I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.
This is a very heart-warming film about Satoshi Kon - a must for anyone who is a fan of Kon's works - like myself. There is nothing new or extraordinary about this film, just a simple, straightforward story about one of the greatest, and certainly the most original storyteller and animator from Japan. The clear structure, simple explanation of the themes and Kon's storytelling style throughout his short but diverse and illustrious career in this film make it a perfect introduction as well for anyone who has interest in Kon's films, or simply is curious on why this guy, who already passed away 14 years ago, directed "only" 4 full-length features, and received no Japan Academy Film Prize for Animation of the Year at all, is still held at very, very high regards by his contemporary and animation aficionados alike, including those more "awarded" like Mamoru Hosoda. For me, though, this film is simply an emotional recall to the pass, and a lovely reminder that I still cherish the memories and above all the various feelings watching Kon's films. I cannot wait for my son to be grown up enough so that I can introduce him to this very different, yet very "real" and memorable side of Japanese animation - Satoshi Kon.
Thông thường tôi sẽ bình phim ngắn bằng tiếng Anh nhưng do phim này tôi xem với phụ đề tiếng Việt (thực sự cảm ơn các bạn nào đã làm bộ phụ đề tiếng Việt cho phim này quá xuất sắc) và nó gắn nhiều với tuổi thơ sách vở (tiếng Việt) của tôi nên tôi sẽ bình phim này bằng tiếng Việt. Trước hết có thể nói luôn là về chất lượng nghệ thuật phim này không xứng đáng 4 điểm, cùng lắm là 3.5 hoặc thậm chí là 3 điểm vì cách tạo hình nhân vật 3D trong phim này là không có gì mới, lộ rõ ảnh hưởng rất lớn (nếu không nói là sao chép) phong cách làm phim 3D của Hollywood (Pixar hoặc DreamWorks) và thậm chí là phần chi tiết nét mặt còn thiếu tinh tế hơn - điểm yếu này của phim đặc biệt lộ rõ trong những phân cảnh cuối khi Lý Bạch và Cao Thích đã về già. Đây là điều đáng tiếc vì phim có rất, rất nhiều nhân vật lịch sử, đặc biệt là các nhà thơ thời Nhà Đường, và hiếm khi khán giả có cơ hội được chứng kiến nhiều nhân vật như vậy cùng đứng chung một khung hình - vì phim lịch sử Trung Quốc thường chỉ tập trung vào chiến trận, triều đình, vì thế Dương Quý Phi, Đường Minh Hoàng, An Lộc Sơn, Quách Tử Nghi mới là những nhân vật thường được nhắc đến, và những nhà thơ như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Vương Duy thường chỉ được sử dụng làm "nền" - hơn nữa phim lịch sử Trung Quốc về giai đoạn Hán - Đường thường tuân thủ rất triệt để theo ghi chép lịch sử và thường không "dám" tạo ra các cảnh "giả sử" để các nhân vật lịch sử có thật được ở cạnh nhau, tương tác với nhau (ngay đến phim "xuyên không" giờ cũng đã không còn được khuyến khích ở Trung Quốc, đừng nói là phim "giả sử"). Dù đây là phim lịch sử, lấy bối cảnh là các thành phố và quang cảnh nổi tiếng của Trung Quốc thời nhà Đường nhưng cách xây dựng và chất lượng nghệ thuật của các bối cảnh này dù đẹp, hoành tráng (đặc biệt với những cảnh tự nhiên rộng lớn như Động Đình hồ) cũng không thực sự mới mẻ, gây ấn tượng sâu sắc và vẫn có chút hơi hướng gì đó của phim hoạt hình 3D Hollywood. Đây là điểm theo tôi là khá đáng tiếng vì Trung Quốc có kho sử liệu và tranh vẽ đồ sộ từ thời nhà Hán, nhà Đường, nhà Tống vẫn còn tồn tại đến tận ngày nay - nếu các nhà làm phim tận dụng hơn các mô-típ của tranh thủy mặc thời Tống hay tượng đất nung thời Đường thì phần "nhìn" của phim trông sẽ đặc sắc hơn rất nhiều (ví dụ cách dựng hình ngựa trong phim là đẹp, sinh động, và khác biệt hơn hẳn so với phim Hollywood - lý do đơn giản vì chúng được lấy theo đúng mẫu các bức tượng ngựa thời nhà Đường - ai đã từng thấy các bức tượng này ở bảo tàng, triển lãm sẽ nhận ra ngay những con ngựa mà Cao Thích hay Lý Bạch cưỡi có ngoại hình giống hệt. Về mặt tiết tấu, phim có tiết tấu khá chậm, khiến khán giả đôi lúc sẽ có cảm giác phim "quá dài" - nhất là những phân đoạn đối thoại giữa Cao Thích và Trình giám quân - tất nhiên độ dài 168 phút của phim thực sự là "rất dài" cho một phim hoạt hình, nhưng vì kể câu chuyện trải dài suốt nhiều thập niên về giai đoạn Nhà Đường từ đỉnh cao rơi xuống vực sâu, nên độ dài này là cần thiết, nhưng rõ ràng các nhà làm phim có thể điều chỉnh tiết tấu để phim nhanh hơn, lôi cuốn hơn với nhiều trường đoạn tương tác giữa Lý Bạch và Cao Thích, và các nhân vật khác hơn. Cái kết hơi mang tính "dân tộc chủ nghĩa" (phong cách thời thượng của phim Trung Quốc thời điểm hiện tại) cũng làm mất đi phần nào giá trị của phim - một tác phẩm vốn nói về sự tương phản giữa một Lý Bạch phóng khoáng, sống hết mình, với một Cao Thích luôn tự cầm chân mình trong các giới hạn của đạo lý, luân thường trong bối cảnh xã hội tao loạn - chứ không phải là một tác phẩm nói về đề tài "chống ngoại xâm", "diệt Thổ cầm Hồ" thời Nhà Đường. Cũng phải nói thêm là nút thắt mở dẫn đến phần kết này khá thú vị khi nó giúp phim tạo được sự khác biệt đáng kể so với "Amadeus" của Miloš Forman - vốn có phần kịch bản đầu gần như tương đồng so với "Trường An tam vạn lý" - cũng nói về tình bạn/đối thủ giữa một thiên tài phóng khoáng (nhưng vì thế mà thất bại trong đường sự nghiệp) với một nghệ sĩ kém tài hơn nhưng luôn chịu khó cúi đầu đi về phía trước để cuối cùng trở thành người "sống sót"/thành công hơn để kể lại câu chuyện của cả hai.
Chê thì chê, nhưng tôi vẫn chấm phim này 4 điểm, vì xem phim này tôi thực sự xúc động khi thấy các nhà làm phim đã chuyển hóa được các bài thơ Đường (chủ yếu là của Lý Bạch) thành ngôn ngữ hình ảnh, âm thanh của điện ảnh. Đây là những bài thơ tôi đã đọc, và thích từ ngày còn bé, nhưng quả thực chưa bao giờ tưởng tượng và liên hệ những bài thơ đó một cách toàn diện, nhiều tầng ý nghĩa, nhiều tầng cảm xúc như ở bộ phim này. "Tĩnh dạ tư", "Tương tiến tửu", "Tảo phát Bạch Đế thành" là những đỉnh cao trong sự nghiệp thơ ca của Lý Bạch, và những phân đoạn về các bài thơ này trong phim cũng là những điểm nhấn đẹp đẽ, đáng nhớ vô cùng. Vì thế nên xem phim này tôi vừa thấy cảm động, nhớ lại cái tuổi niên thiếu của chính mình ngồi ngâm nga những bài thơ Đường ở cái thời còn chưa thể ngấm được hoàn toàn những tâm sự, suy tư của Lý Bạch khi làm những bài thơ này, hay cái mới, cái đột phá mà Lý Bạch đem đến cho thơ của ông, và tôi cũng thấy có phần "ghen tị" khi chẳng biết đến bao giờ Việt Nam mới có được những bộ phim hoạt hình lịch sử xuất sắc đến thế này.
