some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

jeudi 14 mai 2015

Mad Max: Fury Road (2015)




(vì review viết vội nên tôi dùng tiếng Anh, rất xin lỗi nếu làm bạn nào thấy khó chịu)

One of the best action films I have seen in years! I have to give this film four and a half stars despite its full five-star quality due to its simplistic script (one may call it minimalist, but I think that such simplicity is definitely intentional for the sake of the action set-pieces). Simply put, "Fury Road" is a cat-and-mouse race full of awesome heroes and villains, spectacularly choreographed action sequences, but without any character development, in which the roles and characteristics of all the "racers" are set at the very beginning with only slim back-story and some slight "twists" along the race (the premise of this film is really similar to "Children of Men"'s, with an even stronger metaphoric emphasis on the matriarchy and the essential role of woman in human history but less complexed situations or twist-and-turn). But does that matter? No, absolutely not. Firstly, the film succeeded in NOT betraying its incredible trailer, a feat that not many films were able to accomplish in recent years. "Fury Road"'s trailer reminds me of Zack Snyder's "Sucker Punch" - intense, stylistic, vengeful, and with a unique style of post-apocalyptic fantasy. But whereas "Sucker Punch" did suck in delivering such premise (pun intended), "Fury Road" in full is even more furious than its trailer and admirably appears with its own thirsty ambiance, ruddy environment, post-apocalyptic background without any lengthy voice-over explanations. One can tell that the director was able to achieve such amazement since he had done three such films before (I cannot tell, because I have not watched any of them, or could not remember watching them before - I was only amazed finding out that this is the same director of ... "Happy Feet" and this is the film pure action film that he directed after thirty bloody years!), but nevertheless such unique look and style are really really a treat to the audience's eyes with amazing details after amazing details, from the crazily-primped cars to the metaphoric appearance of the characters (this film definitely deserves to be watched on big screen, IMAX preferably, for thorough appreciation). The simple story-line and heroic awesomeness of the protagonists (which means not much place for contemplation or inner struggle - this film does not need them anyway) are delivered through spectacular high-octane action sequences (I feel sorry not being able to find a better word to describe their beauty), arranged with excellent tempo throughout the film, seamlessly stitched together through short but much-needed silence and peaceful moments. Even better than the choreograph and practical effects of the action sequences themselves is the superb score that successfully puts classical and metal soundtracks into an intense, excellently-timed, and, amazingly enough, touching when needed. Due to its thin plot, it will be a little bit difficult for the audience to "retell" "the film's story" to others, but every single one of those who have watched the film will definitely be able to tell how awesome and dominant Charlize Theron's Imperator Furiosa was throughout the film (euphorically and figuratively, since this is the first film I have seen that is able to "utilize" Theron's well-known super model build), even in comparison with the subtler Tom Hardy's Mad Max. As impressive as her own name, Imperator Furiosa might be one of the best action heroines of Hollywood this decade, alongside with Emily Blunt's Rita Vrataski from "Edge of Tomorrow". Not satisfied with that giant and effective pair of protagonists, the director still gave enough space for the minor characters to shine, and shine indeed they did, from the crazy but gradually likeable Nicholas Hoult's Nux, to the "Victoria Secret" Queens, who, despite their limited "true" on-screen time and restraint roles of "being beautiful", still have their own shining moments, especially Riley Keough's Queen Capable (capable indeed she was). In comparison, the antagonists were less built and appeared more generic and even a little bit disappointing (especially the boss-like ones), but they are nonetheless memorable for their fantastic outfits and some strange but iconic sequences. If not for the expensive price of the IMAX ticket, I really want to go back to the cinema to immerse myself in "Fury Road"'s awe-inspiring soundtrack and watch the breathtakingly iconic scenes that are normally reserved for epic historical/war films. Yes, in a way, this is a true epic action film, if I may say, and not those pretentious Marvel films, of which no "super-heroines" (well, they have only one so far) can be compared with the one-and-only true heroine Imperator Furiosa (I doubt that Warner Bros. can retain this effective style for their up-coming DC "movie-verse", given a was-and-always-will-be pretentious Zack Snyder). I can write longer and longer about this beloved film, but really, this is a cinema experience and high-quality entertainment that the audience deserves. Love this film, yes, I love this film.

mercredi 18 février 2015

2015 Academy Awards



Lại một mùa giải Oscar mới, năm nay tôi có may mắn được xem gần như toàn bộ đề cử, nhưng cuối cùng lại thành "không may" vì chẳng kiếm nổi phim Hollywood nào để lại ấn tượng sâu sắc hoặc khiến mình phải phấn khích khi xem xong (tới mức mà trong số 8 ứng viên của hạng phục Phim hay nhất, tôi không kiếm nổi lấy một phim để bỏ phiếu - nếu có cái quyền đó). Sau đây là dự đoán của tôi về các bộ phim sẽ chiến thắng trong lễ trao giải sắp tới, như thường lệ, đỏ là ứng viên tôi dự đoán sẽ chiến thắng, còn xanh là ứng viên tôi hy vọng sẽ chiến thắng (nếu ứng viên đó khác với ứng viên tôi dự đoán sẽ đoạt giải).

Best Picture
American Sniper 
Birdman 
Boyhood 
The Grand Budapest Hotel 
The Imitation Game 
Selma 
The Theory of Everything 
Whiplash 
Tôi tương đối thích Boyhood vì cách xử lý nhẹ nhàng hết sức "Richard Linklater", nhưng lại cũng không thích bộ phim vì sự nửa vời cũng rất "Richard Linklater", vì vậy tôi dành phiếu bầu của mình cho Birdman, dù bộ phim mang tính biểu tượng cao này tương đối lộn xộn và vì thế thiếu đi phần cảm xúc (trừ cảnh phim cuối cùng). So với những Selma hay American Sniper thì Gone Girl của David Fincher và Inherent Vice của PTA xứng đáng có mặt trong danh sách đề cử này hơn nhiều. 


Best Director
Wes Anderson – The Grand Budapest Hotel
Alejandro González Iñárritu – Birdman or (The Unexpected Virtue of Ignorance)
Richard Linklater – Boyhood
Bennett Miller – Foxcatcher
Morten Tyldum – The Imitation Game
Thật vui khi thấy Wes Anderson được thừa nhận rộng rãi đến như vậy, nhưng tôi nghĩ Linklater vẫn sẽ là người chiến thắng.


