some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

Affichage des articles dont le libellé est ****. Afficher tous les articles
Affichage des articles dont le libellé est ****. Afficher tous les articles

jeudi 1 août 2024

Satoshi Kon, l'illusionniste (2021)

 


This is a very heart-warming film about Satoshi Kon - a must for anyone who is a fan of Kon's works - like myself. There is nothing new or extraordinary about this film, just a simple, straightforward story about one of the greatest, and certainly the most original storyteller and animator from Japan. The clear structure, simple explanation of the themes and Kon's storytelling style throughout his short but diverse and illustrious career in this film make it a perfect introduction as well for anyone who has interest in Kon's films, or simply is curious on why this guy, who already passed away 14 years ago, directed "only" 4 full-length features, and received no Japan Academy Film Prize for Animation of the Year at all, is still held at very, very high regards by his contemporary and animation aficionados alike, including those more "awarded" like Mamoru Hosoda. For me, though, this film is simply an emotional recall to the pass, and a lovely reminder that I still cherish the memories and above all the various feelings watching Kon's films. I cannot wait for my son to be grown up enough so that I can introduce him to this very different, yet very "real" and memorable side of Japanese animation - Satoshi Kon.

mercredi 8 mai 2024

Trường An tam vạn lý (2023)


Thông thường tôi sẽ bình phim ngắn bằng tiếng Anh nhưng do phim này tôi xem với phụ đề tiếng Việt (thực sự cảm ơn các bạn nào đã làm bộ phụ đề tiếng Việt cho phim này quá xuất sắc) và nó gắn nhiều với tuổi thơ sách vở (tiếng Việt) của tôi nên tôi sẽ bình phim này bằng tiếng Việt. Trước hết có thể nói luôn là về chất lượng nghệ thuật phim này không xứng đáng 4 điểm, cùng lắm là 3.5 hoặc thậm chí là 3 điểm vì cách tạo hình nhân vật 3D trong phim này là không có gì mới, lộ rõ ảnh hưởng rất lớn (nếu không nói là sao chép) phong cách làm phim 3D của Hollywood (Pixar hoặc DreamWorks) và thậm chí là phần chi tiết nét mặt còn thiếu tinh tế hơn - điểm yếu này của phim đặc biệt lộ rõ trong những phân cảnh cuối khi Lý Bạch và Cao Thích đã về già. Đây là điều đáng tiếc vì phim có rất, rất nhiều nhân vật lịch sử, đặc biệt là các nhà thơ thời Nhà Đường, và hiếm khi khán giả có cơ hội được chứng kiến nhiều nhân vật như vậy cùng đứng chung một khung hình - vì phim lịch sử Trung Quốc thường chỉ tập trung vào chiến trận, triều đình, vì thế Dương Quý Phi, Đường Minh Hoàng, An Lộc Sơn, Quách Tử Nghi mới là những nhân vật thường được nhắc đến, và những nhà thơ như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Vương Duy thường chỉ được sử dụng làm "nền" - hơn nữa phim lịch sử Trung Quốc về giai đoạn Hán - Đường thường tuân thủ rất triệt để theo ghi chép lịch sử và thường không "dám" tạo ra các cảnh "giả sử" để các nhân vật lịch sử có thật được ở cạnh nhau, tương tác với nhau (ngay đến phim "xuyên không" giờ cũng đã không còn được khuyến khích ở Trung Quốc, đừng nói là phim "giả sử"). Dù đây là phim lịch sử, lấy bối cảnh là các thành phố và quang cảnh nổi tiếng của Trung Quốc thời nhà Đường nhưng cách xây dựng và chất lượng nghệ thuật của các bối cảnh này dù đẹp, hoành tráng (đặc biệt với những cảnh tự nhiên rộng lớn như Động Đình hồ) cũng không thực sự mới mẻ, gây ấn tượng sâu sắc và vẫn có chút hơi hướng gì đó của phim hoạt hình 3D Hollywood. Đây là điểm theo tôi là khá đáng tiếng vì Trung Quốc có kho sử liệu và tranh vẽ đồ sộ từ thời nhà Hán, nhà Đường, nhà Tống vẫn còn tồn tại đến tận ngày nay - nếu các nhà làm phim tận dụng hơn các mô-típ của tranh thủy mặc thời Tống hay tượng đất nung thời Đường thì phần "nhìn" của phim trông sẽ đặc sắc hơn rất nhiều (ví dụ cách dựng hình ngựa trong phim là đẹp, sinh động, và khác biệt hơn hẳn so với phim Hollywood - lý do đơn giản vì chúng được lấy theo đúng mẫu các bức tượng ngựa thời nhà Đường - ai đã từng thấy các bức tượng này ở bảo tàng, triển lãm sẽ nhận ra ngay những con ngựa mà Cao Thích hay Lý Bạch cưỡi có ngoại hình giống hệt. Về mặt tiết tấu, phim có tiết tấu khá chậm, khiến khán giả đôi lúc sẽ có cảm giác phim "quá dài" - nhất là những phân đoạn đối thoại giữa Cao Thích và Trình giám quân - tất nhiên độ dài 168 phút của phim thực sự là "rất dài" cho một phim hoạt hình, nhưng vì kể câu chuyện trải dài suốt nhiều thập niên về giai đoạn Nhà Đường từ đỉnh cao rơi xuống vực sâu, nên độ dài này là cần thiết, nhưng rõ ràng các nhà làm phim có thể điều chỉnh tiết tấu để phim nhanh hơn, lôi cuốn hơn với nhiều trường đoạn tương tác giữa Lý Bạch và Cao Thích, và các nhân vật khác hơn. Cái kết hơi mang tính "dân tộc chủ nghĩa" (phong cách thời thượng của phim Trung Quốc thời điểm hiện tại) cũng làm mất đi phần nào giá trị của phim - một tác phẩm vốn nói về sự tương phản giữa một Lý Bạch phóng khoáng, sống hết mình, với một Cao Thích luôn tự cầm chân mình trong các giới hạn của đạo lý, luân thường trong bối cảnh xã hội tao loạn - chứ không phải là một tác phẩm nói về đề tài "chống ngoại xâm", "diệt Thổ cầm Hồ" thời Nhà Đường. Cũng phải nói thêm là nút thắt mở dẫn đến phần kết này khá thú vị khi nó giúp phim tạo được sự khác biệt đáng kể so với "Amadeus" của Miloš Forman - vốn có phần kịch bản đầu gần như tương đồng so với "Trường An tam vạn lý" - cũng nói về tình bạn/đối thủ giữa một thiên tài phóng khoáng (nhưng vì thế mà thất bại trong đường sự nghiệp) với một nghệ sĩ kém tài hơn nhưng luôn chịu khó cúi đầu đi về phía trước để cuối cùng trở thành người "sống sót"/thành công hơn để kể lại câu chuyện của cả hai.

Chê thì chê, nhưng tôi vẫn chấm phim này 4 điểm, vì xem phim này tôi thực sự xúc động khi thấy các nhà làm phim đã chuyển hóa được các bài thơ Đường (chủ yếu là của Lý Bạch) thành ngôn ngữ hình ảnh, âm thanh của điện ảnh. Đây là những bài thơ tôi đã đọc, và thích từ ngày còn bé, nhưng quả thực chưa bao giờ tưởng tượng và liên hệ những bài thơ đó một cách toàn diện, nhiều tầng ý nghĩa, nhiều tầng cảm xúc như ở bộ phim này. "Tĩnh dạ tư", "Tương tiến tửu", "Tảo phát Bạch Đế thành" là những đỉnh cao trong sự nghiệp thơ ca của Lý Bạch, và những phân đoạn về các bài thơ này trong phim cũng là những điểm nhấn đẹp đẽ, đáng nhớ vô cùng. Vì thế nên xem phim này tôi vừa thấy cảm động, nhớ lại cái tuổi niên thiếu của chính mình ngồi ngâm nga những bài thơ Đường ở cái thời còn chưa thể ngấm được hoàn toàn những tâm sự, suy tư của Lý Bạch khi làm những bài thơ này, hay cái mới, cái đột phá mà Lý Bạch đem đến cho thơ của ông, và tôi cũng thấy có phần "ghen tị" khi chẳng biết đến bao giờ Việt Nam mới có được những bộ phim hoạt hình lịch sử xuất sắc đến thế này.

samedi 30 mars 2024

La Passion de Dodin Bouffant (2023)

 


I know that this film has been considered "overrated" by many, especially since it was inexplicably selected to represent France at the 96th Oscars instead of "Anatomie d'une chute", which is among if not the best wide-released cinematic works of the Western world in 2023. To me "Anatomie d'une chute" is indeed better-rounded and more memorable, but "La passion de Dodin Bouffant" has its own merit. Of course, just like numerous other films by Trần Anh Hùng, the performance in this film is not really the focal point, neither its strong aspect (despite the absence of Trần Nữ Yên Khê - Trần Anh Hùng's eternal muse [he did dedicate this film to his wife] but, again, in my opinion only, not really an outstanding actress), but the humanist interactions between the characters are extremely effective and moved me a lot, a lot. I love the fact that this film does not only appear peaceful and cozy, but is indeed a peaceful and cozy film, where everyone is kind and good to each other without any hint of bitterness, jealousy, or pessimism. Watching this film thus really warmed my heart seeing how people of different tastes, different social standings, different ages, and even different world view could be so caring, so subtle, so dedicated to the ones they love and the one they care about - the same way a visionary "gourmand" like Dodin and an outstanding chef/cuisinière like Eugénie take care of their food. Naturally this is a film about food, and about how passion and dedication transform a simple dish into a unforgettable dish, and a good dish into a "tear-jerking" dish. But this is also a film about camaraderie, about soulmates, about the many aspects of interactions and harmony between two hearts that share the same beating frequency in Dodin and Eugénie that are way more than thus "love" and professional harmony. I especially love the very final scene of this film, where Dodin affirmed to Eugénie that she's not his "femme" (his wife, or simply his "woman") but rather his "cuisinière" - a role encompassing BOTH aspects of Dodin's life - his private one, and his "professional" one, and also a role of more equal footing with Dodin in all aspects. Talking about language, I really, really like the French Trần Anh Hùng used for this film's script, as it makes the film so much better, so much more moving, so much more emotional and thus memorable from beginning to end (an important point since the film's pacing is rather slow while the length is not really encouraging for those who prefer shorter and more entertaining films). On this note, I find it pretty funny that Dodin and Eugénie agreed that Dodin is anyone but a poet, but by the end, Dodin's thought and lines just become more and more poetic and romantic like a true poet. Just like the other works of Trần Anh Hùng, this film also has magnificent lighting and scene composition (both indoor and outdoor) to the point that you can cut any single random frame in this film and it would instantly look like a painting with no need for forcing the director's view on to the audience. Sure, this film might be a little bit slow, a little bit long, a little bit dry to some, but once you pay it some attention, you will quickly become emotional observing such a beautiful relationship between Dodin and Eugénie. Such a wonderful film, I would easily give this one a 4.5.

mardi 21 mars 2023

The Sparring Partner (2022)

 


An excellent film that contains all the trademarks of Hong Kong cinema at its height (in the past). Quality speaking, I would give this one a four due to the excessive violence at parts, the too-ambitious intention of the filmmakers to cover too much ground (and too many genres) within just one film (which made the film a little bit longer than necessary), or the subpart production value at parts. But since such excellence in filmmaking is really a rarity in Hong Kong cinema nowadays, and also due to the fact that this film pays a lot of very good homage to Hong Kong cinema and television of the past, I am more than happy to give its another half a star. Watching this film really made me longing to the courtroom TV series that once dominated TVB and ATV, or the hilariously graphical horror/lewd Cat-III Hong Kong films featuring well-known actors like Anthony Wong (The Untold Story, Ebola Syndrome, Erotic Nightmare) or Simon Yam (Dr. Lamb) that actually borrowed a lot from ACTUAL notorious crimes/affairs in Hong Kong - a small land that somehow possesses so many psychopaths or criminals with psychopathic acts even until this very day (the very recent murder of the model Abby Choi, whose body was chopped up by her in-laws is shockingly not much different from the crime retold by this film, which itself took "inspiration" from true events decades ago). Even the blending of themes and rapid switch of settings and roles is also a cerebral trademark of Hong Kong cinema (one can only look at Tsui Hark's most recent section in Septet: The Story of Hong Kong to understand such long-lasting influence of this style of filmmaking in Hong Kong). Therefore, I am absolutely not surprised when it was announced that this film totally dominated the nomination list of this year's Hong Kong Film Award (why Septet has no love in this latest edition of the HKFA, though, I have no idea!). I have no doubt that this film will win most, if not all of these HKFA categories that it was nominated. Really, this film not only has a wonderfully written script full of nuances, emotions, revelations, and twist-and-turns (and also an intriguing ending fully open for different interpretations), but such script was delivered extremely well by the very able cast (that does not have a lot of "star power" like many other Hong Kong films these days with better-known cast) that was able to tell the story of each character, and to share with the audience the uncertain feeling of any juror when facing with the decision of what is "right", what is "wrong", what is "just", what is "unjust" without truly knowing the stories and "characters" behind such horrendous crimes like the parricide depicted in this film (coincidentally enough, Louisa So, who played probably the only true "hero" of the film - the lawyer for the "stupid" defendant, was also a major cast in Detective Investigation Files - THE best whodunit/detective series that TVB has ever produced). In fact, this layered film is much more than "just" a good courtroom film (despite its seemingly "superficial" and greasy look), as it is also a "whodunit", a philosophical discourse on the good and the evil (ALL characters, leading or supporting, in this film are very well-crafted and have a lot of nuance to the point that even by the end of the film, one can hardly tell who is good, who is bad, who is villain, who is hero), and even a commentary about the disarray of the Hong Kong society post-1997. Technically speaking, this is also an excellent product thanks to a very distinctive aesthetics, impactful sound design, and many interesting shots that truly highlight the complexity of its sophisticated stories and characters (among them, I particularly like the "confession-style" shot of the exchange between the prosecuting lawyers and the main villain's cousin). A very memorable film, and might be a tiny glimpse of hope for a revival, if any, of Hong Kong cinema, I truly wish. 

mardi 4 mai 2021

My Octopus Teacher (2020)


Bạch tuộc là gì? Để trả lời câu hỏi này, có lẽ phần lớn công chúng sẽ nghĩ tới một loại hải sản ngon, rẻ, phổ biến, hoặc cùng lắm là nhớ tới tên chú bạch tuộc Paul từng làm thu hút sự chú ý của cả thế giới nhờ những "tiên đoán" chính xác về các trận cầu của World Cup 2010. Với những độc giả "nghiện" Wikipedia hoặc những học sinh giỏi môn Sinh học thì có thể câu trả lời sẽ có thêm phần về trí thông minh vượt trội của loại động vật thân mềm này nếu so sánh với các cư dân khác của vương quốc đại dương. Đây là những câu trả lời dễ hiểu, bởi chúng ta đương nhiên chỉ coi những con bạch tuộc "thông thường" (common octopus hay "octopus vulgaris") là một con vật, không hơn, không kém.