I have been so caught up by life that even though Takahata has always been one of my favourite directors, I was not aware of this heartfelt eulogy for him by Hayao Miyazaki during his funeral in 2018. I love them both, in fact, just as many fans of Japanese animation, but whereas Miyazaki has always been the "Anime God", especially among Western fans, Takahata's subdued and seemingly more traditional style has been appreciated, in my opinion, not as much as Miyazaki's more bombastic and "Westernized" masterpieces. I love every single films by Takahata and am always able to find solace, relatability, and calmness in his films - something that is a little more difficult to find in Miyazaki's, except for those more personal to him like "The Wind Rises" or "Totoro" (this is not a criticism of Miyazaki's everlasting masterpieces, I also love them all, but they are just of different flavour than Takahata's).
Back to the eulogy. I love this one so much since it really is a demonstration of not only the love and respect that Miyazaki has always reserved for Takahata (even until now I am sure), but is also a symbol of their support and care for each other - the very important ingredients that led to the everlasting values of their works, and something that was beautifully portrayed in the lovely documentary "The Kingdom of Dreams and Madness". The relationship between Miyazaki and Takahata, as narrated by this eulogy, really is an emotional and uplifting story that I want to keep for myself on the windy road ahead.
Also, many thanks to the original posters, since without them, I would have never been aware of this eulogy.
Not sure why he was nicknamed "Paku-san" really but he was not a morning person. As we started working for Toei Animation, he always came to our office almost late. (In the morning people saw) he often gobble some bread after putting his time card (into a punch machine ) and drink water directly from the tap. The sound he made by eating the bread which is in a Japanese onomatopoeia "paku paku" is rumored to be the reason of his nickname.
It is not an (official) memorial message but today I will read what I wrote.
I thought "the" Paku-san would live until 95 years old. "That" Paku-san passed away. This made me feel that I have not much time left.
9 years ago our medical doctor called me and told me "if you are his friend, you must tell Mr. Takahata to stop smoking.". His voice was serious and even scary. Because the doctor was so serious I and Mr. Suzuki (Studio Ghibli producer Toshio Suzuki ) got him to sit together over a table. It was the first time that I talked to him in that serious manner. "Please stop smoking, Paku-san", said I. "To continue your job, please stop (smoking)", said Mr. Suzuki. I expected him to come up with numerous excuses and counter arguments but he simply said "thank you and I will stop smoking." and nodded. And Paku-san really quit cigarette. I deliberately smoked near him (to test his determination). He said "Nice smell but I do not feel like smoking at all". He got me! That convinced me even more that he was destined to live till 95 years old.
In 1963 when Paku-san was 27 years old and I, 22, we met for the first time. I still remember very well the day we talked for the first time. In dusk at a bus stop I was waiting for my bus to Nerima. There came a young man walking towards me on the road still partially wet after the rain. "I heard that you are gonna visit Mr. Takuo Segawa." said he. He looked gentle and smart. That was the moment I met Isao Takahata later as known as Paku-san. I wonder why I can remember so clearly; even it was 55 years ago, the memory (of that day) is still vivid. I can still see his face as he was at that time.
I met Paku-san again after I was pushed to be an executive member of the labor's union of Toei Animation. Paku-san was the vice chairman ( of that union). Under the pressure, my hard days started. I wanted to almost throw up under that heavy pressure. Despite of that (hardship), I slept over in the labor's union office (which was a kinda shack). And I and Paku-san talked a lot as if there would be no tomorrow... on so many kind of things, esp on our jobs.
We were not satisfied with our jobs (that time). We wanted to do a job further from and deeper than what we were doing then and something we could be proud of. (We talked about) what we should create. Paku-san's knowledge was so great and broad. I felt so happy that I could meet a wonderful person like him.
The production ( of " The Great Adventure of Horus, Prince of the Sun " as Takahata worked as its screen writer) did not proceed well. The staff were not familiar with (Takahata's) new style. The work progress was so slow that the project became an headache to the entire company. Paku-san was an incredible persistent guy. Even as the company's top management tried to change his direction with, sometimes, threats and, sometimes, begging, he did not change. I just by myself worked over weekends with no AC in the summer drawing the sketches for the background pictures on the big sheets of paper. The agreement with the labor's union did not allow the work on weekends but I did not care. It was so simple. I just did not punch the time card for the weekend work.
After I watched the first version (test view of the Great Adventure of Horus) I could not move. It was not that I was moved but I was totally taken by the surprise. I was aware of the dispute over the scene of "Mayoi no Mori /the Enchanted forest" as to if it should have been edited out or not. Paku-san negotiated with the company board patiently and he had no choice but had to agree on the number of the animation slide and the number of the work day to the deadline. Of course, he could not keep the agreement. More slides and more days cost. Every time he broke the agreement, he had to write the apologetic letter (to the company). I wonder how many (apologetic) letters he had to write. I was also fully tied up with my own job and I could not help him in that tough fight.
I watched the scene with Hilda in the Enchanted forest at the first version test view. The overwhelming expression and the pictures! And so much love! I came to understand for the first time that this was what Paku-san wanted to create. He completed the work. (Then ) it was in year 2000, 30 years after the release (of that film), that Paku-san suggested having a gathering inviting the film people. From the person in charge (of the Great Adventure of Horus), the board members, the managers who were pressed between the people on the work field and the company top members in that company (Toei Animation), production manager, illustration staff, the females who worked on the background and colouring to the staff in film-shooting, recording and editing, so many people came. The film was not financially successful but nobody cared about it any longer.
Paku-san, we lived so fully that time. The way Paku-san lived was exactly how we lived. Thank you, Paku-san. I will never forget about you, Paku-san, who talked to me at the bus stop after the rain.
Nhắc tới hoạt hình Nhật Bản, chắc chắn nhiều người sẽ nghĩ ngay tới đạo diễn huyền thoại Hayao Miyazaki và hãng phim hoạt hình do ông sáng lập Studio Ghibli. Nhưng không phải ai cũng biết rằng Studio Ghibli còn có hai người cha khác, đó là nhà sản xuất Toshio Suzuki – người chịu trách nhiệm sản xuất cho hầu hết các tác phẩm lớn của hãng kể từ năm 1985 cho tới nay, và Isao Takahata – một huyền thoại khác của điện ảnh Nhật.
Nếu như Hayao Miyazaki sinh ra trong một gia đình tương đối khá giả ở Tokyo và chỉ mới 4 tuổi khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc thì cả tuổi thơ tỉnh lẻ của Isao Takahata gắn liền với những năm tháng nước Nhật chìm trong khói lửa chiến tranh. Tuổi thơ dữ dội là vậy, nhưng Takahata vẫn nhanh chóng chứng minh được năng lực của mình với tấm bằng cử nhân văn học Pháp từ Đại học Tokyo danh giá ở tuổi 24. Sợi dây liên hệ với đất nước và con người Pháp này cũng chính là nguồn cảm hứng để Isao Takahata tìm đến với nghệ thuật phim hoạt hình, nhất là sau khi ông được thưởng thức một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của điện ảnh Pháp – bộ phim hoạt hình Le Roi et l'Oiseau (1952). Tài năng cùng cảm hứng nghệ thuật dồi dào giúp Isao Takahata sớm có được chỗ đứng tại ông lớn của làng hoạt hình Nhật Bản là hãng Toei và ông chỉ phải đợi tới năm 33 tuổi để được Toei giao đạo diễn bộ phim hoạt hình dài đầu tay The Great Adventure of Horus, Prince of the Sun (1968). Được giới phê bình đánh giá cao nhưng The Great Adventure of Horus lại thất bại về mặt doanh thu, buộc Takahata phải bằng lòng với việc đạo diễn và dựng phân cảnh cho các tập phim hoạt hình phát sóng trên truyền hình cho tới tận đầu thập niên 1980. Ở một khía cạnh khác, những năm tháng trăn trở tìm lối ra cho sự nghiệp của Takahata cũng lại là giai đoạn ông tạo dựng được tình bạn và mối hợp tác nghệ thuật lâu dài với người đồng nghiệp kém ông 6 tuổi Hayao Miyazaki. Nếu như Miyazaki chịu trách nhiệm dựng phân cảnh và là hoạ sĩ chính của Isao Takahata trong The Great Adventure of Horus, thì chính Takahata lại là nhà sản xuất cho Nausicaä of the Valley of the Wind (1984) – tác phẩm khẳng định vị trí của Miyazaki trong làng hoạt hình Nhật Bản và cũng là thành công thương mại giúp Miyazaki, Takahata, và Suzuki có cơ sở để thành lập Studio Ghibli. Phần còn lại đã trở thành lịch sử khi Studio Ghibli liên tục được nhắc đến tại vô số giải thưởng điện ảnh và thống kê về các tác phẩm ăn khách tại thị trường phim Nhật Bản, còn Hayao Miyazaki khiến cả thế giới phải ngả mũ với 9 tuyệt phẩm từ Castle in the Sky (1986) cho tới The Wind Rises (2013).