Best Film Editing
American Sniper – Joel Cox and Gary D. Roach
Boyhood – Sandra Adair
The Grand Budapest Hotel – Barney Pilling
The Imitation Game – William Goldenberg
Whiplash – Tom Cross
Không hiểu sao Birdman xuất sắc như vậy lại không được đề cử cho hạng mục này. 


Best Actor
Steve Carell – Foxcatcher as John Eleuthère du Pont
Bradley Cooper – American Sniper as Chris Kyle
Benedict Cumberbatch – The Imitation Game as Alan Turing
Michael Keaton – Birdman as Riggan Thomson / Birdman
Eddie Redmayne – The Theory of Everything as Stephen Hawking
Eddie Redmayne hiện đang có "đà" sau khi giành giải BAFTA, nhưng tôi đánh giá nhân vật của anh (Stephen Hawking) được xây dựng khá thường, nếu so với nhân vật của Felicity Jones, vì vậy Redmayne cũng "dễ diễn" hơn (đóng người bị ALS cho giống không phải vấn đề lớn, mà mô tả tình cảm của họ thể hiện qua cử chỉ mới là điều khó khăn, rất tiếc là kịch bản phim "làm không ra" khía cạnh này và vì thế Redmayne cũng ít cơ hội toả sáng hơn).



Best Actress
Marion Cotillard – Two Days, One Night as Sandra Bya
Felicity Jones – The Theory of Everything as Jane Wilde Hawking
Julianne Moore – Still Alice as Dr. Alice Howland
Rosamund Pike – Gone Girl as Amy Elliott-Dunne
Reese Witherspoon – Wild as Cheryl Strayed
Gần như 99,9% Moore sẽ giành giải Oscar đầu tiên cho một vai diễn kém hơn nhiều những vai cô từng đóng trong Boogie Nights, Magnolia, hay Far from Heavens. Đây là điều khá đáng tiếc bởi danh sách đề cử này có nhiều vai diễn khiến tôi thích thú hơn nhiều lần như vai của Felicity Jones hay Rosamund Pike (vai của Moore không tồi, nhưng một lần nữa kịch bản tồi đã không tạo đủ đất diễn cho cô thể hiện hết mình), nhưng nếu có thể bầu thì tôi sẽ bầu cho Cotillard, vai diễn "trầm" nhất trong số các đề cử năm nay nhưng lại thể hiện sức mạnh diễn xuất phi thường của Cotillard.   


Best Supporting Actor
Robert Duvall – The Judge as Judge Joseph Palmer
Ethan Hawke – Boyhood as Mason Evans, Sr.
Edward Norton – Birdman as Mike Shiner
Mark Ruffalo – Foxcatcher as Dave Schultz
J. K. Simmons – Whiplash as Terence Fletcher
Tương tự Moore, Simmons gần như đã "chắc giải", tôi cũng rất thích vai diễn của ông, nhưng sẽ là điều tuyệt vời nếu Ed Norton-một trong những diễn viên tôi yêu thích nhất, được "trả lại" một giải Oscar mà anh đã bị "lấy mất" trong lần được đề cử với American History X.



Best Supporting Actress
Patricia Arquette – Boyhood as Olivia Evans
Laura Dern – Wild as Barbara "Bobbi" Grey
Keira Knightley – The Imitation Game as Joan Clarke
Emma Stone – Birdman or (The Unexpected Virtue of Ignorance) as Sam Thomson
Meryl Streep – Into the Woods as The Witch
Arquette là điểm sáng nhất của Boyhood (vì thế nhiều người đã nhận xét rằng bộ phim hoàn toàn có thể đổi tên thành Motherhood). 


Best Original Screenplay
Birdman – Alejandro González Iñárritu, Nicolás Giacobone, Alexander Dinelaris, Jr. and Armando Bo
Boyhood – Richard Linklater
Foxcatcher – E. Max Frye and Dan Futterman
The Grand Budapest Hotel – Wes Anderson and Hugo Guinness
Nightcrawler – Dan Gilroy


Best Adapted Screenplay
American Sniper – Jason Hall from American Sniper by Chris Kyle, Scott McEwen and Jim DeFelice
The Imitation Game – Graham Moore from Alan Turing: The Enigma by Andrew Hodges
Inherent Vice – Paul Thomas Anderson from Inherent Vice by Thomas Pynchon
The Theory of Everything – Anthony McCarten from Travelling to Infinity: My Life with Stephen by Jane Wilde Hawking
Whiplash – Damien Chazelle from his short film of the same name
Inherent Vice có lẽ là bộ phim kém tiếng nhất của PTA kể từ nhiều năm trở lại đây, nhưng với tôi, đây vẫn là bộ phim xuất sắc vào loại nhất của năm nay.


Best Animated Feature Film
Big Hero 6 – Don Hall, Chris Williams and Roy Conli
The Boxtrolls – Anthony Stacchi, Graham Annable and Travis Knight
How to Train Your Dragon 2 – Dean DeBlois and Bonnie Arnold
Song of the Sea – Tomm Moore and Paul Young
The Tale of the Princess Kaguya – Isao Takahata and Yoshiaki Nishimura
How to Train Your Dragon 2 là một bước lùi khủng khiếp của Dreamwork nếu so với phần 1, Big Hero 6 là một phim hoạt hình "mỳ ăn liền" kiểu Marvel hết sức bình thường. Tôi rất rất hy vọng Isao Takahata sẽ có giải Oscar đầu tiên trong năm Miyazaki có được giải Oscar thành tựu sự nghiệp, nhưng có lẽ hy vọng đó quá nhỏ nhoi. 