Nhưng với nhà làm phim người Nam Phi Craig Foster thì một cô bạch tuộc "thông thường" như vậy không phải là một con vật, lại càng không phải một món ăn ngon. Cô bạch tuộc đó là "cô giáo" của người đàn ông trung niên về thiên nhiên, về cuộc sống, và cũng là nhân vật chính của bộ phim tài liệu xuất sắc My Octopus Teacher (Cô giáo bạch tuộc của tôi).

Được hai nhà làm phim Pippa Ehrlich và James Reed thực hiện cho hãng Netflix dựa trên những thước phim tư liệu về cuộc gặp gỡ kỳ lạ và đầy lý thú của Craig Foster với cô bạch tuộc của ông ở nơi tận cùng của lục địa đen giáp với Đại Tây Dương - Mũi Bão Tố ("Cape of Storms"), My Octopus Teacher đem tới cho người xem một tình bạn tưởng chừng không thể giữa một người đàn ông đã từng trải qua mọi cung bậc cảm xúc của cuộc đời với một cô bạch tuộc tưởng chừng vô tri vô giác. Craig Foster không phải là mẫu người mơ mộng với khả năng tìm thấy tâm hồn ở mọi tạo vật trên thế giới. Trái lại ông là một nhà làm phim mệt mỏi với những biến cố của cuộc đời, với cảm giác bất lực trong việc giao tiếp với cả những người thân yêu nhất như cậu con trai Tom, và vì thế quyết định từ bỏ máy quay để một mình quay về với biển cả quê hương ở Mũi Bão Tố, nơi ông có thể ngụp lặn thoả thích trong cô đơn giữa khu rừng tảo bẹ đẹp đẽ và đầy bí ẩn mà không phải tiếp xúc với con người, không phải suy nghĩ về cuộc đời nhiều bão tố. Chính ở tại khu rừng dưới nước này ông đã gặp cô bạch tuộc tuy không tên tuổi, chẳng tiếng nói, nhưng bộc lộ trí thông minh đáng kinh ngạc "ở một con vật" trong việc săn mồi hay nguỵ trang tránh lũ cá mập pijama luôn rình mò trong bóng tối đại dương. Từ chỗ tò mò, Foster bắt đầu thực sự chú tâm tìm hiểu, để rồi nhận ra rằng "con vật" ấy có nhiều điểm gần gũi hết mực với một người đàn ông cô đơn giữa làn nước lạnh giá phương Nam như ông, để rồi cố sức gây dựng một "tình bạn", một sợi dây cảm xúc tưởng chừng bất khả với cô bạch tuộc không tên và không tiếng nói ấy. Xuyên suốt My Octopus Teacher, người xem sẽ được chứng kiến nhiều thời khắc khác nhau của tình bạn ấy - từ hồi hộp, buồn bã, cho tới hạnh phúc, lo âu, được cảm nhận sự trưởng thành, cứng cáp của cái sợi dây cảm xúc giữa Craig Foster và cô bạch tuộc, và được nhận ra rằng tình bạn giữa con người và "một con vật" tưởng chừng nhỏ bé, tăm tối như bạch tuộc không hề là bất khả. 

Nếu phải gói gọn My Octopus Teacher trong một từ thì có lẽ đó là sự chân thành. Ở từng thước phim đặc tả thiên nhiên tuyệt vời của đất nước Nam Phi nói chung và khu rừng tảo bẹ nói riêng, hay trong từng lời tâm sự của Craig Foster dành cho cô bạch tuộc hay cho thế giới đại dương bao la, người xem đều có thể cảm nhận được tình cảm hết sức chân thành mà các nhà làm phim và các nhân vật trong phim như Foster, như cậu con trai Tom của ông dành cho cô bạch tuộc và cho cả thế giới tự nhiên. Tất nhiên sự trung thực và chân thành luôn là phẩm chất cần có của một bộ phim tài liệu hay, nhưng sự chăm chút, tỉ mỉ, kỹ lưỡng của Craig Foster và các đồng nghiệp để đặc tả một cách chính xác nhất, rõ ràng nhất, dễ nắm bắt nhất sự đa dạng và chiều sâu đến kinh ngạc của cuộc sống nơi đại dương đã giúp khán giả thực sự hiểu được rằng chúng ta chỉ là một phần của thế giới rộng lớn với sợi dây kết nối thực ra vẫn luôn tồn tại và chờ đợi được khai phá, như cái cách mà Foster đã khai phá, đã nhận ra tình cảm của ông dành cho "cô giáo bạch tuộc" của mình. 

Có lẽ với nhiều người xem, cái tên Cô giáo bạch tuộc của tôi sẽ đem lại nhiều nghi ngại bởi cái định kiến "bạch tuộc chỉ là một con vật" mà chắc chắn nhiều người đã thành hình do thiếu vắng sự tiếp xúc với thiên nhiên theo một cách tự nhiên, không gượng ép. Nhưng Craig Foster, và My Octopus Teacher sẽ nhanh chóng hoá giải nỗi hoài nghi ấy cho khán giả nhờ vào những cảnh quay xuất sắc về một thế giới xa lạ nơi tận cùng thế giới, dưới đáy đại dương, trong bóng tối của những cây tảo bẹ không lồ nhưng lại chan chứa cảm xúc và tình cảm mà ai trong chúng ta cũng đều có thể dễ dàng liên hệ. Nhìn cái cách cô bạch tuộc lấy chiếc xúc tu của mình chạm vào bàn tay chai sạn nhưng run run vì hạnh phúc của Foster, chắc hẳn nhiều ông bố, bà mẹ sẽ nhớ ngay đến những giờ phút được chứng kiến đứa con của mình ra đời, được cầm bàn tay bé nhỏ, mỏng manh của một sinh linh còn chưa biết nói nhưng đã có sẵn trong mình mầm mống của một sợi dây tình cảm mẫu-tử, phụ-tử không thể tách rời. Ánh mắt khắc khoải của Foster khi nói về những giờ phút hiểm nguy - vốn đầy rẫy trong cuộc đời ngắn ngủi của cô bạch tuộc nơi đại dương khốc liệt có lẽ cũng sẽ gợi nhắc nhiều người xem về sự lo âu, bồn chồn họ dành cho những người yêu quý trong những khúc quanh bão tố của cuộc đời. My Octopus Teacher có rất nhiều những giây phút như thế để khán giả có thể cảm nhận được tình bạn thật sự giữa Foster và cô giáo bạch tuộc, và hơn thế là tự gây dựng cho họ tình cảm, sự quan tâm dành cho cô giáo bạch tuộc, dành cho mọi tạo vật trong thiên nhiên mà họ - những khán giả ngồi xem My Octopus Teacher trên màn ảnh nhỏ trong các căn phòng ấm cúng không có nhiều cơ hội được trải nghiệm.

Trong bối cảnh xã hội hiện đại đang dần chiếm chỗ của thiên nhiên hoang dã, đang tàn phá nguồn sống tự nhiên với tốc độ chóng mặt để rồi phải đối mặt với hậu quả của chính chúng ta gây ra - biến đổi khí hậu, bệnh tật, sự tuyệt chủng của hàng loạt các loài cây cối, động vật, thì nhiều nhà làm phim đã và đang cố gắng kêu gọi lương tri của nhân loại trong việc bảo tồn thiên nhiên, trong việc lưu giữ các nguồn sống quý giá còn lại của Trái Đất. Thông thường, các nhà làm phim sẽ chọn cách nói chuyện trực diện, nêu thẳng hậu quả tàn khốc mà chúng ta sẽ phải hứng chịu như trong An Inconvenient Truth (2006) của David Guggenheim, hoặc đặc tả vẻ đẹp đa dạng đến ngột thở nhưng cũng hết sức mỏng manh, cần sự bảo vệ của Trái Đất như trong Our Planet - bộ phim tài liệu do nhà làm phim huyền thoại David Attenborough dẫn dắt. Cũng là một tác phẩm tuyệt đẹp về thiên nhiên, nhưng My Octopus Teacher chọn một cách khác. Thông qua cuộc tao ngộ tưởng chừng hiếm có giữa Craig Foster và cô giáo bạch tuộc của ông, My Octopus Teacher chỉ đơn giản nói lên rằng chúng ta-con người hiện đại cũng chỉ là những cư dân của một thế giới rộng lớn trên Trái Đất, nơi còn rất nhiều những cư dân khác với những số phận khác, những cách sống khác, những ứng xử khác như cô bạch tuộc, như kẻ thù của cô - những con cá mập pijama, hay thậm chí là như những ngọn tảo bẹ của khu rừng lạ lùng nơi Mũi Bão Tố. Chỉ có những nỗ lực bảo vệ môi trường, chỉ bằng mong muốn thực sự đến với tự nhiên, tìm về với thiên nhiên, chúng ta - con người mới có thể có cơ hội thực sự làm quen, thực sự được trải nghiệm những tình cảm quý giá như cách Foster đã được trải nghiệm trong gần một năm dõi theo cô giáo bạch tuộc của mình. Và biết đâu cứ sống đẹp như thế, cứ trải nghiệm như thế, chúng ta cũng sẽ có cơ hội để thấy cuộc sống bớt cô đơn hơn, để thấy đời đẹp hơn, đáng sống hơn như cách Craig Foster đã vun đắp lại tình cảm với con trai của mình - thông qua cảm hứng có được từ biển cả, từ cô giáo bạch tuộc.

======

Bản đã biên tập trên Zing.

dimanche 30 août 2020

Detroit (2017)


Trong lịch sử Hoa Kỳ, chiến thắng của phe Liên bang miền Bắc trước Liên minh chủ nô miền Nam trong Nội chiến Mỹ 1861-1865 thường được coi là một mốc son đánh dấu sự tan vỡ của những gông cùm nô lệ đã đè nặng lên những người Mỹ gốc Phi kể từ những ngày lập quốc. Tuy nhiên, cả thế kỷ sau ngày Tư lệnh quân đội miền Nam Robert E. Lee bỏ vũ khí đầu hàng, những người da màu tự do của nước Mỹ vẫn phải chịu vô số những khổ đau đến từ nạn phân biệt chủng tộc vốn chưa hề biến mất sau cuộc Nội chiến mà chỉ biến tướng thành những hình thức tinh vi hơn, tàn nhẫn hơn để siết chặt lấy cộng đồng người Mỹ gốc Phi từ thế hệ này sang thế hệ khác. Họ có thể là những người lính bán mạng ngoài chiến trường vì sứ mệnh “tự do” của nước Mỹ. Họ cũng có thể là những người thợ ngày ngày cần mẫn vặn từng con ốc, lắp từng khung cửa trong các phân xưởng lắp ráp của thủ phủ ô tô Detroit. Thậm chí họ cũng đã có chút danh tiếng nhờ giọng ca, ngón đàn vốn được các hãng ghi âm toàn-da-màu như Motown đưa đến mọi hang cùng ngõ hẻm của nước Mỹ. Nhưng phần lớn trong số họ vẫn phải sống trong các khu ổ chuột-chỉ-dành-cho-người-da-đen thiếu tiện nghi, thiếu an ninh, thiếu học hành vốn xuất hiện đầy rẫy ở các thành phố công nghiệp như Detroit trong bối cảnh người da trắng đã lùi ra các vùng ngoại vi giàu có để không phải sống cạnh những “người hàng xóm” bị họ coi là những người hạ đẳng. Giấc mơ con đè nát cuộc đời con, người Mỹ gốc Phi những năm giữa thế kỷ 20 chẳng có mấy cơ hội vươn lên đổi đời khi ngày ngày họ phải lo chuyện cơm áo gạo tiền trong cảnh nghèo túng, và tồi tệ hơn thế lại luôn phải chịu sự đàn áp cả về mặt thể xác và tinh thần của đội ngũ cảnh sát vốn đa phần da trắng và luôn thích đem dùi cui, súng ống, bạo lực để “nói chuyện”. Con giun xéo lắm cũng quằn, những năm 60 của thế kỷ trước cộng đồng người da màu Hoa Kỳ đã cất liên tiếng nói phản kháng mạnh mẽ với những cuộc tuần hành, biểu tình rầm rộ đòi quyền-được-làm-người diễn ra trên khắp nước Mỹ do các lãnh đạo tinh thần của người Mỹ gốc Phi như Mục sư Tin lành Martin Luther King hay tu sĩ Hồi giáo Malcolm X. Ngọn lửa căm hờn của người Mỹ gốc Phi cũng dẫn đến 159 cuộc bạo loạn ở các thành phố lớn trên khắp Hoa Kỳ chỉ trong năm 1967, trong đó đẫm máu nhất là cuộc bạo loạn nổ ra ở Detroit tháng 7 năm 1967 khi 43 người đã thiệt mạng, gần 1200 người bị thương, trên 7000 người bị bắt, và hơn 2000 toà nhà bị phá huỷ sau những cuộc đối đầu giữa người biểu tình da màu và lực lượng cảnh sát và thậm chí là vệ binh quốc gia và lính dù chính quy của quân đội Hoa Kỳ.

