some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

mardi 21 janvier 2020

Bombshell (2019)


Trong suốt lịch sử gần 300 năm của mình, chính trường Hoa Kỳ gần như luôn luôn được chia đôi thành hai nửa xanh của Đảng Dân chủ và đỏ của Đảng Cộng hoà. Bởi thế mà xấp xỉ một nửa dân số Mỹ luôn là những người trung thành với Đảng Cộng hoà và sẽ chỉ ưu tiên xem những kênh truyền thông có tư tưởng bảo thủ gần gũi với các quan điểm chính trị của Đảng Cộng hoà về chủ nghĩa dân tộc, về quyền sở hữu súng, hay tính hợp pháp của việc nạo phá thai. Đây chính là lý do vì sao Fox News – kênh tin tức chính của dòng tư tưởng bảo thủ luôn là kênh truyền hình cáp được xem nhiều nhất tại Hoa Kỳ, và kéo theo đó là việc Tổng Giám đốc của kênh truyền hình này Roger Ailes (John Lithgow) là cái tên vừa được kính trọng, vừa được nể sợ đối với cả giới truyền thông và chính trị Hoa Kỳ. Sự nhạy bén với nhu cầu thông tin của công chúng từng giúp Ailes tư vấn thành công cho nhiều ứng viên của Đảng Cộng hoà trong cuộc đua vào Nhà Trắng như Richard Nixon, Ronald Reagan, George H.W. Bush, và cũng chính sự lọc lõi đó đã khiến tỷ phú truyền thông Rupert Murdoch (Malcolm McDowell) mời bằng được Roger Ailes về để lập ra kênh Fox News – nơi “Bố già” phát hiện và tạo dựng ra một thế hệ biên tập viên – phát thanh viên thành công cho hãng tin bảo thủ này như Gretchen Carlson (Nicole Kidman) hay Megyn Kelly (Charlize Theron). Nhưng cùng với sự trỗi dậy của phong trào “MeToo” đấu tranh chống lại nạn bạo hành tình dục đối với phụ nữ ở Hoa Kỳ, đặc biệt là trong giới điện ảnh và truyền thông, và những hành xử gây tranh cãi của ứng cử viên Đảng Cộng hoà Donald Trump trong cuộc bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ năm 2016, một bộ mặt khác của Roger Ailes dần được hé lộ với công chúng – một kẻ lợi dụng quyền lực gần như là vô hạn của mình ở Fox News để tấn công tình dục đối với những nữ phát thanh viên da trắng, tóc vàng, và tất nhiên là cao ráo xinh đẹp của nhà đài. Nạn nhân ở văn phòng tầng hai toà nhà trụ sở Fox News của Roger Ailes không chỉ có những cái tên đã thành danh và có vị thế trong kênh như Carlson hay Kelly, mà tất nhiên sẽ bao gồm cả những phóng viên trẻ đang lên như Kayla Pospisil (Margot Robbie) với khao khát được Ailes lựa chọn cho những vị trí hiếm hoi xuất hiện trước máy quay vốn sẽ mang lại vô số tiền bạc và danh vọng. 

Cuộc chiến từ chỗ âm thầm tới thời điểm tạo tiếng vang trong cả nước Mỹ giữa một bên là những người phụ nữ của đài Fox News với quyền lực còn mỏng hơn tờ giấy hợp đồng của họ, và một bên là Roger Ailes với vị thế chỉ dưới một người duy nhất là Rupert Murdoch nhưng lại trên cả hàng nghìn con người của Fox News chính là chủ đề của Bombshell – bộ phim mới nhất của đạo diễn người Mỹ Jay Roach. Tạo dựng tên tuổi cho mình ở Hollywood qua các bộ phim hài hước thuần tuý như bộ ba phim Austin Powers (1997, 1999, 2002) hay hai tác phẩm “gặp phụ huynh” rất ăn khách ở Mỹ là Meet the Parents (2000) và Meet the Fockers (2004), trong vài năm trở lại đây đạo diễn 62 tuổi Jay Roach bắt đầu chuyển hướng sang các tác phẩm có đề tài đậm nét chính kịch hơn như Trumbo (2015) nói về cuộc đời của nhà biên kịch từng bị đưa vào danh sách đen của Hollywood là Dalton Trumbo, và với năm nay là Bombshell nói về hai trong số những đề tài nóng bỏng bậc nhất tại thời điểm hiện tại của Hoa Kỳ - nạn tấn công và lạm dụng tình dục đối với phụ nữ, và sự chia rẽ lớn lao trong chính trường Hoa Kỳ với thủ phạm chính là những kênh truyền thông đặt tỉ suất người xem cao hơn độ trung thực của thông tin như Fox News. Khi xem Bombshell, chắc chắn nhiều khán giả ủng hộ Đảng Cộng hoà hay không thích các tác phẩm nặng mùi chính trị sẽ phải nhíu mày vì hãng Fox News chính là một trong các “nhân vật phản diện” của bộ phim không chỉ vì cách tiếp cận hết sức bảo thủ về các chủ đề nóng của xã hội Hoa Kỳ như dân nhập cư, mà còn bởi văn hoá lệch lạc nơi công sở của hãng tin hàng đầu này, nhất là trong các vấn đề liên quan tới phụ nữ. Là một tác phẩm “dựa trên các sự kiện có thật”, sự chỉ trích trực diện Jay Roach dành cho Fox News có lẽ cùng làm nhiều người xem trung lập, đặc biệt là những người không am hiểu nội tình của nước Mỹ, cảm thấy sốc vì văn hoá độc hại mà những người như Roger Ailes hay Bill O'Reilly (Kevin Dorff) đã tạo dựng ở Fox News và từ đó đã thẩm thấu cả vào những đoạn tin, vào cách tiếp cận thông tin mà kênh truyền thông phổ biến này đem tới cho khán giả. “Không có lửa sao có khói”, Bombshell chính là một trong những lời giải đáp cho khán giả cho câu hỏi tại sao Fox News lại vấp phải vô số những chỉ trích từ phía báo giới, đặc biệt là các kênh truyền thông cánh tả về việc nhà đài này luôn cố tình đưa tin thiên lệch để làm lợi cho các ứng viên của Đảng Cộng hoà như Donald Trump và trực tiếp làm nền chính trị và xã hội Mỹ ngày càng trở nên chia rẽ hơn bao giờ hết. 

Tuy nhiên, nếu coi Bombshell đầu tiên và trên hết là một bộ phim khắc hoạ cuộc chiến cao quý của những người phụ nữ chống lại nguy cơ quấy rối họ vốn tồn tại ở mọi nơi, mọi lúc trong xã hội Hoa Kỳ hiện đại, thì việc Jay Roach quá tập trung vào việc mô tả những thói hư tật xấu của Fox News đã khiến tác phẩm mới nhất này của ông có cảm giác bị chính trị hoá quá mức và làm nhạt đi thông điệp ủng hộ nữ giới, ủng hộ bình quyền của tác phẩm. Nhiều người xem hẳn sẽ tự hỏi tại sao thay vì chuyển hết từ nhân vật này tới nhân vật khác, bày ra vô số những chi tiết để củng cố “vai ác” cho Fox News, Jay Roach và nhà biên kịch Charles Randolph – người từng giành giải Oscar cho kịch bản chuyển thể xuất sắc nhất với The Big Short (2015) không dành nhiều thời lượng hơn để làm rõ bối cảnh xã hội nước Mỹ thời “MeToo”, không khắc hoạ một cách trực diện hơn những cái tên xấu xí, thậm chí là còn xấu xí hơn Roger Ailes, ở hãng Fox News như Rupert Murdoch và Bill O'Reilly, hay đề cập đến, nhưng rồi lại bỏ ngỏ một cách rất đáng tiếc các tuyến truyện tiềm năng như mối quan hệ không đầu không cuối giữa Kayla Pospisil và cô bạn biên tập viên đồng tính Jess Carr (Kate McKinnon). Tất nhiên văn hoá công sở xuống cấp ở Fox News chính là môi trường xúc tác cho những kẻ thủ ác như Roger Ailes hay Bill O’Reilly, nhưng việc Roach và Randolph không chọn cho mình được điểm nhấn để làm rõ thông điệp chính của phim, thay vào đó lại dùng một nhịp phim rất nhanh, cắt cảnh liên tục, hoán đổi thường xuyên cách kể truyện từ góc nhìn của người thứ nhất sang góc nhìn của khán giả để cố nhồi nhét nhiều chi tiết hết mức có thể đã làm Bombshell trở thành một tác phẩm tương đối khó theo dõi. Có lẽ cũng vì quá “tham” chi tiết mà Jay Roach đã chọn cho Bombshell tới ba nhân vật để đại diện cho “phe chính diện” - Megyn Kelly, Gretchen Carlson, và Kayla Pospisil với kết quả là cả ba tuy được khắc hoạ hết sức chi tiết với nhiều thời điểm đáng nhớ nhưng lại không tạo dựng được nhiều tình cảm trong lòng khán giả, nhất là với những cái tên vốn đã và đang gây rất nhiều tranh cãi ngoài đời thực về vai trò và trách nhiệm của họ trong các bê bối xảy đến với Fox News như Megyn Kelly. Thậm chí là cách Jay Roach tạo dựng Megyn Kelly như một trong những đầu cờ cho phong trào nữ quyền giúp giật đổ tượng đài của Roger Ailes ở Fox News – đối lập với những người phụ nữ bất chấp sự thật vẫn khăng khăng bảo vệ Ailes như Beth Ailes (Connie Britton), Susan Estrich (Allison Janney), hay Ainsley Earhardt (Alice Eve) chắc chắn sẽ là một trong những vết gợn lớn nhất của Bombshell bởi Jay Roach đã lựa chọn cách khắc hoạ nhân vật quá đơn giản và tương đối một chiều hoàn toàn không phù hợp với một tác phẩm “dựa trên những sự kiện có thật” vốn thường đòi hỏi các nhân vật phải có nhiều sắc thái tình cảm, tính cách, thậm chí là phẩm chất tốt – xấu lẫn lộn.


