some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

Affichage des articles dont le libellé est epic. Afficher tous les articles
Affichage des articles dont le libellé est epic. Afficher tous les articles

mercredi 8 mai 2024

Trường An tam vạn lý (2023)


Thông thường tôi sẽ bình phim ngắn bằng tiếng Anh nhưng do phim này tôi xem với phụ đề tiếng Việt (thực sự cảm ơn các bạn nào đã làm bộ phụ đề tiếng Việt cho phim này quá xuất sắc) và nó gắn nhiều với tuổi thơ sách vở (tiếng Việt) của tôi nên tôi sẽ bình phim này bằng tiếng Việt. Trước hết có thể nói luôn là về chất lượng nghệ thuật phim này không xứng đáng 4 điểm, cùng lắm là 3.5 hoặc thậm chí là 3 điểm vì cách tạo hình nhân vật 3D trong phim này là không có gì mới, lộ rõ ảnh hưởng rất lớn (nếu không nói là sao chép) phong cách làm phim 3D của Hollywood (Pixar hoặc DreamWorks) và thậm chí là phần chi tiết nét mặt còn thiếu tinh tế hơn - điểm yếu này của phim đặc biệt lộ rõ trong những phân cảnh cuối khi Lý Bạch và Cao Thích đã về già. Đây là điều đáng tiếc vì phim có rất, rất nhiều nhân vật lịch sử, đặc biệt là các nhà thơ thời Nhà Đường, và hiếm khi khán giả có cơ hội được chứng kiến nhiều nhân vật như vậy cùng đứng chung một khung hình - vì phim lịch sử Trung Quốc thường chỉ tập trung vào chiến trận, triều đình, vì thế Dương Quý Phi, Đường Minh Hoàng, An Lộc Sơn, Quách Tử Nghi mới là những nhân vật thường được nhắc đến, và những nhà thơ như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Vương Duy thường chỉ được sử dụng làm "nền" - hơn nữa phim lịch sử Trung Quốc về giai đoạn Hán - Đường thường tuân thủ rất triệt để theo ghi chép lịch sử và thường không "dám" tạo ra các cảnh "giả sử" để các nhân vật lịch sử có thật được ở cạnh nhau, tương tác với nhau (ngay đến phim "xuyên không" giờ cũng đã không còn được khuyến khích ở Trung Quốc, đừng nói là phim "giả sử"). Dù đây là phim lịch sử, lấy bối cảnh là các thành phố và quang cảnh nổi tiếng của Trung Quốc thời nhà Đường nhưng cách xây dựng và chất lượng nghệ thuật của các bối cảnh này dù đẹp, hoành tráng (đặc biệt với những cảnh tự nhiên rộng lớn như Động Đình hồ) cũng không thực sự mới mẻ, gây ấn tượng sâu sắc và vẫn có chút hơi hướng gì đó của phim hoạt hình 3D Hollywood. Đây là điểm theo tôi là khá đáng tiếng vì Trung Quốc có kho sử liệu và tranh vẽ đồ sộ từ thời nhà Hán, nhà Đường, nhà Tống vẫn còn tồn tại đến tận ngày nay - nếu các nhà làm phim tận dụng hơn các mô-típ của tranh thủy mặc thời Tống hay tượng đất nung thời Đường thì phần "nhìn" của phim trông sẽ đặc sắc hơn rất nhiều (ví dụ cách dựng hình ngựa trong phim là đẹp, sinh động, và khác biệt hơn hẳn so với phim Hollywood - lý do đơn giản vì chúng được lấy theo đúng mẫu các bức tượng ngựa thời nhà Đường - ai đã từng thấy các bức tượng này ở bảo tàng, triển lãm sẽ nhận ra ngay những con ngựa mà Cao Thích hay Lý Bạch cưỡi có ngoại hình giống hệt. Về mặt tiết tấu, phim có tiết tấu khá chậm, khiến khán giả đôi lúc sẽ có cảm giác phim "quá dài" - nhất là những phân đoạn đối thoại giữa Cao Thích và Trình giám quân - tất nhiên độ dài 168 phút của phim thực sự là "rất dài" cho một phim hoạt hình, nhưng vì kể câu chuyện trải dài suốt nhiều thập niên về giai đoạn Nhà Đường từ đỉnh cao rơi xuống vực sâu, nên độ dài này là cần thiết, nhưng rõ ràng các nhà làm phim có thể điều chỉnh tiết tấu để phim nhanh hơn, lôi cuốn hơn với nhiều trường đoạn tương tác giữa Lý Bạch và Cao Thích, và các nhân vật khác hơn. Cái kết hơi mang tính "dân tộc chủ nghĩa" (phong cách thời thượng của phim Trung Quốc thời điểm hiện tại) cũng làm mất đi phần nào giá trị của phim - một tác phẩm vốn nói về sự tương phản giữa một Lý Bạch phóng khoáng, sống hết mình, với một Cao Thích luôn tự cầm chân mình trong các giới hạn của đạo lý, luân thường trong bối cảnh xã hội tao loạn - chứ không phải là một tác phẩm nói về đề tài "chống ngoại xâm", "diệt Thổ cầm Hồ" thời Nhà Đường. Cũng phải nói thêm là nút thắt mở dẫn đến phần kết này khá thú vị khi nó giúp phim tạo được sự khác biệt đáng kể so với "Amadeus" của Miloš Forman - vốn có phần kịch bản đầu gần như tương đồng so với "Trường An tam vạn lý" - cũng nói về tình bạn/đối thủ giữa một thiên tài phóng khoáng (nhưng vì thế mà thất bại trong đường sự nghiệp) với một nghệ sĩ kém tài hơn nhưng luôn chịu khó cúi đầu đi về phía trước để cuối cùng trở thành người "sống sót"/thành công hơn để kể lại câu chuyện của cả hai.

Chê thì chê, nhưng tôi vẫn chấm phim này 4 điểm, vì xem phim này tôi thực sự xúc động khi thấy các nhà làm phim đã chuyển hóa được các bài thơ Đường (chủ yếu là của Lý Bạch) thành ngôn ngữ hình ảnh, âm thanh của điện ảnh. Đây là những bài thơ tôi đã đọc, và thích từ ngày còn bé, nhưng quả thực chưa bao giờ tưởng tượng và liên hệ những bài thơ đó một cách toàn diện, nhiều tầng ý nghĩa, nhiều tầng cảm xúc như ở bộ phim này. "Tĩnh dạ tư", "Tương tiến tửu", "Tảo phát Bạch Đế thành" là những đỉnh cao trong sự nghiệp thơ ca của Lý Bạch, và những phân đoạn về các bài thơ này trong phim cũng là những điểm nhấn đẹp đẽ, đáng nhớ vô cùng. Vì thế nên xem phim này tôi vừa thấy cảm động, nhớ lại cái tuổi niên thiếu của chính mình ngồi ngâm nga những bài thơ Đường ở cái thời còn chưa thể ngấm được hoàn toàn những tâm sự, suy tư của Lý Bạch khi làm những bài thơ này, hay cái mới, cái đột phá mà Lý Bạch đem đến cho thơ của ông, và tôi cũng thấy có phần "ghen tị" khi chẳng biết đến bao giờ Việt Nam mới có được những bộ phim hoạt hình lịch sử xuất sắc đến thế này.

vendredi 24 janvier 2020

1917 (2019)


Tháng Tư năm 1917, sau ba năm đẫm máu của cuộc Thế chiến lần thứ nhất, thế trận giữa Phe Đồng minh và Liên minh Trung tâm tại mặt trận phía Tây vẫn chưa thực sự ngã ngũ khi mà binh sĩ hai bên vẫn phải ẩn mình trong những hầm hào chật hẹp ở miền Bắc nước Pháp để tránh cái chết gần như là chắc chắn cho bất cứ ai cả gan đặt chân vào vành đai trắng giữa hai chiến tuyến no man’s land. Trong bối cảnh ấy, quân Đức – lực lượng trụ cột của Liên minh Trung tâm khiến toàn bộ Phe Đồng minh bất ngờ khi tung tin sẽ rút khỏi chiến tuyến họ đã dùng không biết bao nhiêu máu thịt để chiếm và giữ từ tay người Pháp và đồng minh của họ là người Anh. Cho rằng đây là cơ hội nghìn năm có một để giáng một đòn chí mạng vào lính Đức, tiểu đoàn 2 của Trung đoàn Devonshire dưới sự chỉ huy của đại tá Mackenzie (Benedict Cumberbatch) được lệnh cấp tốc vượt chiến tuyến để đánh chặn quân Đức đang rút lui. 

Chỉ một ngày trước kế hoạch tổng tấn công của tiểu đoàn Mackenzie, ở phía sau chiến tuyến của người Anh, tướng Erinmore (Colin Firth) lại nhận được mật báo rằng kịch bản của quân Đức chỉ là một cái bẫy để kéo 1600 lính của đại tá Mackenzie trở thành mồi ngon cho những cỗ pháo Đức đã được lên nòng chờ sẵn. Không có cách nào liên lạc với Mackenzie bởi đường dây điện thoại đã bị cắt đứt do binh lính của Trung đoàn Devonshire đã di chuyển qua chiến tuyến của người Đức và vượt quá tầm với của đường dây điện thoại giao liên. Không còn thời gian và cũng không còn giải pháp khác, tướng Erinmore buộc phải giao phó mật lệnh huỷ cuộc tấn công của tiểu đoàn Mackenzie cho hai anh chàng binh nhất Tom Blake (Dean-Charles Chapman) và Will Schofield (George MacKay) để hai người lính với khuôn mặt non choẹt này vượt qua chiến tuyến và vành đai trắng mang tới cho đại tá Mackenzie trước buổi bình minh của cuộc tấn công. Từng tham gia và thậm chí là giành được huân chương dũng cảm tại chiến trường ở Sommes – một trong những cối xay thịt khủng khiếp nhất của Thế chiến thứ nhất, Schofield hiểu hơn ai hết hiểm nguy và cái chết rình rập trong từng hố đạn pháo, từng đoạn hầm hào của vành đai trắng và tỏ rõ sự ngần ngừ khi phải nhận nhiệm vụ liều chết do tướng Erinmore giao cho. Nhưng trách nhiệm của một người bạn, một người đồng đội cũng lại khiến Schofield không thể bỏ mặc Tom Blake – người một sống hai chết vẫn quyết tâm vượt chiến tuyến bởi lý do đơn giản là ở phía bên kia, trong 1600 người lính của đại tá Mackenzie có trung uý Joseph Blake (Richard Madden), anh trai của Tom, và bằng mọi giá – kể cả chính mạng sống của mình, Tom Blake không muốn để anh trai phải rơi vào cạm bẫy giăng sẵn của kẻ thù.

