some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

mardi 17 novembre 2015

Macbeth (2015)









Được mệnh danh là một trong những vở kịch u buồn nhất của Shakespeare, và là vở bi kịch ngắn nhất của ông, Macbeth cũng là một trong những tác phẩm được chuyển thể thành phim điện ảnh nhiều nhất của tác gia người Anh. Liệu một tác phẩm đã có trên 400 năm tuổi, được đưa vào sách giáo khoa của nhiều quốc gia, được đưa lên màn ảnh lớn tới mười một lần, còn có thể đem lại sự mới mẻ, hứng thú cho khán giả? Có lẽ đó là câu hỏi chung của người yêu phim năm nay khi biết tin đạo diễn người Úc Justin Kurzel sẽ một lần nữa đem bi kịch của Macbeth lên phim, lần thứ mười hai.

Với những ai yêu thích các vở kịch của Shakespeare thì chắc chắn chuyển thể Macbeth này của Justin Kurzel sẽ làm họ hài lòng bởi bộ phim giữ gần như nguyên vẹn cốt truyện, những câu thoại và chi tiết đầy bi tráng của vở kịch gốc. Vẫn còn đó là câu truyện về sự sa ngã của Macbeth (Michael Fassbender) – vị chỉ huy dũng cảm trên chiến trường nhưng lại không thể thoát khỏi cám dỗ của lòng tham, của sự kiêu hãnh, của những lời khiêu khích của Phu nhân Macbeth (Marion Cotillard) để rồi rơi vào vòng xoáy không lối thoát của tội ác và sự trừng phạt. Vẫn còn đó là sự đối lập thiện-ác giữa một bên là toan tính, mưu mô, tội ác của vợ chồng Macbeth mù mắt bởi quyền lực, bởi những lời tiên tri đầy ma mị của Ba mụ phù thuỷ, với bên kia là sự chính trực, kiên cường không khoan nhượng trước cái ác của cha con Banquo (Paddy Cosidine), của gia đình Macduff (Sean Harris). Trung thành với chất sử thi của Shakespeare, chuyển thể điện ảnh mới nhất này của Macbeth thực sự đã làm toát lên được cái bi thương của câu truyện về Macbeth, cũng như chất hùng tráng của con người, tính cách Scotland. Xem xong phim, hẳn nhiều khán giả sẽ không thể quên những giờ phút cuối cùng trong mộng mị, ảo ảnh của Phu nhân Macbeth, hay ánh mắt buồn thăm thẳm của Macbeth khi cất lên những lời ai oán tuyệt vọng “Ngày-mai, và ngày-mai, và ngày-mai…”.