Cuộc bạo loạn ở Detroit năm 1967 và những bức bối, bất công của xã hội nước Mỹ chính là bối cảnh cho Detroit – tác phẩm được nữ đạo diễn từng giành giải Oscar Kathryn Bigelow thực hiện nhân dịp kỉ niệm 50 năm ngày diễn ra sự kiện đau buồn này. Bộ phim tái hiện lại một góc nhỏ - nhưng hết sức đẫm máu của cuộc bạo loạn năm 1967, đó là những sự kiện xảy ra ở Khách sạn Algiers trong đêm ngày 25 tháng 7 năm 1967 với sự dính líu của một số viên cảnh sát tai tiếng của thành phố Detroit, cũng như là nguồn gốc của nỗi đau chưa bao giờ dứt của rất nhiều người không may có mặt tại Algiers ngày hôm đó. Trong số những nhân chứng của sự kiện đau buồn ấy có Melvin Dismukes (John Boyega), một anh thợ đá da màu kiêm nghề nhân viên an ninh luôn tự tin vào khả năng thương thuyết, “hạ nhiệt” những ông chủ da trắng. Không đến nỗi phải ngày ngày lo nghĩ về miếng ăn và sự an toàn cho bản thân như Dismukes, Larry Reed (Algee Smith) lại được trời phú cho giọng hát trầm ấm của một nghệ sĩ da màu đích thực và chỉ còn cách hợp đồng thu âm với hãng Motown lừng danh có một bài hát với nhóm The Dramatics của anh và người bạn, người trợ lý Fred Temple (Jacob Latimore). Cứng tuổi hơn một chút so với Dismukes, Reed, hay Temple là Karl Greene (Anthony Mackie), một cựu binh trở về từ chiến trường Việt Nam đang phải lưu lại Algiers với hy vọng kiếm được việc làm ở thành phố công nghiệp hàng đầu của nước Mỹ này. Trái ngược với sự già dặn của Greene là nhóm bạn Carl Cooper (Jason Mitchell), Aubrey Pollard (Nathan Davis Jr), Michael Clark (Malcolm David Kelley) và Lee Forsythe (Peyton Alex Smith) và cả hai cô gái da trắng hiếm hoi giữa vô vàn khuôn mặt da màu ở Algiers là Julie Ann Hysell (Hannah Murray) và Karen Malloy (Kaitlyn Dever) – những người trẻ, rất trẻ vốn chỉ muốn tạm thoát khỏi khói lửa, bạo lực của bạo động và đàn áp bằng những điếu thuốc, những điệu nhạc jazz, hay những trò đùa vô thưởng vô phạt trong căn phòng áp mái của khách sạn Algier. Bất chấp việc cả thành phố Detroit đang chìm trong khói lửa, cướp bóc và vô số bạo lực, chẳng ai trong số những người có mặt ở Algiers buổi tối ngày hôm đó có thể ngờ rằng chỉ xuất phát từ một trò đùa như vậy của Carl mà họ sẽ phải chịu đựng một đêm dài trong hoả ngục của khủng bố và bạo lực đến từ những tay cảnh sát da trắng như Philip Krauss (Will Poulter), Ronald August (Jack Reynor), và Robert Paille (Ben O'Toole) – những kẻ mang danh bảo vệ công lý và sự bình an của người dân Detroit nhưng thực tế lại luôn tìm kiếm mọi cơ hội để trút cơn giận dữ, trút sự thèm khát được “trả hận” cho những “người da trắng” bằng đòn roi, thậm chí là sự chết chóc lên đầu những người da đen vô tội.

 

Detroit là một tác phẩm không hề dễ thực hiện bởi bộ phim động chạm tới một giai đoạn hết sức biến động của lịch sử nước Mỹ trong thập niên 1960, lại nói về một câu truyện, một sự kiện thực ra chưa từng có được một câu trả lời hoàn toàn xác đáng đến từ công lý, hay đến từ những người tham gia sự kiện đó. Lời giải thích nào mới là sự thật cho những bi kịch xảy ra trong đêm ngày 25 tháng 7 năm 1967 tại khách sạn Algiers? Ai là người phải chịu trách nhiệm cho bi kịch ấy? Tại sao bi kịch lại xảy ra với Reed, với Greene, với Fred, với Carl, với cả những người da đen khác ở Algiers, ở Detroit, ở trên khắp nước Mỹ? Để giải quyết bài toán phức tạp với rất nhiều câu hỏi, nhiều biến số ấy, nữ đạo diễn Kathryn Bigelow và nhà biên kịch của bà Mark Boal đã sử dụng một kịch bản hết sức linh hoạt, sử dụng một phần dẫn truyện mang tính chuyện kể lịch sử và mở đầu với rất nhiều đại cảnh, kèm theo những cảnh quay, những bức ảnh ghi lại cuộc bạo động năm 1967 để biến Detroit phần nào đó trở thành một bộ phim bán-tài-liệu ghi lại không khí thực sự của thành phố ô tô của nước Mỹ. Nhưng ngay sau phần mở đầu mang tính tạo dựng tiền đề, tạo dựng không khí và chuẩn bị tinh thần cho khán giả - kể cả những người chưa từng đọc, từng nghe về sự bất công truyền đời của số phận những người da màu sống trên đất Mỹ để họ có thể hiểu hơn những bối cảnh của đêm bi kịch tại Algier, Bigelow lập tức thu hẹp bối cảnh của Detroit nhưng đồng thời cũng tăng dần mức độ bạo liệt, nhịp độ căng thẳng của bộ phim để người xem có thể phần nào đó trải nghiệm cảm giác ở trong hoả ngục của những nạn nhân trong buổi tối định mệnh ấy. Cảm giác ngột thở với những thước phim đầy rẫy máu, đẫy rẫy bạo lực và luôn căng như dây đàn không phải là điều xa lạ đối với những khán giả từng yêu thích các bộ phim hành động, chiến tranh của nữ đạo diễn đã cận kề tuổi 70 Kathryn Bigelow như Point Break (1991), K-19: The Widowmaker (2002), Zero Dark Thirty (2012) và đặc biệt là bộ phim về những tay phá bom trong chiến tranh Iraq The Hurt Locker (2008) – tác phẩm giúp Bigelow trở thành nữ đạo diễn đầu tiên và cho đến nay vẫn là duy nhất giành được giải thưởng Oscar cho đạo diễn xuất sắc nhất. Nhưng Detroit không chỉ dừng lại ở việc mô tả sự lạnh lẽo, vô nhân tính của các hành động bạo lực, hay cảm giác nhỏ bé, mỏng manh của con người khi phải đứng trên ranh giới giữa sự sống và cái chết, bạo lực và kịch tính cao độ trong bộ phim chỉ là chất liệu, là cái cớ để Bigelow dần dần gợi mở cho khán giả lý do vì sao dù cả thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày Robert E. Lee phải đầu hàng trong Nội chiến Mỹ, dù người da màu đã dành được vô số thành tựu, đã đóng góp biết bao mồ hôi xương máu cho sự thịnh vượng của nước Mỹ, họ vẫn chỉ là những công dân hạng hai, những nạn nhân truyền đời, truyền kiếp cho nạn phân biệt chủng tộc của người Mỹ da trắng, của một nền công lý chưa bao giờ đứng về phía họ, của giới cảnh sát thừa quyền lực, thừa vũ khí nhưng thiếu tình người, thiếu sự thấu hiểu.

 

Thật khó có thể nói Detroit là một tác phẩm hoàn hảo. Phần diễn xuất trong phim không thực sự để lại nhiều ấn tượng dù bộ phim có sự xuất hiện của một số gương mặt tiềm năng như John Boyega – Finn của loạt phim Star Wars, Jason Mitchell - Eazy-E trong Straight Outta Compton (2015), hay Anthony Mackie – siêu anh hùng Falcon trong loạt phim siêu anh hùng của Marvel. Cách mô tả hình ảnh những người da đen luôn ở vào thế bị động, yếm thế xuyên suốt bộ phim cũng khiến Detroit vấp phải những chỉ trích về việc liệu nữ đạo diễn da trắng Bigelow có thực sự mô tả đúng những gì đã xảy ra ở Detroit năm 1967. Những điểm yếu này của Detroit, cùng chủ đề khá nặng nề và không thực sự được nhiều người biết đến của bộ phim đã khiến tác phẩm mới nhất này của Kathryn Bigelow chìm nghỉm sau khi công chiếu trước sự cạnh tranh của những tác phẩm siêu anh hùng, hay thậm chí là những bộ phim cũng nói về nạn phân biệt chủng tộc tại nước Mỹ nhưng khắc hoạ người da đen một cách chủ động, hào sảng như The Help (2011), Selma (2014), Straight Outta Compton hay gần đây nhất là bộ phim giành giải Oscar cho phim hay nhất Moonlight (2016). Có lẽ gần gũi hơn cả với Detroit là bộ phim về số phận bi thảm của những người nô lệ da đen trong buổi đầu lập nước của Hoa Kỳ 12 Years a Slave (2013) – một tác phẩm khác cũng từng được trao giải Oscar cho phim hay nhất. Nhưng khác với tác phẩm của đạo diễn da màu người Anh Steve McQueen vốn cực kì thành công cả ở phòng vé và tại các giải thưởng lớn, Detroit ra mắt công chiếu và chẳng để lại nhiều tiếng vang, bất chấp việc tác phẩm này ra đời trong không khí chính trị ngày một sục sôi của nước Mỹ ở vào thời điểm giao thời giữa chính quyền của tổng thống Barrack Obama – người da đen đầu tiên trở thành lãnh đạo nước Mỹ và Donald Trump – người bị báo chí, các nhà hoạt động cánh tả, và thậm chí là nhiều ngôi sao điện ảnh Hollywood cáo buộc là đã dung túng cho chủ nghĩa phân biệt chủng tộc trỗi dậy trở lại ở Hoa Kỳ. Đây quả thực là một điều hết sức đáng tiếc, bởi rất hiếm có một tác phẩm khắc hoạ một cách trực diện, rõ ràng, và chi tiết nguồn gốc, chân tướng, cũng như hậu quả của nạn phân biệt chủng tộc, đặc biệt là của giới cảnh sát Hoa Kỳ đối với người da màu sống ở xứ sở cờ hoa này. Có thể nói không ngoa rằng chỉ cần xem Detroit, khán giả sẽ có thể phần nào hiểu được tại sao những bi kịch như đêm kinh hoàng ở Algiers vẫn cứ lặp lại với người Mỹ gốc Phi một trăm năm, một trăm năm mươi năm và có lẽ còn nhiều năm sau nữa kể từ thời điểm kết thúc Nội chiến Hoa Kỳ.