Best Foreign Language Film
Ida (Poland) in Polish  – Paweł Pawlikowski
Leviathan (Russia) in Russian – Andrey Zvyagintsev
Tangerines (Estonia) in Estonian and Russian – Zaza Urushadze
Timbuktu (Mauritania) in French  – Abderrahmane Sissako
Wild Tales (Argentina) in Spanish  – Damián Szifrón


Best Documentary – Feature
Citizenfour – Laura Poitras, Mathilde Bonnefoy and Dirk Wilutsky
Finding Vivian Maier – John Maloof and Charlie Siskel
Last Days in Vietnam – Rory Kennedy and Keven McAlester
The Salt of the Earth – Wim Wenders, Lélia Wanick Salgado and David Rosier
Virunga – Orlando von Einsiedel and Joanna Natasegara


Best Original Score
The Grand Budapest Hotel – Alexandre Desplat
The Imitation Game – Alexandre Desplat
Interstellar – Hans Zimmer
Mr. Turner – Gary Yershon
The Theory of Everything – Jóhann Jóhannsson


Best Original Song
"Everything Is Awesome" from The Lego Movie – Music and Lyric by Shawn Patterson
"Glory" from Selma – Music and Lyric by John Legend and Common
"Grateful" from Beyond the Lights – Music and Lyric by Diane Warren
"I'm Not Gonna Miss You" from Glen Campbell: I'll Be Me – Music and Lyric by Glen Campbell and Julian Raymond
"Lost Stars" from Begin Again – Music and Lyric by Gregg Alexander and Danielle Brisebois


Best Production Design
The Grand Budapest Hotel – Adam Stockhausen (Production Design); Anna Pinnock (Set Decoration)
The Imitation Game – Maria Djurkovic (Production Design); Tatiana Macdonald (Set Decoration)
Interstellar – Nathan Crowley (Production Design); Gary Fettis (Set Decoration)
Into the Woods – Dennis Gassner (Production Design); Anna Pinnock (Set Decoration)
Mr. Turner – Suzie Davies (Production Design); Charlotte Watts (Set Decoration)


Best Cinematography
Birdman or (The Unexpected Virtue of Ignorance) – Emmanuel Lubezki
The Grand Budapest Hotel – Robert Yeoman
Ida – Łukasz Żal and Ryszard Lenczewski
Mr. Turner – Dick Pope
Unbroken – Roger Deakins











mardi 3 février 2015

Leviathan (2014)


Ngươi có thể câu sấu với lưỡi câu, Và dùng dây mà xỏ lưỡi nó chăng?
Nó há sẽ cầu ơn nhiều cùng ngươi, Và nói với ngươi những lời êm ái sao?
Tại thế thượng, chẳng có vật chi giống như nó; Nó được dựng nên để không sợ gì hết.
Nó nhìn xem các vật cao lớn; Nó làm vua của các loài thú kiêu ngạo.
Kinh Cựu Ước, Sách Gióp, Chương 41

Đây là những câu thánh kinh về loài thủy quái “Leviathan” được vị linh mục già đọc cho Kolya (Aleksei Serebryakov), nhân vật chính của bộ phim, khi Kolya đang ở vào những thời khắc đau khổ đến cùng cực nhất. Leviathan là tên của bộ phim – tác phẩm được làm một phần dựa trên chính câu truyện của Sách Gióp, và cũng là biểu tượng cho những đau khổ, bất công dài mãi không dứt của những mảnh đời Nga ở phương Bắc trống trải và lạnh lẽo.

Những sự kiện trong Leviathan xoay quanh cuộc đời Kolya trong cái giai đoạn gian khó của cuộc đời. Một mặt ông vừa phải gắng gượng giữ lại căn nhà tuyệt đẹp với khung cửa kính nhìn thẳng ra biển Barents lạnh giá cùng mảnh đất hương hỏa của cha ông khỏi lòng tham của gã thị trưởng Vadim (Roman Madyanov), người đã dùng cả cái “chính quyền” nằm trong tay, gồm đủ từ cảnh sát tới viện công tố và tòa án, để giật lấy mảnh đất ở vị trí đắc địa ấy với cái giá rẻ mạt. Mặt khác Kolya còn phải đương đầu với những khó khăn trong gia đình, khi cậu con trai Roma (Sergey Pokhodaev) tỏ rõ sự hằn học đối với người vợ hai Lilya (Elena Lyadova), còn chính Lilya dường như cũng dần trở nên chán nản với cuộc sống buồn bã phương Bắc, nhất là với sự xuất hiện của anh chàng luật sư sôi nổi Dmitri (Vladimir Vdovichenkov), đồng đội cũ của Kolya, người lặn lội từ Moskva tới đây để giúp “ông anh” quân ngũ lấy lại số tiền bồi thưởng xứng đáng với mảnh đất Kolya phải từ bỏ. Cuộc đấu giữa Kolya và Vadim là cuộc đấu không cân sức, bởi Vadim có đủ loại thế lực đen tối và mưu mô, thậm chí là cả nhà thờ Chính thống giáo, đứng sau gã, còn Kolya chẳng có ai ngoài vài người bạn chất phác đến ngây thơ, ngây thơ như chính Kolya, người đã giành phần lớn cuộc đời để làm bạn với chai rượu vodka. Có lẽ ở cái xứ âm u ấy, vodka là người bạn tin cậy duy nhất của Kolya, và những người Nga khốn khổ như anh, để chống lại nỗi buồn thường trực và những bất hạnh dồn dập đến với họ.

Nội dung u ám là vậy, Leviathan còn trở nên ám ảnh hơn nhờ cách kể chuyện giản dị nhưng đầy tính biểu tượng của đạo diễn Andrey Zvyagintsev cùng những nhân vật có vẻ ngoài thô ráp, hồn hậu, thậm chí là cam chịu, nhưng lại ẩn chứa những tâm hồn những suy tư, tình cảm hết sức mãnh liệt. Một trong những “nhân vật” để lại ấn tượng sâu sắc nhất của bộ phim chính là bối cảnh phim, một thành phố từng một thời phồn thịnh nhưng nay đã trở nên xơ xác và tàn lụi giữa thiên nhiên bao la, đẹp đẽ nhưng thưa thớt và u ám nơi nơi cực Bắc nước Nga. Cái bối cảnh ngột ngạt ấy dường như khiến các nhân vật của Leviathan càng trở nên mụ mị và lạc lối giữa những đau khổ triền miên khi mà đến Đức Chúa Trời cũng chẳng thể chỉ cho họ một lối ra một khi niềm tin vào Chúa, vào cuộc đời đã chẳng còn. Bức áp phích rất ấn tượng của Leviathan dự tranh Giải Cành cọ vàng của Liên hoan phim Cannes là hình ảnh một cậu bé gục đầu bên bộ xương cá voi trắng giữa bãi lầy mênh mông ven biển. Có lẽ những nhân vật của Leviathan cũng chính là những con cá voi khốn khổ ấy, những con cá voi bị mắc cạn nơi bãi lầy để rồi chết dần chết mòn trong tuyệt vọng mà không còn thấy lại biển lớn-cuộc đời thực sự nơi họ có thể sống, có thể vùng vẫy.