Theo chia sẻ của đạo diễn người Anh Sam Mendes – đạo diễn của bộ phim giành giải Oscar American Beauty (1999) và bộ đôi phim ăn khách về điệp viên 007 Skyfall (2012) và Spectre (2015) thì ông làm 1917 là để kể lại câu chuyện chiến trường của người ông – nhà văn có tiếng Alfred Mendes về thời gian ông làm giao liên cho quân đội Anh trên những chiến trường đẫm máu của cuộc đại chiến thế giới lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Vốn là nhà làm phim với sở trường là các tác phẩm bi kịch – từ cuộc sống tưởng chừng đẹp đẽ nhưng ngột ngạt của một gia đình trung lưu người Mỹ trong American Beauty, cho tới con đường diệt vong của những người đã lỡ bước chân vào nghiệp băng đảng trong Road to Perdition (2002), và cả sự tan vỡ của những mỗi tình tưởng chừng không thể chia cắt trong Revolutionary Road (2008), có lẽ Sam Mendes đã tìm thấy một đề tài nữa đúng với khẩu vị của mình ở bi kịch của những người lính phải chui rúc không khác gì những con chuột cống trong những hầm hào của Mặt trận phía Tây Chiến tranh thế giới lần thứ nhất để lẩn trốn cái chết. Trong cuộc chiến hầm hào ấy, cái chết có thể đến đột ngột cho những ai dám cả gan ló đầu ra khỏi các chiến hào hay bước chân vào những vành đai trắng chằng chịt hố bom và dây thép gai, nhưng sự diệt vong cũng có thể thẩm thấu một cách từ từ qua da thịt của những người lính phải dán mình nhiều ngày, thậm chí là nhiều tháng trong không gian chật hẹp, nhớp nháp của hầm hào bên cạnh vô số chuột bọ, bệnh tật, và áp lực tâm lý nặng nề của những số phận hàng ngày phải đối mặt với cái chết. Nhưng kịch bản 1917 của Sam Mendes và nữ biên kịch trẻ Krysty Wilson-Cairns không chỉ dừng lại ở đó. Bộ phim còn là câu truyện về niềm tin, về khả năng sinh tồn, về sức sống mãnh liệt của con người và thiên nhiên trước sức tàn phá khủng khiếp của bom đạn, của ngọn lửa vô tình của chiến tranh điêu tàn. Người xem có thể cảm nhận được rõ ràng tinh thần sống của 1917 qua chuyến đi đầy hiểm nguy của hai người lính trẻ nhưng luôn giữ trong mình niềm tin tới đích Blake và Schofield. Chẳng ai có thể sống sót một khi đã đặt chân vào vành đai trắng – những sĩ quan kinh nghiệm đầy mình như trung uý Leslie (Andrew Scott) đã thẳng toẹt như vậy khi “tiểu đội hai người” xin quyền vượt chiến tuyến để thi hành nhiệm vụ cảm tử tướng Erinmore đã giao phó. Nhưng Blake và Schofield vẫn quyết tâm dấn thân vào nghĩa địa của người, ngựa, và bom mìn ấy để đi tìm sự sống cho trung uý Joseph Blake và 1599 người khác trong tiểu đoàn của đại tá Mackenzie. Và cũng chính niềm tin vào sự sống ấy đã giúp hai người lính trẻ phát hiện ra rằng họ không phải những người duy nhất tin vào sự sống – bởi đây đó trong những trang trại nham nhở vì đạn pháo, giữa những căn nhà đổ sụp vì bom mìn, phía dưới những thành phố đang ngùn ngụt cháy bởi ngọn lửa của lính Đức thì cuộc sống vẫn đang sinh sôi nảy nở với những em bé khát sữa, và cả những chú bò sữa thủng thẳng gặm cỏ bất chấp cái chết rình rập. 

Cách đây 35 năm, đạo diễn Liên Xô Elem Klimov đã đem tới cho khán giả một tác phẩm được coi là xuất sắc bậc nhất của dòng phim chiến tranh trong lịch sử điện ảnh - Idi i smotri hay Hãy đến. Tác phẩm của hãng phim danh tiếng Mosfilm là chuyến hành trình đối diện với những hậu quả khủng khiếp từ Chiến tranh thế giới lần thứ hai của cậu bé Florya. Từ chỗ là một con người, đúng hơn là một đứa bé mới lớn, cậu bị bom đạn làm cho điếc, rồi bị sự dã man của lính Đức làm cho mất nốt cái giác quan quan trọng nhất của một con người – cảm giác rằng mình tồn tại bất chấp thực tế trớ trêu rằng Florya mới chính là người sống sót duy nhất. Thật tình cờ rằng khi so sánh gương mặt con trẻ của diễn viên Aleksei Kravchenko – người được đạo diễn Klimov giao thủ vai Florya với tạo hình của Schofield qua sự thể hiện của George MacKay, người xem sẽ tìm thấy nhiều nét tương đồng. Đó cùng là những gương mặt tròn trịa không nhiều góc cạnh kiểu người hùng, đó cùng là những đôi mắt buồn đến ngơ ngác nhất là sau khi phải chứng kiến cái chết, phải đối mặt với những xác người, xác động vật chết vì chiến tranh ở mọi nơi, mọi lúc. Cũng như Elem Klimov, Sam Mendes không ngần ngại “bắt” khán giả phải cảm nhận sự chết chóc và bạo lực của chiến tranh một cách trực diện với những cảnh quay không khoan nhượng từ góc nhìn của các nhân vật trong phim của họ về cái cách con người hành hạ và huỷ diệt con người, cái cách sự khốn khổ của nạn nhân của bạo lực tột cùng đó còn tiếp tục ngay cả sau khi họ đã chết khi mà những cái xác không hồn của họ trở thành mồi ngon cho quạ, cho thú hoang, cho sự gặm nhấm từ từ nhưng vô tình của thiên nhiên. Và cũng xuất sắc như Kravchenko, MacKay đã thể hiện rất thành công sự thương tổn sâu sắc của binh nhất Schofield khi đi qua muôn mặt của chiến tranh trên con đường đi tìm sự sống cho tiểu đoàn của đại tá Mackenzie. Tất nhiên Schofield không phải cậu bé mới lớn như Florya. Anh lính trẻ từng tham chiến ở Sommes – mặt trận từng chứng kiến hơn một triệu binh sĩ của hai phía bỏ mạng chỉ trong vòng ba tháng. Anh lính trẻ cũng trải nghiệm sự sống và cái chết nơi hầm hào nhiều tới mức chai sạn, nhiều tới mức sẵn sàng đổi tấm huân chương cao quý giành được vì lòng dũng cảm ở Sommes để lấy một chai vang Pháp cho thoả cơn khát. Nhưng chỉ từng ấy thôi cũng là không đủ để chuẩn bị cho Schofield để đối mặt với vô số những chết chóc và bi kịch rải đầy trên đường thi hành nhiệm vụ cảm tử cùng người đồng đội Tom Blake. Chỉ nhờ có kinh nghiệm chiến đấu dày dạn, và nhất là nhờ vào niềm tin mãnh liệt rằng “mình có thể đi tới đích”, Schofield mới có thể lết được qua từng dặm đường của chiến tranh mà không mất đi cái cảm giác còn sống, được sống như Florya trong Idi i smotri và tạo nên một 1917 dù bi kịch nhưng vẫn nhiều niềm tin hơn, nhiều hy vọng hơn tác phẩm năm xưa của đạo diễn Elem Klimov. 

Câu truyện của Schofield và Blake trên chiến trường giúp 1917 trở thành một bộ phim hay, nhưng phần hình ảnh của tác phẩm nhờ vào sự hợp tác giữa Sam Mendes và nhà quay phim vĩ đại Roger Deakins mới biến 1917 trở thành một tuyệt phẩm. Được biên tập như một bộ phim không hề có cắt cảnh, 1917 thực chất bao gồm rất nhiều cảnh quay dài được dựng một cách khéo léo để tạo cảm giác từ đầu đến cuối Roger Deakins không hề đóng máy để chuyển cảnh mà theo sát từng bước đi của Schofield và Blake trên con đường chông gai tìm kiếm đại tá Mackenzie. 1917 sử dụng rất nhiều góc máy cận cảnh và đặc tả nhân vật để giúp khán giả có cảm giác họ cũng là một thành viên của “tiểu đội hai người” phải đối mặt với những hiểm nguy và sự tàn khốc của chiến tranh vốn là một “đặc sản” của nhà quay phim 70 tuổi người Anh – người từng giành tới 15 đề cử Oscar cho quay phim xuất sắc nhất. Bên cạnh đó, Deakins cũng xen kẽ vào đó những cảnh quay tầm trung để người xem thấy được quy mô của cuộc chiến, sự khác biệt của từng quang cảnh làng mạc, thiên nhiên, chiến trường mà Schofield và Blake đã bước qua. Điểm đáng khâm phục đối với Roger Deakins và đội ngũ kỹ thuật của 1917 là việc tuy tác phẩm chiến tranh này có rất nhiều bối cảnh cực khó, từ những hầm hào chật hẹp ướt át cho tới những đồng cỏ rộng lớn mênh mông và tất nhiên không thiếu sự gồ ghề, góc cạnh, những chướng ngại tưởng chừng không thể vượt qua điển hình cho một cuộc chiến hầm hào, nhưng tất cả cảnh quay của bộ phim dù rất dài nhưng đều tạo cảm giác mượt mà, liền mạch với chất lượng quay rất cao và chứng tỏ đoàn làm phim của 1917 đã phải bỏ rất nhiều thời gian và công sức để lên kế hoạch kỹ lưỡng cho từng cảnh quay, từng cử động của các diễn viên trước khi bắt tay vào thực hiện bộ phim dài tới 2 tiếng này. Kết quả của từ sự cố gắng của Sam Mendes, Roger Deakins và những thành viên khác trong đoàn làm phim 1917 là một tác phẩm “không cắt” hoàn toàn có thể sánh ngang với bộ phim “không cắt” xuất sắc từng giành giải Oscar Birdman (2014) của bộ đôi đạo diễn-quay phim người Mexico Alejandro G. Iñárritu và Emmanuel “Chivo” Lubezki hay những cảnh quay hành động dài hàng chục phút của Children of Men (2006) – một thành quả nghệ thuật khác của Chivo Lubezki với đạo diễn Alfonso Cuarón. Nhưng quan trọng hơn thế, sự liền mạch, và trực diện trong cách quay của 1917 giúp bộ phim truyền tải được tới khán giả một cách trọn vẹn những cung bậc tình cảm hết sức khác nhau của một người lính giữa chiến trường tàn khốc – sự ngộp thở trong hầm hào hay phía dưới mặt nước đục ngầu của những con sông hung dữ, suy nghĩ run run ngập ngừng khi phải đối mặt với cái yên lặng đến rợn người của vành đai trắng no man’s land, và cả cảm giác máu chảy rần rật trong huyết quản khi phải chạy trốn cái chết đuổi theo sau lưng – cái chết đến từ hòn tên mũi đạn chưa bao giờ biết phân biệt địch với thù. Với tài năng của Roger Deakins tỏa ra từ từng khung hình, cộng thêm xúc tác quan trọng là phần nhạc phim bi tráng của Thomas Newman – nhà soạn nhạc đã song hành với Sam Mendes kể từ thành công của bộ phim đầu tay American Beauty, có thể nói không ngoa rằng “1917” là một trong những tác phẩm hành động – sử thi xuất sắc nhất trong vòng mười năm trở lại đây của Hollywood và thậm chí có phần còn nổi trội hơn cả Dunkirk (2017) – tác phẩm lấy bối cảnh Chiến tranh thế giới thứ hai của đạo diễn Christopher Nolan vốn có rất nhiều cảnh quay xuất sắc nhưng lại sử dụng cách tiếp cận nhân vật hơi có phần quá anh hùng, quá bi kịch nếu phải so với sự gần gũi, dễ liên tưởng, dễ cảm nhận của Schofield hay Blake dưới bàn tay nhào nặn của Sam Mendes.