Cùng thời điểm Miyazaki đem tới công chúng The Wind Rises – tác phẩm được ông tuyên bố là bộ phim cuối cùng trong sự nghiệp vào thời điểm đó (năm 2013), thì Takahata cũng vừa hoàn thành xong một bộ phim xuất sắc không kém là The Tale of Princess Kaguya. Nhưng khác với người bạn, người đồng nghiệp Miyazaki – người vốn có nhịp làm phim tương đối đều đặn và chưa bao giờ phải để công chúng chờ đợi quá lâu, The Tale of Princess Kaguya mới là bộ phim thứ 5 của Takahata làm cho Studio Ghibli và là tác phẩm đầu tiên ông giới thiệu với công chúng sau 14 năm kể từ My Neighbors the Yamadas (1999). Và cũng khác với Hayao Miyazaki – người nổi tiếng khắp thế giới như "thầy phù thủy" của nghệ thuật hoạt hình với trí tưởng tượng và sức sáng tạo tuyệt vời, Isao Takahata lại gắn liền sự nghiệp của mình với việc mô tả đất nước Nhật Bản và con người Nhật Bản qua lăng kính thực tại huyền ảo. Nếu như Grave of the Fireflies (1988) là câu chuyện đau đớn nhưng đậm chất nhân văn của hai đứa bé Nhật tìm cách thoát ly thực tại giữa khói lửa chiến tranh, Pom Poko (1994) là hình ảnh một nước Nhật đổi thay và những hệ lụy của nó đối với truyền thống và môi trường thông qua cuộc sống của lũ "hồ li" (hay tanuki "thành tinh”). Ngay cả với The Tale of the Princess Kaguya – chuyển thể điện ảnh của một truyền thuyết dân gian Nhật, người xem cũng có thể cảm nhận được trong đó là những suy nghĩ mang chất hiện sinh về cuộc sống được đặt trong bối cảnh một câu chuyện cổ tích truyền thống Nhật Bản. Đặc biệt, vượt khỏi khuôn khổ của một tác phẩm hoạt hình – thể loại điện ảnh vốn thường bị coi là “dành cho trẻ con”, Grave of the Fireflies được nhiều nhà phê bình phim uy tín như Roger Ebert đánh giá là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất về đề tài chiến tranh của điện ảnh thế giới, bởi chẳng gì có thể làm rõ hơn sự huỷ diệt bạo tàn của chiến tranh hơn bức tranh tương phản giữa những trận mưa bom, bão lửa trút xuống nước Nhật và câu truyện trong phim về sự ngây thơ đến đắng lòng cùng tình yêu cuộc sống của hai anh em Seita và Setsuko.
Nhìn chung, cảm nhận đầu tiên của khán giả khi được thưởng thức các bộ phim của Isao Takahata đó là sự tương phản giữa sự giản dị đến không ngờ trong các tác phẩm của ông với những bộ phim đậm chất sử thi của Hayao Miyazaki. Không phải chờ tới khi đã thành lập Studio Ghibli, mà sự giản dị nhưng vẫn rất duyên dáng, rất lôi cuốn người xem này đã được Isao Takahata đưa vào tác phẩm-tiền Ghibli của ông mà tiêu biểu là Jarinko Chie (Chie – cô bé hạt tiêu, 1981). Trong Jarinko Chie – một chuyển thể điện ảnh của loạt truyện tranh ăn khách của Etsumi Haruki, người xem được chứng kiến một nước Nhật giản dị của những năm còn khó khăn sau chiến tranh, và nhất là những gương mặt Nhật Bản như cô bé Chie “đầu gấu”, như ông bố Tetsu “côn đồ” của cô – những con người nồng hậu, chất phác, luôn kiên cường vượt qua mọi khó khăn nhưng không vì thế mà bớt đi tình cảm với người thân, tình yêu với cuộc sống. Phong cách làm phim chân thành, hồn hậu như chính vẻ ngoài của Isao Takahata càng được phát huy sau khi ông đã có được không gian tự do sáng tạo của Studio Ghibli với thành quả lớn nhất là bộ phim hoạt hình Only Yesterday (1991). Kể lại chuyến đi tìm kí ức tuổi thơ nơi đồng quê nước Nhật bình dị của một cô gái độc thân vốn đã quá chán ngán với cuộc sống ồn ào và xa lạ của các thành phố hiện đại, Only Yesterday có lẽ là tác phẩm giản dị và chân thành nhất của Isao Takahata với bối cảnh hết sức bình thường của nông thôn Nhật Bản và cái triết lý cũng dễ hiểu, dễ cảm không kém - những con người, thứ đáng trân trọng nhất, đáng yêu quý nhất chính là những con người, những tình cảm luôn ở bên ta, luôn sẵn sàng đến với ta bất kể không gian, thời gian. Chẳng cần dùng tới xung đột giữa các nhân vật, không màng các nút thắt mở ly kì đầy kịch tính, nhưng Only Yesterday vẫn khiến khán giả chẳng thể rời mắt nhờ cách kể chuyện thủ thỉ, chân tình với những chi tiết nhắc nhớ nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về một miền tuổi thơ, một miền kí ức mà chúng ta dù vô tình hay hữu ý vẫn luôn lưu giữ trong tâm hồn. Ngay cả trong My Neighbors the Yamadas (1999), một bộ phim hoạt hình hài hước thuần tuý với bối cảnh giới hạn trong gia đình nhà đình nhà Yamada và thành phố hiện đại cùng cách vẽ theo phong cách tối giản kể cả về màu sắc và chi tiết, khán giả vẫn có thể cảm nhận được sự tỉ mỉ, trau chuốt mà Isao Takahata dành cho các mối quan hệ trong gia đình giữa các nhân vật của ông – một sự trân trọng chỉ có thể có được từ một người đạo diễn hết mực yêu quý cuộc sống và con người xung quanh ông.