Việc Leviathan được Chính phủ Nga tài trợ kinh phí thực hiện và lựa chọn dự tranh Giải Oscar cho phim nói tiếng nước ngoài là một điều ngạc nhiên đối với nhiều nhà phê bình phương Tây. Bởi theo họ Leviathan chính là một thông điệp chỉ trích chua cay nhằm vào chính quyền của tổng thống Nga Putin và Giáo hội Chính thống giáo Nga. Cách nhìn đó cũng có thể là hợp lý khi người xem được chứng kiến cảnh gã thị trưởng Vadim ngồi chễm chệ giữa văn phòng, phía trên là bức chân dung của chính tổng tống Putin, chỉ đạo cả cảnh sát, công tố, và tòa án tìm mọi cách triệt hạ “kẻ bất trị” Kolya và Dmitri. Những khốn khổ trong đời Kolya, và những mảnh đời, những khung cảnh đổ nát xung quanh ông, bởi thế cũng chính là hậu quả của cái chính quyền hắc ám tìm mọi cách bóp nghẹt cuộc sống của họ, đúng như cái cách truyền thông phương Tây mô tả về xã hội Nga hiện nay dưới thời tổng thống Putin. Nhưng nếu như xóa đi bức ảnh của Putin, và thay những cái tên Nga, những giọng nói Nga bằng những cái tên, giọng nói của một xứ sở khác, thì có lẽ người xem vẫn cảm nhận được ở Leviathan cái dư vị cay đắng của những số phận bi kịch giữa thiên nhiên và lòng người lạnh lẽo. Cá nhân đơn độc chống lại cả bộ máy công quyền đồ sộ để giữ lại những gì thuộc về mình - đó có thể là bi kịch của Kolya, anh chàng người Nga với cái đầu nóng và trái tim dành hết cho vợ con, nhưng đó cũng có thể là bi kịch của Marvin Heemeyer, người thợ máy Mỹ cô độc đã dùng xe ủi phá nát cả trụ sở cảnh sát và chính quyền - những người ông ta cho là đã gây ra bất công cho mình trước khi tự kết liễu bản thân ở một thành phố nhỏ miền Tây Nam Hoa Kỳ. Theo lời đạo diễn Zvyagintsev, một cách nào đó Leviathan chính là bi kịch của Heemeyer được đặt trong bối cảnh nước Nga với những vấn đề xã hội rất riêng, để cho thấy rằng dù ở bất cứ nơi đâu, bất cứ thời đại nào thì cuộc sống bình thường cũng tràn ngập những số phận khổ đau cần được trân trọng.

Tại liên hoan phim Cannes 2014, Leviathan đã thất bại trước Winter Sleep của Thổ Nhĩ Kỳ trong cuộc đua giành Giải Cành cọ vàng. Đây là hai bộ phim hết sức khác nhau về bối cảnh và cách kể chuyện, một là câu chuyện trầm lắng và buồn bã trên xứ cao nguyên đồi núi Thổ Nhĩ Kỳ, một là bi kịch bạo liệt ở thành phố biển cực Bắc nước Nga. Tuy vậy, cả hai đều đã rất thành công trong việc khắc họa câu chuyện mang tính phổ quát về số phận của những con người nhỏ bé, bình thường trong xã hội với nỗi đau chung về sự cô đơn, về những mất mát tình cảm, niềm tin, và cả về những bất công thường nhật trong xã hội. Những bộ phim như thế có thể thiếu tính giải trí, có thể không đem lại cảm giác thoải mái sau khi xem, nhưng chắc chắn chúng sẽ làm khán giả thấy nhức nhối và thấu hiểu, bởi lẽ những số phận, những mảnh đời được khắc họa trên phia kia thực sự là những số phận, những mảnh đời chúng ta có thể bắt gặp ngoài đời. Xem để thấy đau đớn, xem để thấy cảm thông, xem để thấy cần phải có niềm tin hơn vào cuộc sống, dành nhiều tình cảm hơn cho những người thân yêu, có lẽ ngoài Leviathan, ít bộ phim nào có thể làm được.

mercredi 14 janvier 2015

The Wind That Shakes the Barley (2007)


Năm 2014 là một năm mà các bộ phim nổi bật hầu hết đều có tựa đề một chữ (Whiplash, Foxcatcher, Birdman, Selma, Nighcrawler,....) hoặc ngắn gọn khô khan (The Imitation Game, The Theory of Everything). Đâm tự dưng tôi lại thấy "thèm" những bộ phim có cái tựa dài, nhiều ẩn ý và mang nhiều chất thơ (nói cách khác là sến sẩm), có lẽ ảnh hưởng từ cái thời xem những Khi đàn sếu bay qua hay Bao giờ cho đến tháng Mười. The Wind That Shakes the Barley có lẽ là một trong những cái tựa hay nhất mà tôi được xem thời gian gần đây. Bộ phim đoạt giải Cành cọ vàng của Ken Loach này có cái tựa nên thơ cũng dễ hiểu vì đây chính là tựa đề bài hát dân gian cùng tên - Ngọn gió lay động bông lúa mạch. Bài thơ nói về cuộc chiến đấu của người Ireland giành lại độc lập cho hòn đảo này khỏi Vương quốc Anh. Hành quân trên những mảnh đất cằn cỗi của Ireland, thứ duy nhất những người lính nổi dậy mang theo ăn đường là lúa mạch. Bởi thế mà khi họ hy sinh, điều gần như chắc chắn xảy ra với tất cả những ai tham gia nổi loạn vì Vương quốc Anh có quân đội đông, hiện đại và tinh nhuệ hơn gấp nhiều lần, những bông lúa mạch ấy lại theo họ xuống đất, trong những nấm mồ tập thể, để rồi đến mùa lại nở thành những cây lúa mạch dại. Những bông lúa mạch mọc trên những nấm mồ ấy vừa đánh dấu nơi những người lính nổi dậy ngã xuống, vừa là biểu tượng cho tinh thần độc lập không bao giờ chết đi của người dân Ireland. Đó cũng chính là tinh thần của bài hát, và của bộ phim của Ken Loach. Nhưng bộ phim không chỉ dừng ở cái khí chất hào sảng của những bông lúa mạch ấy mà còn đi xa hơn rất nhiều và chạm tới những mâu thuẫn muôn đời của chiến tranh và của mảnh đất Ireland, những mâu thuẫn đã khiến cho không biết bao nhiêu người ngã xuống nhưng chưa bao giờ giúp mảnh đất này thực sự độc lập.