 

Cuộc bạo động ở Detroit năm 1967 được coi là đỉnh điểm của Mùa hè nóng bỏng năm 1967 trong lịch sử nước Mỹ khi tổng thống Lyndon B. Johnson – người được coi là có những đóng góp đáng kể giải quyết tình trạng bất bình đẳng ở Hoa Kỳ nhờ chính sách “Great Society” - phải đối mặt với vô số cuộc biểu tình, bãi công, bạo động đòi bình quyền cho người da màu. Hơn nửa thế kỷ sau Mùa hè nóng bỏng ấy, những ngày đầu hè năm 2020 nước Mỹ lại chứng kiến vô số những cuộc biểu tình và cả bạo động đòi lại công bằng, đòi lại công lý cho những người da đen như George Floyd – những người đã phải bỏ mạng bởi nhiều lý do khác nhau dưới bàn tay của cảnh sát Mỹ. Nhiều người đã chỉ trích rằng chính những phát ngôn, và hành xử của tổng thống đương nhiệm Donald Trump đã tạo điều kiện để những bi kịch như cái chết của Floyd xảy ra ở nước Mỹ. Nhưng cũng có lập luận nói rằng kể cả dưới thời tổng thống da màu Obama, thì Hoa Kỳ cũng vẫn phải chứng kiến những bi kịch như thế - những bi kịch đã dẫn đến các cuộc bạo loạn ở Ferguson năm 2014, ở Baltimore năm 2015, hay cuộc thảm sát cảnh sát ở Dallas dưới họng súng bắn tỉa của Micah Xavier Johnson năm 2016. Trước đó nữa là cuộc bạo loạn khiến hàng chục người chết và khiến chính quyền phải cậy nhờ tới sự can thiệp của quân đội Mỹ tại Los Angeles năm 1992. Và xa hơn nữa là chính cuộc bạo động ở Detroit năm 1967 – một sự kiện mà quân đội Mỹ cũng phải góp mặt để ổn định tình hình. Vậy lý do là ở đâu? Vậy cảnh sát hay những người tham gia bạo loạn là người có lý? Đó là câu hỏi chưa ai có thể đưa ra một lời giải thích thực sự thoả đáng, nhưng là câu hỏi Kathryn Bigelow đã thực sự dũng cảm tìm cách trả lời thông qua đứa con nghệ thuật đầy bạo liệt Detroit bất chấp việc bà nhẽ ra có thể nghỉ hưu, hoặc lựa chọn những bộ phim siêu anh hùng nhẹ nhàng, nhiều màu sắc, giàu lạc quan hơn để đạo diễn. Đen tối, nhuốm màu bi kịch, chẳng ánh lên chất lạc quan hào sảng, Detroit có lẽ là một tác phẩm không hề dễ xem với những khán giả muốn tìm thấy cho mình sự giải trí, sảng khoái ở rạp chiếu phim. Nhưng với bất cứ ai muốn hiểu hơn về những ung nhọt của nạn phân biệt chủng tộc vẫn còn hiển hiện ở nước Mỹ, muốn cảm nhận được lý do tại sao các cuộc biểu tình đòi bình quyền đã và vẫn sẽ diễn ra dù cho ai là tổng thống của nước Mỹ, muốn tìm cho mình lời giải thích thoả đáng cho việc người da màu phải dùng tới bạo lực để nói lên tiếng nói phản kháng trong một xã hội vốn luôn đề cao chủ nghĩa dân chủ-phi-bạo-lực như của Hoa Kỳ, thì Detroit là tác phẩm xuất sắc để thưởng thức. Thật tiếc là Detroit đã không có được sự chú ý bộ phim này xứng đáng được hưởng khi ra mắt, nhưng hy vọng rằng với giá trị nhập thế, với sự nhức nhối về một tiếng nói lương tri cho số phận những người da đen trong lòng xã hội nước Mỹ, bộ phim của đạo diễn Kathryn Bigelow này sẽ còn được người xem nhớ tới, nhắc tới như một tác phẩm xuất sắc về nạn phân biệt chủng tộc ở Hoa Kỳ.


==============


Bài đã biên tập trên Zing.

lundi 17 février 2020

Parasite (2019) - How does its win affect Korea?



Với những khán giả yêu điện ảnh thế giới nói chung, chiến thắng ngày vang dội của đạo diễn Bong Joon-ho và bộ phim mới nhất của ông Ký sinh trùng trong Lễ trao giải Oscar lần thứ 92 ngày hôm qua với 4 tượng vàng, trong đó có tượng vàng quan trọng nhất ở hạng mục Phim hay nhất chắc chắn là một tin vui không chỉ vì Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật điện ảnh Hoa Kỳ đã vinh danh cách làm phim thông minh, phi truyền thống theo màu sắc rất Hàn Quốc thay vì lựa chọn thông thường với các bộ phim sử thi về chiến tranh, về xã hội, về lịch sử nước Mỹ như 1917, Marriage Story, hay The Irishman. Nhưng với đất nước Hàn Quốc, có lẽ đây là một thời khắc lịch sử mà không chỉ giới điện ảnh, mà cả xã hội Hàn Quốc đã mong chờ từ rất lâu sau vô số những nỗ lực vượt bậc từ kinh tế tới văn hoá. Dù Samsung từ lâu đã sánh vai với Apple trong thị trường hàng tiêu dùng điện tử, những chiếc xe Hyundai hay Kia đang lăn bánh ngày một nhiều trên mọi nẻo đường từ châu Âu tới nước Mỹ, nhưng cả giới lãnh đạo và người dân Hàn Quốc từ rất lâu vẫn tin rằng đất nước Hàn Quốc chỉ có thể thực sự sánh vai cùng các cường quốc trong khu vực – đặc biệt là với người hàng xóm Nhật Bản khi mà nền văn hoá, những giá trị truyền thống của đất nước này được thế giới biết đến, tôn trọng, và yêu thích.

Trong lĩnh vực âm nhạc, tham vọng này của Hàn Quốc được thể hiện rất rõ qua việc xuất khẩu dòng nhạc k-pop với những giai điệu bắt tay và các nhóm nam, nhóm nữ có vẻ ngoài cũng như kỹ năng nhảy hoàn hảo. Sau gần một phần tư thế kỷ, chiến lược dài hạn này của Hàn Quốc đã giúp “Làn sóng Hàn” hay “Hàn lưu” (Hallyu) có được vị trí vững chắc ở khắp khu vực Đông Á, Đông Nam Á và Trung Cận Đông. Tưởng như ca khúc Gangnam Style của Psy đã là đỉnh cao của Hallyu khi trong một thời gian ngắn trở thành ca khúc nổi bật nhất Internet với cả tỷ lượt xem trên YouTube. Nhưng kể từ khi nhóm nhạc nam BTS công phá thành công thị trường Hoa Kỳ từ khoảng 3 năm trở lại đây, thì k-pop từ một thể loại nhạc chỉ chiếm thiểu số nay mới thực sự có được chỗ đứng vững chắc ở các thị trường lớn của Mỹ - Âu với rất nhiều cái tên thường xuyên xuất hiện trên truyền hình Hoa Kỳ hay bán sạch vé ở các đêm nhạc tổ chức tại sân vận động với hàng vạn người xem như BTS, Blackpink, NCT 127.

Nhưng k-pop xét cho cùng với người dân Hàn Quốc chỉ là nhạc giải trí thuần tuý. Ngay ở chính Hàn Quốc thì các ngôi sao k-pop cũng không hẳn đã được người dân Hàn Quốc nâng niu như những ngôi sao opera và nhạc cổ điển như Jo Sumi, Kun-Woo Paik và chỉ đến khi BTS gây dựng được tên tuổi tại thị trường Hoa Kỳ thì cả chính phủ và người dân Hàn Quốc mới thực sự nhận ra rằng hoá ra k-pop hoàn toàn có khả năng đem quyền lực mềm của đất nước này lan toả đến mọi ngóc ngách của thế giới. Nhưng với một quốc gia coi trọng danh hiệu và thể diện như Hàn Quốc, thì thành công của BTS với giới trẻ toàn cầu chưa hẳn đã là đủ bởi họ chưa đem về được cho đất nước này những giải thưởng tầm cỡ như Giải Grammy trong âm nhạc hay giải Man Booker Quốc tế trong văn học – giải thưởng mà nữ nhà văn được Hàn Quốc coi là “quốc bảo” Han Kang đã giành được vào năm 2016. Điện ảnh chính là lĩnh vực người Hàn đặt rất nhiều niềm tin trong vòng ba thập niên qua trong khía cạnh này, đặc biệt là từ khi Oldboy của đạo diễn Park Chan-wook giành được Giải thưởng lớn – giải thưởng cao quý thứ hai của Liên hoan phim Cannes năm 2003. Nhưng trong suốt gần hai thập niên kể từ sau thành công của Oldboy, điện ảnh Hàn ở tầm quốc tế cũng chỉ có được một số thành tựu trong việc “xuất khẩu” các đạo diễn hàng đầu của họ sang Hollywood như Park Chan-wook, Bong Joon-ho, hay Kim Jee-woon với các sản phẩm dù không thất bại nhưng cũng không đạt được quá nhiều tiếng vang. Đỉnh cao nhất trong các nỗ lực của các nhà làm phim Hàn có lẽ là giải Sư tử vàng – giải cao quý nhất tại Liên hoan phim Venice của đạo diễn Kim Ki-duk cho bộ phim Pietà. Tuy nhiên với tính cách không được lòng người Hàn, lại là tác giả của nhiều bộ phim gây tranh cãi, trong đó có Pietà, chẳng mấy người Hàn Quốc cảm thấy vui vì chiến thắng của đạo diễn dị nhân Kim Ki-duk. 

“Ký sinh trùng” là một trường hợp rất khác. Đạo diễn Bong Joon-ho và nam diễn viên chính của phim Song Kang-ho từ lâu đã được coi là đạo diễn và diễn viên “quốc dân” của người Hàn với rất nhiều những bộ phim ăn khách như The Host (2006). Phim của Bong, do Song đóng chính luôn được lòng người Hàn vì đậm chất Hàn Quốc, nói rất nhiều về lịch sử, văn hoá, và những khía cạnh sâu thẳm trong lòng người dân đất nước này với các tác phẩm xuất sắc như Memories of Murder (2003), The Host và Mother (2009). Ký sinh trùng – một bộ phim đặc chất Bong Joon-ho đã làm nên lịch sử khi giành cả giải Cành cọ vàng đầu tiên cho Hàn Quốc tại Liên hoan phim Cannes và bây giờ là giải Phim hay nhất tại giải Oscar – chiến thắng đầu tiên của một bộ phim nói tiếng nước ngoài trong lịch sử 92 năm của giải thưởng này - kỳ tích mà chưa một cường quốc điện ảnh Á Đông hay châu Âu nào làm được, kể cả người hàng xóm Nhật Bản. 

Người Hàn Quốc hẳn đang rất tự hào vì Ký sinh trùng. Không chỉ bởi tác phẩm này đã giới thiệu được chất Hàn Quốc đậm đặc trong điện ảnh đến với công chúng thế giới để họ không chỉ yêu thích mà còn thấy trân trọng. Hơn thế, tượng vàng Oscar này của Ký sinh trùng đã tiếp thêm cho Hàn Quốc niềm tin rằng họ thực sự đã sánh vai được với các cường quốc văn hoá khác trên thế giới, và Làn sóng Hàn – quyền lực mềm của đất nước Hàn Quốc sẽ không chỉ là một hiện tượng nhất thời mà sẽ có chỗ đứng vững bền trong đời sống tinh thần của người dân nhiều nước – điều mà khi bắt đầu dân chủ hoá những năm đầu thập niên 1980 những người Hàn Quốc lạc quan nhất có lẽ cũng không thể nghĩ tới. 

=========

Parasite (2019) - Tại sao, Oscar?



Một bên là tác phẩm sử thi về “Cuộc chiến vĩ đại” – Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đến từ vị đạo diễn người Anh từng giành giải Oscar cho phim hay nhất ngay với tác phẩm đầu tay và được quay bởi một trong những tên tuổi quan trọng nhất của giới quay phim Hollywood. Một bên là một bộ phim của Hàn Quốc, lấy bối cảnh Hàn Quốc, sử dụng tiếng Hàn, đến từ một đạo diễn chưa từng bao giờ được đề cử ở giải Oscar. Liệu tác phẩm nào trong số này sẽ là người chiến thắng trong các giải thưởng “Phim hay nhất” của mùa giải thưởng điện ảnh 2019? Với cái gu trao giải vốn có của giới điện ảnh Âu – Mỹ, có lẽ nhiều người sẽ lựa chọn tác phẩm đầu tiên, và thực tế cũng đã cho thấy rằng tác phẩm này – bộ phim 1917 của đạo diễn người Anh Sam Mendes đã vượt qua bộ phim Hàn Quốc Ký sinh trùng ở gần như toàn bộ các giải thưởng tiền Oscar quan trọng nhất như Giải Quả cầu vàng, Giải BAFTA của Viện Hàn lâm Nghệ thuật Điện ảnh và Truyền hình Anh Quốc, giải Phim hay nhất của Hiệp hội các nhà sản xuất điện ảnh Hoa Kỳ (PGA). Bởi thế mà không chỉ người hâm mộ và các nhà báo về điện ảnh, mà đến chính giới cá cược cũng không đánh giá cao Ký sinh trùng bằng 1917 trong cuộc đua tới giải thưởng quan trọng nhất năm của điện ảnh thế giới – Giải Oscar cho phim hay nhất. Theo trang tổng hợp cá cược Vegas Insider, nếu đặt cược 100 đô la Mỹ vào việc 1917 giành giải thì bạn sẽ chỉ có thêm được 20 đô la Mỹ nếu bộ phim này thực sự chiến thắng, còn nếu Ký sinh trùng là lựa chọn đúng của bạn, thì 100 đô la đặt cược sẽ mang lại cho bạn tới 300 đô la Mỹ. 