Tuy nhiên với những người mới lần đầu được tiếp xúc với Macbeth, chưa từng đọc hoặc xem vở kịch gốc thì những câu thoại đẹp đầy chất sử thi, nhưng thường rất dài, văn hoa và có chút gì đó thậm xưng theo đúng chất kịch nói có lẽ sẽ khiến họ khó lòng có thể cảm nhận được hết số phận, suy nghĩ của các nhân vật mà Shakespeare đã dày công tạo dựng. Với những khán giả như vậy, đạo diễn Justin Kurzel và nhà quay phim Adam Arkapaw lại dành cho họ một món quà đáng giá và dễ dàng cảm thụ khác – phần hình ảnh tuyệt đẹp, vừa truyền cảm, vừa hùng tráng của Macbeth. Từng nổi danh với những tác phẩm điện ảnh, truyền hình có phần hình ảnh và tông màu hết sức khác biệt như Animal Kingdom (2010) hay True Detective Mùa 1 (2014), nhưng Macbeth đã đưa nhà quay phim Arkapaw lên một tầm cao mới. Chất kịch đậm đặc của Macbeth được thể hiện rất rõ qua các cảnh quay tĩnh, sử dụng ánh sáng tự nhiên, vốn chiếm phần lớn thời lượng của phim. Tuy nhiên, việc thay đổi khung hình nhịp nhàng từ những thước phim thoáng, rộng lấy bối cảnh thiên nhiên choáng ngợp, đẹp đẽ của Scotland sang những bối cảnh tăm tối, chỉ có những bóng hình mờ ảo được tạo nên bởi ánh lửa, ánh nến đã giúp khán giả theo được mạch cảm xúc của phim (vốn có phần thoại dễ gây cảm giác vụn, rời kiểu sân khấu). Và nếu như những câu thoại đầy chất kịch của Macbeth không khiến một vài khán giả cảm thấy hào hứng, chắc chắn họ vẫn sẽ bị lôi cuốn bởi cách sử dụng màu sắc và góc máy rất riêng của Macbeth. Có thể khẳng định mỗi một khung hình của Macbeth là một bức tranh tuyệt đẹp, với tông màu đơn sắc được đẩy lên tới mức bão hoà để làm nổi bật không khí của cảnh quay và những suy nghĩ, tâm thế của các nhân vật. Gam màu đen của những mưu mô, toan tính, gam màu đỏ của bạo lực, chết chóc, gam màu nâu lạnh của bi kịch, của tuyệt vọng, Macbeth thực sự là một bản giao hưởng tuyệt vời của những màu sắc-biết kể chuyện. Và nhắc tới Macbeth, người ta không thể không kể tới các cảnh chiến trận. Có lẽ từ bộ phim 300 của đạo diễn Zack Snyder năm 2007 đến giờ khán giả mới lại được xem những cảnh quay chiến trận xuất sắc đến như vậy trong Macbeth. Nhưng nếu 300 đôi khi bị chê vì chỉ chú trọng cách thể hiện các cảnh quay chiến trận thay vì nội dung, ý nghĩa của những hình ảnh bạo lực ấy, thì khó ai có thể chê Macbeth bằng những nhận xét như vậy. Bởi lẽ mỗi cú bấm máy của Macbeth đều mang nặng cảm xúc, tâm tư của những nhân vật với những bi kịch riêng. Và liệu có bi kịch nào lớn hơn bi kịch của những người phải cuốn chặt vũ khí vào tay để giành giật lấy mạng sống của nhau trong chiến trận - nơi tình người, lòng thương không tồn tại? Những người lính lấm lem bùn đất nhưng sáng loà trên chiến trường. Một Macbeth-thủ lĩnh-người sống sót đứng hiên ngang, nhưng cô độc giữa sa trường với đằng sau là những bóng ma của đồng đội. Tiếng nhạc lúc dồn dập theo nhịp tấn công, lúc trầm buồn khi lướt qua những cái xác không hồn của những đứa trẻ-người lính. Tất cả những yếu tố đó đã giúp phần hình ảnh đầy chất bi kịch, sử thi của Macbeth phần nào sánh ngang được với vẻ đẹp trường tồn của những câu thoại hơn 400 năm tuổi của Shakespeare.

Tất nhiên một chuyển thể điện ảnh của Macbeth không thể hay nếu không có một Macbeth và một Phu nhân Macbeth xuất sắc. Ở đây, một lần nữa đạo diễn Kurzel lại cho thấy quyết định đúng đắn của ông khi giao hai vai cực kì quan trọng này cho Michael Fassbender và Marion Cotillard. Fassbender dường như sinh ra là để vào vai Macbeth. Vóc dáng cao lớn, cái thần trong ánh mắt, giọng nói, cử chỉ giúp anh dễ dàng thể hiện một Macbeth thủ lĩnh, một Macbeth quả cảm trên chiến trường. Nhưng ẩn sau cái mạnh mẽ ấy, Fassbender còn khiến người xem cảm nhận được một tâm hồn kiêu hãnh, một tâm hồn dễ bị tổn thương của Macbeth – điểm yếu đã đẩy Macbeth xuống vực thẳm số phận. Xuất sắc không kém Fassbender là Marion Cotillard đang ở độ chín của cả nhan sắc và sự nghiệp. Vẻ đẹp bí ẩn của Cotillard tỏ ra vô cùng thích hợp với Phu nhân Macbeth, người nhóm ngọn lửa tham lam trong lòng Macbeth bằng bó củi của sự quyến rũ và những lời thủ thỉ sắc nhọn. Nhưng thậm chí còn lấn át cả vẻ đẹp của chính Cotillard là tài năng diễn xuất của cô – tài năng đã giúp Cotillard thể hiện xuất sắc cái cách lòng tham đã huỷ hoại con người Phu nhân Macbeth, đẩy bà tới chỗ điên loạn. Diễn xuất đa diện của Cotillard trong bộ phim này có lẽ sẽ khiến khán giả nhớ tới vai nữ ca sĩ tài hoa bạc mệnh Edith Piaf – vai diễn đã đem lại cho cô giải Oscar nữ diễn viên xuất sắc nhất năm 2008 trong phim La Vie En Rose. Đồng điệu với Fassbender và Cotillard là dàn diễn viên phụ diễn tròn vai, tuy không nổi bật vì thiếu đất diễn, và một diễn viên không thoại – thiên nhiên Scotland. Nói không ngoa thì nếu như Lord of the Rings đã đem vẻ đẹp hùng vĩ của New Zealand đến với thế giới, thì Macbeth cũng đã thành công khi khiến khán giả phải kinh ngạc trước thiên nhiên bao la, bí ẩn trong cái lạnh tê người phương Bắc của đất nước Scotland xa xôi, khiến khán giả chợt nhận ra rằng Scotland không chỉ có những bi kịch như bi kịch của Macbeth, đất nước ấy còn có những cao nguyên rộng lớn, những rặng núi trùng điệp tuyết phủ, những mặt hồ trơ trọi giữa cái hùng vĩ của trời đất.