Ba vai diễn đinh của bộ phim được Jay Roach giao cho ba ngôi sao đã hoặc đang dần khẳng định được vị trí của mình ở Hollywood là Charlize Theron (vai Megyn Kelly), Nicole Kidman (vai Gretchen Carlson) và Margot Robbie (vai Kayla Pospisil). Không rõ có phải chủ ý của Jay Roach muốn tạo dựng hình ảnh của Kelly và Carlson như những biên tập viên ngôi sao luôn giữ khoảng cách với công chúng bằng khuôn mặt lạnh được trang điểm đậm để che giấu cảm xúc mà dù là hai diễn viên rất xuất sắc nhưng Theron và Kidman đều không thực sự tạo được dấu ấn đậm nét trong lòng khán giả dù có rất nhiều đất diễn. Nếu như Charlize Theron ít nhất còn khiến khán giả phải ngạc nhiên vì tạo hình và đài từ quá sức giống với Megyn Kelly ngoài đời và một vài khoảnh khắc thể hiện được chiều sâu của nhân vật, thì tên tuổi Nicole Kidman thực sự không tạo được ấn tượng với người xem khi vào vai Gretchen Carlson – người bất chấp tất cả để khởi đầu cho làn sóng tố cáo ở Fox News. Đáng ngạc nhiên là người nổi bật nhất trong bộ ba này lại là Margot Robbie – nữ diễn viên đang lên của Hollywood qua một vai diễn rất có chiều sâu với đủ cả sự ngây thơ của một cô gái xuất thân từ một “gia đình Tin lành gia giáo ủng hộ nhiệt thành Đảng Cộng hoà” và những toan tính của một phát thanh viên với tham vọng trở thành bộ mặt của hãng tin số một nước Mỹ Fox News. Trong một bộ phim với rất nhiều nhân vật và bối cảnh, hầu như những phân đoạn có sự xuất hiện của Kayla Pospisil hay có sự tương tác giữa Kayla và Roger Ailes hay Jess Carr đều là những phân đoạn để lại nhiều cảm xúc nhất trong lòng khán giả. Thành công này của nữ diễn viên sinh năm 1990 người Úc cũng có một phần rất lớn nhờ vào sự ăn ý trong diễn xuất giữa cô với các bạn diễn, đặc biệt là Kate McKinnon (vai Jess Carr). Ở “phía bên kia”, John Lithgow trong vai “kẻ ác” Roger Ailes cũng chứng tỏ được rằng kinh nghiệm và năng lực diễn xuất của ông là hết sức cần thiết để tạo nên đối trọng và tương phản cần thiết cho tuyến nhân vật nữ - chính diện của Bombshell

Nếu phải hỏi rằng đâu là điểm ấn tượng nhất của Bombshell sau khi xem xong phim, có lẽ nhiều khán giả sẽ nhắc tới phần hoá trang tuyệt đỉnh do nghệ sĩ người Mỹ gốc Nhật Kazu Hiro phụ trách bởi Charlize Theron trong phim giống hệt với Megyn Kelly ngoài đời và dáng điệu phục phịch của John Lithgow cũng không khác gì Roger Ailes trong những năm cuối đời. Đó có thể coi là một thành công của Jay Roach với tác phẩm mới nhất của ông. Nhưng đối với một tác phẩm đề cập tới những đề tài nóng bỏng bậc nhất của xã hội nước Mỹ hiện đại như Bombshell, đó cũng lại có thể coi là một thất bại – thất bại của một tác phẩm không hề dở nhưng đã bỏ lỡ cơ hội để khắc hoạ thật rõ những người phụ nữ đã giúp giới truyền thông Mỹ, cả ở bên cánh hữu như Fox News, hay cánh tả như MSNBC dần loại bỏ văn hoá độc hại trọng nam khinh nữ, trọng quyền khinh phẩm giá vốn từng một thời thống trị. Những người phụ nữ như thế, có những người có tên tuổi như Kelly hay Carlson, nhưng cũng có rất nhiều những người “không tên” – những phụ nữ đã mất việc, đã mất đi vị trí trong xã hội bởi họ dám tranh đấu, dám đòi lại quyền lợi mà nữ giới đáng được khắc hoạ trong một tác phẩm sâu sắc, toàn diện, và trân trọng hơn rất nhiều.

======

Marriage Story (2019)


Charlie Barber (Adam Driver) là một đạo diễn trẻ đang lên của làng kịch New York. Sau nhiều năm lăn lộn trong những sàn diễn nhỏ, Charlie và đoàn kịch của mình cuối cùng cũng đã chen chân được vào sân khấu Broadway – nơi được coi là thánh đường của nghệ thuật sân khấu Bắc Mỹ. Không chỉ vậy, anh còn được lựa chọn để trao giải thưởng MacArthur – giải thưởng vốn chỉ dành cho những người được coi là “thiên tài” trong lĩnh vực của họ với khoản tiền đủ lớn để trang trải cho các khoản nợ nần mà Charlie đã phải bỏ ra để nuôi đoàn kịch kén khách của anh. Nhưng không phải cuộc đời chỉ toàn màu hồng, “thiên tài” Charlie Barber cùng lúc cũng phải đối mặt với một tình thế hết sức nan giải, đó là việc người vợ và cũng là nàng thơ trên sân khấu của anh Nicole (Scarlett Johansson) nhất quyết đòi ly dị và chuyển sang sống ở phía bên kia của nước Mỹ để theo đuổi nghiệp diễn viên truyền hình ở Los Angeles. Xuất thân từ một gia đình có truyền thống diễn xuất ở Los Angeles và từng là một diễn viên đang lên của Hollywood, Nicole đã từ bỏ tất cả sau một lần tới New York và tình cờ gặp Charlie ở sân khấu kịch của anh, để rồi hai người trở thành vợ chồng và có với nhau cậu nhóc dễ thương Henry (Azhy Robertson). Hy sinh, yêu thương là vậy, mà không hiểu vì lý do gì mà Nicole nhất quyết đòi Charlie phải ký vào đơn ly dị, và khi anh chàng đạo diễn tỏ ra chần chừ trong việc giải quyết triệt để việc phân chia quyền nuôi Henry, Nicole đã nhờ luôn tới Nora Fanshaw (Laura Dern) – một nữ luật sư với nhiều mánh khoé trong nghề làm đại diện pháp lý cho mình để “cướp” Henry khỏi vòng tay của Charlie và khỏi cuộc sống dễ chịu ở New York. Bất ngờ bởi sự thay đổi chóng mặt của vợ, nhưng Charlie cũng nhanh chóng nhận ra rằng nếu không hành động, anh sẽ mất tất cả trong cuộc chiến ly hôn nơi pháp đình. Bởi vậy anh đã nhờ đến những tay luật sư cũng lọc lõi không kém là Bert Spitz (Alan Alda) và sau đó là Jay Marotta (Ray Liotta) đại diện cho mình trong cuộc tranh cãi cứ ngày một căng thẳng và không nhân nhượng giữa cặp vợ chồng từng một thời chia ngọt sẻ bùi trong căn hộ nhỏ bé nhưng hạnh phúc ở New York. Nhưng chính nhờ có những cãi vã, những xung đột ấy mà cả Charlie – một người gần như cả đời chỉ biết lo lắng cho vợ con và sâu khấu nhỏ của mình mới dần hiểu ra được tại sao chỉ yêu thương là chưa đủ, tại sao Nicole vẫn muốn rời bỏ anh dù vẫn còn vẹn nguyên sự yêu quý, trân trọng dành cho chồng.