Trong bộ phim tài liệu xuất sắc của nữ đạo diễn Mami Sunada The Kingdom of Dreams and Madness (2013), người xem có cơ hội hiếm hoi được chứng kiến quá trình thai nghén một tác phẩm phim hoạt hình của Hayao Miyazaki, Isao Takahata, và các hoạ sĩ của Studio Ghibli. Một chi tiết đáng nhớ trong bộ phim là hình ảnh Miyazaki và Toshi Suzuki luôn phải vò đầu bứt tai vì bậc đàn anh Takahata có phong cách làm phim quá sức chậm rãi. Chẳng ai có thể biết bao giờ Takahata sẽ hoàn thành phim của mình, và thậm chí là ông có muốn hoàn thành nó không. The Tale of the Princess Kaguya được ông làm ròng rã suốt 7 năm trời từ 2006 đến tận 2013 mới công chiếu, trong thời gian đó Yoshiaki Nishimura - nhà sản xuất chính của phim, đã kịp lấy vợ và có hai đứa con, trong đó đứa đầu đã kịp đi học tiểu học. Sự khác biệt giữa Takahata và Miyazaki lớn tới mức hai người có thể được coi là hai nửa đối nghịch sáng-tối, hiện đại-truyền thống, nhanh-chậm của Ghibli, quan hệ giữa hai người vì thế cũng mang cả hai màu yêu-ghét - ngày nào Miyazaki cũng phải nhắc đến Paku-san (cách cả Studio Ghibli kính trọng gọi Takahata), nhưng cứ hôm trước khen hết lời Takahata thì hôm sau thể nào Miyazaki cũng lại phải kêu ca về sự "lề mề" của người đạo diễn thân thiết. Tiêu tốn rất nhiều thời gian và tiền bạc của Studio Ghibli, nhưng sau khi ra đời The Tale of the Princess Kaguya lại không phải một tác phẩm ăn khách và bởi vậy được coi là một trong những nguyên nhân khiến Studio Ghibli phải tái cơ cấu tới mức gần như chấm dứt việc sản xuất phim hoạt hình mới. Quả thực phim rất khó ăn khách, những phút đầu vui tươi của The Tale of the Princess Kaguya chẳng thể khỏa lấp một thực tế rằng phần đầu của phim dù tươi sáng nhưng lại không hấp dẫn và tạo được ra kịch tính (hoặc thể hiện "tiềm năng" tạo ra kịch tính) để lôi cuốn người xem tới nửa sau của bộ phim. Phải chăng đây lại là một nốt trầm buồn trong sự nghiệp của Isao Takahata? Hoàn toàn không phải như vậy, bởi thực sự nếu đã chăm chú và in dấu trong đầu hình ảnh thay đổi từng ngày của cô công chúa nhỏ Kaguya, người xem sẽ dần bị thu hút bởi những xung đột ngày càng lớn lên trong nội tâm Kaguya cũng như giữa cô đối với tình yêu thương con nhiều phần mù quáng của ông lão đốn tre và sự khao khát đầy toan tính của lũ vương giả cầu hôn. Như mọi bộ phim hay, những thời khắc tuyệt vời nhất của The Tale of the Princess Kaguya nằm ở những phút cuối của bộ phim, khi tình cảm giữa con người với con người, giữa Kaguya với những người thân yêu của cô, với cuộc sống, với thiên nhiên xung quanh cô thể hiện rõ nét hơn bao giờ hết.
Một trong những khía cạnh đáng nhớ nhất của The Tale of the Princess Kaguya có lẽ là cách Isao Takahata minh hoạ một cách tuyệt vời không gian rộng lớn của thiên nhiên Nhật Bản qua tông màu không quá rực rỡ nhưng rất ấm áp và những nét vẽ không quá đi sâu vào chi tiết nhưng vẫn đủ độ khơi gợi để người xem cảm nhận được về hình ảnh nhân vật, về vẻ đẹp thiên nhiên. Đặc biệt, chẳng ai có thể quên được hình ảnh cô bé Kaguya nhảy múa hồn nhiên dưới những cơn mưa của những chiếc lá hoa anh đào đang rụng trong một ngày xuân ấm áp. Cũng trong một ngày xuân nước Nhật như thế của năm 2018 khi hoa anh đào bắt đầu rụng sau khi đã cống hiến hết những ngày đẹp đẽ nhất, Isao Takahata đã qua đời ở tuổi 82. Đây chắc chắn là một tin không vui đối với người yêu điện ảnh nói chung, và đặc biệt là với những người yêu những bộ phim của Isao Takahata nói riêng. Nhưng xin bạn hãy nhớ rằng, ở The Tale of the Princess Kaguya - khúc vĩ thanh cuối đời của mình, Isao Takahata đã chia tay những khán giả hết mực yêu quý ông suốt bao nhiêu năm với một thông điệp hết sức đơn giản - dù cuộc sống ẩn chứa vô vàn thời khắc khó khăn và bất hạnh, hãy vẫn cứ yêu cuộc sống hết mức khi bạn còn có thể. Xin cảm ơn ông, Isao Takahata, người đạo diễn phim hoạt hình với tình yêu cuộc sống chưa bao giờ tắt.
Biến đổi khí hậu, gia tăng dân số quá mức, bất công xã hội, ô nhiễm môi trường. Oằn mình gánh chịu những thảm họa do con người gây ra này, Trái Đất những năm giữa thế kỷ 21 đã không còn thực sự là nơi đáng sống khi con người phải sống chui rúc trong các khu ổ chuột chật hẹp hoặc các khu chung cư cao tầng được dựng nên từ những cabin xe bán tải. Để thoát khỏi thực tại mệt mỏi và bi quan ấy, phần đông dân số Trái Đất kiếm tìm niềm vui trên OASIS – một thế giới ảo nơi chúng ta có thể trở thành bất cứ ai, làm bất cứ điều gì gì, và đi đến bất cứ nơi đâu trí tưởng tượng có thể chạm tới. Không gian thực tế ảo của OASIS được chuyên gia máy tính James Halliday (Mark Rylance) sáng tạo ra với rất nhiều thế giới ảo và các nhân vật ảo lấy cảm hứng từ các tác phẩm điện ảnh và trò chơi điện tử nổi bật của văn hóa đại chúng Mỹ những năm 1980. Trước khi qua đời, Halliday có để lại di chúc rằng ông đã giấu ba chiếc chìa khóa ảo bên trong OASIS, và bất cứ ai có thể tìm thấy đủ ba chiếc chìa khóa này sẽ trở thành chủ nhân mới của thế giới ảo, đồng nghĩa với việc người đó sẽ trở thành chủ nhân cuộc sống tinh thần của người dân toàn thế giới. Lời giải cho bài toán vô cùng hóc búa này của James Halliday chỉ đến khi cậu nhóc 18 tuổi Wade Watts (Tye Sheridan) với biệt danh Parzival trong OASIS hóa giải thành công con đường tới kho báu thứ nhất – chiếc chìa khóa đồng nhờ vào tài năng, niềm đam mê tìm hiểu cuộc đời của James Halliday, và tất nhiên là cả chút may mắn. Nhưng để tìm thấy hai kho báu còn lại – chiếc chìa khóa ngọc, và chìa khóa pha lê, Parzival cần tới sự trợ giúp của những người bạn còn lại trong nhóm “High Five” là Samantha Cook (Olivia Cooke) – hay Art3mis trên OASIS, Helen (Lena Waithe) – hay Aech trên OASIS, và hai anh em Daito (Win Morisaki) – Sho (Philip Zhao), bởi theo sát phía sau Parzival là ông chủ của công ty công nghệ I.O.I Nolan Sorrento (Ben Mendelsohn) với tham vọng chiếm đoạt OASIS bằng mọi giá.
Trước tiên có thể khẳng định rằng Ready Player One là một tác phẩm xuất sắc về mặt hình ảnh. Vốn là đạo diễn đi tiên phong ở Hollywood suốt từ thập niên 1970 cho tới nay về mặt sử dụng kĩ xảo hình ảnh và đồ họa vi tính với các tác phẩm đáng nhớ như Jaws (1975), Raiders of the Lost Ark (1981), Jurassic Park (1993), A.I. Artificial Intelligence (2001), Steven Spielberg là lựa chọn không thể hợp lý hơn cho một tác phẩm đòi hỏi rất cao về phần nhìn như Ready Player One. Không phụ sự tin tưởng của hãng Warner Bros., Spielberg đã đem đến cho người yêu điện ảnh một Ready Player One ngập tràn kĩ xảo điện ảnh thượng hạng với những đại cảnh giả tưởng như các cuộc đua, trận chiến với cả trăm nhân vật quen thuộc trong phim ảnh và trò chơi điện tử. Từ King Kong cho đến Người khổng lồ sắt (The Iron Giant), từ Ninja Rùa (Teenage Mutant Ninja Turtles) cho đến nữ xạ thủ Tracer trong game Overwatch, người xem chắc chắn sẽ đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác khi nhận ra những nhân vật, chi tiết trong các bộ phim hay game họ yêu thích được trải đều từ những cảnh quay mở đầu cho đến tận những giờ phút cuối cùng của Ready Player One. Có đôi chút đáng tiếc là bộ phim hoàn toàn vắng bóng các nhân vật của Nintendo – người khổng lồ trong lĩnh vực trò chơi điện tử của Nhật Bản là và là công ty giúp ngành công nghiệp này lấy lại chỗ đứng trong lòng công chúng nửa sau thập niên 1980, nhưng khán giả cũng vẫn nên cảm thấy may mắn vì việc bộ phim này là một sản phẩm của tập đoàn giải trí Warner Bros. đã giúp đội ngũ làm phim đưa được rất nhiều các nhân vật nổi tiếng của điện ảnh, hoạt hình, và trò chơi điện tử vốn thuộc bản quyền của chính hãng Warner Bros. vào Ready Player One.