Một trong những tác phẩm điện ảnh được trông đợi nhiều nhất, đặc biệt là với những người hâm mộ trò chơi điện tử, trong dịp Giáng Sinh 2016 là bộ phim Assassin’s Creed, vốn được xây dựng dựa trên loạt trò chơi điện tử cùng tên của hãng Ubisoft. Với trên 70 triệu bản đã được tiêu thụ từ năm 2007, Assassin’s Creed được coi là một trong những loạt trò chơi ăn khách nhất trong thế kỷ mới. Do vậy chuyển thể điện ảnh của loạt trò chơi này cũng thu hút sự quan tâm rất lớn từ công chúng, những người đã phải chờ đợi rất lâu một chuyển thể điện ảnh có chất lượng tương đương các trò chơi điện tử gốc. Rất có thể Assassin’s Creed sẽ không làm họ thất vọng, bởi đây chính là sự tái ngộ của đạo diễn Justin Kurzel, đội ngũ sản xuất của Macbeth với bộ đôi Fassbender-Cotillard. Sẽ là rất khó, nếu không nói là không thể, để kịch bản Assassin’s Creed có được chất sử thi như Macbeth. Nhưng chỉ cần bộ phim này giữ được cái không khí và phong cách riêng của Macbeth, chắc chắn khán giả sẽ được thưởng thức một bộ phim hấp dẫn về tội ác và sự trừng phạt. Tất nhiên, dù thích hay không Assassin’s Creed thì khán giả cũng luôn có thể tự tin rằng họ đã có Macbeth. Bởi những bộ phim đẹp, đẹp cả về nội dung và hình thức, như Macbeth không có nhiều, và những bộ phim ấy xứng đáng được xem nhiều hơn một lần để thưởng thức, để suy ngẫm.

dimanche 1 novembre 2015

Black Mass (2015)




Trong suốt thập niên 2000, khi nhắc tới Danh sách 10 tội phạm bị truy nã gắt gao nhất của Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI), người ta thường nghĩ ngay tới Osama Bin Laden – kẻ chủ mưu vụ Khủng bố 11 tháng 9 nhằm vào nước Mỹ. Bin Laden được đưa vào danh sách này năm 1999 và bị xóa tên năm 2011 khi gã bị đặc nhiệm Mỹ tiêu diệt tại Pakistan sau một chiến dịch dài hơi thu hút sự chú ý của Thế giới. Cùng được đưa vào danh sách trên của FBI năm 1999 như Bin Laden trước khi bị xóa tên, lại một sự trùng hợp khác, vào năm 2011 khi bị FBI bắt ở tuổi 81 là Jimmy “Whitey” Bulger. Không gây ra những vụ khủng bố khiến hàng nghìn người thiệt mạng, nhưng tay trùm băng đảng Bulger cũng khiến cả nước Mỹ phải rùng mình với danh sách tội ác dài dằng dặc, từ chủ mưu giết hàng chục người, tới buôn ma tuý, trộm cướp, và thậm chí là cả cung cấp vũ khí cho phong trào đòi ly khai ở Bắc Ireland. Tính cách tàn bạo của Bulger và lý do tại sao FBI lại dung túng cho gã hoành hành ở Boston suốt hơn hai mươi năm chính là nội dung của bộ phim tiểu sử Black Mass, tác phẩm mới nhất của đạo diễn Scott Cooper.