Marriage Story là tác phẩm mới nhất của đạo diễn chuyên trị thể loại tâm lý – hài Noah Baumbach. Sinh ra và lớn lên ở New York, nghệ sĩ điện ảnh vừa bước sang tuổi ngũ thập này gần như dành cả sự nghiệp sáng tạo của mình cho những bộ phim bình dị với kinh phí thấp và bối cảnh đương đại để mô tả cuộc sống và tâm tư của những số phận đã gắn bó một phần lớn cuộc đời của họ với thành phố đông dân và hoa lệ nhất nước Mỹ. Luôn ôm đồm với cả vai trò biên kịch, đạo diễn, và gần đây là nhà sản xuất, Baumbach giữ cho mình được sự độc lập và thống nhất về cách tiếp cận đề tài cũng như lựa chọn nghệ thuật cho việc xây dựng nhân vật và bối cảnh cho các tác phẩm của ông. Bởi vậy mà khi xem phim của Noah Baumbach, người xem có thể vẫn phải căng như dây đàn khi theo dõi diễn biến tâm lý của những nhân vật có tính cách mạnh mẽ - đặc biệt là các nhân vật nữ chính, nhưng cũng lại thường xuyên có được những giây phút cảm thấy thanh thản vì được chứng kiến các nhân vật bộc lộ tấm chân tình cho nhau qua những câu thoại dí dỏm, những cử chỉ bình dị nhưng thấm đầy tình cảm giữa người với người. Marriage Story là một tác phẩm như thế. Câu truyện của cặp vợ chồng trẻ đã quá mệt mỏi với những giấc mơ dang dở, với những bức bối trong cuộc sống, với những trách nhiệm chẳng thể từ bỏ để được sống với chính mình đến mức phải ly dị nhau không còn là đề tài mới. Năm 1979, bộ phim “Kramer vs. Kramer” của Robert Benton đã đưa khán giả đến với cuộc chiến pháp lý và tâm lý của hai vợ chồng Ted và Joanna Kramer để giành lấy cậu con trai yêu quý Billy. Liên tiếp trong hai năm 2008 và 2010, Hollywood cho ra đời hai tuyệt phẩm về câu truyện buồn của những lứa đôi vì tình yêu mà vượt qua mọi khó khăn để tìm đến với nhau, để rồi phải xa rời mãi mãi vì những khác biệt không thể xoá nhoà bởi áp lực cuộc sống, áp lực trách nhiệm của những người-đã-lập-gia-đình. Đó là Revolutionary Road (2008) của đạo diễn người Anh Sam Mendes và Blue Valentine (2010) của Derek Cianfrance. Và tất nhiên không thể không kể tới A Separation – một tác phẩm lấy bối cảnh giáo lý, truyền thống nghiêm cẩn của xã hội Hồi giáo nơi đất nước Iran nhưng vẫn minh hoạ một cách hết sức đặc sắc tâm trạng của những cặp vợ chồng, những đứa con đột nhiên phải rơi vào cảnh gia đình tan nát sau nhiều năm ấm êm dưới cùng một mái nhà. Liệu Marriage Story có bị chìm nghỉm hay trở nên nhạt nhoà khi cố gắng kể cho khán giả một đề tài đã có rất nhiều tác phẩm xuất sắc như vậy? 

Nếu có cảm thấy lo lắng hay hoài nghi như vậy cho Noah Baumbach trước khi xem Marriage Story thì khán giả hoàn toàn có thể yên tâm rằng tác giả của những bộ phim tâm lý – hài xuất sắc như The Squid and the Whale (2005), Greenberg (2010) hay Frances Ha (2012) sẽ không làm họ thất vọng. Bởi cũng như đã từng thành công với The Squid and the Whale – một tác phẩm gần như là tự truyện của chính Baumbach về trải nghiệm thời ấu thơ của ông khi phải đối mặt với cảnh ly thân của cha mẹ, vị đạo diễn người New York đã lựa chọn cho Marriage Story cách kể chuyện nhẹ nhàng, đời thường và chân thành với những câu truyện gần gũi mà gần như bất cứ khán giả nào cũng có thể tìm thấy trong những phân đoạn khác nhau của bộ phim một phần nào đó giống với cảm xúc, giống với trải nghiệm, giống với ký ức của chính họ. Với những khán giả trẻ, có thể họ sẽ ngay lập tức bị thu hút bởi câu truyện tình yêu dù đã có nhiều dấu hiệu đổ vỡ nhưng đã từng có rất nhiều chương đẹp về một cặp đôi yêu thương và hiểu nhau hết mực tới mức sẵn sàng hy sinh nhiều cơ hội quý giá trong đời nghệ sĩ của họ để có thể tìm đến với nhau. Ngược lại, với những khán giả đã lập gia đình, chắc chắn những lý do khiến Charlie và Nicole phải ly dị, phải lôi nhau ra toà để tranh quyền nuôi cậu con trai đáng yêu Henry mới lại là những chi tiết làm họ giật mình, làm họ phải chú ý và tự soi xét lại xem mình liệu có quá vô tâm, quá coi nhẹ sự bền chặt của những mối dây tình cảm trong gia đình mà lơ là đi trách nhiệm phải bồi đắp, phải chia sẻ để những vết nứt đến từ sự khác biệt trong thói quen, trong công việc không biến thành những lỗ hở trống hoác trong mối quan hệ vợ - chồng, cha – con tới mức không thể hàn gắn. Việc chính Noah Baumbach đã có rất nhiều trải nghiệm thực tế với những vụ ly hôn, với những gia đình tan vỡ thông qua bài học của chính bản thân ông sau khi ly dị người vợ tài năng Jennifer Jason Leigh, và qua ký ức Baumbach vẫn lưu giữ sau bao năm về cuộc ly dị của bố mẹ ông đã giúp những câu truyện được kể trong Marriage Story về tâm trạng, cảm xúc của những người sắp phải rời xa đều tạo được cảm giác chân thực, gần gũi, không quá bi thương hay kịch tính hoá như cách Hollywood vẫn thường khắc hoạ những vụ ly hôn trên màn hình lớn.

Là một tác phẩm thuộc dòng tâm lý – hài, Marriage Story còn lôi cuốn khán giả qua những tình huống không biết nên khóc hay nên cười, qua những câu thoại “đẹp như văn xuôi” được các nhân vật dành cho nhau để thể hiện sự quan tâm và tình yêu thương, và nhất là qua những màn tung hứng hết sức ăn ý giữa Scarlett Johansson và Adam Driver trong vai cặp vợ chồng-sắp-ly-dị Nicole và Charlie Barber hay giữa bộ đôi luật sư “ở hai đầu chiến tuyến” Nora Fanshaw và Jay Marotta. Tất cả những cung bậc cảm xúc, những gia vị hài hước có, đau khổ có của cuộc sống gia đình và tình cảnh trớ trêu của hai vợ chồng và cậu nhóc nhà Barber được Baumbach sắp xếp một cách rất nhịp nhàng trong một tác phẩm có cấu trúc rất uyển chuyển với những phân đoạn chậm rãi, tình cảm, sử dụng nhiều cảnh quay độc thoại về ký ức đẹp của một gia đình từng hết mực hạnh phúc bên nhau, và xen kẽ là những trường đoạn có tiết tấu nhanh, cắt cảnh dứt khoát về hiện thực buồn của hai “người cũ” đang phải cố dùng mọi thủ đoạn – thậm chí là dùng chính những câu nói riêng tư khi hai người còn giữ được thâm tình để làm bằng chứng giành lấy cho bằng được quyền chăm sóc và nuôi nấng cậu bé Henry trong môi trường mà mỗi người trong vợ chồng nhà Barber đều khăng khăng là “tốt nhất cho cậu bé”. Chính nhờ lựa chọn biên tập phim như vậy, cùng cách kể chuyện hết sức duyên dáng của Noah Baumbach đã biến Marriage Story dù nói về một đề tài rất nặng nề nhưng vẫn lôi cuốn người xem, vẫn đủ sức nặng cảm xúc để buộc họ phải ngẫm nghĩ nhưng cũng lại không quá bi thương, buồn khổ hay nghiêm túc quá đáng như một số tác phẩm khác cũng nói về đề tài chia tay của những cặp vợ chồng yêu nhau như Blue Valentine