Vậy mà bất chấp mọi dự đoán và lịch sử trao giải của chính giải Oscar, Ký sinh trùng của đạo diễn người Hàn Quốc Bong Joon-ho đã vượt qua 1917 để trở thành tác phẩm nói tiếng nước ngoài đầu tiên giành được Giải Oscar cho phim hay nhất – một kỳ tích mà 10 tác phẩm nói tiếng nước ngoài khác từng được đề cử ở hạng mục này không thể làm được dù cho đó là những tác phẩm thuộc dạng kinh điểm của điện ảnh thế giới như La Grande Illusion (1938) và Z (1969) của Pháp, Life Is Beautiful (1998) của Ý, hay Ngọa Hổ Tàng Long (2000) của Đài Loan. Điều gì đã làm nên thành công bất ngờ của Ký sinh trùng? Trước tiên bất ngờ này có thể đến từ chính Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật điện ảnh Hoa Kỳ (AMPAS) – cơ quan chủ quản của Giải Oscar. Sau vài năm liên tục nhức đầu vì việc phải lựa chọn các tác phẩm “vị nghệ thuật” hay “vị nhân sinh” trong bối cảnh xã hội và chính trị nước Mỹ có nhiều biến động và chia rẽ, có lẽ bản thân các thành viên của Viện Hàn lâm – những người được quyền bỏ các lá phiếu cuối cùng chọn phim chiến thắng cũng muốn tìm kiếm một cái gì đó mới mẻ từ các cái tên tranh giải, đặc biệt là sau một năm giải Oscar gây thất vọng lớn cho công chúng với việc chọn Green Book (2018) – một tác phẩm không nổi trội nhưng lại phù hợp với các trào lưu đòi bình quyền đang diễn ra sôi nổi ở Hoa Kỳ làm cái tên chiến thắng cuối cùng. Nếu so với bộ phim xuất sắc nhưng rất “truyền thống” là 1917 thì rõ ràng Ký sinh trùng quá sức mới mẻ với cách tiếp cận thông minh, giàu chất ẩn dụ về một vấn đề xã hội mang tính phổ quát – mâu thuẫn giai cấp trong một xã hội tư bản hiện đại và thịnh vượng. Hơn thế nữa, nếu chưa từng xem các tác phẩm tiêu biểu của dòng phim trinh thám và film noir Hàn Quốc như The Quiet Family (1998) của Kim Jee-woon hay Memories of Murder (2003) của chính Bong Joon-ho, hẳn nhiều thành viên của AMPAS cũng cảm thấy bất ngờ với cách xây dựng nhân vật và tạo dựng kịch tính của truyện phim thông qua vô số nút thắt mở không ai có thể lường trước của đạo diễn 50 tuổi người miền Nam Hàn Quốc. Tính mới chính là thế mạnh vượt trội của Ký sinh trùng so với cả 8 tác phẩm nghiêm cẩn nhưng không quá đột phá của hạng mục Phim hay nhất giải Oscar năm nay, và có lẽ chính tính mới này đã đẩy cán cân ủng hộ của AMPAS nghiêng về phía tác phẩm của đạo diễn Bong Joon-ho trong những phút cuối cùng. Ở đây, khán giả cũng có thể phỏng đoán rằng việc trao giải thưởng lớn nhất cho một tác phẩm phần nào đó đại diện cho cộng đồng thiểu số trong xã hội Mỹ - những người gốc Á như Ký sinh trùng cũng là một quyết định hợp lòng của AMPAS trong bối cảnh dù đã rất cố gắng nhưng đến tận lễ trao giải năm nay giải Oscar vẫn bị chỉ trích là “toàn da trắng”, “toàn nam giới” – “thương hiệu” mà không thành viên nào của Viện Hàn lâm còn muốn dính dáng trong bối cảnh giới điện ảnh Hollywood luôn là những người đi đầu trong các phong trào xã hội hiện đại của Hoa Kỳ.

Lời giải thích thứ hai cho chiến thắng đầy ngạc nhiên của Ký sinh trùng có lẽ nằm ở ảnh hưởng ngày càng lớn của văn hóa Hàn Quốc trên thế giới nói chung và trong chính lòng nước Mỹ nói riêng. Ở mặt trận điện ảnh, Hàn Quốc là một trong những quốc gia “xuất khẩu” đạo diễn hàng đầu ở Hollywood với việc bộ ba Park Chan-wook, Bong Joon-ho, và Kim Jee-won – những đạo diễn có cách làm phim hết sức hiện đại sau khi gây dựng được sự nghiệp ở quê hương đã dần tạo được tên tuổi ở xứ cờ hoa sau những thành công nhất định cả về mặt nghệ thuật và doanh thu. Sau khi giành Giải thưởng lớn tại Liên hoan phim Cannes – một trong những giải thưởng điện ảnh lớn nhất của Hàn Quốc ở tầm quốc tế với Oldboy (2003), Park Chan-wook đã lấn sân sang Hollywood với tác phẩm nói tiếng Anh, sử dụng các ngôi sao Hollywood là Stoker (2013) trước khi quay trở về Hàn Quốc thực hiện bộ phim đậm chất Hàn The Handmaiden nhưng vẫn được công chúng Mỹ hết sức yêu thích. Bậc thầy phim xã hội đen Hàn Quốc Kim Jee-woon sau khi cho ra đời một loạt các tác phẩm “toàn Hàn Quốc” được người yêu điện ảnh hành động ca ngợi như A Bittersweet Life (2005) và I Saw the Devil (2010) cũng được hãng Lionsgate tín nhiệm giao đạo diễn bộ phim hành động The Last Stand với sự xuất hiện của hai ngôi sao Arnold Schwarzenegger và Johnny Knoxville. “Đi sau” nhưng lại “đến đích trước”, Bong Joon-ho sau nhiều năm được coi là ông vua phòng vé của Hàn Quốc với Memories of Murder (2003) và The Host (2006) mới bắt đầu tạo dựng tên tuổi của mình ở các liên hoan phim quốc tế với với Mother (2009) và sau đó 10 năm là Ký sinh trùng – tác phẩm giành về cho Hàn Quốc Giải Cành cọ vàng đầu tiên tại Liên hoan phim Cannes. Sau khi hợp tác với Park Chan-wook trong tác phẩm hành động lấy bối cảnh thời hậu tận thế Snowpiercer (2013) – bộ phim tương đối thành công về doanh thu và gây ảnh hưởng tới mức một loạt phim truyền hình cùng tên lấy cảm hứng từ bộ phim này sẽ được hãng TNT của Hoa Kỳ phát trong năm 2020, Bong Joon-ho đã được hãng Netflix mời thực hiện bộ phim khoa học giả tưởng Okja (2017) – một trong những tác phẩm gốc được đánh giá cao của Netflix. Khác với những cái tên gốc Hàn nhưng tạo dựng tên tuổi hoàn toàn ở Hoa Kỳ như Jennifer Yuh (đạo diễn của Kung Fu Panda 2, Kung Fu Panda 3, và The Darkest Minds), Steven Yeun (ngôi sao gắn liền với thành công của The Walking Dead), hay Sandra Oh (tên tuổi lớn của loạt phim truyền hình Grey's Anatomy), Park Chan-wook, Bong Joon-ho, hay Kim Jee-won theo thời gian đã làm được một kì tích đó là giúp công chúng Hoa Kỳ - những người vốn không thực sự cởi mở với các tác phẩm nghệ thuật mang đậm chất địa phương của các quốc gia khác dần cảm và hiểu được chất Hàn Quốc trong các bộ phim dù là sản xuất ở Hàn Quốc hay Hoa Kỳ của các đạo diễn này. Thất bại toàn diện năm 2013 của đạo diễn tên tuổi Spike Lee khi cố làm lại Oldboy của Park Chan-wook lại càng cho người Mỹ thấy rằng cái chất Hàn Quốc, cái chất Á Đông không phải là thứ dễ dàng “làm lại” hay mô phỏng nếu thiếu sự thấu hiểu, sự tinh tế vốn đã ăn vào máu của những người Hàn Quốc 100% như Park, như Bong, như Kim. Bởi vậy sẽ là không ngoa khi đưa ra nhận xét rằng thành công hiện tại của Ký sinh trùng chính là đỉnh điểm thăng hoa của một quá trình tích lũy lâu dài đến từ bộ ba Park Chan-wook, Bong Joon-ho, và Kim Jee-won tương tự như cái cách “Ba người bạn Mexico” Alfonso Cuarón, Alejandro González Iñárritu và Guillermo del Toro đã chinh phục Hollywood trong vòng 3 thập niên trở lại đây.

Cuối cùng, dù tương đối khác nhau nhưng giới quan sát vẫn hoàn toàn có thể sự trùng lặp giữa việc Ký sinh trùng gây tiếng vang cả trong phòng vé (doanh thu bộ phim trên toàn thế giới đã lên tới trên 160 triệu, trong đó có trên 35 triệu đến từ thị trường Mỹ - con số kỷ lục cho một tác phẩm Hàn Quốc) và trong cuộc đua giành giải thưởng điện ảnh với sự lên ngôi của các ban nhạc k-pop thuộc Làn sóng văn hóa Hàn (Hallyu) ở Hoa Kỳ và trên thế giới mà tiêu biểu là BTS. Sau nhiều thập niên chỉ làm mưa làm gió ở thị trường châu Á, BTS kể từ vài năm trở lại đây đã mở ra cánh cửa cho các bạn nhạc k-pop chiếm lĩnh thị trường nhạc trẻ Âu – Mỹ nhờ những giai điệu bắt mắt và kỹ năng nhảy tuyệt hảo. Dù các thành viên của AMPAS có lẽ không còn ở độ tuổi khán giả của BTS hay Blackpink, nhưng việc gương mặt đẹp và tên tuổi của những RM, Jungkook (thành viên BTS), Jennie (thành viên Blackpink), hay Taeyong (thành viên NCT 127) liên tục xuất hiện trên truyền hình và truyền thanh Hoa Kỳ cũng phần nào đó tạo sự thiện cảm nhất định của công chúng Mỹ nói chung – trong đó có các thành viên của AMPAS với văn hóa đại chúng Hàn Quốc.

Vì AMPAS không công khai lý do hay số lượng các phiếu bầu cho từng ứng viên của hạng mục Phim hay nhất, nên chúng ta sẽ không bao giờ thực sự giải thích được tại sao Ký sinh trùng từ một ẩn số lớn lại biến thành thắng lợi lịch sử của điện ảnh Hàn Quốc tại lễ trao Giải Oscar lần thứ 92 như vậy. Nhưng có một điều chắc chắn rằng thắng lợi này của Ký sinh trùng và của đạo diễn Bong Joon-ho sẽ tạo cơ hội cho giới làm điện ảnh của châu Á tiếp tục tiếp cận Hollywood và công chúng Mỹ bằng chính phong cách đậm chất địa phương của họ - thay vì phải Mỹ hóa hoàn toàn như Lý An đã làm trong thập niên 1990. Chúng ta hoàn toàn có thể hy vọng rằng trong thời gian tới đây, Hollywood sẽ giới thiệu tới công chúng Mỹ và thế giới những tác phẩm thực sự mang phẩm chất Á Đông nhưng vẫn kể được những câu truyện mang tính phổ quát như cách “Ký sinh trùng” đã làm nên lịch sử ngày 9 tháng 2 năm 2020 vừa qua.

=======

lundi 10 février 2020

Little Women (2019)


Trong những năm những người đàn ông khoác áo lính của Liên bang miền Bắc và Liên minh miền Nam đang giao tranh quyết liệt trên các chiến trường đẫm máu của cuộc Nội chiến Hoa Kỳ, thì tại thị trấn nhỏ Concord bang miền Bắc Massachusetts, gia đình nhà March hoàn toàn là một thế giới thu nhỏ của những người phụ nữ nhỏ bé. Đó là bà Marmee March (Laura Dern), người phụ nữ hiền hậu và đảm đang một nách phải quản bốn cô con gái đang trong độ tuổi mới lớn, đồng thời vẫn phải quán xuyến mọi việc trong nhà và tham gia các hoạt động xã hội với hy vọng ông March (Bob Odenkirk) sẽ trở về với vợ và con gái sau khi chiến trường tắt tiếng súng. Bốn cô con gái của vợ chồng ông March là bốn tính cách hoàn toàn trái ngược. Chị cả Margaret "Meg" (Emma Watson) dịu dàng với vẻ đẹp của một cô thiếu nữ mới lớn và mong ước được trở thành một phần của giới nghệ sĩ và thượng lưu thông qua việc tìm được một tấm chồng “đáng giá” trong những buổi khiêu vũ dành cho các cô gái trẻ. Hoàn toàn trái ngược với chị gái, cô con gái thứ hai của nhà March là Josephine "Jo" (Saoirse Ronan) lại sở hữu tính cách mạnh mẽ, bướng bỉnh nhất quyết không chịu nhún nhường trước bất cứ ai nhưng lại sẵn lòng đặt cả trái tim và khối óc vào những trang viết như một nhà văn nữ thật sự. Không đam mê viết lách, cô con gái thứ ba của nhà March là Amy (Florence Pugh) với năng khiếu vẽ bẩm sinh lại nuôi trong mình ước mộng được trở thành một hoạ sĩ đại tài bất chấp việc cô gái mới vừa qua tuổi dậy thì luôn chịu lép vế trước hai cô chị nhiều máu nghệ sĩ Meg và Jo. Không rõ có phải được sinh ra cuối cùng sau ba người chị gái có tính cách mạnh mẽ, mà cô út Elizabeth "Beth" (Eliza Scanlen) lại là người ít nói, bẽn lẽn nhất dù là người sở hữu ngón tay điêu luyện nhất trên những phím đàn. Dù cuộc sống thời chiến có vất vả giữa vùng quê lạnh lẽo xứ New England, nhưng tình yêu thương và niềm tin vào cuộc sống giúp gia đình nhà March có một cuộc sống yên bình, hạnh phúc tưởng chừng không gì chia cắt. 