“Black Mass” hay “Lễ đen” là một khái niệm dùng để chỉ các buổi lễ phản Thánh của những người thờ quỷ Satan. Và quả thực hình ảnh của Bulger (Johnny Depp) được khắc hoạ trong phim cũng có thể coi là hiện thân của một con quỷ dữ giữa đời thực. Tất nhiên vẫn có những khoảnh khắc hiếm hoi khán giả được thấy bộ mặt nhân tính của “Whitey” khi gã lặng ngắm đứa con trai yêu quý say ngủ, hay khi “Whitey” cố gượng cơn buồn ngủ để ngồi chơi bài với bà mẹ già. Nhưng phần lớn thời lượng của Black Mass được dành cho những nhát xẻng Bulger đào cho nấm mồ của chính gã, với những tội ác nối tiếp tội ác, án mạng nối tiếp án mạng. Lạnh lùng, tàn bạo, những cũng hết sức lọc lõi, quỷ quyệt, mọi hành động của Bulger đều xuất phát từ lòng tham không đáy đối với tiền bạc và quyền lực, và từ bản tính đa nghi của một gã “bố già” sẵn sàng xuống tay mọi lúc, mọi nơi để bịt mọi đầu mối có thể khiến gã phải đối diện với công lý. 

Ca tụng Satan trong những buổi “Lễ đen” là những người thờ phụng quỷ dữ, và trợ giúp Bulger xây nên đế chế tội ác ở Boston là đám đàn em mang trong mình dòng máu lạnh sát thủ. Rất nhiều trong số đó sinh ra, lớn lên cùng “Whitey” ở khu phố nghèo phía Nam Boston, bởi thế chúng đặt tình huynh đệ lên hàng đầu và sẵn sàng tuân lệnh “Whitey” một cách vô điều kiện, chúng sẵn sàng trừng phạt bất cứ ai khiến “Whitey” gai mắt, kể cả những người thân thiết. Hơn tất cả, chính cái nghĩa khí huynh đệ mù quáng này đã biến Boston trở thành vương quốc tội ác của riêng Bulger, khi mà người đứng đầu chính quyền Boston lại chính là Billy Bulger (Benedict Cumberbatch) – em ruột của “Whitey”, còn đặc vụ FBI phụ trách ngăn chặn các hoạt động tội ác ở đây là John Connolly (Joel Edgerton) – bạn thiếu thời của gã. Nếu như Billy – một tay chính trị gia lọc lõi, đủ khôn ngoan để nhắm mắt làm ngơ trước những hoạt động của anh trai nhưng không trực tiếp nhúng tay vào giúp gã, thì Connolly lại mù quáng tới mức trao cả Boston cho “Whitey”, sẵn sàng tiết lộ cho “người bạn thủa thơ ấu” tên tuổi những người chỉ điểm cho FBI về các hoạt động  tội ác của băng “Whitey” chỉ để đổi lấy niềm tin rằng “Whitey” sẽ giúp FBI diệt trừ nạn mafia gốc Ý ở đây. Bởi thế, khi xem Black Mass, khán giả có cảm giác “Whitey” là bóng đen phủ bóng cả bộ phim, còn chính những con chiên thờ quỷ như Connolly mới chính là những tiêu điểm của câu chuyện – những kẻ lữ hành trên con đường diệt vong để đối lấy niềm tin mù quáng vào con quỷ “Whitey” Bulger.