Rất quen thuộc về đề tài và phong cách nghệ thuật bởi không chỉ tiếp tục đảm nhiệm cả ba vai trò chính là đạo diễn – biên kịch – nhà sản xuất mà Noah Baumbach còn mời cả bộ đôi nhạc sĩ – nhà quay phim xuất sắc từng hợp tác với ông trong tác phẩm gây tiếng vang The Meyerowitz Stories (2017) là nhạc sĩ Randy Newman và quay phim Robbie Ryan, nhưng Marriage Story lại gây ngạc nhiên với khán giả khi bộ phim lại vắng bóng những gương mặt thường xuyên xuất hiện trong phim của Baumbach, đó là Ben Stiler và Greta Gerwig. Thay vào đó, hai gương mặt hiện đang rất được chú ý của dòng phim siêu anh hùng và loạt phim Chiến tranh giữa các vì sao là “Goá phụ đen” Scarlett Johansson và “Kylo Ren” Adam Driver – những ngôi sao được Baumbach mời thủ diễn hai nhân vật nặng ký nhất của Marriage Story là Nicole và Charlie Barber. Được coi là một trong những ngôi sao nữ đắt giá nhất của Hollywood tại thời điểm hiện tại, nhưng Scarlett Johansson có lẽ vẫn khiến vài người nghi ngờ khi cô nhận vai diễn nặng ký và trung tâm của Marriage Story là cô diễn viên đang phải vật lộn tranh đấu cho cả hạnh phúc cá nhân và tương lai sự nghiệp Nicole Barber bởi trong suốt 13 năm qua kể từ Match Point (2006), Johansson gần như không có được một vai diễn tâm lý nào đáng kể mà chỉ chủ yếu gây dựng danh tiếng qua những bộ phim siêu anh hùng hay phim hành động cần một gương mặt sáng, thu hút khán giả nhưng không thực sự yêu cầu chất lượng diễn xuất quá vượt trội. Ngay cả với hai nhân vật cô thủ vai trong Lost in Translation và Girl with a Pearl Earring – hai vai diễn được coi là để đời của Scarlett Johansson, thì nữ diễn viên 35 tuổi người Mỹ cũng không bị đòi hỏi phải diễn những trường đoạn bùng nổ hay phải liên tục thay đổi về mặt cảm xúc như với vai Nicole Barber. Nhưng với Marriage Story, Johansson đã tái khẳng định được rằng cô không hề là một “bình hoa di động” của Hollywood, bởi với một mái tóc cắt tém, khuôn mặt ít trang điểm, Scarlett Johansson đã lột bỏ hoàn toàn cái mác “siêu anh hùng” để biến thành thành một Nicole Barber hết mực mạnh mẽ để bảo vệ, để giữ lại những gì cô yêu quý như cậu con trai Henry, như tình yêu với nghệ thuật, nhưng cũng lại có nhiều giây phút yếu lòng bởi tình cảm, và cả tình thương sâu đậm dành cho người chồng nghệ sĩ tới mức vô tâm tính Charlie Barber. Trong cuộc chạy đua giành khán giả và bắt kịp những trào lưu mới nhất của văn hoá – xã hội Mỹ, gã khổng lồ của dòng phim siêu anh hùng Marvel đã phải rất đau đầu trong việc phải nhanh chóng đưa ra thị trường một tác phẩm có vai trung tâm là một nữ siêu anh hùng có thể giúp đề cao nữ quyền. Người cuối cùng được chọn chính là Scarlett Johansson và vai diễn Goá phụ đen vốn đã trở nên quen thuộc với khán giả khắp thế giới qua loạt phim Avengers. Thật trớ trêu là không cần đợi tới khi “Black Widow” được công chiếu, ngay tại thời điểm hiện tại Johansson đã có thể khẳng định tuyên ngôn về nữ quyền thông qua vai Nicole Barber – người phụ nữ sẵn sàng xoá đi những gì đã có để làm lại từ đầu với điều kiện được là chính mình, được thực hiện những giấc mơ mình đã phải dẹp sang một bên để hy sinh cho chồng con trong những năm dài đằng đẵng sống giữa một thành phố thân thiện nhưng chẳng phải quê hương. 

Nhưng thậm chí còn xuất sắc hơn Scarlett Johansson đó là Adam Driver – nam diễn viên từng “chuyên trị” vai phụ trong các phim của Noah Baumbach như Frances Ha, While We're Young (2014), và The Meyerowitz Stories nay quay trở lại trong một vai diễn với thời lượng xuất hiện dài hơn nhiều lần – vai anh chàng đạo diễn sâu khấu Charlie Barber trong Marriage Story. Không phụ sự tin tưởng của Baumbach, Adam Driver đã đưa tới khán giả một Charlie Barber với cực kì nhiều màu sắc cảm xúc và lớp lang về tính cách. Lãng mạn, nhẹ nhàng kiểu nghệ sĩ trong những giờ phút bày tỏ tình cảm với người vợ cũ có, dứt khoát, quyết liệt và ngoan cố theo kiểu đạo diễn – người chủ của cả sân khấu khi phải đối diện với những quyết định đòi hỏi có cả sự đồng thuận của hai vợ chồng có, và vụng về, bất lực đến mức tủi thân khi phải đối mặt với thực tế là cậu con trai yêu quý Henry đang ngày càng rời xa khỏi vòng tay mình cũng có. Xuyên suốt Marriage Story, khán giả được chứng kiến rất nhiều những khuôn mặt như thế của Charlie Barber qua sự thể hiện tuyệt vời của Adam Driver. Chỉ cần nhìn vào ánh mắt sâu thẳm của Driver, chỉ cần lắng nghe giọng nói run run của Charlie khi chia sẻ những tâm tư thầm kín với Nicole, với con trai, chỉ cần chứng kiến cách Charlie lúng túng thể hiện tình yêu thương hết mực cho con trai Henry, người xem cũng có thể cảm nhận được phần nào những biến động về tâm lý, tình cảm đang trào dâng trong đầu của anh chàng đạo diễn “thiên tài” Charlie Barber khi phải đối mặt với tình cảnh khó khăn không thể lường tới với người vợ từng bao năm má ấp tay kề. Và cũng chỉ cần thưởng thức bài hát da diết Being Alive – Sống thực sự do chính Adam Driver thể hiện bằng chất giọng trầm ấm, khán giả cũng có thể nhận ra rằng không chỉ Nicole, mà chính bản thân Charlie cũng đang day dứt với câu hỏi thế nào là sống thực sự giữa muôn chùng bủa vây của trách nhiệm với gia đình, trách nhiệm với công việc, trách nhiệm với những người mình yêu thương. Diễn xuất ăn ý, nhập vai, và rất có chiều sâu của Adam Driver và Scarlett Johansson, cùng cách diễn tự nhiên của cậu nhóc Azhy Robertson trong vai “cục cưng” Henry của Nicole và Charlie, và sự xuất hiện tuy ngắn ngủi nhưng vẫn gây ấn tượng cho người xem của của bộ ba diễn viên gạo cội Laura Dern, Alan Alda, và Ray Liotta trong vai ba vị luật sư chuyên nghề giúp các cặp đôi ly hôn “giải quyết ổn thoả” đã giúp Marriage Story trở thành một tác phẩm thành công cả về nội dung và diễn xuất. 