Điều đáng nói là có rất nhiều phân đoạn hành động phức tạp với tốc độ nhanh, nhiều nhân vật, chi tiết và kĩ xảo nhưng Ready Player One không hề tạo cảm giác rối rắm, mù mịt như các tập gần đây trong loạt phim Transformers của Michael Bay, trái lại đạo diễn Spielberg vẫn đem đến cho các khung hình của ông độ tập trung nhất định để khán giả vừa có thể thưởng thức các cảnh quay hoành tráng, siêu thực, mà vẫn bám theo được từng bước đi và diễn biến tâm lý của Wade Watts / Parzival và những người bạn trong chuyến du hành tìm kho báu nơi thế giới ảo. Ngay cả những phân đoạn về thế giới thực của “Ready Player One” tuy không đáng chú ý lắm về mặt nội dung nhưng cũng vẫn gây ấn tượng cho khán giả nhờ các bối cảnh vừa phảng phất chất khoa học giả tưởng của tương lai gần, vừa nhạt nhòa, chật hẹp, và u tối như một lời cảnh báo về hậu quả chúng ta sẽ phải gánh chịu nếu xã hội và môi trường tiếp tục bị tàn phá bởi lòng tham con người. Chất giả tưởng nhuốm màu bi quan của Ready Player One chắc chắn sẽ khiến nhiều khán giả nhớ đến bộ đôi phim khoa học giả tưởng xuất sắc của Steven Spielberg những năm đầu thiên niên kỷ mới là A.I. Artificial Intelligence và Minority Report (2002). Tuy chưa thể sánh được với hai tác phẩm này về mặt nội dung, nhưng về mặt hình ảnh và chất giải trí thì Ready Player One không hề thua kém, thậm chí còn có phần nhỉnh hơn trong mắt khán giả trẻ. Thành công về khía cạnh này của Ready Player One cho thấy rằng Hollywood và khán giả thực sự vẫn cần tới Steven Spielberg và những bộ phim bom tấn kích thích thị giác và trí tưởng tượng của ông.
Xuất bản lần đầu năm 2011, tiểu thuyết Ready Player One được độc giả Hoa Kỳ đón nhận nồng nhiệt vì tác giả Ernest Cline đã đem đến cho họ một thế giới ảo vừa đậm chất khoa học viễn tưởng lại vừa chứa đựng rất nhiều những hoài niệm về văn hóa và xã hội Mỹ những năm bình yên của thập niên 1980. Tuy nhiên, Ready Player One lại không thực sự được giới phê bình đánh giá cao vì tác phẩm có tuyến nhân vật tương đối mỏng, bố cục rời rạc, và dựa quá nhiều vào việc nhắc nhớ người đọc về văn hóa đại chúng những năm 1980 với nhiều đoạn văn trùng lặp thay vì tập trung trau chuốt chất lượng câu chữ. Chính vì những khiếm khuyết cố hữu này mà tuy công chúng tỏ ra khá hào hứng khi Steven Spielberg nhận lời chuyển thể Read Player One lên màn ảnh lớn, nhưng đa phần báo giới và ngay cả những người yêu thích tiểu thuyết gốc của nhà văn Ernest Cline đều tỏ thái độ dè dặt, thậm chí là hoài nghi về khả năng Spielberg có thể tạo nên một bộ phim trung thành về mặt hình ảnh nhưng vượt trội về mặt nội dung khi so với truyện gốc. Có lẽ cũng vì hiểu được những điểm yếu về mặt nội dung và cấu trúc của Ready Player One mà chính Cline, cùng sự cộng tác của Zak Penn – người chắp bút cho phần cốt truyện của các bộ phim siêu anh hùng xuất sắc như X2 và The Avengers, đã thay đổi khá nhiều chi tiết của tiểu thuyết gốc trong kịch bản chuyển thể cho bộ phim của Steven Spielberg. Nếu so với nguyên tác văn học, Ready Player One – bản điện ảnh có cấu trúc đơn giản, gọn gàng hơn rất nhiều với các cuộc săn tìm kho báu được rút gọn, thậm chí là làm mới hoàn toàn. Đây là một lựa chọn hết sức hợp lý của bộ đôi biên kịch Cline-Penn và đạo diễn Spielberg vì nếu so với các cuộc săn tìm kho báu trong tiểu thuyết Read Player One vốn hết sức phức tạp và khó hiểu với những độc giả không quen thuộc với các bộ phim hay trò chơi điện tử của thập niên 1980, thì cuộc đua “tử thần” và chuyến phiêu lưu giải câu đố thứ hai của bản điện ảnh – những chi tiết hoàn toàn mới của bộ phim chuyển thể là dễ dàng cảm nhận hơn rất nhiều đối với người xem và cũng là mảnh đất màu mỡ để Spielberg chứng tỏ rằng ông vẫn là một trong những đạo diễn hàng đầu Hollywood về mặt hình ảnh. Không chỉ đơn giản hóa các cuộc săn tìm kho báu – vốn là cao điểm kịch tính của Ready Player One, Ernest Cline và Zak Penn cũng đưa vào bản điện ảnh nhiều chi tiết mới vừa để làm trọn vẹn hơn các nhân vật như Samantha Cook / Art3mis hay Daito và cũng để bộ phim trở nên gần gũi hơn với các khán giả trẻ thế hệ 9X, 0X vốn không mấy quen thuộc với những sản phẩm văn hóa thời cha mẹ họ như máy chơi game Atari hay các bộ phim về tuổi mới lớn do Matthew Broderick thủ vai chính những năm giữa thập niên 1980. Tuy nhiên, những thêm thắt mới này cũng không hoàn toàn thành công khi những thay đổi lớn về mặt nội dung, đặc biệt ở cuộc săn tìm kho báu thứ hai, tuy hấp dẫn nhưng lại khiến cấu trúc của bộ phim trở nên rời rạc, còn việc đưa những nhân vật, chi tiết của các tác phẩm điện ảnh và trò chơi điện tử vốn vẫn đang được ưa chuộng vào một tác phẩm vốn chỉ hướng tới văn hóa đại chúng thập niên 1980 cũng làm mất đi phần nào chất hoài cổ vốn là thế mạnh của tiểu thuyết Ready Player One.
Một điểm yếu khác của tiểu thuyết “Ready Player One” mà phiên bản điện ảnh chưa thể khắc phục là tuyến nhân vật không mấy ấn tượng. Ngoại trừ Samantha Cook / Art3mis qua diễn xuất chững chạc của Olivia Cooke – nữ diễn viên trẻ đang lên sau thành công của Me and Earl and the Dying Girl (2015), thì bốn thành viên còn lại của nhóm bạn “High Five”, kể cả Tye Sheridan vốn rất nhiều đất diễn với vai Wade Watts / Parzival, đều không để lại dấu ấn nào trên màn ảnh với số phận, tính cách nhạt nhòa và diễn xuất khá gượng gạo. Các nhân vật “người lớn” trong phim như ông chủ tịch gian xảo Nolan Sorrento của I.O.I hay “ông tổ” của mạng OASIS James Halliday thậm chí còn trở nên kém ấn tượng hơn trong phiên bản điện ảnh bởi các tuyến truyện phụ liên quan đến các nhân vật này bị cắt bớt để dành chỗ cho các đại cảnh hoành tráng – trung tâm thực sự của bộ phim. Không sở hữu những nhân vật đáng nhớ, Ready Player One bởi thế cũng chỉ có thể được coi là một tác phẩm trung bình khá về mặt nội dung bất chấp việc Steven Spielberg cố gắng tạo thêm chiều sâu cho bộ phim thông qua các mẩu đối thoại hay các bài diễn văn mang tính triết lý. Ở đây, người hâm mộ tiểu thuyết Ready Player One cũng có thể “trách” Steven Spielberg ở một điểm khác là việc ông lựa chọn các diễn viên trẻ quá “đẹp” để vào vai nhóm bạn “High Five” bởi một trong những điểm đáng trân trọng nhất của bộ truyện gốc là việc các nhân vật chính như Samantha Cook / Art3mis hay Wade Watts / Parzival cũng chỉ là những cô nhóc cậu nhóc với vô số khiếm khuyết về ngoại hình và tính cách vốn ai cũng từng trải qua ở cái tuổi mới lớn. Người xem Ready Player One chắc chắn sẽ phải ghen tị với người đọc “Ready Player One” bởi họ chẳng thể tìm thấy sự gần gũi này khi nhìn vào những gương mặt và thể hình đẹp đậm chất điện ảnh của Olivia Cooke hay Tye Sheridan. Việc Spielberg loại bỏ gần như hoàn toàn các yếu tố bi kịch vốn có vai trò rất quan trọng trong việc tạo cảm xúc cho tiểu thuyết Ready Player One cũng khiến bộ phim mới nhất của ông khó lòng tạo dựng được mối liên hệ về mặt tình cảm với khán giả.