mercredi 31 décembre 2014

The Kingdom of Dreams and Madness (2013)






"The Kingdom of Dreams and Madness" là phim tài liệu của một nữ đạo diễn - Mami Sunada về Hayao Miyazaki và hãng Ghibli lấy bối cảnh là quá trình Miyazaki làm bộ phim hoạt hình cuối cùng của ông - "The Wind Rises". Phim được quay trong thời gian rất dài nhưng được biên tập rất tốt, hạn chế tối đa thuyết minh (voice-over) mà chủ yếu kể chuyện thông qua chính lời của Miyazaki và hình ảnh ông cần mẫn vẽ từng khung hình cho bộ phim mới. Điểm hay của phim là tuy nói về Miyazaki và về Ghibli nhưng phim gần như không dùng một trích đoạn hoạt hình nào, trừ một phân đoạn ngắn (và được làm tuyệt vời!) ở cuối phim để minh họa cho câu chuyện của Miyazaki, dù thế nhưng người xem vẫn cảm nhận được vì đâu mà phim của Miyazaki có được cái nét riêng biệt, vì sao phim của ông có được những hình ảnh tưởng tượng bay bổng nhưng luôn kèm theo những câu chuyện hết sức gần gũi, thực tế và nhân văn như vậy. Xem xong phim tôi thấy có một số điểm đáng chú ý là:
- Miyazaki thực sự là người ham công tiếc việc, ông tự tay vẽ toàn bộ storyboard cho phim và vẽ luôn cả những cảnh chính của phim. Có lẽ vì thế mà ông muốn dừng lại hẳn sau "The Wind Rises" vì mỗi một bộ phim là một lần ông hao tổn sức lực, và niềm hứng thú làm phim - mặc dù ông là người sống giản dị, cực kì chăm chút cho sức khỏe bản thân. 
- Miyazaki không "đáng yêu" như các nhân vật hoạt hình của ông. Ông nghiêm khắc với bản thân và với những người xung quanh, họa sĩ làm việc cho Ghibli thường rơi vào trạng thái kính trọng tài năng của Miyazaki nhưng cũng "sợ" ông vì Miyazaki có đòi hỏi rất cao, và người càng giỏi thì ông lại càng có yêu cầu cao. Kể cả những nhân viên cũ của ông nay đã thành danh như Hideaki Anno (đạo diễn "Neon Genesis Evangelion" và là người lồng tiếng cho vai nam chính của "The Wind Rises") khi gặp lại "sếp" cũ cũng vẫn sợ Miyazaki như sợ cọp.
- Dù là bậc đàn anh của Miyazaki và là đồng sáng lập hãng Ghibli nhưng Takahata luôn khiến Miyazaki và Toshio Suzuki (nhà sản xuất chính của Ghibli) phải vò đầu bứt tai vì phong cách làm phim chậm rãi của ông. Chẳng ai có thể biết bao giờ Takahata sẽ hoàn thành phim của mình, và thậm chí là ông có muốn hoàn thành nó không nữa. Bộ phim cuối cùng của Takahata - "The Tale of the Princess Kaguya" được ông làm ròng rã suốt 7 năm trời từ 2006 đến tận 2013 mới công chiếu, trong thời gian đó Yoshiaki Nishimura, nhà sản xuất chính của phim, đã kịp lấy vợ và có hai đứa con, đứa đầu đã kịp đi học tiểu học. Sự khác biệt giữa Takahata và Miyazaki lớn tới mức hai người có thể được coi là hai nửa đối nghịch sáng-tối, hiện đại-truyền thống, nhanh-chậm của Ghibli, quan hệ giữa hai người vì thế cũng mang cả hai màu yêu-ghét (love-hate) - ngày nào Miyazaki cũng phải nhắc đến Paku-san (cách cả hãng Ghibli kính trọng gọi Takahata), nhưng cứ hôm trước khen hết lời Takahata thì hôm sau thể nào Miyazaki cũng lại phải kêu ca về sự "lề mề" của người đạo diễn thân thiết.


mardi 16 décembre 2014

Nhất cá nhân đích võ lâm (2014)


Bản thân Nhất cá nhân đích võ lâm (Kung Fu Jungle) thì không có gì đáng nói vì phim có kịch bản rời rạc, diễn xuất dưới mức trung bình (trừ Vương Bảo Cường, một diễn viên "thực lực" vào loại hàng đầu của điện ảnh Trung Quốc hiện nay), các pha giao đấu không có gì mới mẻ nếu như so với Sát phá lang của chính Chân Tử Đan (dù Hồng Kim Bảo cũng có mặt trong phim đó nhưng Chân mới là chỉ đạo hành động) cách đây gần 10 năm (2005), thậm chí là còn tệ hơn vì công đoạn dựng phim dùng quá nhiều jump cut làm cảnh quay trở nên rối một cách không cần thiết (nói là không cần thiết vì Chân Tử Đan là võ sư thứ thật và các pha hành động của anh hoàn toàn không đáng bị "làm màu" bằng jump cut như vậy). Khi mới xem trailer của phim tôi đã hy vọng phim sẽ là một tác phẩm pha trộn phong cách hành động "kiểu MMA" như Sát phá lang với nội dung điều tra phá án "kiểu" Võ hiệp (hai phim nổi bật của Chân Tử Đan trong tầm mười năm trở lại đây, bên cạnh loạt phim Diệp Vấn), nhưng hóa ra phim chỉ ở tầm dưới mức trung bình như Đạo hỏa tuyến (Flash Point - một phim đáng quên của Chân Tử Đan theo kiểu "ăn theo" SPL). Chi tiết hấp dẫn nhất của phim (theo tôi) chỉ là những khoảnh khắc khi tôi được thấy những gương mặt, bộ phim huyền thoại như Khương Đại Vệ, Túy quyền, Thất kiếm xuất hiện chớp nhoáng trên màn hình. Tất cả các chi tiết nhỏ này hóa ra lại được tổng hợp thành phần xuất sắc nhất của phim ... nằm ở ending credits với sự xuất hiện của một loạt tên tuổi của làng điện ảnh Hồng Kông với nhiều tên tuổi gạo cội (một số tên tuổi "ít" gạo cội hơn thì lại rất quen thuộc với những ai hay xem phim của Chân Tử Đan) và kết thúc ấn tượng với khuôn mặt của "bố già" điện ảnh Hồng Kông là Trâu Văn Hoài (người sáng lập hãng phim Gia Hòa). Thực ra ngay nội dung của phim cũng cho thấy sự trân trọng của những người làm phim đối với dòng phim kiếm hiệp với việc đặt những triết lý võ lâm vào bối cảnh hiện đại (Đả lôi đài-Gallants từng thực hiện rất thành công ý tưởng này), tuy nhiên kịch bản phim khá dở cùng diễn xuất tồi của dàn diễn viên (tất nhiên không thể hy vọng gì nhiều vào Chân Tử Đan ở mặt này, nhưng một đạo diễn tốt hoàn toàn có khả năng khỏa lấp điểm yếu của các diễn viên bằng cách quay, dựng, tạo hình nhân vật - như cách Trần Khả Tân đã làm với Võ Hiệp) nên thông điệp đẹp của bộ phim đã không được bộc lộ một cách đầy đủ nhất.