1917 không phải là một tác phẩm hoàn hảo. Cách xây dựng nhân vật và phong cách quay “không cắt” của bộ phim giúp 1917 có được cảm giác hết sức chân thực của một tác phẩm hiện đại về đề tài chiến tranh, nhưng kịch bản của Sam Mendes và Krysty Wilson-Cairns dường như vẫn chứa đựng một số điểm thắt, chi tiết “tình cờ” nhưng tạo cảm giác không hề ngẫu nhiên, thậm chí còn là hơi gượng ép để tạo thêm kịch tính cho một tác phẩm hành động – chiến tranh vốn đã có quá nhiều kịch tính. Những khán giả khó tính có thể coi cách xây dựng kịch bản như vậy đã phần nào đó làm hỏng ý đồ “hiện thực hóa”, “chân thực hóa” cuộc chiến của Sam Mendes đối với 1917. Nhưng nhìn ở một khía cạnh khác, kịch tính và cao trào liên tục của 1917 lại đã giúp bộ phim có được một chuyến du hành qua chiến tranh – chạy trốn cái chết hết sức đáng nhớ của các nhân vật chính. Chỉ hơn hai thập niên sau những sự kiện của 1917, châu Âu và thế giới nói chung lại phải đối diện với một cuộc đại chiến khác – Thế chiến thứ hai. Trong cuộc chiến còn tàn bạo, khốc liệt hơn cả cuộc đại chiến đầu tiên ấy, một trong những ca khúc được binh lính Anh yêu quý nhất đó là nhạc phẩm The White Cliffs of Dover (Những vách đá trắng ở Dover) qua giọng hát của Vera Lynn. Không nói tới vinh quang của cuộc chiến, không nói tới những tấm huân chương, những danh hiệu cao quý, The White Cliffs of Dover chỉ gợi những người lính Anh nhớ tới những gì quen thuộc nhất, thân thương nhất nơi quê hương, đó là những vách đá trắng ở Dover, những thung lũng đầy hoa, những đàn cừu thản nhiên gặm cỏ. 1917 cũng là một tác phẩm như thế. Bộ phim không hề tô son điểm phấn cho chiến tranh, không hề cố khắc họa những người hùng của chiến trận hay tô đậm hào quang của những cái chết trên chiến trường. Trái lại Mendes và Deakins chỉ tập trung để mô tả những góc cạnh xấu xí nhất, tàn bạo nhất của cuộc chiến và khắc họa số phận của những người bình thường nhất khi bị đặt vào những nơi hiểm nguy nhất. Nhưng kết phim 1917 vẫn cho người xem niềm tin, niềm tin rằng số phận nhân vật họ đang nín thở theo dấu từ đầu bộ phim vẫn còn le lói chút gì đó hy vọng, niềm tin rằng kể cả giữa khốc liệt của chiến trường, vẫn còn đó nhân tính, tình người. Một tác phẩm lấy đề tài chiến tranh như thấm đẫm tinh thần phản chiến và mang trong mình rất nhiều niềm tin, 1917 xứng đáng là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của điện ảnh Hollywood năm 2019. 

========

mardi 21 janvier 2020

Joyeux Noël (2005)



Mùa Hè năm 1914, có lẽ không một người dân châu Âu nào có thể ngờ được rằng những đốm lửa xung đột ở Lục địa già này sẽ bùng cháy trở thành Chiến tranh thế giới lần thứ nhất – cuộc chiến với quy mô huỷ diệt bậc nhất mà loài người chưa từng được chứng kiến cho đến thời điểm đó. Những trận chiến hầm hào kéo dài hàng tháng, thậm chí là hàng năm của cuộc Đại chiến này đã huỷ diệt không biết bao sinh mạng người dân và binh sĩ của cả hai phe, và cũng đẩy hàng triệu số phận ở các quốc gia tham chiến vào những khúc quanh họ không thể ngờ tới. Một trong những số phận nhỏ bé như thế là Nikolaus Sprink (Benno Fürmann) – một ca sĩ opera có tiếng ở Berlin phải giã từ sự nghiệp và người vợ hiền Anna Sørensen (Diane Kruger) để lên đường ra mặt trận. Ở phía kia chiến tuyến, Đức cha Palmer (Gary Lewis) cũng quyết định rời bỏ quê hương Scotland để trở thành Cha tuyên uý giữa những chiến hào miền Bắc nước Pháp để làm chỗ dựa về mặt tinh thần cho những người lính hàng ngày phải đối mặt với cái chết như Gordon (Alex Ferns) và Jonathan (Steven Robertson). Cũng đang đối đầu với những người lính Đức để bảo vệ quê hương là viên sĩ quan người Pháp Camille René Audebert (Guillaume Canet) – người đang phải hàng ngày chiến đấu trong nỗi lo sợ cho gia đình nhỏ của anh bị bỏ lại trong một làng quê Pháp đã rơi vào vòng kiểm soát của người Đức. Nhưng trong đêm Giáng Sinh, khi tuyết rơi phủ trắng mảnh đất chết chóc nơi hàng nghìn, hàng vạn người lính đã phải bỏ mạng, nơi những người còn sống vẫn đang phải từng giờ từng phút chạy trốn cái chết đến từ súng đạn, đến từ bom mìn, đến từ góc sắc của lưỡi lê và dây thép gai, đột nhiên binh lính ở cả hai phía chiến tuyến nhận ra rằng họ vẫn khao khát được sống, khao khát được nếm lại dù chỉ một chút cái dư vị thanh bình, đầm ấm của đêm Giáng Sinh – thời khắc truyền thống của mọi người dân châu Âu để đoàn tụ với gia đình, để mong ước cho một tương lai tươi đẹp. Chính cái khát vọng chung ấy đã khiến những người như Sprink, như Đức cha Palmer, như Audebert quyết định cùng nhau tạo nên một phép lạ trong đêm Giáng Sinh – ngày duy nhất không có tiếng súng, không có hận thù giữa cuộc Đại chiến.

Là một sản phẩm hợp tác của cả ba quốc gia Anh – Đức – Pháp, bộ phim Joyeux Noël (Giáng Sinh vui vẻ) của đạo diễn người Pháp Christian Carion là tác phẩm tái hiện lại hiện tượng đặc biệt từng xảy ra ở một số mặt trận trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất như ở Frelinghien miền Bắc nước Pháp – đó là việc binh sĩ các bên đồng ý ngừng bắn trong đêm Giáng Sinh, thậm chí là tổ chức những hoạt động tập thể để kỷ niệm ngày Thiên Chúa giáng sinh trước khi quay về chiến hào của bên mình để tiếp tục chuỗi ngày chết chóc đẫm máu. Trong một cuộc Đại chiến nơi gần 10 triệu lính Pháp, Anh, Scotland, Đức, Nga và rất nhiều quốc gia khác phải bỏ mạng, phần lớn trong những cuộc chiến hầm hào ở Ypres, ở Somme, ở Verdun, nơi khí độc lần đầu tiên được sử dụng để “giết nhiều người nhất có thể”, nơi súng máy, xe tăng bắt đầu được sử dụng rộng rãi khiến tỉ lệ tử vong của binh lính hai bên lên tới mức khủng khiếp, thì Hưu chiến Lễ Giáng sinh quả thực là một sự kiện đặc biệt. Đặc biệt không chỉ vì sự tương phản giữa một bên là chết chóc, một bên là hoà bình – dù hết sức ngắn ngủi, mà đặc biệt còn là vì thời khắc ngừng bắn trong đêm Giáng sinh ấy còn cho thấy rằng ngay cả giữa tột đỉnh của hận thù và bạo lực, nhân tính, sự khao khát đoàn tụ, khao khát hơi ấm của gia đình vẫn có chỗ đứng trong lòng mỗi con người đang bị cuốn vào cuộc chiến bất tận ấy. Để làm nổi bật chủ đề này, đạo diễn Christian Carion đã đem tới khán giả phân đoạn mở đầu cực kỳ ấn tượng cho Joyeux Noël với giọng đọc tiếng Anh, tiếng Pháp, và tiếng Đức của ba đứa trẻ ngây thơ đang lặp lại những câu rao giảng trong sách giáo khoa của mỗi nước về một “chân lý” rằng ba dân tộc Anh, Pháp, Đức không thể cùng chung sống trên mảnh đất châu Âu và “chỉ có thể giết họ, chúng ta mới được sống”. Tiếp nối mạch phim ấy, Christian Carion và nhà quay phim Walther Vanden Ende đã khắc hoạ một cách hết sức sống động sự dữ dội nơi chiến địa của cuộc Đại chiến – nơi bất cứ bên nào “thò đầu” ra khỏi chiến hào hoặc đặt chân vào mảnh đất không người – “No Man’s Land” giữa hai chiến tuyến là coi như đã tự ký giấy khai tử cho chính mình. Tất nhiên, tất cả sự hận thù, bạo liệt, chết chóc ấy chỉ được đạo diễn Christian Carion – người đồng thời cũng là biên kịch của bộ phim sử dụng để làm nền cho trung tâm của Joyeux Noël – những thời khắc lạ lùng nhất của chiến tranh trong đêm Giáng Sinh hưu chiến, khi những người hôm qua có thể giết nhau bằng lưỡi lê, ngày mai có thể bắn tỉa nhau bằng súng trường, lại chia sẻ với nhau mảnh sô cô la, chai rượu, cùng cầu nguyện, cùng nghe thánh ca và thậm chí là cùng đá bóng và thu dọn xác chết của đồng đội. Chắc chắn với những khán giả không tìm hiểu kỹ lịch sử Chiến tranh thế giới thứ nhất, sẽ thật khó có thể tin là có những tình huống như vậy trong cái địa ngục chiến tranh hầm hào nơi miền Bắc nước Pháp, kể cả khi Joyeux Noël có cố làm khán giả an tâm ngay từ đầu phim rằng đây là một tác phẩm "dựa trên sự kiện có thực". Nhưng dù có không tin hay không thì chắc chắn khi theo dõi đêm Giáng Sinh kì lạ, và kì diệu của Joyeux Noël người xem cũng sẽ có được cảm giác thư thái, bình an – một hiệu ứng không dễ gì có được ở một tác phẩm lấy đề tài chiến tranh như bộ phim này của đạo diễn Christian Carion. 

Nói về một câu truyện rất dễ lấy lòng khán giả và có phần hình ảnh và nhạc phim xuất sắc, nhưng Joyeux Noël không hẳn là một tác phẩm hoàn hảo khi kịch bản phim vẫn còn những trường đoạn uỷ mị khá lạc lõng so với không khí của bộ phim, đồng thời diễn xuất của dàn diễn viên trong phim cũng không thực sự đáng nhớ, đặc biệt là Diane Kruger trong vai Anna Sørensen. Bởi vậy mà dù có được đề cử giải Oscar cho phim nói tiếng nước ngoài xuất sắc nhất, nhưng nếu chỉ xét Joyeux Noël như một tác phẩm về đề tài chiến tranh của Pháp thì bộ phim thứ hai trong sự nghiệp của đạo diễn Christian Carion vẫn còn thua những tác phẩm xuất sắc khác ở cùng thể loại như Un long dimanche de fiançailles (2004) hay Indigènes (2006). Bóng ma lẩn khuất của những nhà chính trị tham vọng và thủ đoạn – những kẻ chỉ coi Sprink, Đức cha Palmer, hay Audebert như những con tốt thí trên ván cờ quyền lực trong cuộc Đại chiến cũng phần nào làm chất lạc quan chất chứa trong những giờ phút ngừng chiến đêm Giáng sinh nhuốm màu bi kịch. 