Nicole và Charlie, ai là người đúng, ai là người sai trong việc gia đình nhà Barber phải mỗi người mỗi ngả, trong việc cậu bé Henry dù rất vui với cuộc sống đầy nắng gió trong thành phố rộng lớn của những chiếc xe hơi ở Bờ Tây nước Mỹ Los Angeles vẫn phải mong ngóng những đợt “thăm nuôi” của người cha vẫn cố giữ lại mái ấm nhỏ của gia đình giữa thành phố New York lạnh lẽo, chật chội tới mức chỉ cần “đi bộ là đến”? Nhiều khả năng sau khi xem xong Marriage Story, mỗi khán giả sẽ có một câu trả lời cho riêng mình về “thủ phạm” đã gây ra cái kết cho mối tình đẹp ấy của vợ chồng nhà Barber. Nhưng có lẽ tất cả sẽ cùng đồng ý rằng Marriage Story – câu truyện về một đám cưới thực ra lại chính là câu truyện về những người nghệ sĩ nhiều khi đã quá yêu nhau, đã quá yêu công việc tới mức quên đi rằng họ chỉ có thể duy trì được sự quan tâm, sự hy sinh dành cho nhau như thế nếu họ “sống thực sự” – thực sự để tâm tới chính những mong muốn, suy nghĩ để bản thân họ được being alive, được là chính mình. Rất nhiều cảm xúc, rất nhiều tâm trạng, nhưng đọng lại cuối cùng vẫn là rất nhiều tinh thần lạc quan, rất nhiều suy nghĩ tích cực về cái cách những người sắp, đang hoặc đã từng lập gia đình muốn “sống thực sự” và nên “sống thực sự”, Marriage Story của Noah Baumbach quả thực là một tác phẩm đáng xem đối với công chúng nói chung, và đặc biệt là với những người trẻ muốn tránh khỏi những trải nghiệm buồn về một gia đình tan vỡ mà Nicole, Charlie, và Henry đã phải trải qua chỉ vì lỡ không quan tâm tới nhau, không quan tâm tới chính bản thân mình.  

=====

jeudi 24 octobre 2019

The Farewell (2019)


Ôm mộng thành danh với nghiệp văn giữa thành phố New York đông đúc chật chội, cô gái trẻ Billi (Awkwafina) vừa phải vật lộn với hoá đơn tiền nhà quá hạn, với “thư từ chối” đến từ các quỹ học giả danh giá, vừa phải đương đầu với khủng hoảng đầu đời của một cô gái người Mỹ gốc Hoa chưa thể xác định được cho mình một đường đời vững chắc, và cũng chẳng thể trả lời nổi câu hỏi rốt cuộc cô là ai – đứa con gái người Hoa yêu thương của cặp vợ chồng gốc Trường Xuân là ông Hải Yến (Tzi Ma) và bà Kiện (Lâm Hiểu Kiệt), hay một nữ văn sĩ nổi loạn người Mỹ với chất giọng đặc sệt New York?

Nếu không kể ông Hải Yến và bà Kiện, thì sợi dây duy nhất còn níu Billi lại với nguồn cội Trung Hoa là “Nãi Nãi” – bà nội của cô bé (Triệu Thục Trân). Không hiểu có phải vì xuất thân là một quân nhân, mà Nãi Nãi luôn hào sảng, yêu đời, yêu quý con cháu dù phải trải qua không biết bao biến thiên của lịch sử hiện đại Trung Quốc, chứng kiến sự ra đi của người chồng vì căn bệnh ung thư, và việc hai đứa con trai Hải Tân (Tưởng Vĩnh Ba) và Hải Yến rời bỏ quê hương từ rất sớm để tìm vận may nơi đất khách quê người. Bên mình chỉ có người em gái cũng đã ở tuổi bạc đầu (Lô Hồng), nhưng tuổi già và sự cô đơn chưa bao giờ ngăn cản được Nãi Nãi bày tỏ sự quan tâm và tình yêu vô bờ bến với đứa cháu vẫn còn đang “ế chồng” ở phía bên kia bờ đại dương. Thế rồi Nãi Nãi được chẩn đoán mắc ung thư giai đoạn cuối – nỗi khiếp sợ của bất cứ người dân Trung Quốc nào bởi với họ, mắc ung thư nghĩa là đã được trao bản án tử không bệnh nhân nào có thể trốn thoát, bởi không chết vì bệnh tật thì họ - những bệnh nhân ung thư cũng sẽ chết vì tâm lý sợ hãi trước bóng ma của Thần Chết cận kề.

Dù đã thoát Trung từ rất sớm nhưng cả hai anh em Hải Tân và Hải Yến vẫn mang theo họ tâm lý quen thuộc nói trên của người Hoa khi phải đối đầu với tin dữ ập đến với người thân trong gia đình. Muốn Nãi Nãi không phải đối đầu với nỗi sợ hãi của người mắc ung thư và sống vui nốt những ngày tháng cuối đời bên con cháu, anh em Hải Tân và Hải Yến quyết định đẩy Hạo Hạo (Trần Hàm) – cậu con trai nhút nhát của Hải Tân phải làm đám cưới ngay với cô bạn gái mới quen Aiko (Aoi Mizuhara) ở Trường Xuân để gia đình nhà Hải Tân từ Nhật và Hải Yến từ Mỹ có cớ quay trở về thăm Nãi Nãi mà vẫn không phải nói thật với bà về “án tử” ung thư mà các bác sĩ đã tuyên với Nãi Nãi. Người duy nhất không được hai gia đình Hải Tân, Hải Yến mong đợi trong đám cưới chạy tang của Hạo Hạo chính là Billi, bởi mọi người sợ rằng với tính cách đã được “Mỹ hoá” hoàn toàn – thẳng thắn, không che dấu cảm xúc, Billi không cố ý thì cũng sẽ vô tình tiết lộ tình hình bệnh tình của Nãi Nãi cho chính bà nội, và phá hỏng “âm mưu” của cả đại gia đình. Nhưng với tấm lòng trĩu nặng vì thương nhớ Nãi Nãi, và vì vô số những thất bại cô vẫn đang phải đương đầu hàng ngày giữa thành phố New York xa lạ, Billi vẫn quyết định quay trở về. Trở về để lao vào vòng tay âu yếm của bà nội, trở về để tìm lại chính mình.

Biệt cáo tố tha (Đừng nói bà biết) hay The Farewell là bộ phim điện ảnh thứ hai của nhà làm phim người Mỹ gốc Hoa Lulu Wang (Vương Tử Dật) dựa trên chính những trải nghiệm của cô khi phải đối mặt với tin dữ về việc người bà yêu quý của Wang mắc căn bệnh ung thư quái ác. Khởi đầu từ câu truyện What You Don't Know được Wang kể lại trên chương trình phát thanh This American Life, The Farewell có thể coi là một tác phẩm nhỏ nhưng mang đậm chất cá nhân của Wang bởi chỉ quay trong 24 ngày với kinh phí vỏn vẹn 3 triệu đô la, nhưng Wang đã mang rất nhiều kỉ niệm và cảm xúc riêng của cô vào bộ phim, từ thành phố công nghiệp Trường Xuân khô khan và lạnh lẽo, cho tới những bài “thể dục” đơn giản nhưng hiệu quả mà Nãi Nãi của chính Wang đã dạy cô từ ngày còn bé. Tuy có kinh phí thấp và phần bối cảnh không hề bắt mắt, nhưng phần nhìn của The Farewell lại là một trong những điểm ấn tượng nhất của bộ phim khi Lulu Wang và nhà quay phim nữ Anna Franquesa Solano đã chọn được cho tác phẩm của họ những góc quay hết sức xuất sắc vừa gợi lên được những góc cạnh cô đơn, mỏng manh của những người Hoa xa xứ như ông Hải Tân, như bà Kiện sau bao năm ở trong tình trạng tiến thoái lưỡng nan giữa nối nhớ nhà chưa bao giờ tắt và niềm khao khát đổi đời cho mình và người thân nơi đất khách quê người xa lạ, lại vừa đem đến cho khán giả một đất nước Trung Quốc hiện đại cũng ẩn chứa đầy mâu thuẫn giữa một bên là những giá trị gia đình, những quan niệm truyền thống đã ăn sâu bám rễ ngàn đời trong tâm khảm người Hoa với một bên là sự thịnh vượng giàu sang đang dần phá huỷ những di sản muôn đời đó một cách hết sức lạnh lẽo. Sử dụng rất nhiều gam màu lạnh và những bối cảnh đơn giản, nhiều góc cạnh, đôi lúc trống trải bóng người, The Farewell đem lại cho khán giả một Trung Quốc qua góc nhìn rất hiện đại và khác biệt so với trào lưu hiện tại của Hollywood vốn luôn nhìn đất nước tỷ dân này như một xã hội náo nhiệt, nhiều màu sắc, đông đúc đến ngạt thở. Lựa chọn nghệ thuật này của Lulu Wang và Anna Franquesa Solano có lẽ là để chia sẻ với khán giả góc nhìn Trung Quốc của một đứa con đang mất dần nguồn cội – Lulu Wang/Billi khi phải cố sức níu kéo những gì còn sót lại trong tâm hồn để vẫn có thể định vị mình như một người gốc Hoa xa xứ chứ không phải là một người Mỹ “tình cờ” có bố mẹ là người Trung Quốc.