Tuy vẫn còn nhiều khiếm khuyết về mặt nội dung nhưng chỉ xét riêng về phần nhìn thôi thì Ready Player One vẫn là một bộ phim giải trí đáng đồng tiền bát gạo đối với khán giả nói chung và với người yêu phim của đạo diễn Steven Spielberg nói riêng. Và kể cả với những người hâm mộ tiểu thuyết gốc, Ready Player One – bản điện ảnh dù không chuyển thể hoàn hảo tác phẩm của Ernest Cline vẫn là một bộ phim dễ chịu với tinh thần trẻ trung pha chút hoài cổ man mác. Đi xem phim giữa mùa xuân hoa nở, còn gì thích hợp hơn một tác phẩm về những người trẻ, và những tâm hồn trẻ như Ready Player One?
Đạo diễn người Hà Lan Michaël Dudok de Wit
là một hiện tượng đặc biệt của dòng phim hoạt hình thế giới. Sinh năm 1953, vị
đạo diễn 63 tuổi này cho đến trước năm nay mới chỉ cho ra đời đúng bốn phim hoạt
hình ngắn với tổng thời lượng vỏn vẹn 21 phút. Tuy nhiên khi nhắc tới một trong
số bốn tác phẩm đó – bộ phim Father and Daughter thì hẳn bất cứ người yêu điện
ảnh nào cũng sẽ phải ồ lên thán phục dù tác phẩm này đã được công chiếu từ 16
năm trước. Giành tới 21 giải thưởng điện ảnh của năm 2000, trong đó có cả hai
giải thưởng cao quý bậc nhất cho dòng phim him hoạt hình ngắn là Giải Oscar và
Giải BAFTA, Father and Daughter mang đến cho khán giả những gì tinh túy nhất
của Dudok de Wit, đó là phần hình họa tối giản, hạn chế chi tiết thừa, gam màu
trầm, nội dung cực kì tinh tế, xúc động dù không hề sử dụng thoại, và nhạc phim
sâu lắng với những nốt nhạc đi vào lòng người của tuyệt khúc The Danube Waves.
Kể từ khi công chiếu năm 2000, thông điệp
mang tính phổ quát về tình phụ tử của Father and Daughter không chỉ chinh phục
các giải thưởng điện ảnh mà còn chiếm được tình cảm của khán giả quốc tế, trong
số đó có một cái tên quen thuộc – đạo diễn huyền thoại Hayao Miyazaki. Sau khi
xem tác phẩm của đạo diễn người Hà Lan, Miyazaki đã tuyên bố rằng nếu hãng hoạt
hình Studio Ghibli của ông có sản xuất phim cho đạo diễn bên ngoài, người đó phải
là Dudok de Wit. Từng bày tỏ rằng mình không thực sự muốn làm phim hoạt hình
dài, nhưng có lẽ tên tuổi của Hayao Miyazaki và Studio Ghibli là quá đủ để
Dudok de Wit đổi ý. Sau một thời gian dài sản xuất, thành quả của mối lương
duyên giữa đạo diễn người Hà Lan, hãng phim Nhật Bản, và một loạt tên tuổi của
dòng phim nghệ thuật Pháp như hãng Wild Bunch và Why Not Production cuối cùng
cũng được ra mắt khán giả tại Liên hoan phim Cannes 2016. Dài đúng 80 phút, The Red Turtle là bộ phim hoạt hình dài đầu tiên Michaël Dudok de Wit viết kịch
bản và đạo diễn.
The Red Turtle mở đầu với cảnh một người
đàn ông vô danh bị bão tạp đánh dạt lên một hoang đảo, với duy nhất một bộ quần
áo trên người và niềm tin tìm về với đất liền trong tâm trí. Có lẽ bối cảnh này
của bộ phim sẽ khiến nhiều khán giả nghĩ ngay tới tác phẩm của Robert Zemeckis
do Tom Hanks thủ vai chính – Cast Away. Cũng ra mắt công chúng năm 2000 như Father and Daughter, Cast Away là câu truyện sinh tồn của Chuck Noland (Tom
Hanks) và người “bạn” của anh – Wilson-quả-bóng-chuyền. Nửa đầu của The Red
Turtle gần như đi theo đúng mô típ của Cast Away, khi bộ phim tập trung mô tả
sự tuyệt vọng của người đàn ông vô danh trên hòn đảo hoang vắng chỉ có thiên
nhiên, cua cá, hải cẩu, và sự yên tĩnh trống trải đến lặng người. Với chút sức
lực có được nhờ quả dại và nước ngọt trên đảo, người đàn ông quyết vượt biển
khơi bao la bằng cách dựng bè từ những thân tre nhặt được trong cánh rừng bên bờ
biển. Theo gió ra khơi mang theo niềm hy vọng trở về với thế giới, nhưng những
chiếc bè tre của người đàn ông vô danh nhanh chóng vỡ vụn giữa biển cả bởi một
thế lực bí ẩn nào đó dưới đáy sâu. Gắng sức bơi trở lại đảo, đóng những tấm bè
mới lớn hơn, vững chắc hơn để rồi lại bị đánh chìm khi chưa ra được bao xa, người
đàn ông dồn cả nghi ngờ con rùa đỏ to lớn, trầm mặc luôn có mặt trong các chuyến
ra khơi thất bại của mình. Uất ức đến cùng cực, người đàn ông đánh rồi lật ngửa
con rùa với hy vọng nó sẽ không thể phá hoại hành trình của ông ta một lần nào
nữa. Nhưng sợi dây trói chặt ông với hòn đảo hoang không vì thế mà nới lỏng, bởi
con rùa định mệnh lại biến mình thành một người phụ nữ xinh đẹp làm đảo lộn mọi
quyết tâm và dự định của người đàn ông vô danh.
Với khán giả đã từng phải lòng phong cách
nghệ thuật duyên dáng của Father and Daughter thì The Red Turtle chắn chắn
sẽ không làm họ thất vọng bởi Dudok de Wit trong tác phẩm dài đầu tay này vẫn
trung thành với sự tối giản đầy tính biểu tượng với những khung hình sử dụng ít
màu sắc, đường nét thừa nhưng lại hết sức chăm chút vào từng chi tiết, nét vẽ
mô tả thiên nhiên và nhân vật. Rất hiếm khi sử dụng những góc quay cận cảnh,
con người trong các tác phẩm của Dudok de Wit luôn hiện ra nhỏ bé, mỏng manh
như chính số phận của họ, bởi vậy với đạo diễn người Hà Lan thiên nhiên với sự
vĩnh hằng vốn có của nó cũng trở thành một “nhân vật” với tầm quan trọng không
hề thua kém trong The Red Turtle. Từ biển xanh sâu thẳm đầy bí ẩn, rừng tre
xào xạc hiền hoà, cho tới những cơn sóng thần phẫn nộ và huỷ diệt, thiên nhiên
trong The Red Turtle được mô tả không chỉ với nhiều góc cạnh, “tính cách”, mà
còn đầy tính biểu tượng khi chính sự hùng vĩ, bao la, và biến đổi không lường của
nó đã nói lên được sự ngắn ngủi, cô độc, phù du của mỗi kiếp người. Được cộng
hưởng bởi phần nhạc phim sâu lắng của Laurent Perez del Mar, sự tương phản này
giữa thiên nhiên và con người trong The Red Turtle chắc chắn sẽ để lại dư âm
lâu dài trong lòng nhiều khán giả. Đây có lẽ là nét mới mẻ nhất trong tác phẩm
dài đầu tay này của Dudok de Wit khi so sánh với các bộ phim ngắn trước đây của
ông, bởi chỉ có thời lượng và kinh phí thoả đáng của một bộ phim điện ảnh mới
là sân chơi sáng tạo đủ lớn để đạo diễn người Hà Lan bộc lộ hết tài năng của
ông.