Nhưng sau tất cả, không ai xem Joyeux Noël để tìm hiểu bối cảnh khốc liệt của chiến trường hay những toan tính thâm hiểm của các nhà lãnh đạo châu Âu trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ nhất. Khán giả xem Joyeux Noël là để được thấy những người lính vì niềm tin tôn giáo, vì nỗi nhớ quê hương, vì khát khao bình yên hạnh phúc đã xích lại với nhau để cùng đưa ra quyết định đình chiến. Quyết định hưu chiến dũng cảm ấy của những người lính vốn thường ngày phải đặt cả tính mạng trong tay những gã sĩ quan, tướng tá chỉ quan tâm tới mệnh lệnh, tới chiến thắng là bằng chứng cho thấy rằng ngay giữa những giờ phút đen tối nhất, những chiến địa khốc liệt nhất của cuộc Đại chiến, nhân tính vẫn còn đó trong mỗi con người và chỉ chờ đúng thời điểm để được lan toả, được kết nối, được dệt lại những mối dây tình cảm giữa người với người. Và cái thời điểm ấy chính là đêm Giáng sinh – thời khắc cuối năm khi mỗi chúng ta có dịp xích lại gần nhau để chia sẻ với nhau tình cảm, sự yêu quý, và tất nhiên là cả những bộ phim đáng thưởng thức như Joyeux Noël

=====

The Irishman (2019)


Là một cựu binh trở về từ chiến trường Ý sau Chiến tranh thế giới lần thứ II, Frank Sheeran (Robert De Niro) chỉ có thể kiếm sống bằng cách rong ruổi với chiếc xe tải chuyên chở đồ đông lạnh ở thành phố công nghiệp đông đúc Philadelphia. Thường tranh thủ “kiếm thêm” bằng cách tuồn đồ đông lạnh cho các băng nhóm mafia, cuối cùng Frank Sheeran cũng bị bắt quả tang và phải ra hầu toà với bản án tù gần như không thể tránh khỏi. Nhưng nhờ có tinh thần mã thượng “thà đi tù chứ không khai ra đồng phạm”, Sheeran nhận được sự hỗ trợ từ tay luật sư lọc lõi Bill Bufalino (Ray Romano) để thoát tội và còn được Bill giới thiệu cho người anh họ Russell “McGee” Bufalino – một tay mafia thứ thiệt với rất nhiều quan hệ trong cả giới tội ác và các nghiệp đoàn của công nhân vốn là thế lực đáng gờm trong xã hội và chính trị Hoa Kỳ những năm giữa thế kỷ 20. Chẳng ngại ngùng bất cứ việc gì được Russell Bufalino giao, từ bảo kê cho tới giết người, tay lái xe tải gốc Ireland Frank Sheeran nhanh chóng trở thành tay anh chị cộm cán Frank “gã Ireland” Sheeran và cuối cùng được anh em nhà Bufalino giao phó cho nhiệm vụ quan trọng là làm trợ tá cho Jimmy Hoffa (Al Pacino) – chủ tịch công đoàn Teamsters. Là công đoàn có tới cả vài triệu thành viên là những tài xế lái xe đường dài – những người duy trì huyết mạch kinh tế cho toàn nước Mỹ, Jimmy Hoffa lẽ dĩ nhiên được coi là một trong những nhân vật quan trọng nhất của chính trường nước Mỹ với tài hùng biện cuốn hút người nghe và cách sống nhiệt thành, hết mình vì các “đồng chí” trong cùng nghiệp đoàn. Tất nhiên đã có quyền lực thì không thể quên kiếm tiền, Hoffa sử dụng nguồn quỹ gần như vô hạn của công đoàn Teamsters để cho chính các băng đảng mafia như băng của Bufalino vay để đổi lại lấy các khoản lãi lớn cùng sự bảo vệ của thế giới ngầm trước các đối thủ cạnh tranh trên chính trường. Sheeran chính là người được giao bảo vệ Jimmy Hoffa khỏi những mưu toan như vậy, nhưng sức cuốn hút quá lớn của Hoffa cùng những vị trí trong công đoàn Teamsters được Hoffa hứa hẹn đã biến Sheeran dần trở thành một cộng sự, một người bạn thân tín của Jimmy Hoffa. Tuy nhận được sự bảo kê đến tận răng như vậy của thế giới ngầm nhưng Jimmy Hoffa khó lòng thoát khỏi sự truy đuổi của chính chính phủ Hoa Kỳ - những người luôn nghi ngờ các phi vụ làm ăn mờ ám của Hoffa nói riêng và muốn làm giảm ảnh hưởng của các tổ chức công đoàn như Teamsters nói chung. Sức ép chính trị đã dần tạo ra những rạn nứt trong quan hệ giữa Hoffa và các băng đảng mafia của anh em nhà Bufalino hay băng của Anthony "Tony Pro" Provenzano (Stephen Graham) và đặt Frank Sheeran vào thế kẹt giữa một bên là các “đại ca”, một bên là người bạn – người đỡ đầu. Liệu Frank Sheeran có thể giải quyết được bài toán khó này? Và liệu “gã người Ireland” có liên quan gì đến sự mất tích sau đó của Jimmy Hoffa – một trong những vụ mất tích bí ẩn và khiến báo chí Hoa Kỳ tốn nhiều giấy mực nhất trong suốt nửa thế kỷ qua? Khán giả sẽ có được một câu trả lời với mức độ xác thực nhất định qua bộ phim mới nhất của đạo diễn Martin Scorsese – “The Irishman”.

Trong vài năm trở lại đây, hãng phân phối phim trực tuyến Netflix đã vấp phải khá nhiều chỉ trích đến từ giới làm phim kiểu truyền thống, trong đó có cả những tên tuổi lớn như đạo diễn Steven Spielberg hay ban tổ chức của Liên hoan phim Cannes bởi Netflix đã phần nào đó làm “tầm thường hoá” trải nghiệm điện ảnh của người xem - những người sẵn sàng vì sự tiện lợi của Netflix trên màn ảnh nhỏ mà bỏ qua việc tới rạp phim để tận hưởng chất lượng hình ảnh và âm thanh thực sự của các nhà làm phim. Nhưng nói đi cũng phải nói lại, chính nhờ có túi tiền gần như là “không đáy” cùng khả năng đem tác phẩm điện ảnh tới bất cứ khán giả nào có thể tiếp cận với Internet, Netflix đã tạo cơ hội hiếm hoi cho những bộ phim nghệ thuật tốn kém mà những hãng phim truyền thống đã không còn mặn mà bởi những tác phẩm dạng này chứa đựng những rủi ro tài chính quá cao khi phải so sánh với các bộ phim siêu anh hùng, phim “làm lại”, hay phim “phần kế tiếp”. The Irishman là một tác phẩm như thế. Dù được coi là một trong những tên tuổi lớn nhất của Hollywood trong suốt nửa thế kỷ qua, nhưng Martin Scorsese phải mất tới gần một thập niên loay hoay để tìm được nguồn tài chính cần thiết từ “bầu sữa” của Netflix để có thể chuyển thể tiểu thuyết điều tra I Heard You Paint Houses của Charles Brandt lên màn ảnh lớn. Rõ ràng với thời lượng dài tới 3 tiếng 20 phút, kinh phí lên tới trên 150 triệu đô la – ngang ngửa với một bộ phim siêu anh hùng, The Irishman khó có thể coi là một khoản đầu tư hấp dẫn cho các hãng phim kiểu truyền thống đang phải vật lộn với lượng khán giả đến rạp ngày một giảm sút. Nhưng Netflix có những tính toán riêng của họ. Họ cần hút khán giả tới trang web phân phối phim trực tuyến của mình bằng những tên tuổi lớn. Họ cũng cần những bộ phim có chất lượng thực sự để chứng tỏ rằng Netflix không chỉ là điểm đến của những loạt phim truyền hình hay những tác phẩm “đã nguội” trên thị trường. Với uy tín của một đạo diễn chưa từng xuống tay sau nửa thế kỷ làm phim của Martin Scorsese, ngòi bút xuất sắc của biên kịch Steven Zaillian – tác giả kịch bản của Schindler's List (1993) và Moneyball (2012), và đặc biệt là sự xuất hiện của bộ ba Robert De Niro – Al Pacino – Joe Pesci, The Irishman rõ ràng đã mang theo rất nhiều hy vọng của Netflix.