Tất nhiên không có câu hỏi nào là ... google không thể trả lời, kể cả danh sách những khuôn mặt xuất hiện trong đoạn ending credit. Dưới đây là link youtube và danh sách ấy.

http://www.youtube.com/watch?v=mysnipV36IE


- Áp phích phim Đường Sơn đại huynh-The Big Boss của Lý Tiểu Long
- Lưu Vỹ Cường (đạo diễn Vô gián đạo)
- Trâu Liên Hữu (trợ lý quay phim Diệp Vấn 2-Ip Man 2, Dương Gia Tướng-Saving General Yang)
- Từ Tiểu Minh (CEO hãng Anh Hoàng, nhà sản xuất của Twins MissionCân tung - Eyes in the Sky)
- Trịnh Bảo Thụy (đạo diễn Dog Bite Dog, Shamo)
- Lâm Châu (gaffer)
- Quách Tử Kiện (đạo diễn Đả lôi đài-Gallants)
- Ngô Tư Viễn (nhà sản xuất của Hoàng Phi Hồng IV/V-Once upon a Time in China)
- Chương Quốc Minh (đạo diễn Man on the Brink)
- Dương Tinh Tinh (diễn viên, trợ lý chỉ đạo hành động cho Bạch phát ma nữ truyện-The Bride with White Hair, Tân Lộc Đỉnh Ký-Royal Tramp)
- La Lễ Hiền (chỉ đạo hành động của Liệt hỏa chiến xa-Full Throttle)
- Generic có tên Lâm Siêu Hiền (đạo diễn Dã thú hình cảnh-Beast Cops Kích chiến-Unbeatable)
- Ngô Lý Lộ (phục trang cho các phim của Trần Khả Tân như Kim chi ngọc diệp-He's a Woman, She's a Man)
- Trương Đồng Tổ (đạo diễn Phì long công phu tinh-The Incredible Kung Fu Master của Hồng Kim Bảo)
- Áp phích phim Tân Thục Sơn kiếm hiệp-Zu Warriors from the Magic Mountain của Từ Khắc
- Khương Đại Vệ (có lẽ không cần chú thích)
- Túy quyền-The Drunken Master với Thành Long và huyền thoại Viên Tiểu Điền (cha của Viên Hòa Bình)
- Mạch Quốc Cường (chỉ đạo nghệ thuật cho Diệp Vấn 1/2)
- Thích Diên Năng (Tuyệt đỉnh công phu-Kung Fu Hustle, Diệp Vấn)
- Phàn Thiếu Hoàng (Lực vương-Riki-Oh: The Story of Ricky, Diệp Vấn 1/2)
- Dụ Kháng (Băng phong hiệp-Iceman)
- Quách Văn Kì (trợ lý đạo diễn cho Thập nguyệt vây thành-Bodyguards and Assassins)
- Hoàng Phong Cường (đạo diễn Tổ trọng án-Crime Story)
- Kim Bồi Đạt (soạn nhạc cho các phim của Trần Khả Tân như Đầu danh trạng-The Warlords, Võ Hiệp-Wu Xia, 8 lần giành Giải thưởng điện ảnh Hồng Kông cho nhạc phim)
- Mạnh Hải (diễn viên, chỉ đạo hành động cho Tân Thục Sơn kiếm hiệp, Hoàng gia sư tỉ-Yes, Madam)
- Trương Văn Bảo (quay phim cho Thiến nữ u hồn-A Chinese Ghost Story, Nguyễn Linh Ngọc-Centre Stage)
- Hoàng Vĩnh Hằng (quay phim cho các phim của Từ Khắc như Đao mã đán-Peking Opera Blue)
- Dương Phán Phán (Túy quyền)
- Áp phích Độc thủ đại hiệp-One Armed-Swordsman
- Viên Tường Nhân (Độc thủ đại hiệp, diễn viên, chỉ đạo hành động cho Hoàng Phi Hồng)
- Lý Đạt Siêu (chỉ đạo hành động cho Thập nguyệt vây thành)
- Trần Chí Đạo (hiệu quả hình ảnh cho Thiết thính phong vân III-Overhead 3)
- Lương Tiểu Hùng (diễn viên, chỉ đạo hành động của Song long hội-Twin Dragons)
- Bey Logan (diễn viên, chuyên gia về điện ảnh Hồng Kông)
- Tiền Vĩnh Lệ (âm thanh)
- Hoàng Vỹ Huy (chỉ đạo hành động cho Vô gián đạo III)
- Tăng Cảnh Tường (âm thanh cho Diệp Vấn)
- Mark Philip Garbario (hóa trang)
- Diêu Văn Cơ
- Chu Thục Tuệ (Thần tham-Mad Detective)
- Thất kiếm-Seven Swords với huyền thoại Lưu Gia Lương (đạo diễn Thiếu Lâm tam thập lục phòng-The 36th Chamber of Shaolin)
- Đổng Vĩ (huyền thoại chỉ đạo hành động, chỉ đạo hành động của Bản sắc anh hùng-A Better Tomorrow)
- Nguyên Bân (chỉ đạo hành động của Tân Long môn khách sạn-New Dragon Gate Inn, Tiếu ngạo giang hồ II: Đông Phương Bất Bại-Swordsman II)
- Huân Gia Trân (nhà sản xuất của Viva Erotica, Diệp Vấn: Chung cực nhất chiến-Ip Man: The Final Fight)
- Lâm Địch An (diễn viên, chỉ đạo hành động cho Người trong giang hồ-Young and Dangerous, Xích Bích-Red Cliff)
- Trần Hội Nghị (đạo diễn Crazy Safari, chỉ đạo hành động Tỉnh cảnh kỳ binh-Long Arm of the Law)
- Tư Đồ Tuệ Chức (biên kịch Thiến nữ u hồn III)
- Trần Thục Hiền (biên kịch Đào tả-A Simple Life)
- Lưu Hạo Lương (biên kịch Tam quốc chí: Kiến long tá giáp-Three Kingdoms: Resurrection of the Dragon)
- Chân Tử Đan
- Trâu Văn Hoài ("bố già" của điện ảnh Hồng Kông, người sáng lập hãng Gia Hòa-Golden Harvest, nhà sản xuất của Đường Sơn đại huynh)