Tại thời điểm The Red Turtle mới công chiếu
trong Liên hoan phim Cannes, giới báo chí đã đề cập rất nhiều tới mối liên hệ
giữa tác phẩm này và hãng phim Studio Ghibli, một phần vì danh tiếng của Ghibli
với tư cách ngọn cờ đầu của phim hoạt hình Nhật Bản, một phần vì sự tương đồng
giữa tính nhân văn thấm đẫm trong các tác phẩm của Studio Ghibli và thông điệp
ý nhị về đời người trong những bộ phim ngắn của Dudok de Wit. Quả thực cố vấn
nghệ thuật của The Red Turtle không phải ai khác ngoài Isao Takahata, đạo diễn
đồng sáng lập Studio Ghibli với Hayao Miyazaki, và là người vừa cho ra đời The
Tale of the Princess Kaguya (2013) - một tuyệt phẩm hoạt hình về gia đình, về
tình yêu cuộc sống ẩn sau những nét vẽ đơn giản trừ tượng. Tuy nhiên sẽ là
không công bằng cho cả Studio Ghibli và Michaël Dudok de Wit nếu các bài bình
phim luôn tập chung nhấn mạnh vào “chất Ghibli” của The Red Turtle, bởi thực
tế người xem khó lòng có thể tìm đấy khí chất Nhật Bản đó từ bộ phim được làm
chủ yếu tại Pháp và Bỉ của đạo diễn người Hà Lan. Bởi các bộ phim của Studio
Ghibli, bất kể là do Miyazaki hay Takahata đạo diễn, luôn được xây dựng trên
khung kịch bản hết sức rõ ràng với cốt truyện và tuyến nhân vật thống nhất,
giúp khán giả dễ hiểu, dễ cảm nhận thông điệp của các nhà làm phim Nhật Bản.
Trái ngược với sự nghiêm cẩn rất Á Đông này, The Red Turtle lại có một kịch bản
hết sức trừu tượng với hai câu truyện tương đối tách biệt về sự sinh tồn giữa
thiên nhiên và tầm quan trọng của gia đình, của tình yêu đối với số phận mỗi
con người. Có cảm giác với hai nửa truyện phim riêng rẽ của The Red Turtle được
ngăn cách bởi người phụ nữ hoá thân từ con rùa đỏ kỳ lạ, Dudok de Wit đã mời gọi
chính khán giả cùng ông suy ngẫm về giá trị của cuộc sống, về lựa chọn của mỗi
con người hãy tiếp tục đương đầu với sóng gió để tìm lấy những mảnh đất mới, những
khúc quanh mới cho số phận, hay bằng lòng với hạnh phúc giản đơn vốn có như chú
rùa đỏ tận hưởng sự yên bình của biển xanh.
Tương tự như chiếc mai rùa vỡ làm người đàn
ông vô danh phải bối rối khó hiểu, điều đáng tiếc nhất của The Red Turtle có
lẽ là bộ phim thiếu vắng sự kết nối giữa nửa đầu vừa nửa sau của truyện phim,
khiến khán giả có cảm giác hẫng hụt sau khi họ đã dành rất nhiều tình cảm, suy
nghĩ, và lo lắng cho số phận người đàn ông ở nửa đầu phim để rồi được chứng kiến
những bối cảnh hoàn toàn mới không hề có chút liên hệ nhân quả nào với cuộc đấu
tranh sinh tồn ở phần đầu phim. Có lẽ vì lý do này mà một số nhà phê bình phim
đã cho rằng The Red Turtle là “quá dài” cho Michaël Dudok de Wit bởi những
suy nghĩ trừu tượng và hiện sinh của ông thích hợp hơn với khuôn khổ ngắn, gọn
của các bộ phim hoạt hình ngắn. Tuy nhiên, nhận xét này cũng chưa hoàn toàn thoả
đáng khi qua suốt 80 phút của The Red Turtle, Dudok de Wit đã hoàn toàn chứng
tỏ được tài năng của mình qua phần hình ảnh, tạo hình của phim. Có lẽ điều tốt
nhất khán giả có thể mong đợi lúc này cho Dudok de Wit đó là thời gian, và cảm
hứng, bởi với một kịch bản tốt, đạo diễn người Hà Lan chắc chắn sẽ không làm
khán giả thất vọng trong tương lai, dù là ở thể loại phim dài hay phim ngắn.
Tại liên
hoan phim Venice năm 2015, một trong những tác phẩm gây được tiếng vang lớn nhất
sau khi giành được giải thưởng lớn đặc biệt đó là bộ phim hoạt hình Anomalisa của hai đạo diễn Charlie Kaufman và Duke Johnson. Trong một năm mà dòng phim hoạt
hình thế giới tiếp tục chứng kiến thành công thương mại vượt trội của hãng
Pixar với bộ phim dành cho mọi lứa tuổi Inside Out, thì Anomalisa vẫn thu
hút được sự chú ý của người mộ điệu không chỉ bởi giải thưởng này của ban giám
khảo liên hoan phim Venice, mà còn vì đây là đứa con nghệ thuật mới nhất của
Charlie Kaufman, một trong những nhà biên kịch nổi bật nhất của điện ảnh Hoa Kỳ
đương đại.
Nhân vật
chính của Anomalisa là Michael Stone (David Thewlis) là một cây bút và diễn giả nổi tiếng về kỹ năng giao
tiếp với khách hàng qua điện thoại. Đặt chân tới thành phốCincinnati trong một ngày mưa tầm tã để chuẩn
bị cho buổi diễn thuyết giới thiệu sách vào ngày hôm sau, Michael tới khách sạn
trong tâm trạng buồn bã, cô đơn. Văng vẳng trong đầu tiếng nói trách móc của
người bạn gái cũ Bella (Tom Noonan), Michael tìm cách gọi điện với những người
thân thiết trong đời của ông, để rồi chỉ càng cảm thấy đơn độc và lạc lõng khi
không tìm được tiếng nói chung với những người xung quanh, thậm chí là với
chính gia đình nhỏ của ông. Cơ hội khoả lấp nỗi cô đơn đến với Michael khi ông
tình cờ gặp Lisa (Jennifer Jason Leigh), cô nhân viên tiếp thị hâm mộ Michael
và quyển sách dạy kỹ năng của ông. Có vẻ ngoài hết sức bình thường và cách nói
chuyện còn có phần “quê mùa”, nhưng Lisa lại đem đến cho Michael một tâm hồn đồng
điệu trong khác biệt. Anomalisa là câu chuyện một đêm của Michael và Lisa, là
câu trả lời cho câu hỏi tại sao họ lại có thể tìm thấy nhau, và liệu họ có thể ở
bên nhau để lấp đầy khoảng trống của hai số phận lạc lõng.