Nhưng Netflix hy vọng một, thì người yêu phim hy vọng mười. Bởi với The Irishman người xem lần đầu tiên được chứng kiến sự tái ngộ của bộ ba huyền thoại Scorsese – De Niro – Pesci sau đúng một phần tư thế kỷ kể từ Casino (1995). Câu truyện về tình bạn và sự phản bội, bi kịch về sự sụp đổ của những tay giang hồ tưởng chừng mã thượng nhưng chẳng thể thoát khỏi hố tràm của tội ác và bạo lực qua sự thể hiện ăn ý tới từng câu thoại, từng ánh mắt của Robert De Niro và Joe Pesci qua Casino và đặc biệt là Raging Bull (1980) và Goodfellas (1990) – hai bộ phim xuất sắc bậc nhất trong sự nghiệp đạo diễn của Martin Scorsese đã và sẽ luôn in dấu ấn đậm nét trong trí nhớ của bất cứ người xem nào có may mắn được theo dõi các tác phẩm kinh điển của dòng phim tội ác này. Không chỉ dừng lại ở đó, The Irishman còn là lần đầu tiên đạo diễn 77 tuổi người Mỹ có cơ hội hợp tác với Al Pacino – một huyền thoại khác của dòng phim tội ác và là người cùng với Scorsese, De Niro, Spielberg, Coppola làm nên làn sóng mới New Hollywood cho điện ảnh Hoa Kỳ. Và quả thực, “đội hình trong mơ” ấy đã làm khán giả hết sức thoả mãn với một tác phẩm tinh tuyền của dòng phim tội ác. Tuy Al Pacino đã 79 tuổi còn De Niro và Pesci cũng đã 76 nhưng cả ba đã cho thấy họ phần nào đó vẫn giữ được uy lực diễn xuất và cá tính riêng gần như chưa bị tuổi tác bào mòn. Joe Pesci thâm trầm đúng chất một tay mafia trong vai Russell “McGee” Bufalino, Al Pacino đầy năng lượng, nhiệt thành nhưng cũng hết sức “cứng đầu” trong vai lãnh tụ công đoàn Jimmy Hoffa, còn Robert De Niro nóng tính và bạo lực nhưng cũng hết mực trung thành và tận tâm vì bạn bè chiến hữu trong vai “gã Ireland” Frank Sheeran – cả ba không chỉ là những số phận gắn liền với thế giới ngầm của những băng đảng mafia và những công đoàn đầy thế lực nhưng cũng lắm vết chàm như Teamsters, mà còn tạo nên một bức tranh sống động về xã hội phồn vinh có nhưng tao loạn cũng nhiều của nước Mỹ thập niên 1960 và 1970. Trong số ba cái tên đã vào hàng huyền thoại này thì xuất sắc hơn cả có lẽ là Robert De Niro trong vai trung tâm của phim Frank “gã Ireland” Sheeran. Chính những lời kể không rõ bao nhiêu phần thật, bao nhiêu phần hư cấu của Sheeran đã giúp Charles Brandt viết nên cuốn sách “I Heard You Paint Houses” để giải đáp cho sự mất tích bí ẩn suốt gần nửa thế kỷ qua của Jimmy Hoffa và là nguồn cảm hứng để Robert De Niro quay trở lại với “người quen cũ” Martin Scorsese sau một phần tư thế kỷ với The Irishman. Bởi vậy không lạ khi vai Frank Sheeran được Scorsese và biên kịch Steven Zaillian đặt vào trung tâm của bộ phim. Nhưng được kịch bản chăm chút là một chuyện, thể hiện một cách thành công nhân vật có rất nhiều thái cực tình cảm đối lập – từ cầm súng giết đối thủ không ghê tay tới dõi theo đứa con gái yêu quý với ánh mắt âu lo hết mực, từ nhiệt thành ủng hộ cho từng đường đi nước bước của người “đồng chí” trong Công đoàn cho tới xuống tay hạ thủ chính người đồng chí ấy chỉ vì nhận lệnh từ một thế lực còn cao hơn cả tình bạn – mafia, lại là một câu chuyện rất khác. Và Robert De Niro đã hoàn toàn thành công trong vai diễn rất đáng nhớ này. Tuy ngôi sao lớn người Mỹ mang cả dòng máy Ireland và Ý trong người này mới dành được một đề cử giải Oscar vai nam phụ năm 2012 cho vai diễn trong Silver Linings Playbook, nhưng rõ ràng để tìm thấy một vai diễn dày dặn, để lại nhiều ấn tượng trong lòng người xem như Frank Sheeran thì người xem sẽ phải quay tận về giai đoạn những năm đầu thập niên 1990 khi Robert De Niro vẫn còn đang ở đỉnh cao của dòng phim tội ác với một loạt các vai diễn xuất sắc liên tiếp trong Goodfellas (1990), Cape Fear (1991), Casino (1995) và Heat (1995). Bằng ánh mắt biết nói, bằng giọng nói khàn đục nhưng đầy cảm xúc, bằng từng cử chỉ dứt khoát có, ngập ngừng có, Robert De Niro đã giúp khán giả thực sự hiểu được số phận của Frank Sheeran – một gã giang hồ bên ngoài thừa bạo lực nhưng bên trong rất giàu tình cảm cứ chới với chìm dần trong hố sâu của tội ác để rồi mất đi tất cả những người mà gã trân quý nhất và phải sống những ngày cuối đời trong đơn độc, tiếc nuối. Chẳng còn lại gì sau một chặng đường đời rất dài nhuốm máu của một gã mafia chuyên “sơn tường” bằng vệt máu của những nạn nhân mà gã giết hại, Frank Sheeran chỉ còn lại một nụ cười méo xệch tưởng chừng ngạo nghễ nhưng thực ra là muôn vàn cay đắng. Chứng kiến con đường tự huỷ diệt của Frank Sheeran xuyên suốt bộ phim, có lẽ không khán giả nào cảm thấy thương xót “gã Ireland” nhưng hẳn cũng sẽ không ít người cảm thấy tiếc cho gã, như cái cách người xem năm nào thấy tiếc nuối cho tay võ sĩ quyền Anh Jake LaMotta – vai diễn xuất sắc bậc nhất trong sự nghiệp của Robert De Niro và từng mang lại giải Oscar thứ hai cho ông trong Raging Bull (1980) khi Jake gào lên với bức tường câm lặng những câu hỏi không ai có thể trả lời thay gã về nguồn cơn của mọi bất hạnh trong số phận một người đàn ông chỉ biết dùng bạo lực để làm giải pháp cho mọi khúc mắc trong cuộc đời. 

Tuy không có được chiều sâu như vai Frank Sheeran của Robert De Niro nhưng Al Pacino vẫn có được chỗ đứng riêng nhờ diễn xuất giàu năng lượng tới mức khó tin ở một diễn viên gạo cội đã sắp bước sang tuổi bát thập. Uy lực chưa bao giờ giảm sút trên màn ảnh lớn cùng sự nhiệt thành trong từng cảnh quay của Al Pacino đã giúp khán giả hiểu được phần nào lý do tại sao dù vướng phải không ít bê bối và tai tiếng về những phi vụ qua lại với giới mafia nhưng Jimmy Hoffa trong thập niên 1960 vẫn quan trọng “chẳng kém gì tổng thống Mỹ” với sự ủng hộ hết mình của cả triệu công đoàn viên vốn là những tay lái xe tải rong ruổi trên mọi nẻo đường nước Mỹ của nghiệp đoàn Teamsters. Dù có thể coi là hai cực đối lập của kịch bản The Irishman nhưng sự ăn ý trong diễn xuất giữa Al Pacino và Robert De Niro đã làm bật được lên những góc cạnh khó nói trong tính cách của Frank Sheeran và Jimmy Hoffa, đồng thời tạo được điểm nhấn cần thiết để giúp khán giả hiểu hơn, cảm hơn những khúc quanh định mệnh trong số phận của hai người. Sự tung hứng nhịp nhàng trong những câu thoại, tình bạn có phần “bất bình thường” giữa Sheeran và Hoffa có lẽ cũng sẽ làm khán giả nhớ lại những pha “đối thoại trong đối đầu” kinh điển mà Al Pacino và Robert De Niro đã đem tới cho người xem trong tuyệt phẩm của thể loại hành động Heat (1995) và giúp họ quên đi rằng sau đó cả hai còn cùng diễn chung trong một tác phẩm rất dở là Righteous Kill (2008). Hơi có chút đáng tiếc là nếu so với Al Pacino và Robert De Niro thì có lẽ Joe Pesci – sau nhiều năm giã từ những vai lớn trên màn ảnh đã xuất hiện một cách tương đối lặng lẽ trong vai diễn quan trọng là tay anh chị Russell Bufalino – gã mafia được nhiều người coi là đứng đằng sau sự mất tích bí hiểm của Jimmy Hoffa năm 1975. Tất nhiên nốt trầm của Pesci cũng có cái hay riêng khi nó giúp bộ ba Pacino – De Niro – Pesci có thêm một sắc lạnh, một sự im lặng cần thiết để mô tả sự tàn nhẫn đến rợn người nhưng vẫn đầy toan tính của thế giới mafia – thứ khó lòng có thể mô tả bằng nắm đấm của Sheeran hay những bài diễn thuyết cuốn hút của Hoffa. Tuy nhiên, xem xong bộ phim dài tới hơn ba tiếng, chắc ai từng hâm mộ bộ đôi De Niro – Pesci cũng sẽ cảm thấy tiếc rằng họ đã không được chứng kiến những màn đấu khẩu nảy lửa giữa hai người, hay những pha đe doạ đến lạnh gáy điển hình của một tay anh chị mafia và cũng là “sở trường” của Joe Pesci qua những vai diễn thành công của ông, đặc biệt là vai Tommy DeVitto trong Goodfellas

Mặc dù vậy, điểm gợn lớn nhất của không chỉ Joe Pesci mà cả Al Pacino và Robert De Niro trong The Irishman là việc bộ phim sử dụng rất nhiều kỹ xảo điện ảnh (CGI) để “làm trẻ” khuôn mặt của cả ba “lão nghệ sĩ” cho phù hợp với độ tuổi của các nhân vật trên phim. Tuy không ai có thể phủ nhận rằng các nghệ sĩ và kỹ sư kĩ xảo điện ảnh của The Irishman đã hết sức thành công trong việc quay ngược đồng hồ thời gian để tạo ra những Al Pacino, Robert De Niro, và Joe Pesci của những năm 80 thế kỷ trước một cách gần như hoàn hảo, tạo sự liền mạch không gượng ép về mặt hình ảnh trong mọi trường đoạn của bộ phim rất dài này. Nhưng nếu để ý kỹ, người xem vẫn có thể nhận ra rằng khuôn mặt của cả De Niro, Pacino, và Pesci đều có chút gì đó thiếu sự sống với những cơ mặt không được tự nhiên, những nét mặt khô cứng không thể làm khán giả không đặt ra câu hỏi rằng liệu những khuôn mặt khô cứng kia (đặc biệt là trong trường hợp của Joe Pesci) có phải chính là những khuôn mặt từng bao năm cuốn hút người xem qua từng thước phim của các tác phẩm huyền thoại của Hollywood.

Kỹ xảo điện ảnh, cùng thời lượng phim rất dài có lẽ là những trở ngại chính của The Irishman khi đến với công chúng yêu thích phim nói chung. Nhưng chỉ cần có một chút kiên nhẫn trong khoảng 30 phút đầu của phim, chắc chắn bất cứ người yêu điện ảnh nào cũng sẽ nhận ra được rằng họ đang được theo dõi một tác phẩm hết sức xuất sắc về tội ác, về xã hội, về cuộc sống, về con người của nước Mỹ trong một giai đoạn rất nhiều biến động trong lịch sử hiện đại của quốc gia này. Cách kể truyện mạch lạc, không lạm dụng kỹ xảo hay những chiêu trò câu kéo bằng các nút thắt mở hay bất ngờ không cần thiết, và sự chăm chút từng ly từng tí cho các nhân vật đã giúp Martin Scorsese chứng tỏ được rằng với The Irishman, ông vẫn xứng đáng là tên tuổi “bảo chứng” tốt nhất cho những tác phẩm tinh tuyền của dòng phim tội ác Hollywood. Và tất nhiên với những người đã yêu phim Scorsese suốt nửa thế kỷ qua, thì tác phẩm mới nhất này của ông chắc chắn là một món quà khó lòng bỏ qua, bởi bộ phim không chỉ có những tên tuổi lớn nhất từng gắn liền với sự nghiệp của Martin Scorsese như Robert De Niro và Joe Pesci, mà còn vì tác phẩm này chứa đựng tất cả những đặc điểm tiêu biểu nhất trong phong cách nghệ thuật của Scorsese, từ những trường đoạn độc thoại của nhân vật chính, những cú bấm máy dài, cách mô tả bạo lực, hành động gãy gọn không màu mè giả dối, và tất nhiên là những nhân vật nhiều màu sắc, anh hùng mã thượng có, nhưng bi kịch thì cũng rất nhiều.