dimanche 14 décembre 2014

The Tale of the Princess Kaguya (2013)






Đã mười bốn năm kể từ My Neighbours the Yamadas (1999) người hâm mộ mới lại được xem một phim mới của Isao Takahata - The Tale of the Princess Kaguya - dù không mong muốn chút nào nhưng tôi đoán đây có lẽ cũng sẽ là bộ phim cuối cùng trong sự nghiệp của Takahata, năm nay ông đã 79 tuổi, quá trình nhiều năm trời hao tổn tâm sức và tiền bạc (hình như đây là bộ phim tốn kém nhất của Ghibli, đắt gấp rưỡi The Wind Rises trong khi doanh thu chỉ chưa được một phần mười) có lẽ chẳng dành cho cái tuổi gần đất xa trời của ông. Xem phim tôi cũng hiểu thêm vì sao đây được đánh giá là một thất bại nặng nề về mặt tài chính của Ghibli tới mức hãng phải tính toán tới việc ngừng làm phim mới để tái cơ cấu - phim rất dài (gần hai tiếng rưỡi), (hình như) được vẽ chủ yếu bằng tay với phong cách thô mộc và tông màu sáp rất khó cho đồ họa vi tính (tôi nghĩ vậy), đề tài phim rất rất khó ăn khách vì bối cảnh truyền thống kiểu Nhật, kịch bản phức tạp, không nhiều chất giải trí (nhất là so với hai bộ phim giải trí gần đây nhất của Isao Takahata là Pom Poko My Neighbours the Yamadas) và gần như tuyệt đối không dành cho trẻ con ("khách hàng chính" của phim hoạt hình), ngoại trừ mươi phút đầu phim. Mười bốn năm công sức của Isao Takahata, cả tương lai kinh doanh của Ghibli, liệu có đáng không cho một The Tale of the Princess Kaguya?

Theo tôi là xứng đáng.

Ai đã từng đọc Doraemon thì chắc chắn đều thấy quen thuộc với Nàng tiên trong ống tre (Taketori monogatari), kịch bản The Tale of the Princess Kaguya của Takahata có thể coi là một chuyển thể điện ảnh gần như nguyên vẹn của truyện cổ tích này. Cô bé Kaguya sinh ra từ ống tre được đôi vợ chồng ông lão đốn tre nuôi nấng với hy vọng một ngày kia cô sẽ trở thành một công chúa thật sự, được sống cuộc đời hạnh phúc vương giả bên một vương tôn hoàng tử nào đó của triều đình. Nhưng Kaguya chẳng muốn những lồng vàng cũi ngọc ấy, cô bé sinh ra từ thiên nhiên, lớn lên giữa thiên nhiên, và cô chỉ muốn sống tự do, tự tại như sâu bọ muông thú trong rừng, sống cuộc sống giản dị, chất phác như những người bạn thơ ấu nghèo nhưng hồn nhiên, yêu đời của cô bé. Xuyên suốt bộ phim, người xem được chứng kiến một Kaguya lớn dần và đổi thay theo năm tháng, từ một Kaguya bé bỏng đáng yêu với những bước chập chững trong rừng tre tới những trò đuổi bắt con trẻ thời thơ ấu, tới một Kaguya trưởng thành, xinh xắn, nhưng chẳng còn có thể hồn nhiên khi phải đứng trước lựa chọn giữa trách nhiệm báo hiếu vợ chồng ông lão đốn tre và cuộc sống tự do với những người bạn chốn rừng cũ. Kịch bản truyền thống, cách kể chuyện cũng truyền thống, nhưng The Tale of the Princess Kaguya vẫn cho thấy một Isao Takahata bậc thầy của phong cách hiện thực huyền ảo. Nếu như "nửa kia" của Ghibli - Hayao Miyazaki nổi tiếng khắp thế giới như "thầy phù thủy" của nghệ thuật hoạt hình với trí tưởng tượng và sức sáng tạo tuyệt vời thì Isao Takahata lại gắn liền sự nghiệp của mình với việc mô tả đất nước Nhật Bản và con người Nhật Bản qua lăng kính thực tại huyền ảo. Nếu như Grave of the Fireflies là câu chuyện đau đớn nhưng đậm chất nhân văn của hai đứa bé Nhật tìm cách thoát ly thực tại giữa khói lửa chiến tranh, Pom Poko là hình ảnh một nước Nhật đổi thay và những hệ lụy của nó đối với truyền thống và môi trường thông qua cuộc sống của lũ "hồ li" (hay tanuki "thành tinh), thì The Tale of the Princess Kaguya là những suy nghĩ mang chất hiện sinh về cuộc sống được đặt trong bối cảnh một câu chuyện cổ tích truyền thống Nhật Bản. Tất nhiên có thể Isao Takahata cũng chẳng mưu cầu những thứ triết lý phức tạp như tôi đang cố "gán" cho các bộ phim của ông, có thể ông chỉ muốn đưa tới khán giả những lát cắt về con người, về cuộc sống Nhật một cách chân thực, nhân văn nhất (và mang màu sắc hài hước, khi có thể) như ông đã rất thành công với Only Yesterday My Neighbours the Yamadas (hay trước đó khá lâu là Jarinko Chie). Nhưng dù có suy nghĩ theo cách nào thì khi xem The Tale of the Princess Kaguya, khán giả chắc chắn sẽ cảm nhận được sự trân trọng của Isao Takahata dành cho chính họ thông qua những nét vẽ tuyệt vời về thiên nhiên và con người Nhật Bản, thông qua cách minh họa giản dị nhưng hết sức tinh tế những biến đổi và giằng xé nội tâm của Kaguya, thông qua những nốt nhạc đượm màu truyền thống và hết sức xúc động của Joe Hisaishi để miêu tả tình yêu tự do của Kaguya và nỗi đau của cô khi chẳng thể có được nó.