Bảy năm sau những ngày hoa mộng ấy, Jo xuống Thành phố New York để kiếm tìm cơ hội với ngòi bút – một thử thách chẳng hề dễ dàng trong một xã hội dù đã có chút hiện đại nhưng vẫn còn đầy ắp định kiến và tâm lý trọng nam khinh ngữ, đặc biệt là trong những lĩnh vực đòi hỏi tính sáng tạo, và sự độc lập, như nghề viết. Dù có những người bạn tốt như anh chàng “giáo sư” người Pháp Friedrich Bhaer (Louis Garrel) luôn sẵn lòng ở bên cô trong lúc khó khăn, nhưng sự khốc liệt của trong làng văn New York để có được một vị trí giữa những nhà văn nam giới đã khiến Jo vẫn có những giây phút yếu lòng, khi cô nhớ lại ngôi nhà nhỏ ở Concord cùng các chị em gái của cô, và ngẫm nghĩ về lý do tại sao cái gia đình nhỏ bé mà hạnh phúc ấy, và bản thân cuộc đời của chính cô lại thay đổi hoàn toàn kể từ khi có sự xuất hiện của anh chàng lãng tử Theodore "Laurie" (Timothée Chalamet) – cháu trai duy nhất của ông lão hàng xóm giàu có và tốt bụng Laurence (Chris Cooper). 

Là bộ phim thứ ba trong sự nghiệp đạo diễn của nữ đạo diễn đang lên Greta Gerwig, nhưng đây đã là lần thứ bảy Little Women (Những cô gái nhỏ) được chuyển thể lên màn ảnh lớn trong vòng một thế kỷ qua. Đó là bởi cuốn tiểu thuyết thứ hai trong sự nghiệp của nhà văn nữ Louisa May Alcott với một nội dung đơn giản là kể lại một phần cuộc đời nhiều sự kiện của bà cùng các chị em gái nơi thôn quê New England ngay sau khi ra đời năm 1868 đã được coi là một hiện tượng của văn học Hoa Kỳ không chỉ bởi nội dung giản dị, lôi cuốn, mà còn vì đây là một trong những tác phẩm văn học đầu tiên của văn đàn Mỹ xây dựng được hình ảnh những người phụ nữ độc lập, năng động trong bối cảnh nước Mỹ nói riêng và xã hội phương Tây nói chung vẫn còn đang ở trong tình trạng trọng nam khinh nữ hết sức nặng nề. Thông điệp nữ quyền thấm đẫm trong tác phẩm của nữ nhà văn người Massachusetts có lẽ chính là lý do chính thúc đẩy Greta Gerwig chắp bút viết kịch bản và tự tay đạo diễn lần chuyển thể điện ảnh thứ bảy của Little Women sau thành công vang dội của tuyệt phẩm dành cho tuổi mới lớn Lady Bird (2017). Với kinh phí chỉ vỏn vẹn 10 triệu đô la, Lady Bird của Gerwig đã gây tiếng vang lớn với 5 đề cử Oscar với cách kể truyện chân thành, cảm động về những trăn trở đầu đời của cô thiếu nữ Lady Bird (Saoirse Ronan) đang gắng tìm kiếm cho mình chân trời mới, sự vô giá của tình yêu thương giữa người thân trong gia đình, và cả mối dây liên hệ vô hình giữa mỗi cá nhân với nơi chôn nhau cắt rốn của bản thân. Ở Little Women một lần nữa người xem lại được lặng ngắm những câu chuyện đầy tình người ấy qua diễn xuất tràn đầy năng lượng và tình cảm của chính Saoirse Ronan trong vai Jo – nhân vật trung tâm và cũng là người kể chuyện của cả bộ phim. Thừa hưởng phần nội dung gốc của một tác phẩm đã được xếp vào hàng kinh điển, Little Women có tuyến nhân vật hết sức dày dặn, nhiều màu sắc, nhiều cung bậc cảm xúc và cực kì đáng nhớ. Bởi vậy mà không chỉ Jo của Saoirse Ronan mà các gần như toàn bộ tuyến nhân vật của Little Women đều tạo được dấu ấn khác biệt, từ sự hồn hậu, ngây thơ đến nao lòng của Beth qua sự thể hiện của nữ diễn viên tuổi mới ngoài đôi mươi Eliza Scanlen, cho đến cái cách sóng gió cuộc đời dần làm nhoà đi sự vô ưu trong tâm tính của Amy nhờ diễn xuất tuyệt vời của Florence Pugh, và tất nhiên không thể không kể đến sự xuất hiện dù không nhiều nhưng luôn toả ra sự ấm áp của tình mẹ đến từ Bà March – một trong hai vai phụ xuất sắc của năm 2019 đến từ cùng một cái tên Laura Dern. 

Để tạo sự khác biệt so với những chuyển thể trước đây của Little Women, Greta Gerwig cũng lựa chọn cho mình một cách tiếp cận hiện đại trong việc chuyển thể tiểu thuyết đã được xuất bản từ năm 1868 với cách sắp xếp phi tuyến xen kẽ giữa “hiện tại” màu xám của năm 1868 với “quá khứ” màu hồng của những năm Nội chiến cùng cách kể chuyện kết hợp cả góc nhìn của người thứ ba và người thứ nhất. Cấu trúc tương đối phức tạp này của Little Women khiến tác phẩm mới nhất của Greta Gerwig trở nên tương đối khó theo dõi nếu so với sự giản dị của Lady Bird. Nhưng càng xem, khán giả sẽ càng thấy cuốn hút trước các tuyến truyện đan xen như chính cuộc đời rất nhiều nút thắt của Jo, của Amy, của Laurie. Và quan trọng hơn thế, cách kể chuyện hiện đại của Greta Gerwig cũng tạo ra sự khác biệt và mới mẻ cho lần chuyển thể thứ bảy của Little Women, một thử thách không hề dễ dàng cho bất cứ đạo diễn nào khi phải đưa lên màn ảnh lớn một tác phẩm đã được xếp vào hàng kinh điển và đã được chuyển thể trước đó bởi nhiều đạo diễn tài năng và dàn diễn viên thượng hạng như Gillian Armstrong (phiên bản năm 1994 với sự xuất hiện của Winona Ryder trong vai Jo và Christian Bale trong vai Laurie) hay George Cukor (phiên bản năm 1933 với sự xuất hiện của Katharine Hepburn trong vai Jo và Douglass Montgomery trong vai Laurie). Sự mới mẻ của Little Women còn đến từ tài năng của hai cái tên Pháp trong đoàn làm phim của Greta Gerwig – đó là nhà quay phim Yorick Le Saux và nhà soạn nhạc Alexandre Desplat. Với những góc máy lạ và cách chọn ánh sáng cũng như tông màu dịu ngọt, Yorick Le Saux không chỉ đem lại cho vùng đất New England của nước Mỹ thế kỷ 19 một vẻ đẹp bình yên, thân thuộc, mà còn giúp đặc tả tâm trạng và số phận những người phụ nữ nhỏ bé nhà March trong những thời khắc quan trọng của cuộc đời họ thông qua dáng hình, màu sắc mà chẳng cần tới bất cứ câu thoại nào. Về phần mình, Alexandre Desplat lại một lần nữa chứng tỏ sự mát tay của ông trong việc viết nhạc cho những bộ phim có nhịp độ nhẹ nhàng, đòi hỏi chiều sâu cảm xúc. Người xem có thể quên nội dung cuộc trò chuyện giữa Jo và Beth trên bãi biển năm nào, nhưng chắc chắn họ chẳng thể quên cái cách hai chị em dựa vào nhau trong cái lạnh đến tê người đến từ gió biển trong một ngày u ám điển hình của vùng đất phương Bắc New England. Và người xem cũng có thể quên tên anh chàng “giáo sư” thẳng tính Friedrich nhưng có lẽ sẽ không thể quên cái cách anh giáo sư dạo nên những nốt nhạc da diết của bản xô-nát số 8 của Beethoven trên chiếc đàn thân yêu của Beth – những nốt nhạc nói lên nỗi lòng của tất cả những thành viên nhà March khi nghĩ về những người họ yêu quý. Những thành công riêng của Yorick Le Saux và Alexandre Desplat đã khoác lên Little Women – một tiểu thuyết đã có trên 150 năm tuổi một tấm áo khác biệt, mới mẻ, gần gũi và hết sức lôi cuốn.

Trái ngược với cái tên của mình (có thể dịch là “Những cô gái nhỏ” hay “Những người phụ nữ nhỏ bé”), Little Women là câu truyện về những người phụ nữ mạnh mẽ, dám yêu, dám sống, dám lựa chọn cho mình một số phận thay vì chịu sự sắp đặt của cha mẹ, của xã hội, của định kiến người đời. Chẳng cần lên gân với những thông điệp mang tính cổ động, tuyên truyền, cũng chẳng cần kịch tính hóa một cách quá mức cần thiết những câu chuyện buồn mà đời người ai chẳng có, Little Women vẫn tạo được sự đồng cảm từ khán giả nhờ rất nhiều những lát cắt vui có, buồn có, nhưng đều rất đẹp, rất đời về những người phụ nữ nhà March. Sau khi xem xong phim, có lẽ mỗi khán giả sẽ đem về cho một mình một câu truyện riêng từ Little Women. Đó có thể là bài học về cách yêu và cách mở lòng cho tình yêu của những cô gái mới lớn như Jo, như Amy. Đó có thể là bài học về cách vượt qua gánh nặng của cơm áo gạo tiền để biến tình yêu, sự nhiệt huyết với nghiệp viết trở thành thành công và danh tiếng dài lâu. Hoặc đó có thể là bài học giản đơn về cách dung hòa những mâu thuẫn trong tính cách, trong lối sống hiện hữu ở bất cứ gia đình nào để mọi thành viên trong gia đình yêu thương và hiểu nhau hơn. Nhưng chắc chắn rằng mỗi người trong số chúng ta sau khi xem xong Little Women của Greta Gerwig đều có thể cảm nhận được rằng đây là một tác phẩm của những người phụ nữ, làm về những người phụ nữ, và để nói lên sự trân quý và tin yêu hết mực của những người làm phim dành cho phụ nữ.

========

vendredi 24 janvier 2020

1917 (2019)


Tháng Tư năm 1917, sau ba năm đẫm máu của cuộc Thế chiến lần thứ nhất, thế trận giữa Phe Đồng minh và Liên minh Trung tâm tại mặt trận phía Tây vẫn chưa thực sự ngã ngũ khi mà binh sĩ hai bên vẫn phải ẩn mình trong những hầm hào chật hẹp ở miền Bắc nước Pháp để tránh cái chết gần như là chắc chắn cho bất cứ ai cả gan đặt chân vào vành đai trắng giữa hai chiến tuyến no man’s land. Trong bối cảnh ấy, quân Đức – lực lượng trụ cột của Liên minh Trung tâm khiến toàn bộ Phe Đồng minh bất ngờ khi tung tin sẽ rút khỏi chiến tuyến họ đã dùng không biết bao nhiêu máu thịt để chiếm và giữ từ tay người Pháp và đồng minh của họ là người Anh. Cho rằng đây là cơ hội nghìn năm có một để giáng một đòn chí mạng vào lính Đức, tiểu đoàn 2 của Trung đoàn Devonshire dưới sự chỉ huy của đại tá Mackenzie (Benedict Cumberbatch) được lệnh cấp tốc vượt chiến tuyến để đánh chặn quân Đức đang rút lui. 