Rất dài, nói về cuộc đời của những tay anh chị giang hồ nước Mỹ, kể lại được những câu truyện bi tráng về tình bạn và sự phản bội, chạm tới được những đổi thay trong lịch sử của quốc gia đa chủng tộc, đa văn hoá này, có lẽ những người yêu điện ảnh sẽ nghĩ ngay đến những đặc điểm chung này giữa The Irishman và một tác phẩm xuất sắc khác của dòng phim tội ác, đó là Once Upon a Time in America (1984) – tác phẩm cuối cùng trong sự nghiệp của đạo diễn người Ý Sergio Leone. Cũng có sự xuất hiện của bộ đôi Robert De Niro – Joe Pesci, Once Upon a Time in America dù khi ra đời chẳng giành được giải thưởng nào đáng kể, cũng không thành công về mặt thương mại, nhưng mãi mãi đi vào lòng khán giả nhờ những câu truyện đầy đau xót về những số phận bị đè chặt bởi tội ác, về những tình bạn tưởng lâu bền nhưng cuối cùng vẫn bị huỷ hoại bởi lòng tham, sự mù quáng đến từ tiền tài, danh vọng, sự hèn nhát. Những ai yêu thích Once Upon a Time in America năm xưa chắc chắn cũng sẽ yêu thích The Irishman bởi sự tương đồng giữa hai bộ phim. Nhưng với cả những người yêu phim nói chung, hãy đừng bỏ qua cả hai bộ phim bởi trong xu hướng làm phim thời hiện đại, sẽ là rất khó để những tác phẩm rất dài với cách kể truyện chỉn chu, không màu mè như Once Upon a Time in America trước kia và The Irishman hiện nay có thể tồn tại giữa vô vàn những bộ phim “mỳ ăn liền” kiểu “tiền truyện”, “hậu truyện” của Hollywood. Và những tác phẩm nghiêm cẩn như thế rất cần sự ủng hộ của những khán giả yêu phim, bởi không có sự ủng hộ đó, thật khó để Netflix – dù với hầu bao lớn tới cỡ nào – có thể tiếp tục là “Mạnh Thường Quân” cho những tác phẩm nghệ thuật đang dần trở thành của hiếm trên thị trường.

========

mercredi 2 octobre 2019

Ad Astra (2019)


Vươn tới những vì sao ở phía xa của Giải Ngân Hà luôn là ước vọng của loài người để thoát khỏi những đói nghèo, buồn khổ của Trái Đất. Ngay từ trước kỉ nguyên Thiên chúa, đại thi hào La Mã Virgil đã nhấn nhá trong thiên sử thi Aeneis của ông ý trí “ad astra” (vươn đến những vì sao). Hai thiên niên kỷ sau thời của Virgil, mong muốn chinh phục vũ trụ lại càng trở nên thôi thúc loài người hơn bao giờ hết khi mà chính chúng ta đang ngày một hủy hoại cái nôi của chính mình – Trái Đất với chiến tranh, với ô nhiễm, với lòng tham không đáy đối với những nguồn tài nguyên có hạn mà Trái Đất đã để loại cho con người. “We are world eaters; thus we journey to the stars” (“Chúng ta là những kẻ tiêu thụ thế giới, bởi thế chúng ta du hành đến những vì sao”), thiếu tá Roy McBride (Brad Pitt) đã giải thích một cách đơn giản như thế ước muốn “ad astra” của loài người. Luôn biết cách kìm nén cảm xúc để nhịp tim không bao giờ vượt quá 80 lần một phút, cũng như sẵn sàng loại bỏ những thứ “không cần thiết” sang một bên để tập trung vào những chuyến du hành – kể cả khi thứ “không cần thiết” ấy là gia đình nhỏ đang bên bờ vực tan vỡ với người vợ Eve McBride (Liv Tyler), Roy nhanh chóng trở thành một trong những nhà du hành đã và đang giúp xã hội loài người vươn xa hơn với những “thuộc địa” từ Mặt Trăng cho tới tận Sao Hỏa và xa hơn thế với mục tiêu cuối cùng là tìm thấy sự sống ở một nơi nào đó ngoài Trái Đất.

Nhưng ước mơ “ad astra” của Roy và thế hệ của anh đột ngột trở nên mờ mịt khi từ xa tận phía Sao Hải Vương, những đợt sóng năng lượng dữ dội bất thường xuất hiện một cách bất ngờ và hướng về Trái Đất với sức mạnh hủy diệt. Không chỉ làm rối loạn cuộc sống của loài người trên mặt đất, những đợt sóng năng lượng đó còn làm hư hỏng trạm không gian nơi Roy làm việc và đe dọa sự tồn vong của những trạm vũ trụ mà loài người đã dày công xây dựng trên Mặt Trăng và Sao Hỏa. Để cứu lấy khát vọng vẫn chưa thành hiện thực của loài người là tìm thấy “người ngoài hành tinh”, thiếu tá Roy McBride được Bộ Chỉ huy Vũ trụ Hoa Kỳ cử đi thực hiện một nhiệm vụ tuyệt mật – đó là truy tìm nguồn gốc của những đợt sóng năng lượng chết chóc ở đâu đó phía ngoài Sao Hải Vương. Trước khi bắt đầu chuyến đi đầy hiểm nguy và bất trắc, Roy được các quan chức của Bộ Chỉ huy Vũ trụ và thượng tá Thomas Pruitt (Donald Sutherland) hé lộ một bí mật anh chẳng thề ngờ tới, đó là việc rất có thể thủ phạm của những tín hiệu chết người kia chính là H. Clifford McBride (Tommy Lee Jones) – một trong những nhà du hành vĩ đại nhất trong lịch sử chinh phục vũ trụ của Hoa Kỳ và cũng chính là cha của thiếu tá Roy McBride. Mười sáu năm trước, H. Clifford McBride được giao chỉ huy một đoàn thám hiểm có nhiệm vụ bằng mọi cách phải tìm thấy sự sống ngoài Trái Đất cho dù có phải đi đến tận cùng của Giải Ngân Hà. Vượt qua Mặt Trăng, vươn tới Sao Hỏa, bay ngang qua hai hành tinh khí khổng lồ là Sao Thổ và Sao Mộc, và đi quá cả “khối băng khổng lồ” Sao Thiên Vương, con tàu du hành “Dự án Lima” của phi hành trưởng H. Clifford McBride trở thành đại diện đầu tiên của loài người vươn tới được hành tinh với màu xanh nước biển Sao Hải Vương trước khi mất liên lạc với trạm chỉ huy tại Trái Đất. Và giờ đây con của nhà du hành vĩ đại năm xưa Roy McBride có nhiệm vụ phải lần được ra dấu vết của “Dự án Lima” và nguồn gốc của những đợt sóng năng lượng đang tấn công Trái Đất với cường độ ngày một dữ dội. Với sự hỗ trợ của những người đồng hành như thượng tá Pruitt – một đồng đội cũ của H. Clifford McBride, của Helen Lantos (Ruth Negga) – trưởng trạm lưu trú của loài người trên Sao Hỏa, hay các phi hành gia của con tàu “Cepheus”, Roy bắt đầu chuyến hành trình đi vào bóng đêm của Giải Ngân hà để tìm cách hé lộ bí mật về cha mình, về chuyến đi định mệnh của “Dự án Lima”, và về lý do tại sao dù đã rất cố gắng, con người vẫn chưa thể tìm thấy sự sống ngoài hành tinh để phá bỏ sự đơn độc đến cùng cực của họ giữa Vũ trụ bao la.

Ad Astra (Giải mã bí ẩn Ngân Hà) là tác phẩm mới nhất của đạo diễn người Mỹ gốc Ukraina James Gray và cũng là tác phẩm khoa học giả tưởng đầu tiên của nhà làm phim “chuyên trị” đề tài phim bi kịch – hình sự này. Gây tiếng vang tại Hollywood ngay từ tác phẩm đầu tay Little Odessa (1994), Gray luôn khiến khán giả phải trầm trồ vì những bộ phim có nhịp độ không quá nhanh nhưng luôn thấm đẫm cảm xúc và ẩn chứa những bi kịch về sự cô độc, về mặt trái của cái nghèo và tội ác. Luôn chắp bút cho kịch bản các bộ phim ông đạo diễn, James Gray thường lấy bối cảnh hiện đại hoặc cận hiện đại cho cuộc hành trình tìm lấy hơi ấm của tình thương, của sự cảm thông của các nhân vật nhiều phần cô độc của ông. Bối cảnh gần gũi, cốt truyện thiên hướng nội tâm, và nỗi niềm cô đơn ai cũng từng phải trải qua của các nhân vật trong phim khiến cho các tác phẩm của James Gray từ Two Lovers (2008), The Immigrant (2013), cho tới The Lost City of Z (2016) tuy chưa bao giờ gây được tiếng vang lớn về mặt doanh thu nhưng vẫn có được chỗ đứng riêng trong lòng khán giả.

Với một danh mục tác phẩm như trên, rõ ràng Ad Astra là một lựa chọn gây ngạc nhiên của James Gray vì bộ phim trị giá gần trăm triệu đô la này vừa có kinh phí lớn hơn hẳn các tác phẩm trước đây của Gray (vốn chưa bao giờ tiêu tốn quá 30 triệu đô la cho việc làm một bộ phim), lại lấy bối cảnh khoa học giả tưởng hoàn toàn xa lạ với khung cảnh cận hiện đại – hiện đại của The Immigrant hay Two Lovers, và nói về một cuộc hành trình hướng ngoại “vươn tới các vì sao” thay vì những câu truyện thiên về khám phá nội tâm. Nhưng sau khi xem phim, chắc chắn bất cứ ai yêu thích điện ảnh nói chung và phong cách của James Gray nói riêng sẽ phải gật gù rằng đây vẫn là một tác phẩm đậm chất James Gray – vẫn là một chuyến đi đầy chông gai để vượt khỏi xiềng xích của sự cô độc, lần này là sự cô độc của loài người giữa Vũ trụ bao la. Tuy Ad Astra có một kịch bản gốc được James Gray và nhà biên kịch phim truyền hình Ethan Gross chắp bút không dựa trên bất cứ tác phẩm nào, người xem vẫn có thể nhận ra rằng tác phẩm này có cái tứ khá giống với tiểu thuyết ngắn Heart of Darkness của nhà văn Joseph Conrad. Miêu tả một cuộc khám phá thiên nhiên hoang dã và “chưa được khai hóa” ở vùng đất trái tim của Châu Phi ở Congo nơi đại diện của “thế giới văn minh” như gương mặt bí hiểm Kurtz có cuộc sống và mối quan hệ hết sức đặc biệt với những người dân bản xứ vốn luôn bị coi là đối tượng cần được “khai sáng” bằng nền văn minh của xã hội hiện đại – xã hội của những kẻ đi thống trị. Với một cái tứ rất nhiều kịch tính và cảm xúc như vậy, Heart of Darkness đã được chuyển thể nhiều lần trên màn ảnh nhỏ và cũng trở thành nguồn cảm hứng chính để nhà làm phim huyền thoại Francis Ford Coppola làm nên một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của ông lấy bối cảnh Chiến tranh Việt Nam – Apocalypse Now (1979). Trong Apocalypse Now, đại úy Benjamin L. Willard (Martin Sheen) được giao nhiệm vụ đi sâu vào những mảnh rừng, con sông hoang dã còn lại của Việt Nam và Campuchia để tìm kiếm viên đại tá Walter E. Kurtz (Marlon Brando) – người bị coi là đã hóa điên vì sự cô độc, và vì mối quan hệ dị biệt với những người bản địa còn “chưa được khai hóa”. Trong Ad Astra, thế chỗ cho Willard là Roy, thế chỗ cho Kurtz là H. Clifford McBride, và thế chỗ cho rừng thiêng nước độc của xứ Đông Dương là bóng đêm sâu thảm của Giải Ngân hà được điểm xuyết đây đó bởi những hành tinh lạnh lẽo, khô cằn. Và cũng như chuyến hành trình đầy bất ngờ và chết chóc của Willard, Roy trên từng chặng đường của anh từ Trái Đất lên Mặt Trăng, từ Mặt Trăng vươn tới Sao Hỏa, và từ Sao Hỏa trôi dạt tới Sao Hải Vương vừa được tận mắt chứng kiến những hình ảnh chẳng ai có thể hình dung từ Trái Đất như sự kì vĩ bao la của Sao Mộc hay vành đai đá kéo dài đến vô tận của Sao Thổ, lại vừa phải đối diện với những vấn đề “xưa như Trái Đất” ở nơi cách xa đất mẹ cả triệu cây số - đó là sự phản bội, đó là lòng tham, đó là cái chết, và tất nhiên luôn ngập tràn trong từng giây từng phút từng hơi thở là sư cô độc đến cùng cực.

