ sống chân chính vẫn luôn có chỗ đứng, và cần có chỗ đứng.

Câu truyện cổ tích hiện đại về tình yêu giữa cô gái câm và chàng Người cá, cùng giá trị nhân văn thấm đẫm trong sự hy sinh của các nhân vật dành cho nhau đã là quá đủ để giúp The Shape of Water trở thành một tác phẩm đáng nhớ. Nhưng Guillermo del Toro chưa bao giờ chỉ là một đạo diễn giới hạn mình với những kịch bản hay, ông còn luôn cố gắng phát huy hết khả năng sáng tạo của mình với phần hình ảnh và âm nhạc của phim. Quả thực với sự giúp đỡ của nhà quay phim người Đan Mạch Dan Laustsen và nhạc sĩ lừng danh người Pháp Alexandre Desplat, del Toro đã đem lại cho The Shape of Water một chỗ đứng riêng về phần nhìn và phần nghe trong số các bộ phim xuất sắc nhất của Hollywood năm 2017. Màu sắc hoài cổ cùng những bản nhạc cũ kĩ của tác phẩm này có lẽ sẽ giúp trái tim của khán giả dịu lại với những cảm xúc về một thời kì đã qua – đó là những năm 1950, 1960 – những năm tháng của tình yêu trong trắng, của giấc mơ vươn tới không gian, của niềm tin vào tương lai tươi sáng bất chấp mâu thuẫn giữa các quốc gia, bất chấp những định kiến, bất ổn đầy rẫy trong xã hội. Người yêu điện ảnh thập niên 1990 chắc khó ai có thể quên những tác phẩm vừa giả tưởng vừa hiện thực của đạo diễn người Pháp Jean-Pierre Jeunet như Delicatessen (1991), The City of Lost Children (1995) và đặc biệt là Amélie (2001) – những bộ phim làm mê đắm người xem vì phần hình ảnh giàu chất siêu thực và những câu truyện đáng suy ngẫm về tình người và xã hội. Đã rất lâu rồi Jeunet không còn cho ra đời các tác phẩm đáng nhớ như vậy, nhưng nhờ có Guillermo del Toro và The Shape of Water, một lần nữa khán giả đã có thể tìm lại cảm giác ngạc nhiên trước những chi tiết và nhân vật siêu thực đặt trong một xã hội hiện thực, và hơn thế nữa cô gái câm Elisa Esposito chắc chắn sẽ khiến nhiều người nhớ tới một trong những nhân vật đáng nhớ nhất của điện ảnh thế giới những năm đầu thiên niên kỉ mới – Amélie, cô nàng đơn côi năm nào vẫn luôn tìm cách hàn gắn sự cô độc của những cuộc đời xung quanh cô.


Trong một năm mà nhiều tên tuổi lớn của điện ảnh đã đứng lên kêu gọi rằng các tác phẩm điện ảnh của thời đại mới này cần phải mang tinh thần nhập thế, cần phải giúp nền chính trị-xã hội của nước Mỹ và thế giới trở nên bình đẳng, tốt đẹp hơn, cần phải thúc đẩy làng điện ảnh Hollywood mang tính đại diện hơn cho những cộng đồng thiểu số, những cộng đồng bị áp bức. Là một đạo diễn “của những bộ phim quái vật”, nhưng Guillermo del Toro đã lặng lẽ làm cái điều cần phải làm này suốt hai thập niên qua với The Devil's Backbone, với Pan's Labyrinth, và với The Shape of Water. Đó là những tác phẩm cổ tích thời hiện đại với rất nhiều chất điện ảnh siêu thực nhưng cũng lại chứa đựng những thông điệp nhân văn nhất về cái cách con người cần đối xử với nhau, cái cách chúng ta cần sống sao cho có ý nghĩa, cái cách chúng ta không bao giờ được lãng quên những số phận nhỏ bé, mong manh và đơn côi trong xã hội như Elisa, như chàng Người cá. Trong bài diễn văn khi nhận giải Quả cầu vàng cho đạo diễn xuất sắc nhất năm nay – một trong những giải thưởng lớn đầu tiên Guillermo del Toro giành được trong nghiệp đạo diễn mấy chục năm, vị đạo diễn phúc hậu người Mexico có chia sẻ vui rằng ông phải hy sinh ba năm cuộc đời cho mỗi một tác phẩm điện ảnh mới – những tác phẩm thể hiện niềm tin của ông vào những con quái vật – hiện thân cho niềm tin rằng chúng ta – những cá thể nhỏ bé trong xã hội có thể không toàn vẹn, có thể gục ngã nhưng vẫn luôn có thể đứng lên để bước tiếp, để yêu đời, để yêu người. “The Shape of Water” chính là đại diện điện ảnh tiêu biểu nhất cho niềm tin đầy lãng mạn vào niềm vui cuộc sống ấy của vị đạo diễn người Mexico, một niềm tin mỗi chúng ta luôn cần có để vững bước trên đường đời.

=====