Chỉ một ngày trước kế hoạch tổng tấn công của tiểu đoàn Mackenzie, ở phía sau chiến tuyến của người Anh, tướng Erinmore (Colin Firth) lại nhận được mật báo rằng kịch bản của quân Đức chỉ là một cái bẫy để kéo 1600 lính của đại tá Mackenzie trở thành mồi ngon cho những cỗ pháo Đức đã được lên nòng chờ sẵn. Không có cách nào liên lạc với Mackenzie bởi đường dây điện thoại đã bị cắt đứt do binh lính của Trung đoàn Devonshire đã di chuyển qua chiến tuyến của người Đức và vượt quá tầm với của đường dây điện thoại giao liên. Không còn thời gian và cũng không còn giải pháp khác, tướng Erinmore buộc phải giao phó mật lệnh huỷ cuộc tấn công của tiểu đoàn Mackenzie cho hai anh chàng binh nhất Tom Blake (Dean-Charles Chapman) và Will Schofield (George MacKay) để hai người lính với khuôn mặt non choẹt này vượt qua chiến tuyến và vành đai trắng mang tới cho đại tá Mackenzie trước buổi bình minh của cuộc tấn công. Từng tham gia và thậm chí là giành được huân chương dũng cảm tại chiến trường ở Sommes – một trong những cối xay thịt khủng khiếp nhất của Thế chiến thứ nhất, Schofield hiểu hơn ai hết hiểm nguy và cái chết rình rập trong từng hố đạn pháo, từng đoạn hầm hào của vành đai trắng và tỏ rõ sự ngần ngừ khi phải nhận nhiệm vụ liều chết do tướng Erinmore giao cho. Nhưng trách nhiệm của một người bạn, một người đồng đội cũng lại khiến Schofield không thể bỏ mặc Tom Blake – người một sống hai chết vẫn quyết tâm vượt chiến tuyến bởi lý do đơn giản là ở phía bên kia, trong 1600 người lính của đại tá Mackenzie có trung uý Joseph Blake (Richard Madden), anh trai của Tom, và bằng mọi giá – kể cả chính mạng sống của mình, Tom Blake không muốn để anh trai phải rơi vào cạm bẫy giăng sẵn của kẻ thù.

Theo chia sẻ của đạo diễn người Anh Sam Mendes – đạo diễn của bộ phim giành giải Oscar American Beauty (1999) và bộ đôi phim ăn khách về điệp viên 007 Skyfall (2012) và Spectre (2015) thì ông làm 1917 là để kể lại câu chuyện chiến trường của người ông – nhà văn có tiếng Alfred Mendes về thời gian ông làm giao liên cho quân đội Anh trên những chiến trường đẫm máu của cuộc đại chiến thế giới lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Vốn là nhà làm phim với sở trường là các tác phẩm bi kịch – từ cuộc sống tưởng chừng đẹp đẽ nhưng ngột ngạt của một gia đình trung lưu người Mỹ trong American Beauty, cho tới con đường diệt vong của những người đã lỡ bước chân vào nghiệp băng đảng trong Road to Perdition (2002), và cả sự tan vỡ của những mỗi tình tưởng chừng không thể chia cắt trong Revolutionary Road (2008), có lẽ Sam Mendes đã tìm thấy một đề tài nữa đúng với khẩu vị của mình ở bi kịch của những người lính phải chui rúc không khác gì những con chuột cống trong những hầm hào của Mặt trận phía Tây Chiến tranh thế giới lần thứ nhất để lẩn trốn cái chết. Trong cuộc chiến hầm hào ấy, cái chết có thể đến đột ngột cho những ai dám cả gan ló đầu ra khỏi các chiến hào hay bước chân vào những vành đai trắng chằng chịt hố bom và dây thép gai, nhưng sự diệt vong cũng có thể thẩm thấu một cách từ từ qua da thịt của những người lính phải dán mình nhiều ngày, thậm chí là nhiều tháng trong không gian chật hẹp, nhớp nháp của hầm hào bên cạnh vô số chuột bọ, bệnh tật, và áp lực tâm lý nặng nề của những số phận hàng ngày phải đối mặt với cái chết. Nhưng kịch bản 1917 của Sam Mendes và nữ biên kịch trẻ Krysty Wilson-Cairns không chỉ dừng lại ở đó. Bộ phim còn là câu truyện về niềm tin, về khả năng sinh tồn, về sức sống mãnh liệt của con người và thiên nhiên trước sức tàn phá khủng khiếp của bom đạn, của ngọn lửa vô tình của chiến tranh điêu tàn. Người xem có thể cảm nhận được rõ ràng tinh thần sống của 1917 qua chuyến đi đầy hiểm nguy của hai người lính trẻ nhưng luôn giữ trong mình niềm tin tới đích Blake và Schofield. Chẳng ai có thể sống sót một khi đã đặt chân vào vành đai trắng – những sĩ quan kinh nghiệm đầy mình như trung uý Leslie (Andrew Scott) đã thẳng toẹt như vậy khi “tiểu đội hai người” xin quyền vượt chiến tuyến để thi hành nhiệm vụ cảm tử tướng Erinmore đã giao phó. Nhưng Blake và Schofield vẫn quyết tâm dấn thân vào nghĩa địa của người, ngựa, và bom mìn ấy để đi tìm sự sống cho trung uý Joseph Blake và 1599 người khác trong tiểu đoàn của đại tá Mackenzie. Và cũng chính niềm tin vào sự sống ấy đã giúp hai người lính trẻ phát hiện ra rằng họ không phải những người duy nhất tin vào sự sống – bởi đây đó trong những trang trại nham nhở vì đạn pháo, giữa những căn nhà đổ sụp vì bom mìn, phía dưới những thành phố đang ngùn ngụt cháy bởi ngọn lửa của lính Đức thì cuộc sống vẫn đang sinh sôi nảy nở với những em bé khát sữa, và cả những chú bò sữa thủng thẳng gặm cỏ bất chấp cái chết rình rập. 

Cách đây 35 năm, đạo diễn Liên Xô Elem Klimov đã đem tới cho khán giả một tác phẩm được coi là xuất sắc bậc nhất của dòng phim chiến tranh trong lịch sử điện ảnh - Idi i smotri hay Hãy đến. Tác phẩm của hãng phim danh tiếng Mosfilm là chuyến hành trình đối diện với những hậu quả khủng khiếp từ Chiến tranh thế giới lần thứ hai của cậu bé Florya. Từ chỗ là một con người, đúng hơn là một đứa bé mới lớn, cậu bị bom đạn làm cho điếc, rồi bị sự dã man của lính Đức làm cho mất nốt cái giác quan quan trọng nhất của một con người – cảm giác rằng mình tồn tại bất chấp thực tế trớ trêu rằng Florya mới chính là người sống sót duy nhất. Thật tình cờ rằng khi so sánh gương mặt con trẻ của diễn viên Aleksei Kravchenko – người được đạo diễn Klimov giao thủ vai Florya với tạo hình của Schofield qua sự thể hiện của George MacKay, người xem sẽ tìm thấy nhiều nét tương đồng. Đó cùng là những gương mặt tròn trịa không nhiều góc cạnh kiểu người hùng, đó cùng là những đôi mắt buồn đến ngơ ngác nhất là sau khi phải chứng kiến cái chết, phải đối mặt với những xác người, xác động vật chết vì chiến tranh ở mọi nơi, mọi lúc. Cũng như Elem Klimov, Sam Mendes không ngần ngại “bắt” khán giả phải cảm nhận sự chết chóc và bạo lực của chiến tranh một cách trực diện với những cảnh quay không khoan nhượng từ góc nhìn của các nhân vật trong phim của họ về cái cách con người hành hạ và huỷ diệt con người, cái cách sự khốn khổ của nạn nhân của bạo lực tột cùng đó còn tiếp tục ngay cả sau khi họ đã chết khi mà những cái xác không hồn của họ trở thành mồi ngon cho quạ, cho thú hoang, cho sự gặm nhấm từ từ nhưng vô tình của thiên nhiên. Và cũng xuất sắc như Kravchenko, MacKay đã thể hiện rất thành công sự thương tổn sâu sắc của binh nhất Schofield khi đi qua muôn mặt của chiến tranh trên con đường đi tìm sự sống cho tiểu đoàn của đại tá Mackenzie. Tất nhiên Schofield không phải cậu bé mới lớn như Florya. Anh lính trẻ từng tham chiến ở Sommes – mặt trận từng chứng kiến hơn một triệu binh sĩ của hai phía bỏ mạng chỉ trong vòng ba tháng. Anh lính trẻ cũng trải nghiệm sự sống và cái chết nơi hầm hào nhiều tới mức chai sạn, nhiều tới mức sẵn sàng đổi tấm huân chương cao quý giành được vì lòng dũng cảm ở Sommes để lấy một chai vang Pháp cho thoả cơn khát. Nhưng chỉ từng ấy thôi cũng là không đủ để chuẩn bị cho Schofield để đối mặt với vô số những chết chóc và bi kịch rải đầy trên đường thi hành nhiệm vụ cảm tử cùng người đồng đội Tom Blake. Chỉ nhờ có kinh nghiệm chiến đấu dày dạn, và nhất là nhờ vào niềm tin mãnh liệt rằng “mình có thể đi tới đích”, Schofield mới có thể lết được qua từng dặm đường của chiến tranh mà không mất đi cái cảm giác còn sống, được sống như Florya trong Idi i smotri và tạo nên một 1917 dù bi kịch nhưng vẫn nhiều niềm tin hơn, nhiều hy vọng hơn tác phẩm năm xưa của đạo diễn Elem Klimov. 

Câu truyện của Schofield và Blake trên chiến trường giúp 1917 trở thành một bộ phim hay, nhưng phần hình ảnh của tác phẩm nhờ vào sự hợp tác giữa Sam Mendes và nhà quay phim vĩ đại Roger Deakins mới biến 1917 trở thành một tuyệt phẩm. Được biên tập như một bộ phim không hề có cắt cảnh, 1917 thực chất bao gồm rất nhiều cảnh quay dài được dựng một cách khéo léo để tạo cảm giác từ đầu đến cuối Roger Deakins không hề đóng máy để chuyển cảnh mà theo sát từng bước đi của Schofield và Blake trên con đường chông gai tìm kiếm đại tá Mackenzie. 1917 sử dụng rất nhiều góc máy cận cảnh và đặc tả nhân vật để giúp khán giả có cảm giác họ cũng là một thành viên của “tiểu đội hai người” phải đối mặt với những hiểm nguy và sự tàn khốc của chiến tranh vốn là một “đặc sản” của nhà quay phim 70 tuổi người Anh – người từng giành tới 15 đề cử Oscar cho quay phim xuất sắc nhất. Bên cạnh đó, Deakins cũng xen kẽ vào đó những cảnh quay tầm trung để người xem thấy được quy mô của cuộc chiến, sự khác biệt của từng quang cảnh làng mạc, thiên nhiên, chiến trường mà Schofield và Blake đã bước qua. Điểm đáng khâm phục đối với Roger Deakins và đội ngũ kỹ thuật của 1917 là việc tuy tác phẩm chiến tranh này có rất nhiều bối cảnh cực khó, từ những hầm hào chật hẹp ướt át cho tới những đồng cỏ rộng lớn mênh mông và tất nhiên không thiếu sự gồ ghề, góc cạnh, những chướng ngại tưởng chừng không thể vượt qua điển hình cho một cuộc chiến hầm hào, nhưng tất cả cảnh quay của bộ phim dù rất dài nhưng đều tạo cảm giác mượt mà, liền mạch với chất lượng quay rất cao và chứng tỏ đoàn làm phim của 1917 đã phải bỏ rất nhiều thời gian và công sức để lên kế hoạch kỹ lưỡng cho từng cảnh quay, từng cử động của các diễn viên trước khi bắt tay vào thực hiện bộ phim dài tới 2 tiếng này. Kết quả của từ sự cố gắng của Sam Mendes, Roger Deakins và những thành viên khác trong đoàn làm phim 1917 là một tác phẩm “không cắt” hoàn toàn có thể sánh ngang với bộ phim “không cắt” xuất sắc từng giành giải Oscar Birdman (2014) của bộ đôi đạo diễn-quay phim người Mexico Alejandro G. Iñárritu và Emmanuel “Chivo” Lubezki hay những cảnh quay hành động dài hàng chục phút của Children of Men (2006) – một thành quả nghệ thuật khác của Chivo Lubezki với đạo diễn Alfonso Cuarón. Nhưng quan trọng hơn thế, sự liền mạch, và trực diện trong cách quay của 1917 giúp bộ phim truyền tải được tới khán giả một cách trọn vẹn những cung bậc tình cảm hết sức khác nhau của một người lính giữa chiến trường tàn khốc – sự ngộp thở trong hầm hào hay phía dưới mặt nước đục ngầu của những con sông hung dữ, suy nghĩ run run ngập ngừng khi phải đối mặt với cái yên lặng đến rợn người của vành đai trắng no man’s land, và cả cảm giác máu chảy rần rật trong huyết quản khi phải chạy trốn cái chết đuổi theo sau lưng – cái chết đến từ hòn tên mũi đạn chưa bao giờ biết phân biệt địch với thù. Với tài năng của Roger Deakins tỏa ra từ từng khung hình, cộng thêm xúc tác quan trọng là phần nhạc phim bi tráng của Thomas Newman – nhà soạn nhạc đã song hành với Sam Mendes kể từ thành công của bộ phim đầu tay American Beauty, có thể nói không ngoa rằng “1917” là một trong những tác phẩm hành động – sử thi xuất sắc nhất trong vòng mười năm trở lại đây của Hollywood và thậm chí có phần còn nổi trội hơn cả Dunkirk (2017) – tác phẩm lấy bối cảnh Chiến tranh thế giới thứ hai của đạo diễn Christopher Nolan vốn có rất nhiều cảnh quay xuất sắc nhưng lại sử dụng cách tiếp cận nhân vật hơi có phần quá anh hùng, quá bi kịch nếu phải so với sự gần gũi, dễ liên tưởng, dễ cảm nhận của Schofield hay Blake dưới bàn tay nhào nặn của Sam Mendes.