Trong những năm gần đây du hành vũ trụ đã quay trở lại như một đề tài yêu thích của giới làm phim Hollywood với rất nhiều tác phẩm hay như Gravity (2013) của Alfonso Cuarón, Interstellar (2014) của Christopher Nolan, The Martian (2015) của Ridley Scott, hay gần đây nhất là First Man (2018) của Damien Chazelle. Hầu như tất cả các tác phẩm này đều nhấn vào sự tương phản giữa một bên là vũ trụ bao la, xa lạ với vô vàn những điều chưa được khám phá, và một bên là sự nhỏ bé nhiều khi đến bất lực của con người. Sự tương phản đó cũng phần nào đó được phản ánh trong Ad Astra, nhưng bên cạnh đó James Gray dường như còn muốn truyền tải đến người xem một góc nhìn khác về những cuộc du hành thám hiểm không gian – đó là chúng ta vươn tới khoảng không xa xôi ngoài kia không phải để khám phá cái mới, mà là để chinh phục, là để biến những hành tinh xa lạ trở thành những Trái Đất mới, để áp đặt cách tồn tại, cách sống, cách hưởng thụ vốn đã khiến Trái Đất thân yêu trở nên cằn cỗi lên những hành tinh khác vốn đã tồn tại cả triệu năm, cả tỷ năm mà không cần tới hơi thở, tiếng nói của con người. Bởi thế mà trong Ad Astra người ta thấy những cửa hiệu bánh mỳ Subway trên Mặt Trăng, người ta thấy những phòng thí nghiệm thử nghiệm thuốc trên khỉ trôi dạt trong khoảng không vô tận giữa Mặt Trăng và Sao Hỏa, hay thậm chí là nghe thấy những nhịp điệu quen thuộc của các bộ phim ca vũ cũ kĩ phát ra từ một con tàu nằm khuất sau vành đai đá của Sao Hải Vương. Vũ trụ bao la có ý nghĩa gì khi con người vẫn phải giam mình trong những không gian chật hẹp của các con tàu vũ trụ, của những trạm vũ trụ nằm sâu trong lòng các hành tinh để duy trì sự sống? Những chân trời mới lạ có ý nghĩa gì khi dù đi tới đâu con người vẫn luôn phải khắc khoải với nỗi nhớ thiên nhiên nên quê nhà, vẫn phải trăn trở với những cảm xúc vốn tưởng đã có thể xa rời khi ta đặt chân lên những con tàu vũ trụ? Những câu hỏi giàu tình cảm tưởng chừng đơn giản nhưng vẫn hết sức mới lạ với dòng phim thường nhấn mạnh chất hành động, và màu sắc phiêu lưu mạo hiểm đã biến Ad Astra dù ra đời sau nhưng vẫn có một vị trí rất khác biệt khi so sánh với những tác phẩm du hành vũ trụ khác của Hollywood.

Nếu như phần nội dung của Ad Astra gợi khán giả nghĩ tới Apocalypse Now thì phần hình ảnh của bộ phim cho thấy James Gray muốn nhắc nhớ người yêu điện ảnh tới một tác phẩm kinh điển khác – 2001: A Space Odyssey (1968) của đạo diễn Stanley Kubrick. Được coi là tác phẩm đánh dấu sự ra đời của dòng phim khoa học viễn tưởng hiện đại và là tác phẩm xuất sắc nhất của thể loại phim du hành vũ trụ, 2001: A Space Odyssey để lại ấn tượng đặc biệt sâu sắc với khán giả về mặt hình ảnh khi Kubrick mang tới cho khán giả một Mặt Trăng, một Vũ trụ vừa xa lạ với những cảnh quan và khoảng không kỳ vĩ, dị biệt, nhưng cũng vẫn mang lại cảm giác chân thật của một tác phẩm tài liệu trong hình hài của một bộ phim khoa học giả tưởng. Có rất nhiều hình ảnh trong Ad Astra chắc chắn sẽ khiến người xem nghĩ tới 2001: A Space Odyssey. Đó có thể hình ảnh căn cứ của con người nằm trong hố va chạm Walther của Mặt Trăng với nhiều đường nét và cảnh quan rất giống với Căn cứ Clavius trong 2001: A Space Odyssey. Đó có thể sự giận dữ và sức mạnh đến bàng hoàng của những chú khỉ bị thử nghiệm ngoài không gian – một trường đoạn gợi nhớ tới buổi bình minh của loài người được Stanley Kubrick khắc họa một cách đầy tính biểu tượng trong 2001: A Space Odyssey. Và đó cũng có thể là hình ảnh dàn máy móc “nổi loạn” của “Dự án Lima” được con người chế tạo ra để rồi quay lại đe dọa sự tồn vong của con người như cái cách HAL 9000 dần biến đổi trên con tàu “Discovery One”. Ngay cả nhịp phim chậm rãi của Ad Astra – lựa chọn thường thấy của James Gray trong các bộ phim của ông, và phần nhạc phim vừa hào hùng vừa da diết của nhà soạn nhạc người Anh Max Richter cũng phần nào đó biến Ad Astra trở thành một tác phẩm hết sức gần gũi với 2001: A Space Odyssey bất chấp khoảng cách hơn nửa thế kỷ giữa thời điểm ra đời của hai bộ phim.

Tất nhiên mọi so sánh đều chỉ mang tính chất tương đối bởi 2001: A Space Odyssey là một bộ phim đậm chất triết lý với những hình ảnh biểu tượng về giá trị của sự tồn tại của loài người trong vũ trụ bao la trải đều từ đầu đến cuối phim, còn Ad Astra lại nhắm tới mục đích mô tả những cuộc du hành vũ trụ xa xôi qua góc nhìn đời thường, ẩn chứa những cảm xúc hết sức con người. Đặc biệt, phần kết của Ad Astra có lẽ sẽ khiến nhiều tác giả phải đặt câu hỏi về việc liệu đây có phải là một tác phẩm xứng tầm với một 2001: A Space Odyssey-của-thời-hiện-đại, hay chỉ là một nỗ lực khác của James Gray trong việc đi tìm ý nghĩa thực sự cho những chuyến du hành đầy trắc trở đi tìm “bạn đồng hành” cho loài người trong vũ trụ bao la. Thêm vào đó, ngoại trừ một Brad Pitt hết sức xuất sắc trong vai nhà du hành cô độc và đầy trăn trở Roy McBride, thì các diễn viên trong phim dù đều nổi danh với tài nghệ diễn xuất như Tommy Lee Jones (vai H. Clifford McBride), Ruth Negga (vai Helen Lantos), hay Donald Sutherland (vai thượng tá Pruitt) đều không để lại nhiều ấn tượng, có lẽ một phần vì James Gray đã dành phần lớn thời lượng phim và những dòng hay nhất của kịch bản phim để dành cho nhân vật chính-không-thoại của phim – vũ trụ bao la.

Không phải một tác phẩm hoàn hảo, nhưng nội dung và phần hình ảnh đầy tính gợi mở của Ad Astra có lẽ vẫn sẽ làm hài lòng đại đa số khán giả. Và trên hết, trong thời buổi mà biến đổi khí hậu do con người gây ra đang tàn phá cuộc sống của chính con người với tần suất ngày một dữ dội, và chiến tranh cùng đói nghèo vẫn đang tạo ra những vết sẹo hủy hoại thiên nhiên hằn sâu vào bề mặt Trái Đất, thì cuộc hành trình vô số gian nan nhưng rất ít hy vọng của cha con nhà McBride để tìm miền đất hứa, tìm “bạn đồng hành” cho loài người ở ngoài không gian xứng đáng là tiếng chuông cảnh tỉnh để chúng ta nhìn lại để chăm chút hơn cho chính những gì chúng ta đang có, để bảo vệ hơn cho Trái Đất – mái nhà chung và duy nhất của loài người trong khoảng không bao la này.

=========

lundi 27 mai 2019

The Ballad of Buster Scruggs (2018)


Là tác phẩm điện ảnh hợp tuyển đầu tiên của bộ đôi nổi tiếng bậc nhất Hollywood – anh em nhà Coen, The Ballad of Buster Scruggs là một tuyển tập sáu phim ngắn có bối cảnh chung là miền Tây nước Mỹ trong những năm tháng dân cao bồi vẫn còn đang tung hoành trên mảnh đất còn hoang sơ và nhiều hiểm nguy bất trắc này của Hoa Kỳ. 

Dựa theo cái tứ là sáu chương sách của một tập truyện ngắn có “minh hoạ màu” về cuộc sống nơi miền Tây nước Mỹ, tác phẩm mới nhất của anh em đạo diễn nhà Coen được mở đầu bằng chương truyện/phim cùng tên - The Ballad of Buster Scruggs (“Khúc ballat của Buster Scruggs”). Tuy có cái tựa nghe có vẻ lãng mạn, nhưng chương phim về anh chàng ca sĩ du ca “kiêm” tội phạm bị truy nã Buster Scruggs (Tim Blake Nelson) này lại là câu truyện nhuốm đầy màu sắc bạo lực và nhiều phần châm biếm về cuộc sống khắc nghiệt ở miền Tây nước Mỹ của dân cao bồi với vô vàn hiểm nguy rình rập đến từ cả thiên nhiên và con người nơi đây.

Tiếp nối The Ballad of Buster Scruggs là Near Algodones (Đâu đó gần Algodones) – tập phim không kém phần bạo liệt và hài hước về hoàn cảnh dở khóc dở cười của một gã cao bồi chuyển nghề cướp nhà băng (James Franco). Thêm vào đó, phần thứ hai của tác phẩm hợp tuyển về cao bồi này lại đem đến hai lý do khác nữa để người xem phải cảm thấy gai mình trước cuộc sống nơi miền Tây – đó là sự hiện diện của những người thổ dân bản địa hoang dại khi bị dồn đến đường cùng bởi mảnh đất tổ tiên họ để lại đang mất dần đi trước sự xâm lấn của dân nhập cư, và bản chất tàn nhẫn đến khó tin của chính những người nắm công lý trong tay ở mảnh đất này. 

Chất hài hước biến mất, mùi bạo lực cũng không còn, phần thứ ba của The Ballad of Buster Scruggs với tựa đề Meal Ticket (Phiếu ăn) không xoay quanh cuộc sống của những gã cao bồi mã thượng, máu lửa mà tập trung mô tả những giờ phút vật lộn mưu sinh của ông chủ gánh hát rong Impresario (Liam Neeson) và nghệ sĩ duy nhất trong “đoàn hát” của ông ta – anh chàng không chân không tay người Anh Harrison (Harry Melling). Không chỉ khác biệt về hình mẫu nhân vật và cách kể chuyện, Meal Ticket còn có phần bối cảnh rất riêng – đó là những đêm dài lạnh lẽo của mùa Đông nước Mỹ vốn làm nản lòng những số phận nơi đây không kém gì không khí nóng bỏng, khô rát của sa mạc trong The Ballad of Buster Scruggs và Near Algodones, nhưng thêm vào đó lại còn làm người ta cảm thấy đơn độc và nhỏ bé đến cùng cực trước sự thờ ơ của cả thiên nhiên và con người. 