Tự tay viết kịch bản và đạo diễn The Farewell, rõ ràng Lulu Wang rất muốn tác phẩm mới nhất này của cô truyền tải được một cách trung thực nhất, chính xác nhất những tâm sự đầy chất riêng tư của chính bản thân nữ đạo diễn họ Wang trong một giai đoạn gian khó của cuộc đời. Bởi vậy, có lẽ không ít khán giả sẽ cảm thấy ngạc nhiên vì việc cô lựa chọn Awkwafina – một ca sĩ nhạc rap vốn chưa gây được nhiều tiếng vang trên màn ảnh lớn ngoài vai diễn cô nàng đại gia “hoạt náo viên” trong Crazy Rich Asian vào vai Billi. Nhưng sau khi xem The Farewell, chắc chắn mọi sự nghi ngại của khán giả đối với khả năng diễn xuất của Awkwafina cũng sẽ tan biến bởi cô đã thể hiện rất thành công những cung bậc cảm xúc hết sức khác nhau của Billi – từ cảm giác cô độc, thất bại của một nữ văn sĩ trẻ chưa thể tìm thấy chỗ đứng cho bản thân, tới niềm hạnh phúc vô bờ bến khi lại được là “đứa cháu nhỏ” của Nãi Nãi. Sự tương phản giữa vô vàn những cung bậc tình cảm của Billi và cái cách những người Trung Quốc “gốc” như Hải Tân, Hải Yến, như em gái của Nãi Nãi luôn cố kìm nén mọi cảm xúc là một nét đặc sắc khác của The Farewell bởi đó là nguồn gốc của rất nhiều tình huống gây cười trong phim, nhưng cũng lại giúp nêu bật được chủ đề xuyên suốt của tác phẩm về những mâu thuẫn khó lòng hoá giải của một người Hoa xa xứ đang cố níu kéo lại những gì còn thuộc về nguồn cội của bản thân.

Đối với nhân vật quan trọng thứ hai của bộ phim là Nãi Nãi – “mỏ neo” của Billi với quê hương Trung Hoa, Lulu Wang đã quyết định trao cho một nữ diễn viên gạo cội vốn chưa từng xuất hiện ở Hollywood nhưng lại rất quen thuộc với khán giả hâm mộ truyền hình Trung Quốc, đó là Triệu Thục Trân. Được Wang gọi một cách tôn trọng là Triệu lão sư, Triệu Thục Trân là diễn viên “chuyên trị vai bà” trong các phim truyền hình Trung Quốc. Có lẽ bởi vậy mà nữ diễn viên họ Triệu vào vai rất ngọt trong The Farewell khi bà không mất nhiều thời gian để chiếm được cảm tình của khán giả và xuyên suốt bộ phim trở thành trụ cột, chỗ dựa về mặt tinh thần không chỉ cho con cháu của Nãi Nãi trong phim mà còn cho chính người xem The Farewell bất chập việc chính Nãi Nãi nhẽ ra mới lại cần chỗ dựa tinh thần trong thời khắc phải đối diện với căn bệnh ung thư quái ác. Sự lạc quan, tin tưởng chưa bao giờ tắt vào cuộc sống, vào con người của Nãi Nãi qua sự thể hiện của Triệu Thục Trân là điểm sáng đáng quý của The Farewell nhất là khi căn bệnh ung thư quái ác thường được mô tả trên phim như nguồn cơn của mọi buồn đau và rắc rối. Rất tiếc là nếu so với Awkwafina và Triệu Thục Trân hay một phần nào đó là Lâm Hiểu Kiệt trong vai bà Kiện mẹ Billi thì các diễn viên khác trong phim The Farewell không để lại nhiều ấn tượng đối với khán giả, thậm chí còn để lại cảm giác nghiệp dư khá rõ rệt vốn là “chỉ dấu” của những bộ phim kinh phí thấp.

Nếu đọc qua nội dung và bối cảnh của The Farewell, có lẽ nhiều người yêu phim sẽ liên tưởng tới tác phẩm xuất sắc cũng xoay quanh một “đám cưới giả” là Hỷ yến (The Wedding Banquet, 1993) của đạo diễn người Đài Loan Lý An. Nếu so với Hỷ yến thì các tuyến truyện hay cách xây dựng nhân vật của The Farewell có lẽ chưa thể so sánh về mức độ đặc sắc, nhất là đối với những người xem muốn tìm hiểu thêm về cách nghĩ, cách sống, về truyền thống của các gia đình người Hoa. Nhưng nếu xem The Farewell như một câu truyện kể hết sức riêng tư của chính nữ đạo diễn Lulu Wang về những trăn trở, suy tư của cô trong việc định vị bản thân giữa hai dòng nước của “mái nhà” New York và “nguồn cội” Trung Hoa thì tác phẩm đã hoàn toàn thành công với minh chứng là vô số những lời tán dương của giới phê bình hay giải thưởng của khán giả dành cho bộ phim trong Liên hoan phim Sundance London. Hy vọng rằng với thành công của The Farewell hay trước đó là Crazy Rich Asian (2018) và The Big Sick (2017), tâm thế của những người con xa xứ với nguồn cội khác nhau tại Hoa Kỳ, gốc rễ văn hoá của những quốc gia châu Á khác với lịch sử, truyền thống tương tự như Trung Quốc sẽ được Hollywood khai thác triệt để hơn nữa để người Mỹ gốc Á không chỉ còn là những “người thiểu số gương mẫu” (model minority) trong văn hoá đại chúng Mỹ. 

=========

mercredi 2 octobre 2019

Ad Astra (2019)


Vươn tới những vì sao ở phía xa của Giải Ngân Hà luôn là ước vọng của loài người để thoát khỏi những đói nghèo, buồn khổ của Trái Đất. Ngay từ trước kỉ nguyên Thiên chúa, đại thi hào La Mã Virgil đã nhấn nhá trong thiên sử thi Aeneis của ông ý trí “ad astra” (vươn đến những vì sao). Hai thiên niên kỷ sau thời của Virgil, mong muốn chinh phục vũ trụ lại càng trở nên thôi thúc loài người hơn bao giờ hết khi mà chính chúng ta đang ngày một hủy hoại cái nôi của chính mình – Trái Đất với chiến tranh, với ô nhiễm, với lòng tham không đáy đối với những nguồn tài nguyên có hạn mà Trái Đất đã để loại cho con người. “We are world eaters; thus we journey to the stars” (“Chúng ta là những kẻ tiêu thụ thế giới, bởi thế chúng ta du hành đến những vì sao”), thiếu tá Roy McBride (Brad Pitt) đã giải thích một cách đơn giản như thế ước muốn “ad astra” của loài người. Luôn biết cách kìm nén cảm xúc để nhịp tim không bao giờ vượt quá 80 lần một phút, cũng như sẵn sàng loại bỏ những thứ “không cần thiết” sang một bên để tập trung vào những chuyến du hành – kể cả khi thứ “không cần thiết” ấy là gia đình nhỏ đang bên bờ vực tan vỡ với người vợ Eve McBride (Liv Tyler), Roy nhanh chóng trở thành một trong những nhà du hành đã và đang giúp xã hội loài người vươn xa hơn với những “thuộc địa” từ Mặt Trăng cho tới tận Sao Hỏa và xa hơn thế với mục tiêu cuối cùng là tìm thấy sự sống ở một nơi nào đó ngoài Trái Đất.