Black Mass không phải là thử nghiệm đầu tiên của Hollywood trong việc đưa Bulger lên màn ảnh lớn. Khán giả có thể phần nào thấy được hình ảnh gã “Bố già Boston” điên khùng, tàn bạo với cái đầu hói qua vai diễn của Jack Nicholson trong bộ phim đoạt giải Oscar “The Departed” của đạo diễn Martin Scorsese –vai diễn được xây dựng một phần dựa trên cuộc đời tội phạm của “Whitey” Bulger. Tuy nhiên Black Mass là bộ phim dạng tiểu sử đầu tiên tập trung mô tả những sự kiện xoay quanh cuộc đời tội ác của Bulger khi mà sự kiện gã bị FBI bắt sau hàng chục năm chạy trốn vẫn còn nóng hổi. Bởi thế Johnny Depp, người được lựa chọn cho vai “Whitey” Bulger trước cả khi Scott Cooper ngồi vào ghế đạo diễn bộ phim, trở thành tâm điểm chú ý của dư luận, một phần vì độ nổi bật của cái tên Bulger, và một phần quan trọng vì đã lâu Depp chưa có vai diễn nào thực sự thành công. Từng là ngôi sao tài năng và hút khách bậc nhất Hollywood, suốt gần mười năm qua Depp bị đóng khung với các vai diễn lập dị hơi có chút điên khùng, đặc biệt là trong các bộ phim của đạo diễn “ruột” của anh là Tim Burton, vốn dần bị đánh giá là nhàm chán và thiếu sáng tạo. Ngay đối với những nhân vật mang màu sắc nghiêm túc hơn như trong Transcendence, vai diễn của Johnny Depp cũng không được đánh giá cao, thậm chí còn bị coi là “thuốc độc phòng vé”. Nhưng với Black Mass, Depp đã đập tan mọi nghi ngờ về khả năng diễn xuất chưa bao giờ mất của anh với một Bulger quỷ dữ cả về ngoại hình và hành động, mà chỉ sự xuất hiện của gã trên khung hình thôi cũng đủ khiến khán giả cảm thấy gai người. Tuy rằng kịch bản tương đối mỏng không cho phép Depp tạo nên một hình ảnh có chiều sâu về “Whitey”, diễn xuất nhập vai và tạo hình chân thực của anh (hình ảnh của Depp trong Black Mass gần như trùng khớp với những bức hình hiếm hoi về Bulger được giới thiệu ở cuối phim) ít nhất đã giúp khán giả hiểu được tại sao FBI lại xếp gã ngang hàng với Bin Laden trong danh sách truy nã. Kịch bản thiếu đất cho việc phát triển tính cách của nhân vật cũng khiến những người còn lại trong dàn diễn viên của Black Mass, với những cái tên nổi bật như Cumberbatch, Rory Cochrane (vai Stephen Flemmi, tay chân của “Whitey”), Dakota Johnson (vai Lindsey, vợ của ông trùm), hay Kevin Bacon (vai Charles McGuire, đặc vụ FBI), không có nhiều cơ hội tỏa sáng. Vai diễn đáng nhớ nhất trong phim, bên cạnh Bulger của Johnny Depp, có lẽ là nhân vật đặc vụ Connolly của Joel Edgerton. Sự mù quáng đến tột độ của Connolly trước những tội ác vô nhân tính của Bulger đã được Edgerton thể hiện hết sức thành công qua bề ngoài ngày một phù phiếm của viên đặc vụ, qua từng cử chỉ thân mật Connolly dành cho “Whitey”, và qua những lời bào chữa không tưởng của ông ta trước những tố cáo rõ ràng về hoạt động tội phạm của “người anh em” Bulger. 

Thiếu một kịch bản dày dặn có lẽ là điều đáng tiếc nhất của Black Mass, bởi một đạo diễn rất giỏi phim tiểu sử như Scott Cooper (người từng giúp diễn viên gạo cội Jeff Bridges có giải Oscar diễn xuất đầu tiên với Crazy Heart năm 2009) hoàn toàn đủ khả năng để biến những cuộc đời đầy ắp sự kiện của Bulger, của Connolly, trở thành một tác phẩm điện ảnh thực sự sống động. Black Mass gợi người xem nhớ tới những bộ phim tinh tuyền về các băng đảng tội phạm Mỹ của Martin Scorsese như Goodfellas hay Casino, với tình huynh đệ đi đôi với lừa lọc xảo trá, với rất nhiều bạo lực, với những nhân vật tự đào mồ chôn mình, và tất nhiên, với rất nhiều đối thoại và những phút “kể chuyện” của các nhân vật. Nhưng khác với những bộ phim của Scorsese, phần dựng phim của Black Mass khá rời rạc và thiếu cao trào. Do đó khán giả khó lòng tạo dựng được sự gắn bó với số phận của các nhân vật trên phim, có chăng chỉ là chút cảm xúc với những giây phút hiếm hoi của tình người trên phim. Tuy vậy, những cảm xúc đó quá ngắn ngủi để khán giả có thể lưu lại sau khi xem xong phim, bất kể sự trợ giúp của phần nhạc phim hết sức xuất sắc của Junkie XL.
Một bộ phim chưa thực sự “tới” về chân dung của gã tội phạm khét tiếng như Bulger, Black Mass dù sao cũng là một tác phẩm hấp dẫn của dòng phim tội ác, đặc biệt là với những khán giả chưa từng nghe tới cái tên “Whitey” Bulger. Ít nhất là với bộ phim này, những người yêu phim cũng đã có thể hy vọng rằng Johnny Depp vẫn còn nguyên khả năng và tình yêu diễn xuất. Depp, xin chào mừng anh trở lại.


jeudi 29 octobre 2015

Youth (2015)




“...Tôi muốn kể lại những khát khao của các ông, khát khao của tôi, những khát khao quá đỗi thuần khiết, những khát khao quá đỗi bất khả, những khát khao trái lẽ thông thường, nhưng có hề gì khi chính những khát khao ấy giúp chúng ta sống một cách thực sự.”