Chính thức ra mắt
Hollywood từ năm 1999 với Being John Malkovich, đến nay Charlie Kaufman đã có
bảy kịch bản được chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh. Các bộ phim do ông chắp
bút không hẳn là những tác phẩm thành công vang dội về mặt thương mại hay giải
thưởng, nhưng tất cả đều là những sản phẩm điện ảnh được giới phê bình và người
hâm mộ đánh giá rất cao về cấu trúc độc đáo, sự sáng tạo trong cách xây dựng
nhân vật, và chất triết lý đậm đặc trong mỗi tác phẩm. Phong cách nghệ thuật
riêng biệt và sức tưởng tượng tuyệt vời của Kaufman đã đem lại cho ông một giải
thưởng Oscar cho kịch bản gốc hay nhất với kịch bản phim Eternal Sunshine of
the Spotless Mind. Là một tác phẩm tình cảm hài xuất sắc và cảm động về tình
yêu đôi lứa và sợi dây tình cảm giữa người với người, nhưng Eternal Sunshine
of the Spotless Mind còn là câu chuyện về sự cô đơn, cũng như đem lại cho khán
giả một cái nhìn rất riêng giàu chất triết học về cách thức chúng ta tạo ra và
lưu giữ ký ức. Năm 2008 Kaufman cho ra mắt bộ phim đầu tiên do chính ông đạo diễn, Synecdoche, New York. Được nhà phê bình điện ảnh nổi tiếng Roger Ebert đánh
giá là một trong những tác phẩm điện ảnh xuất sắc nhất trong thập niên đầu tiên
của thế kỷ 21, Synecdoche, New York là một bộ phim hết sức phức tạp và lạ
lùng với bối cảnh và truyện phim nhiều lớp như một cô búp bê Nga Matryoshka được
xây dựng xung quanh câu hỏi hiện sinh về giá trị tồn tại của mỗi con người, về
sự cô đơn, và về ý nghĩa thực sự của cuộc sống.
Tiếp tục mạch suy tưởng này của Synecdoche,
New York, Anomalisa cũng
là bộ phim về một số phận cô đơn lạc lõng đi tìm lại giá trị của cuộc sống, tìm
lại những tâm hồn đồng điệu. Nhưng khác với phong cách đa tầng tới mức đôi khi
khó hiểu trong bộ phim đầu tiên ông đảm nhận vai trò đạo diễn, Kaufman lựa chọn
cho Anomalisa một không gian hết sức giản dị với bối cảnh nhỏ gọn, tuyến nhân
vật tinh giản, và đặc biệt là việc kể chuyện bằng kỹ thuật hình ảnh động
(stop-motion) của phim hoạt hình. Với những đại diện tiêu biểu như bộ phim
dành giải Oscar cho phim hoạt hình năm 2005 Wallace & Gromit: The Curse of
the Were-Rabbit hay các bộ phim hoạt hình của đạo diễn Tim Burton như Corpse
Bride (2005) hay Frankenweenie (2012), các bộ phim hoạt hình sử dụng kỹ thuật stop-motion có ưu điểm là vừa tạo điều kiện cho các đạo diễn thoả sức sáng tạo
về mặt hình ảnh, vừa giúp các bộ phim có được cảm giác gần gũi nhất định với thực
tế “phi hoạt hình”. Ưu thế này đã được Charlie Kaufman và Duke Johnson tận dụng
tối đa cho Anomalisa với phần bối cảnh và tạo hình nhân vật được chăm chút hết
sức kỹ lưỡng, tạo cho người xem cảm giác họ đang xem một bộ phim do các diễn
viên thực thụ đóng. Điểm thú vị là Anomalisa thành công trên khía cạnh này tới
mức bộ phim đã vượt qua tất cả các tác phẩm với diễn viên thật khác để dành giải Mô tả cảnh tình cảm người lớn xuất sắc nhất năm 2015 của Liên đoàn nhà báo điện
ảnh nữ Hoa Kỳ (Alliance of Women Film Journalists). Thêm vào đó, kỹ thuật stop-motion cũng tạo điều kiện cho Charlie Kaufman truyền tải hình ảnh nửa phần
thực, nửa phần hư ảo của các nhân vật qua từng khớp nối trên những khuôn mặt
quá khổ của Michael hay Lisa. Những đôi mắt với biểu cảm rất chân thật nằm trên
khuôn mặt hằn khớp nối của một người máy chắc chắn sẽ khiến nhiều khán giả cảm
thấy ám ảnh suốt bộ phim và qua đó giúp họ dễ dàng cảm nhận hơn cuộc hành trình
trong tâm tưởng của Michael Stone đi tìm những giá trị còn sót lại trong cuộc đời
lạc lõng của ông. Cách tiếp cận khán giả này của Kaufman đã giúp Anomalisa có
được sự gần gũi nhất định đồng thời cũng giữ nguyên những giá trị hiện sinh mà
Kaufman luôn đau đáu kể từ những tác phẩm đầu tiên.
Cá tính và chất
sáng tạo của Charlie Kaufman trong Anomalisa còn được thể hiện qua việc ông
chỉ sử dụng vỏn vẹn ba diễn viên để lồng tiếng cho toàn bộ các nhân vật trong
phim. Được biết tới nhiều nhất qua vai diễn Remus Lupin trong loạt phim Harry
Potter, David Thewlis là lựa chọn hết sức phù hợp cho vai Michael Stone khi chất
giọng ấm vừa truyền cảm vừa pha chút rụt rè của Thewlis đã thực sự tạo dựng cho
nhân vật của ông một linh hồn, một số phận thực sự vượt khỏi khuôn khổ của một
nhân vật hoạt hình thông thường. Lồng tiếng cho mảnh ghép tâm hồn của Michael –
Lisa là Jennifer Jason Leigh, nữ diễn viên đã có một năm hết sức thành công với
vai Daisy Domergue trong The Hateful Eight của Quentin Tarantino. Trái ngược
hoàn toàn với vai diễn đậm chất điên dại trong The Hateful Eight, Lisa qua giọng
nói của Jennifer Jason Leigh hiện lên như một bản sao nữ của Michael Stone với
sự lưỡng lự, ngập ngừng của một mảnh đời cô độc. Sự tương đồng đến kỳ lạ về
tính cách, về suy nghĩ giữa Michael và Lisa bất chấp xuất thân và địa vị xã hội
hết sức khác biệt của cả hai đã lại càng làm nhoà đi ranh giới giữa thực tại và
mộng tưởng trong Anomalisa khi người xem phải phân vân liệu Lisa có thật sự
giống như hình ảnh của cô qua con mắt của Michael. Màn sương mờ ảo này của Anomalisa thực sự trở nên đậm đặc với lựa chọn độc đáo của Charlie Kaufman
trong việc để nam diễn viên Tom Noonan sử dụng một giọng lồng tiếng duy nhất
cho toàn bộ tuyến nhân vật phụ của phim – những nhân vật vốn đã có phần tạo
hình gương mặt tương đối giống nhau. Từ chỗ ngạc nhiên khi thấy những nhân vật
nữ trong phim được lồng tiếng bởi một chất giọng hết sức đàn ông, khán giả có lẽ
sẽ dần trở nên đồng cảm với sự cô đơn của Michael và Lisa, khi mà với họ, gương
mặt của tất cả người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã dần biến thành khối đồng nhất
nhạt nhoà, xa lạ đến đáng sợ. Những lựa chọn nghệ thuật hết sức mạo hiểm này của
Charlie Kaufman đã khiến Anomalisa tạo dựng được chỗ đứng riêng giữa các bộ
phim lấy chủ đề về sự cô đơn nhờ câu chuyện và những nhân vật tưởng chừng đơn
giản nhưng lại ẩn giấu rất nhiều tầng ý nghĩa.
Khi xem các bộ
phim do Charlie Kaufman chấp bút, hẳn nhiều người hâm mộ điện ảnh sẽ có cảm
giác họ đang tham gia một trò chơi ghép hình, trong đó mỗi mảnh ghép là một câu
chuyện, là một lớp nghĩa khác nhau mà Kaufman đã đem tất cả sức sáng tạo của
ông để đem đến cho khán giả. Xét về khía cạnh này, có thể coi Anomalisa là một
bức tranh ghép tương đối hoàn chỉnh về chủ đề quen thuộc trong các bộ phim của
Kaufman – nỗi cô đơn. Đó là một bức tranh giản dị và dễ tạo sự đồng cảm cho người
xem bởi những cảm xúc chân thực, gần gũi mà hẳn nhiều người cũng đã từng trải
qua trong đời. Nhưng nếu nhìn kỹ hơn vào các góc cạnh của bức tranh, khán giả sẽ
lại nhận ra rằng vẫn còn đó rất nhiều sắc thái ẩn giấu dưới mỗi mảnh ghép chờ họ
khám phá. Đó chính là vẻ đẹp của Anomalisa, một bộ phim tưởng chừng giản đơn
nhưng hết sức sâu sắc.