Nhưng ước mơ “ad astra” của Roy và thế hệ của anh đột ngột trở nên mờ mịt khi từ xa tận phía Sao Hải Vương, những đợt sóng năng lượng dữ dội bất thường xuất hiện một cách bất ngờ và hướng về Trái Đất với sức mạnh hủy diệt. Không chỉ làm rối loạn cuộc sống của loài người trên mặt đất, những đợt sóng năng lượng đó còn làm hư hỏng trạm không gian nơi Roy làm việc và đe dọa sự tồn vong của những trạm vũ trụ mà loài người đã dày công xây dựng trên Mặt Trăng và Sao Hỏa. Để cứu lấy khát vọng vẫn chưa thành hiện thực của loài người là tìm thấy “người ngoài hành tinh”, thiếu tá Roy McBride được Bộ Chỉ huy Vũ trụ Hoa Kỳ cử đi thực hiện một nhiệm vụ tuyệt mật – đó là truy tìm nguồn gốc của những đợt sóng năng lượng chết chóc ở đâu đó phía ngoài Sao Hải Vương. Trước khi bắt đầu chuyến đi đầy hiểm nguy và bất trắc, Roy được các quan chức của Bộ Chỉ huy Vũ trụ và thượng tá Thomas Pruitt (Donald Sutherland) hé lộ một bí mật anh chẳng thề ngờ tới, đó là việc rất có thể thủ phạm của những tín hiệu chết người kia chính là H. Clifford McBride (Tommy Lee Jones) – một trong những nhà du hành vĩ đại nhất trong lịch sử chinh phục vũ trụ của Hoa Kỳ và cũng chính là cha của thiếu tá Roy McBride. Mười sáu năm trước, H. Clifford McBride được giao chỉ huy một đoàn thám hiểm có nhiệm vụ bằng mọi cách phải tìm thấy sự sống ngoài Trái Đất cho dù có phải đi đến tận cùng của Giải Ngân Hà. Vượt qua Mặt Trăng, vươn tới Sao Hỏa, bay ngang qua hai hành tinh khí khổng lồ là Sao Thổ và Sao Mộc, và đi quá cả “khối băng khổng lồ” Sao Thiên Vương, con tàu du hành “Dự án Lima” của phi hành trưởng H. Clifford McBride trở thành đại diện đầu tiên của loài người vươn tới được hành tinh với màu xanh nước biển Sao Hải Vương trước khi mất liên lạc với trạm chỉ huy tại Trái Đất. Và giờ đây con của nhà du hành vĩ đại năm xưa Roy McBride có nhiệm vụ phải lần được ra dấu vết của “Dự án Lima” và nguồn gốc của những đợt sóng năng lượng đang tấn công Trái Đất với cường độ ngày một dữ dội. Với sự hỗ trợ của những người đồng hành như thượng tá Pruitt – một đồng đội cũ của H. Clifford McBride, của Helen Lantos (Ruth Negga) – trưởng trạm lưu trú của loài người trên Sao Hỏa, hay các phi hành gia của con tàu “Cepheus”, Roy bắt đầu chuyến hành trình đi vào bóng đêm của Giải Ngân hà để tìm cách hé lộ bí mật về cha mình, về chuyến đi định mệnh của “Dự án Lima”, và về lý do tại sao dù đã rất cố gắng, con người vẫn chưa thể tìm thấy sự sống ngoài hành tinh để phá bỏ sự đơn độc đến cùng cực của họ giữa Vũ trụ bao la.

Ad Astra (Giải mã bí ẩn Ngân Hà) là tác phẩm mới nhất của đạo diễn người Mỹ gốc Ukraina James Gray và cũng là tác phẩm khoa học giả tưởng đầu tiên của nhà làm phim “chuyên trị” đề tài phim bi kịch – hình sự này. Gây tiếng vang tại Hollywood ngay từ tác phẩm đầu tay Little Odessa (1994), Gray luôn khiến khán giả phải trầm trồ vì những bộ phim có nhịp độ không quá nhanh nhưng luôn thấm đẫm cảm xúc và ẩn chứa những bi kịch về sự cô độc, về mặt trái của cái nghèo và tội ác. Luôn chắp bút cho kịch bản các bộ phim ông đạo diễn, James Gray thường lấy bối cảnh hiện đại hoặc cận hiện đại cho cuộc hành trình tìm lấy hơi ấm của tình thương, của sự cảm thông của các nhân vật nhiều phần cô độc của ông. Bối cảnh gần gũi, cốt truyện thiên hướng nội tâm, và nỗi niềm cô đơn ai cũng từng phải trải qua của các nhân vật trong phim khiến cho các tác phẩm của James Gray từ Two Lovers (2008), The Immigrant (2013), cho tới The Lost City of Z (2016) tuy chưa bao giờ gây được tiếng vang lớn về mặt doanh thu nhưng vẫn có được chỗ đứng riêng trong lòng khán giả.

Với một danh mục tác phẩm như trên, rõ ràng Ad Astra là một lựa chọn gây ngạc nhiên của James Gray vì bộ phim trị giá gần trăm triệu đô la này vừa có kinh phí lớn hơn hẳn các tác phẩm trước đây của Gray (vốn chưa bao giờ tiêu tốn quá 30 triệu đô la cho việc làm một bộ phim), lại lấy bối cảnh khoa học giả tưởng hoàn toàn xa lạ với khung cảnh cận hiện đại – hiện đại của The Immigrant hay Two Lovers, và nói về một cuộc hành trình hướng ngoại “vươn tới các vì sao” thay vì những câu truyện thiên về khám phá nội tâm. Nhưng sau khi xem phim, chắc chắn bất cứ ai yêu thích điện ảnh nói chung và phong cách của James Gray nói riêng sẽ phải gật gù rằng đây vẫn là một tác phẩm đậm chất James Gray – vẫn là một chuyến đi đầy chông gai để vượt khỏi xiềng xích của sự cô độc, lần này là sự cô độc của loài người giữa Vũ trụ bao la. Tuy Ad Astra có một kịch bản gốc được James Gray và nhà biên kịch phim truyền hình Ethan Gross chắp bút không dựa trên bất cứ tác phẩm nào, người xem vẫn có thể nhận ra rằng tác phẩm này có cái tứ khá giống với tiểu thuyết ngắn Heart of Darkness của nhà văn Joseph Conrad. Miêu tả một cuộc khám phá thiên nhiên hoang dã và “chưa được khai hóa” ở vùng đất trái tim của Châu Phi ở Congo nơi đại diện của “thế giới văn minh” như gương mặt bí hiểm Kurtz có cuộc sống và mối quan hệ hết sức đặc biệt với những người dân bản xứ vốn luôn bị coi là đối tượng cần được “khai sáng” bằng nền văn minh của xã hội hiện đại – xã hội của những kẻ đi thống trị. Với một cái tứ rất nhiều kịch tính và cảm xúc như vậy, Heart of Darkness đã được chuyển thể nhiều lần trên màn ảnh nhỏ và cũng trở thành nguồn cảm hứng chính để nhà làm phim huyền thoại Francis Ford Coppola làm nên một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của ông lấy bối cảnh Chiến tranh Việt Nam – Apocalypse Now (1979). Trong Apocalypse Now, đại úy Benjamin L. Willard (Martin Sheen) được giao nhiệm vụ đi sâu vào những mảnh rừng, con sông hoang dã còn lại của Việt Nam và Campuchia để tìm kiếm viên đại tá Walter E. Kurtz (Marlon Brando) – người bị coi là đã hóa điên vì sự cô độc, và vì mối quan hệ dị biệt với những người bản địa còn “chưa được khai hóa”. Trong Ad Astra, thế chỗ cho Willard là Roy, thế chỗ cho Kurtz là H. Clifford McBride, và thế chỗ cho rừng thiêng nước độc của xứ Đông Dương là bóng đêm sâu thảm của Giải Ngân hà được điểm xuyết đây đó bởi những hành tinh lạnh lẽo, khô cằn. Và cũng như chuyến hành trình đầy bất ngờ và chết chóc của Willard, Roy trên từng chặng đường của anh từ Trái Đất lên Mặt Trăng, từ Mặt Trăng vươn tới Sao Hỏa, và từ Sao Hỏa trôi dạt tới Sao Hải Vương vừa được tận mắt chứng kiến những hình ảnh chẳng ai có thể hình dung từ Trái Đất như sự kì vĩ bao la của Sao Mộc hay vành đai đá kéo dài đến vô tận của Sao Thổ, lại vừa phải đối diện với những vấn đề “xưa như Trái Đất” ở nơi cách xa đất mẹ cả triệu cây số - đó là sự phản bội, đó là lòng tham, đó là cái chết, và tất nhiên luôn ngập tràn trong từng giây từng phút từng hơi thở là sư cô độc đến cùng cực.