Ngôi sao điện ảnh trẻ tuổi Jimmy Tree (Paul Dano) đã phải thốt lên như vậy với vị đạo diễn già Mick Boyle (Harvey Keitel) sau chuỗi ngày đằng đẵng theo dõi cuộc sống như ngừng lại của những “người già” như Boyle, như nhà soạn nhạc lừng lẫy Fred Ballinger (Michael Caine) ở khu nghỉ dưỡng đẹp đẽ nhưng buồn bã giữa núi non trùng điệp và lạnh lẽo của Thụy Sĩ. Đó là bối cảnh của bộ phim Youth (“Tuổi thanh xuân”), tác phẩm tiếp theo của Paolo Sorrentino trong chuỗi phim về buổi hoàng hôn của đời người – loạt phim đã đem lại cho Sorrentino rất nhiều giải thưởng danh giá như Giải của Ban giám khảo tại Liên hoan phim Cannes (cho Il Divo năm 2008) và Giải Oscar phim nói tiếng nước ngoài hay nhất (cho The Great Beauty năm 2013). 


Bộ đôi nhân vật chính của Youth – Boyle và Ballinger có rất nhiều điểm tương đồng. Đều có một sự nghiệp rất thành công, được người đời trọng vọng, kính nể, hai người bạn thân còn cùng ở vào cái tuổi xế chiều tràn ngập những suy tư, nuối tiếc về quá khứ. Nhưng thực tế thì hai người bạn vong niên Boyle và Ballinger lại là hai tính cách hết sức đối nghịch. Mang đúng cá tính nồng nhiệt của một đạo diễn Hollywood, Boyle luôn hào hứng tìm kiếm ý tưởng cho bộ phim mới của mình, luôn nhiệt thành và tin tưởng những người xung quanh (khi người bạn già Ballinger thắc mắc rằng tại sao ông lại luôn tin lời bạn bè đến thế, Boyle trả lời đơn giản rằng: “Nghề của tôi là sáng tạo ra cốt truyện cho phim, thế nên tôi phải tin tưởng vào mọi điều người ta nói, có thế tôi mới nghĩ ra thứ để kể được”). Ở thái cực ngược lại là một Ballinger “phớt Ăng lê” đúng nghĩa, người luôn nghi ngờ mọi thứ và sẵn sàng gạt phăng lời mời trình diễn của Nữ hoàng Anh vì đơn giản là ông ... không thích. Xung quanh họ, giữa khu nghỉ dưỡng hẻo lánh nơi thời gian tưởng như đã ngừng lại, còn là rất nhiều những nạn nhân khác của thời gian, của tuổi già, của gánh nặng tinh thần đến từ quá khứ. Khuôn mặt đáng nhớ nhất trong số ấy có lẽ là của ngôi sao bóng đá hết thời Roly Serrano (Roly Serrano). Thân hình béo tròn, những hơi thở gấp phải nhờ tới sự trợ giúp của máy thở, hình xăm Các Mác phủ kín lưng, và hơn cả là tình yêu chưa bao giờ tắt dành cho trái bóng và người hâm mộ, Serrano chính là hình bóng của Maradona, huyền thoại lớn và bi kịch lớn của bóng đá thế giới vì tài năng của ông, và vì những rắc rối ngoài đời của ông. Là một người con xứ Napoli (nơi Maradona mãi luôn ở trong tim người hâm mộ như một vị “Thánh bóng đá” – người đem lại cho mảnh đất này những giờ phút huy hoàng nhất), chắc chắn Paolo Sorrentino cũng coi Maradona là thần tượng, cũng cảm thấy đau lòng khi phải chứng kiến thần tượng của mình giờ chỉ còn là cái bóng của những hào quang quá khứ. Bi kịch của Serrano/Maradona cũng chính là bi kịch của Boyle, của Ballinger, của những người khách giữa đất nước Thụy Sĩ xa lạ. Đó là bi kịch của những con người vừa phải chiến đấu với bệnh tật, vừa phải chiến đấu với những ẩn ức trong tâm hồn chỉ trực bộc phát ở những thời điểm họ mềm yếu nhất. Youth chính là câu chuyện kể lại cuộc chiến của những “đấu sĩ” ấy, nơi có người vượt qua, có người phải nằm lại, nhưng tất cả đều chia sẻ khát vọng, sư trân trọng đối với tuổi trẻ - những năm tháng tuổi xuân đã qua của chính họ, và sức sống nồng cháy của những người trẻ xung quanh họ.