Tiếp xúc với phim Ghibli khi đã "lớn" nên nhiều lúc với tôi, phim của Isao Takahata với cái chất sáng tạo rất riêng và màu sắc hiện thực huyền ảo lại hấp dẫn hơn cả những bộ phim đậm chất sử thi của Hayao Miyazaki (tất nhiên "hơn" theo cái thang điểm 9,5 so với 10 mà thôi). Vì thế khi biết tin The Tale of the Princess Kaguya sắp được công chiếu tôi đã rất rất mong mình được ra tận rạp để xem bộ phim này để có được trải nghiệm như tôi đã có với The Wind Rises. Tiếc là chờ mãi phim không ra rạp ở Hàn Quốc, và cũng bặt tăm trên các trang torrent. Quả thực phim rất khó ăn khách, những phút đầu vui tươi của The Tale of the Princess Kaguya chẳng thể khỏa lấp một thực tế rằng phần đầu của phim dù tươi sáng nhưng lại không hấp dẫn và tạo được ra kịch tính (hoặc thể hiện "tiềm năng" tạo ra kịch tính) để lôi cuốn người xem tới nửa sau của bộ phim. Nhưng một khi đã chăm chú và in dấu trong đầu hình ảnh thay đổi từng ngày của Kaguya, người xem sẽ dần bị thu hút bởi những xung đột ngày càng lớn lên trong nội tâm Kaguya cũng như giữa cô đối với tình yêu thương con nhiều phần mù quáng của ông lão đốn tre và sự khao khát đầy toan tính của lũ vương giả cầu hôn. Như mọi bộ phim hay, những thời khắc tuyệt vời nhất của The Tale of the Princess Kaguya nằm ở những phút cuối của bộ phim, khi tình cảm giữa con người với con người, giữa Kaguya với những người thân yêu của cô, với cuộc sống, với thiên nhiên xung quanh cô thể hiện rõ nét hơn bao giờ hết. Tuy kết thúc bằng những hình ảnh hết sức huyền ảo nhưng phần cuối của The Tale of the Princess Kaguya lại gợi tôi nhớ tới Only Yesterday - bộ phim có lẽ là giản dị và chân thành nhất của Isao Takahata với cái triết lý cũng giản dị không kém - những con người, thứ đáng trân trọng nhất, đáng yêu quý nhất chính là những con người, những tình cảm luôn ở bên ta, luôn sẵn sàng đến với ta bất kể không gian, thời gian. Tất nhiên, The Tale of the Princess Kaguya cũng sẽ còn được nhớ tới bởi phong cách vẽ và màu sắc giản dị nhưng hết sức ấn tượng và lôi cuốn - thoạt đầu tôi tưởng phim sẽ được vẽ theo phong cách tối giản kể cả về màu sắc và chi tiết như My Neighbours the Yamadas, nhưng hóa ra đây lại là một bộ phim rộng lớn, đa sắc và ấn tượng hơn rất nhiều về mặt hình ảnh, bởi cái không gian rộng lớn của thiên nhiên Nhật Bản (My Neighbours the Yamadas có bối cảnh giới hạn trong gia đình và thành phố hiện đại) đã được Takahata minh họa tuyệt vời qua tông màu không quá rực rỡ nhưng rất ấm áp và những nét vẽ không quá đi sâu vào chi tiết nhưng vẫn đủ độ khơi gợi để người xem cảm nhận được về hình ảnh nhân vật, về vẻ đẹp thiên nhiên mà đạo diễn muốn truyền tải. Cũng cần nói thêm là tôi nói đây là một bộ phim giản dị không có nghĩa nó là một tác phẩm nghệ thuật đơn giản, ngược lại phong cách vẽ của The Tale of the Princess Kaguya là hết sức tinh tế và phim cũng được dựng hết sức sáng tạo, một ví dụ điển hình là cảnh cô bé Kaguya chạy một mạch từ cung điện về lại ngôi nhà xưa cũ, mỗi một bước chạy của cô bé người ta thấy cảnh vật cũng nhạt nhòa dần tới mức trừu tượng như trannh của J.M.W. Turner. 

Thật khó để nói một The Tale of the Princess Kaguya giản dị có phải là bộ phim hoàn hảo "năm sao" hay là khúc vĩ thanh cuối đời của Isao Takahata hay không, nhưng cũng như cảm xúc đã có khi xem The Wind Rises, tôi thấy trân trọng và may mắn khi được xem bộ phim này. Trân trọng vì xem phim mà như thấy lại được bao nhiêu hình ảnh xúc động, đáng nhớ của những bộ phim Isao Takahata mà tôi đã từng được xem, may mắn vì thấy mình cảm được bộ phim, thấm được chút gì đó cái thông điệp nhân văn mà Takahata muốn truyền tải. Thật kì lạ, Hayao Miyazaki với The Wind Rises, và giờ đây là Isao Takahata với The Tale of the Princess Kaguya, dường như cả hai đều muốn chia tay những khán giả hết mực yêu quý họ suốt bao nhiêu năm cùng với một thông điệp hết sức đơn giản - dù nó ẩn chứa vô vàn thời khắc khó khăn và bất hạnh, hãy vẫn cứ yêu cuộc sống hết mức khi bạn còn có thể. Xin cảm ơn ông, Isao Takahata, vì The Tale of the Princess Kaguya, và vì tất cả.