1917 không phải là một tác phẩm hoàn hảo. Cách xây dựng nhân vật và phong cách quay “không cắt” của bộ phim giúp 1917 có được cảm giác hết sức chân thực của một tác phẩm hiện đại về đề tài chiến tranh, nhưng kịch bản của Sam Mendes và Krysty Wilson-Cairns dường như vẫn chứa đựng một số điểm thắt, chi tiết “tình cờ” nhưng tạo cảm giác không hề ngẫu nhiên, thậm chí còn là hơi gượng ép để tạo thêm kịch tính cho một tác phẩm hành động – chiến tranh vốn đã có quá nhiều kịch tính. Những khán giả khó tính có thể coi cách xây dựng kịch bản như vậy đã phần nào đó làm hỏng ý đồ “hiện thực hóa”, “chân thực hóa” cuộc chiến của Sam Mendes đối với 1917. Nhưng nhìn ở một khía cạnh khác, kịch tính và cao trào liên tục của 1917 lại đã giúp bộ phim có được một chuyến du hành qua chiến tranh – chạy trốn cái chết hết sức đáng nhớ của các nhân vật chính. Chỉ hơn hai thập niên sau những sự kiện của 1917, châu Âu và thế giới nói chung lại phải đối diện với một cuộc đại chiến khác – Thế chiến thứ hai. Trong cuộc chiến còn tàn bạo, khốc liệt hơn cả cuộc đại chiến đầu tiên ấy, một trong những ca khúc được binh lính Anh yêu quý nhất đó là nhạc phẩm The White Cliffs of Dover (Những vách đá trắng ở Dover) qua giọng hát của Vera Lynn. Không nói tới vinh quang của cuộc chiến, không nói tới những tấm huân chương, những danh hiệu cao quý, The White Cliffs of Dover chỉ gợi những người lính Anh nhớ tới những gì quen thuộc nhất, thân thương nhất nơi quê hương, đó là những vách đá trắng ở Dover, những thung lũng đầy hoa, những đàn cừu thản nhiên gặm cỏ. 1917 cũng là một tác phẩm như thế. Bộ phim không hề tô son điểm phấn cho chiến tranh, không hề cố khắc họa những người hùng của chiến trận hay tô đậm hào quang của những cái chết trên chiến trường. Trái lại Mendes và Deakins chỉ tập trung để mô tả những góc cạnh xấu xí nhất, tàn bạo nhất của cuộc chiến và khắc họa số phận của những người bình thường nhất khi bị đặt vào những nơi hiểm nguy nhất. Nhưng kết phim 1917 vẫn cho người xem niềm tin, niềm tin rằng số phận nhân vật họ đang nín thở theo dấu từ đầu bộ phim vẫn còn le lói chút gì đó hy vọng, niềm tin rằng kể cả giữa khốc liệt của chiến trường, vẫn còn đó nhân tính, tình người. Một tác phẩm lấy đề tài chiến tranh như thấm đẫm tinh thần phản chiến và mang trong mình rất nhiều niềm tin, 1917 xứng đáng là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của điện ảnh Hollywood năm 2019. 

========

mardi 21 janvier 2020

Joyeux Noël (2005)



Mùa Hè năm 1914, có lẽ không một người dân châu Âu nào có thể ngờ được rằng những đốm lửa xung đột ở Lục địa già này sẽ bùng cháy trở thành Chiến tranh thế giới lần thứ nhất – cuộc chiến với quy mô huỷ diệt bậc nhất mà loài người chưa từng được chứng kiến cho đến thời điểm đó. Những trận chiến hầm hào kéo dài hàng tháng, thậm chí là hàng năm của cuộc Đại chiến này đã huỷ diệt không biết bao sinh mạng người dân và binh sĩ của cả hai phe, và cũng đẩy hàng triệu số phận ở các quốc gia tham chiến vào những khúc quanh họ không thể ngờ tới. Một trong những số phận nhỏ bé như thế là Nikolaus Sprink (Benno Fürmann) – một ca sĩ opera có tiếng ở Berlin phải giã từ sự nghiệp và người vợ hiền Anna Sørensen (Diane Kruger) để lên đường ra mặt trận. Ở phía kia chiến tuyến, Đức cha Palmer (Gary Lewis) cũng quyết định rời bỏ quê hương Scotland để trở thành Cha tuyên uý giữa những chiến hào miền Bắc nước Pháp để làm chỗ dựa về mặt tinh thần cho những người lính hàng ngày phải đối mặt với cái chết như Gordon (Alex Ferns) và Jonathan (Steven Robertson). Cũng đang đối đầu với những người lính Đức để bảo vệ quê hương là viên sĩ quan người Pháp Camille René Audebert (Guillaume Canet) – người đang phải hàng ngày chiến đấu trong nỗi lo sợ cho gia đình nhỏ của anh bị bỏ lại trong một làng quê Pháp đã rơi vào vòng kiểm soát của người Đức. Nhưng trong đêm Giáng Sinh, khi tuyết rơi phủ trắng mảnh đất chết chóc nơi hàng nghìn, hàng vạn người lính đã phải bỏ mạng, nơi những người còn sống vẫn đang phải từng giờ từng phút chạy trốn cái chết đến từ súng đạn, đến từ bom mìn, đến từ góc sắc của lưỡi lê và dây thép gai, đột nhiên binh lính ở cả hai phía chiến tuyến nhận ra rằng họ vẫn khao khát được sống, khao khát được nếm lại dù chỉ một chút cái dư vị thanh bình, đầm ấm của đêm Giáng Sinh – thời khắc truyền thống của mọi người dân châu Âu để đoàn tụ với gia đình, để mong ước cho một tương lai tươi đẹp. Chính cái khát vọng chung ấy đã khiến những người như Sprink, như Đức cha Palmer, như Audebert quyết định cùng nhau tạo nên một phép lạ trong đêm Giáng Sinh – ngày duy nhất không có tiếng súng, không có hận thù giữa cuộc Đại chiến.

Là một sản phẩm hợp tác của cả ba quốc gia Anh – Đức – Pháp, bộ phim Joyeux Noël (Giáng Sinh vui vẻ) của đạo diễn người Pháp Christian Carion là tác phẩm tái hiện lại hiện tượng đặc biệt từng xảy ra ở một số mặt trận trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất như ở Frelinghien miền Bắc nước Pháp – đó là việc binh sĩ các bên đồng ý ngừng bắn trong đêm Giáng Sinh, thậm chí là tổ chức những hoạt động tập thể để kỷ niệm ngày Thiên Chúa giáng sinh trước khi quay về chiến hào của bên mình để tiếp tục chuỗi ngày chết chóc đẫm máu. Trong một cuộc Đại chiến nơi gần 10 triệu lính Pháp, Anh, Scotland, Đức, Nga và rất nhiều quốc gia khác phải bỏ mạng, phần lớn trong những cuộc chiến hầm hào ở Ypres, ở Somme, ở Verdun, nơi khí độc lần đầu tiên được sử dụng để “giết nhiều người nhất có thể”, nơi súng máy, xe tăng bắt đầu được sử dụng rộng rãi khiến tỉ lệ tử vong của binh lính hai bên lên tới mức khủng khiếp, thì Hưu chiến Lễ Giáng sinh quả thực là một sự kiện đặc biệt. Đặc biệt không chỉ vì sự tương phản giữa một bên là chết chóc, một bên là hoà bình – dù hết sức ngắn ngủi, mà đặc biệt còn là vì thời khắc ngừng bắn trong đêm Giáng sinh ấy còn cho thấy rằng ngay cả giữa tột đỉnh của hận thù và bạo lực, nhân tính, sự khao khát đoàn tụ, khao khát hơi ấm của gia đình vẫn có chỗ đứng trong lòng mỗi con người đang bị cuốn vào cuộc chiến bất tận ấy. Để làm nổi bật chủ đề này, đạo diễn Christian Carion đã đem tới khán giả phân đoạn mở đầu cực kỳ ấn tượng cho Joyeux Noël với giọng đọc tiếng Anh, tiếng Pháp, và tiếng Đức của ba đứa trẻ ngây thơ đang lặp lại những câu rao giảng trong sách giáo khoa của mỗi nước về một “chân lý” rằng ba dân tộc Anh, Pháp, Đức không thể cùng chung sống trên mảnh đất châu Âu và “chỉ có thể giết họ, chúng ta mới được sống”. Tiếp nối mạch phim ấy, Christian Carion và nhà quay phim Walther Vanden Ende đã khắc hoạ một cách hết sức sống động sự dữ dội nơi chiến địa của cuộc Đại chiến – nơi bất cứ bên nào “thò đầu” ra khỏi chiến hào hoặc đặt chân vào mảnh đất không người – “No Man’s Land” giữa hai chiến tuyến là coi như đã tự ký giấy khai tử cho chính mình. Tất nhiên, tất cả sự hận thù, bạo liệt, chết chóc ấy chỉ được đạo diễn Christian Carion – người đồng thời cũng là biên kịch của bộ phim sử dụng để làm nền cho trung tâm của Joyeux Noël – những thời khắc lạ lùng nhất của chiến tranh trong đêm Giáng Sinh hưu chiến, khi những người hôm qua có thể giết nhau bằng lưỡi lê, ngày mai có thể bắn tỉa nhau bằng súng trường, lại chia sẻ với nhau mảnh sô cô la, chai rượu, cùng cầu nguyện, cùng nghe thánh ca và thậm chí là cùng đá bóng và thu dọn xác chết của đồng đội. Chắc chắn với những khán giả không tìm hiểu kỹ lịch sử Chiến tranh thế giới thứ nhất, sẽ thật khó có thể tin là có những tình huống như vậy trong cái địa ngục chiến tranh hầm hào nơi miền Bắc nước Pháp, kể cả khi Joyeux Noël có cố làm khán giả an tâm ngay từ đầu phim rằng đây là một tác phẩm "dựa trên sự kiện có thực". Nhưng dù có không tin hay không thì chắc chắn khi theo dõi đêm Giáng Sinh kì lạ, và kì diệu của Joyeux Noël người xem cũng sẽ có được cảm giác thư thái, bình an – một hiệu ứng không dễ gì có được ở một tác phẩm lấy đề tài chiến tranh như bộ phim này của đạo diễn Christian Carion. 

Nói về một câu truyện rất dễ lấy lòng khán giả và có phần hình ảnh và nhạc phim xuất sắc, nhưng Joyeux Noël không hẳn là một tác phẩm hoàn hảo khi kịch bản phim vẫn còn những trường đoạn uỷ mị khá lạc lõng so với không khí của bộ phim, đồng thời diễn xuất của dàn diễn viên trong phim cũng không thực sự đáng nhớ, đặc biệt là Diane Kruger trong vai Anna Sørensen. Bởi vậy mà dù có được đề cử giải Oscar cho phim nói tiếng nước ngoài xuất sắc nhất, nhưng nếu chỉ xét Joyeux Noël như một tác phẩm về đề tài chiến tranh của Pháp thì bộ phim thứ hai trong sự nghiệp của đạo diễn Christian Carion vẫn còn thua những tác phẩm xuất sắc khác ở cùng thể loại như Un long dimanche de fiançailles (2004) hay Indigènes (2006). Bóng ma lẩn khuất của những nhà chính trị tham vọng và thủ đoạn – những kẻ chỉ coi Sprink, Đức cha Palmer, hay Audebert như những con tốt thí trên ván cờ quyền lực trong cuộc Đại chiến cũng phần nào làm chất lạc quan chất chứa trong những giờ phút ngừng chiến đêm Giáng sinh nhuốm màu bi kịch. 

Nhưng sau tất cả, không ai xem Joyeux Noël để tìm hiểu bối cảnh khốc liệt của chiến trường hay những toan tính thâm hiểm của các nhà lãnh đạo châu Âu trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ nhất. Khán giả xem Joyeux Noël là để được thấy những người lính vì niềm tin tôn giáo, vì nỗi nhớ quê hương, vì khát khao bình yên hạnh phúc đã xích lại với nhau để cùng đưa ra quyết định đình chiến. Quyết định hưu chiến dũng cảm ấy của những người lính vốn thường ngày phải đặt cả tính mạng trong tay những gã sĩ quan, tướng tá chỉ quan tâm tới mệnh lệnh, tới chiến thắng là bằng chứng cho thấy rằng ngay giữa những giờ phút đen tối nhất, những chiến địa khốc liệt nhất của cuộc Đại chiến, nhân tính vẫn còn đó trong mỗi con người và chỉ chờ đúng thời điểm để được lan toả, được kết nối, được dệt lại những mối dây tình cảm giữa người với người. Và cái thời điểm ấy chính là đêm Giáng sinh – thời khắc cuối năm khi mỗi chúng ta có dịp xích lại gần nhau để chia sẻ với nhau tình cảm, sự yêu quý, và tất nhiên là cả những bộ phim đáng thưởng thức như Joyeux Noël

=====