Là một đạo diễn rất yêu thích phong cách hiện thực huyền ảo và những cảnh quay đậm tính ẩn dụ, đề tài mang nhiều tính triết lý của Youth rõ ràng là mảnh đất màu mỡ để Paolo Sorrentino bung sức sáng tạo. Và quả thực mỗi khung hình của Youth đều có thể coi là một bức tranh tuyệt đẹp, theo những cách rất khác nhau. Một bức tranh phong cảnh rực rỡ theo chủ nghĩa tự nhiên về đất nước Thụy Sĩ hùng vĩ, một tác phẩm chỉ với hai gam màu đối nghịch của chủ nghĩa tối giản về không gian lắng đọng bên trong khu nghỉ dưỡng, một khung hình đầy chất biểu hiện về những cái bóng đang dần mờ đi theo tuổi tác của những vị khách trong khu nghỉ. Tất cả đã biến Youth thực sự trở thành một tác phẩm nghệ thuật khơi gợi cảm xúc, một tác phẩm chỉ bằng hình ảnh và âm nhạc đã khiến người xem xúc động vì họ được thấy những giá trị đẹp đẽ, nhân văn nhất của cuộc sống. Nhưng điểm khiến Youth thực sự thành công có lẽ là Sorrentino đã không quá sa đà vào việc làm một bộ phim “nghệ thuật” cho riêng ông. Giống như tác phẩm đầu tay và thành công nhất của Ballinger – một bản nhạc “đơn giản” nhưng dung dị, lôi cuốn, Youth có nhịp phim hết sức nhịp nhàng với những khoảng tĩnh lặng cần có xen giữa những giờ phút cao trào, với những câu chuyện đầy chất nhân văn được kết nối bằng những hình ảnh nhiều chất ẩn dụ. Theo tôi đây có lẽ là bộ phim dễ tiếp cận nhất của Paolo Sorrentino kể từ Il Divo năm 2008.


Thành công của Youth không thể không kể tới đóng góp của dàn diễn viên với Michael Caine, Harvey Keitel, Rachel Weisz, Paul Dano và nhiều tên tuổi khác. Rất nhiều lời khen đã được dành cho diễn xuất tinh tế, sâu sắc của Michael Caine, bậc thầy của làng diễn viên Anh trong vai “bậc thầy” (maestro) của âm nhạc Fred Ballinger. Ngay cả Jane Fonda trong một vai diễn rất nhỏ (Brenda Morel – “nàng thơ” của đạo diễn Mick Boyle) cũng để lại ấn tượng sâu sắc với những cung bậc cảm xúc đối nghịch, đau xót chỉ trong vài phút bà xuất hiện trên khung hình. Nhưng theo tôi Harvey Keitel mới là hiện thân thực sự của Youth. Đã rất lâu người xem mới lại được thấy Keitel có một vai diễn xứng đáng với tầm vóc và tài diễn xuất của ông. Và Keitel đã hết sức thành công trong việc truyền tải cả bề ngoài mạnh mẽ của một đạo diễn Hollywood, sự “ngây thơ” hết sức nghệ sĩ, và hơn hết là những góc khuất yếu mềm trong tâm hồn nhiều bi kịch của Mick Boyle. 


“Khi còn trẻ người ta nhìn đời qua đầu này của ống nhòm. Mọi thứ tưởng như đều trong tầm với. Đó là tương lai.