Trong những năm gần đây du hành vũ trụ đã quay trở lại như một đề tài yêu thích của giới làm phim Hollywood với rất nhiều tác phẩm hay như Gravity (2013) của Alfonso Cuarón, Interstellar (2014) của Christopher Nolan, The Martian (2015) của Ridley Scott, hay gần đây nhất là First Man (2018) của Damien Chazelle. Hầu như tất cả các tác phẩm này đều nhấn vào sự tương phản giữa một bên là vũ trụ bao la, xa lạ với vô vàn những điều chưa được khám phá, và một bên là sự nhỏ bé nhiều khi đến bất lực của con người. Sự tương phản đó cũng phần nào đó được phản ánh trong Ad Astra, nhưng bên cạnh đó James Gray dường như còn muốn truyền tải đến người xem một góc nhìn khác về những cuộc du hành thám hiểm không gian – đó là chúng ta vươn tới khoảng không xa xôi ngoài kia không phải để khám phá cái mới, mà là để chinh phục, là để biến những hành tinh xa lạ trở thành những Trái Đất mới, để áp đặt cách tồn tại, cách sống, cách hưởng thụ vốn đã khiến Trái Đất thân yêu trở nên cằn cỗi lên những hành tinh khác vốn đã tồn tại cả triệu năm, cả tỷ năm mà không cần tới hơi thở, tiếng nói của con người. Bởi thế mà trong Ad Astra người ta thấy những cửa hiệu bánh mỳ Subway trên Mặt Trăng, người ta thấy những phòng thí nghiệm thử nghiệm thuốc trên khỉ trôi dạt trong khoảng không vô tận giữa Mặt Trăng và Sao Hỏa, hay thậm chí là nghe thấy những nhịp điệu quen thuộc của các bộ phim ca vũ cũ kĩ phát ra từ một con tàu nằm khuất sau vành đai đá của Sao Hải Vương. Vũ trụ bao la có ý nghĩa gì khi con người vẫn phải giam mình trong những không gian chật hẹp của các con tàu vũ trụ, của những trạm vũ trụ nằm sâu trong lòng các hành tinh để duy trì sự sống? Những chân trời mới lạ có ý nghĩa gì khi dù đi tới đâu con người vẫn luôn phải khắc khoải với nỗi nhớ thiên nhiên nên quê nhà, vẫn phải trăn trở với những cảm xúc vốn tưởng đã có thể xa rời khi ta đặt chân lên những con tàu vũ trụ? Những câu hỏi giàu tình cảm tưởng chừng đơn giản nhưng vẫn hết sức mới lạ với dòng phim thường nhấn mạnh chất hành động, và màu sắc phiêu lưu mạo hiểm đã biến Ad Astra dù ra đời sau nhưng vẫn có một vị trí rất khác biệt khi so sánh với những tác phẩm du hành vũ trụ khác của Hollywood.

Nếu như phần nội dung của Ad Astra gợi khán giả nghĩ tới Apocalypse Now thì phần hình ảnh của bộ phim cho thấy James Gray muốn nhắc nhớ người yêu điện ảnh tới một tác phẩm kinh điển khác – 2001: A Space Odyssey (1968) của đạo diễn Stanley Kubrick. Được coi là tác phẩm đánh dấu sự ra đời của dòng phim khoa học viễn tưởng hiện đại và là tác phẩm xuất sắc nhất của thể loại phim du hành vũ trụ, 2001: A Space Odyssey để lại ấn tượng đặc biệt sâu sắc với khán giả về mặt hình ảnh khi Kubrick mang tới cho khán giả một Mặt Trăng, một Vũ trụ vừa xa lạ với những cảnh quan và khoảng không kỳ vĩ, dị biệt, nhưng cũng vẫn mang lại cảm giác chân thật của một tác phẩm tài liệu trong hình hài của một bộ phim khoa học giả tưởng. Có rất nhiều hình ảnh trong Ad Astra chắc chắn sẽ khiến người xem nghĩ tới 2001: A Space Odyssey. Đó có thể hình ảnh căn cứ của con người nằm trong hố va chạm Walther của Mặt Trăng với nhiều đường nét và cảnh quan rất giống với Căn cứ Clavius trong 2001: A Space Odyssey. Đó có thể sự giận dữ và sức mạnh đến bàng hoàng của những chú khỉ bị thử nghiệm ngoài không gian – một trường đoạn gợi nhớ tới buổi bình minh của loài người được Stanley Kubrick khắc họa một cách đầy tính biểu tượng trong 2001: A Space Odyssey. Và đó cũng có thể là hình ảnh dàn máy móc “nổi loạn” của “Dự án Lima” được con người chế tạo ra để rồi quay lại đe dọa sự tồn vong của con người như cái cách HAL 9000 dần biến đổi trên con tàu “Discovery One”. Ngay cả nhịp phim chậm rãi của Ad Astra – lựa chọn thường thấy của James Gray trong các bộ phim của ông, và phần nhạc phim vừa hào hùng vừa da diết của nhà soạn nhạc người Anh Max Richter cũng phần nào đó biến Ad Astra trở thành một tác phẩm hết sức gần gũi với 2001: A Space Odyssey bất chấp khoảng cách hơn nửa thế kỷ giữa thời điểm ra đời của hai bộ phim.

Tất nhiên mọi so sánh đều chỉ mang tính chất tương đối bởi 2001: A Space Odyssey là một bộ phim đậm chất triết lý với những hình ảnh biểu tượng về giá trị của sự tồn tại của loài người trong vũ trụ bao la trải đều từ đầu đến cuối phim, còn Ad Astra lại nhắm tới mục đích mô tả những cuộc du hành vũ trụ xa xôi qua góc nhìn đời thường, ẩn chứa những cảm xúc hết sức con người. Đặc biệt, phần kết của Ad Astra có lẽ sẽ khiến nhiều tác giả phải đặt câu hỏi về việc liệu đây có phải là một tác phẩm xứng tầm với một 2001: A Space Odyssey-của-thời-hiện-đại, hay chỉ là một nỗ lực khác của James Gray trong việc đi tìm ý nghĩa thực sự cho những chuyến du hành đầy trắc trở đi tìm “bạn đồng hành” cho loài người trong vũ trụ bao la. Thêm vào đó, ngoại trừ một Brad Pitt hết sức xuất sắc trong vai nhà du hành cô độc và đầy trăn trở Roy McBride, thì các diễn viên trong phim dù đều nổi danh với tài nghệ diễn xuất như Tommy Lee Jones (vai H. Clifford McBride), Ruth Negga (vai Helen Lantos), hay Donald Sutherland (vai thượng tá Pruitt) đều không để lại nhiều ấn tượng, có lẽ một phần vì James Gray đã dành phần lớn thời lượng phim và những dòng hay nhất của kịch bản phim để dành cho nhân vật chính-không-thoại của phim – vũ trụ bao la.

Không phải một tác phẩm hoàn hảo, nhưng nội dung và phần hình ảnh đầy tính gợi mở của Ad Astra có lẽ vẫn sẽ làm hài lòng đại đa số khán giả. Và trên hết, trong thời buổi mà biến đổi khí hậu do con người gây ra đang tàn phá cuộc sống của chính con người với tần suất ngày một dữ dội, và chiến tranh cùng đói nghèo vẫn đang tạo ra những vết sẹo hủy hoại thiên nhiên hằn sâu vào bề mặt Trái Đất, thì cuộc hành trình vô số gian nan nhưng rất ít hy vọng của cha con nhà McBride để tìm miền đất hứa, tìm “bạn đồng hành” cho loài người ở ngoài không gian xứng đáng là tiếng chuông cảnh tỉnh để chúng ta nhìn lại để chăm chút hơn cho chính những gì chúng ta đang có, để bảo vệ hơn cho Trái Đất – mái nhà chung và duy nhất của loài người trong khoảng không bao la này.

=========