Khi về già người ta nhìn đời qua đầu kia của ống nhòm. Mọi thứ đều có cảm giác vô cùng xa xôi. Đó quá khứ”


Youth là một bộ phim đẹp về tuổi già, về những giá trị vững bền của quá khứ, của kí ức. Nhưng quan trọng hơn cả, bộ phim đem lại cho người xem một thông điệp đơn giản rằng chúng ta cần trân trọng tuổi trẻ, thứ chỉ đến một lần trong đời, thứ đem lại sức mạnh để ta có thể sáng tạo ra những sản phẩm để đời, hoặc đơn giản là để ta có thể yêu, có thể sống. 

samedi 29 août 2015

Boogie Nights (1997) ... or "Porn vs. Cinema"



Hôm nay đọc trên Reddit thấy có thảo luận "Could a porn movie ever crossover and be considered a piece of artwork an seen as a legit film?" làm tôi nghĩ ngay tới Boogie Nights, một trong những bộ phim hay và cảm động nhất tôi từng xem. Việc "phân tích" hay "phê bình" bộ phim này ở thời điểm hiện tại có lẽ là thừa, vì tôi chắc rằng những ai đã xem Boogie Nights thì đều có thể cảm nhận được nội dung nhân văn và vẻ đẹp điện ảnh của bộ phim (đây có lẽ là bộ phim dễ tiếp cận nhất của "wunderkind" Paul Thomas Anderson). Ở đây tôi chỉ muốn nhắc đến khía cạnh "porn vs. cinema" - liệu một bộ phim khiêu dâm (phim được làm với mục đích khơi gợi ham muốn - không phải phim có cảnh quan hệ tình dục "thật", vì rất nhiều tác phẩm điện ảnh "xịn" có những cảnh như vậy, đặc biệt là phim châu Âu vốn ít chịu ràng buộc tôn giáo hơn phim Hollywood) có thể xuất sắc tới mức được coi là một tác phẩm nghệ thuật điện ảnh thực sự? Theo tôi thì là không, lý do thì đã có Julianne Moore - người thủ vai nữ chính (một ngôi sao phim khiêu dâm) trong Boogie Nights chia sẻ với James Lipton trong chương trình Inside the Actors Studio: 


Moore: 
... I was at a Christmas Party, and a friend of mine said "I want you to meet this kid [PTA kém Moore chẵn 10 tuổi và Boogie Nights hoàn thành khi PTA mới 27 tuổi], he wrote this script and there's a part in here for you, he wrote this part with you in mind, he wants you to do it". So I go over and meet Paul. I said "Hey, how are you", and he's like "You know, I have this thing I want to talk with you", and I said "This is great, okay, I'm looking forward to it", and he's like "You gonna be in my movie, man!".

... and I read it, and I called him and said "Yeah, I am going to be in your movie, this is fantastic!". It was so moving, so exciting, and exhilarating, and I was like "This guy is a major talent".

Lipton:
... Burt Reynolds was here on that chair. He told us that he visited a porn set in preparation for the role. Did you ever consider doing it?
  
Moore: 
I did. Paul and I went to one. This is a small scale video thing in a hotel room... So there we were, Paul and I sitting on the floor of a room smaller than this stage [sân khấu của Inside the Actors Studio rất nhỏ theo kiểu "bục giảng", vì Lipton thực sự dùng chương trình này để "dạy" học trò của ông về nghề diễn], you know. We sat out there on the floor and we watched this thing. But you know, it was interesting because it's so dangerous. It's so dangerous I think what they were doing because you can't have that kind of intimacy and have it be okay, you know. People talk a lot about actors with the experiences - is it real kissing, is it not, da da da. And there are things that you can do, and you know, you can figure that out...

Lipton:
The crucial scene, which you initiated the neophyte porn star Dirk [Mark Wahlberg trong vai diễn xuất sắc nhất trong sự nghiệp] is necessarily graphic, to say the least. I've seen other scenes that are like it, but this must be extremely difficult?

Moore:
No, it wasn't, because of Paul [Thomas Anderson], because of Mark [Wahlberg], you know. I mean, anything that you do where there's such a degree of... Yeah, I mean, there's enormous sensitivity when we were doing that kind of stuff, but the stuff that we were doing in the scene was supposed to be a kind of acting of porn was actually very disconnected and more or less positional and not emotional, as it supposed to be. 

Nói ngắn gọn thì Moore cho rằng những cảnh diễn tình dục "thật" khiến các diễn viên phim khiêu dâm buộc phải gần gũi thực sự về mặt xác thịt và cảm xúc, và vì thế không thể thực sự "diễn" theo kịch bản được. Bởi vậy phim khiêu dâm cũng không thể thực sự trở thành tác phẩm điện ảnh.