Hoàn toàn tương phản với bối cảnh của Meal Ticket, All Gold Canyon (Hẻm núi đầy vàng) là cuộc tìm kiếm bụi quý tưởng chừng vô vọng của ông lão đào vàng (Tom Waits) nơi hẻm núi hoang sơ và đẹp đẽ đến ngây người – một nét đặc trưng khác của miền Tây rộng lớn của nước Mỹ. “Đổ xô đi tìm vàng” vốn không phải là hiện tượng xa lạ ở miền Tây nước Mỹ trong những năm người dân nghèo khổ tứ xứ đổ về đây tìm kiếm cơ hội làm giàu, nhưng thân già một mình lặn lội cùng chú lừa đến giữa chốn thiên nhiên không một bóng người để lần theo dấu vết bụi quý thì có lẽ chẳng có ai khác ngoài ông lão đào vàng của All Gold Canyon. Nhưng dù có đơn độc đến mấy, thì những hiểm nguy rình rập của xứ miền Tây vẫn đeo đuổi ông lão trên nẻo đường tìm kiếm cơ hội đổi đời.

Một trong những di tích mang tính đại diện nhất cho lịch sử hình thành và phát triển của miền Tây nước Mỹ là con đường mòn Oregon (Oregon Trail), nơi rất nhiều người dân di cư đã phải bỏ mạng trên chuyến hành trình dài 3500 cây số từ miền Trung nước Mỹ tới vùng ven biển Thái Bình Dương nay thuộc bang Oregon. Địa hình hiểm trở, thời tiết khắc nghiệt, bệnh tật hoành hành, và mối đe doạ chết người đến từ các bộ lạc người thổ dân không muốn mất thêm đất vào tay những người nhập cư tự cho mình có “định mệnh Hiển nhiên” (Manifest destiny) đã khiến gần một phần mười trong số người di cư dọc con đường mòn Oregon phải bỏ mạng lại nơi đây. Một trong những chuyến đi bão táp như thế được thuật lại qua phần thứ năm của The Ballad of Buster Scruggs với tựa đề The Gal Who Got Rattled (Cô gái dễ giật mình). Cũng như đa phần những người di cư khi quyết định đặt chân lên con đường mòn Oregon, Alice Longabaugh (Zoe Kazan) cùng người anh trai Gilbert (Jefferson Mays) và chú chó đáng yêu Tổng thống Pierce tin rằng ở xứ Oregon xa xôi, cơ hội đổi đời đang chờ đón họ. Nhưng dù có sự trợ giúp của những người dẫn đoàn tận tuỵ như Billy Knapp (Bill Heck) và Arthur (Grainger Hines), Gilbert và và nhất là cô gái dễ giật mình Alice không thể ngờ rằng chờ đợi họ không phải là con đường mòn Oregon trải đầy hoa hồng mà là vô số hiểm nguy và mất mát – những đặc tính đã làm nên miền Tây nước Mỹ.

The Ballad of Buster Scruggs khép lại với The Mortal Remains (Xác chết) – cuộc trò chuyện của năm vị hành khách là bà Betjeman (Tyne Daly), Clarence (Brendan Gleeson), Thigpen (Jonjo O'Neill), René (Saul Rubinek), và ông lão đặt bẫy thú (Chelcie Ross) trên chuyến xe ngựa đường dài tới trạm Fort Morgan nằm trên bang miền Tây Colorado. Có xuất thân rất khác nhau – một quý bà người Mỹ (Betjeman), hai người đồng nghiệp chuyên nghề chuyển tử thi đến từ Ireland và Anh (Clarence và Thigpen), một quý ông “ham vui” người Pháp (René), và ông lão chuyên đặt bẫy thú chuyên sống cô đơn trong rừng sâu bên thú vật và những người thổ dân với tiếng nói xa lạ, năm người hành khách của chuyến xe ngựa không có chặng nghỉ lần lượt chia sẻ với nhau từ nghề nghiệp cho đến quan điểm sống của mỗi người. Và dù rằng những khác biệt về cuộc đời, về suy nghĩ có khác nhau tới mức gây ra tranh cãi nảy lửa, nhưng rồi cả năm cùng đều phải nhận ra rằng họ có cùng một điểm đến cuối cùng – trạm xe Fort Morgan nằm giữa miền Tây hoang vắng và cằn cỗi đến cùng cực.

Đối với người hâm mộ điện ảnh, “thương hiệu” anh em nhà Coen từ lâu đã là bảo chứng cho chất lượng nghệ thuật ở mức cao nhất ở Hollywood. Luôn chia nhau cả ba vai trò quan trọng là đạo diễn, biên kịch, và sản xuất các bộ phim chung, Joel và Ethan Coen suốt từ thập niên 1980 đến nay đã cho ra đời rất nhiều tác phẩm được đánh giá cao về mặt nghệ thuật, trong đó Fargo (1997) đã đem về cho hai anh em tượng vàng Oscar cho kịch bản gốc xuất sắc nhất, và đặc biệt là No Country for Old Men (2007) – bộ phim hình sự lấy bối cảnh Texas đã giúp hai anh em chiến thắng ở cả ba hạng mục phim hay nhất, đạo diễn xuất sắc nhất, và kịch bản chuyển thể xuất sắc nhất tại lễ trao giải của Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật điện ảnh Hoa Kỳ năm 2008. Một điểm đáng chú ý trong sự nghiệp của anh em nhà Coen là hai người thành công ở rất nhiều thể loại phim khác nhau, từ phim hình sự như Fargo và No Country for Old Men cho tới phim bi hài như Inside Llewyn Davis (2013), hầu như tác phẩm nào cũng mang đặc trưng riêng của anh em nhà Coen – đó là kịch bản chặt chẽ, đầy bất ngờ, những chi tiết ẩn dụ thâm thuý, và chất hài châm biếm vừa đủ sức chọc cười nhưng cũng hết mực chua cay khiến khán giả phải suy ngẫm. Kể cả khi thử sức với dòng phim miền Tây vốn thường nhấn mạnh chất hành động và đòi hỏi những bối cảnh chuyên biệt của các vùng đất nằm ở rìa phía Tây nước Mỹ, anh em nhà Coen cũng vẫn thành công trong việc vừa tạo ra một tác phẩm hành động đặc sắc lôi cuốn khán giả thông qua những nhân vật cao bồi anh hùng mã thượng, lại vừa thổi vào thể loại truyền thống đó những triết lý hiện đại vốn luôn được coi là “thương hiệu” của hai người về cách sống, cách cư xử giữa người và người, cách con người tồn tại giữa thiên nhiên và xã hội khắc nghiệt. Lần thử sức thành công đó của hai anh em nhà Coen là bộ phim miền Tây True Grit (2010) – tác phẩm được đề cử tới 10 giải Oscar và giới thiệu cho Hollywood một diễn viên trẻ hết sức tiềm năng là Hailee Steinfeld.

Dù có cùng thể loại phim miền Tây, nhưng sẽ là khập khiễng khi so sánh một tác phẩm có kịch bản rất chặt chẽ, dựa trên một tiểu thuyết nổi tiếng từng được chuyển thể lên màn ảnh lớn trước đó như True Grit với một bộ phim hợp tuyển gồm sáu phần tương đối riêng biệt như The Ballad of Buster Scruggs. Nhưng trên một khía cạnh nào đó, The Ballad of Buster Scruggs có lẽ còn hấp dẫn và có nhiều tầng ý nghĩa hơn cả True Grit và xứng đáng được coi là một đỉnh cao mới trong sự nghiệp của anh em nhà Coen, ít nhất là trong thể loại phim miền Tây. Điều này có được là vì tuy có thể coi là sáu câu truyện riêng biệt, nhưng sáu chương phim của The Ballad of Buster Scruggs mang tính bổ trợ và kết nối cao độ, giúp khán giả có được một bức tranh toàn cảnh hiếm có về cuộc sống nơi miền Tây nước Mỹ trong giai đoạn vùng đất này do những anh chàng cao bồi và những người thổ dân đang cố chống lại cái “định mệnh Hiển nhiên” của người di cư thống trị. Cả sáu phần của The Ballad of Buster Scruggs đều được làm hết sức chắc tay và trọn vẹn về mặt cảm xúc ở những cung bậc hết sức khác nhau, với những nhân vật hoàn toàn khác biệt nhưng luôn đủ chiều sâu, đủ số phận để đi vào lòng khán giả. Trong số này, số phận của bộ đôi gánh hát Impresario và Harrison trong Meal Ticket – chương phim cầu nối cho cả tác phẩm hợp tuyển có lẽ là lát cắt khác biệt, và đáng nhớ bậc nhất trong số những lát cắt về cuộc sống miền Tây từng được đưa lên màn ảnh Hollywood. Trong thời buổi điện ảnh Hoa Kỳ tràn ngập các tác phẩm “phần tiếp theo” và “tiền truyện”, hay những bộ phim thuộc một “vũ trụ điện ảnh” nào đó thì một bộ phim có kịch bản mang đầy tính thể nghiệm với hình thức phim hợp tuyển nhưng lại vẫn dày dặn và tươi mới về cốt truyện, sâu sắc với đủ mọi cung bậc cảm xúc như, và ẩn chứa rất nhiều triết lý về nhân sinh quan, suy nghĩ về nước Mỹ của một giai đoạn đã qua nhưng vẫn còn ảnh hưởng tới tận xã hội hiện đại như The Ballad of Buster Scruggs quả thực là một sản phẩm nghệ thuật đáng quý, và đáng trân trọng dành cho khán giả.

Nếu phải tóm tắt ngắn gọn về The Ballad of Buster Scruggs thì hẳn nhiều khán giả sau khi xem xong bộ phim sẽ đơn giản dùng hai chữ “xuất sắc”. Không chỉ có một kịch bản thượng hạng đúng chất anh em nhà Coen và được tưởng thưởng với giải kịch bản xuất sắc nhất tại Liên hoan phim Venice 2018, bộ phim còn có rất nhiều diễn xuất đáng nhớ đến từ cả những khuôn mặt thân quen với khán giả như James Franco hay Liam Neeson và cả những cái tên gây bất ngờ như Harry Melling – nam diễn viên chủ yếu được biết tới qua vai cậu quý tử nhà Dursley trong loạt phim Harry Potter. Phần nghe và phần nhìn của The Ballad of Buster Scruggs cũng được anh em nhà Coen chăm chút tới mức tối đa với sự cộng tác của nhà soạn nhạc nổi tiếng Carter Burwell – người từng được đề cử giải Oscar cho phần nhạc phim Carol (2015) và Three Billboards Outside Ebbing, Missouri, và cái tên đứng sau những thước phim không thể nào quên của Le Fabuleux Destin d'Amélie Poulain (2001) và Inside Llewyn Davis – nghệ sĩ người Pháp Bruno Delbonnel. Bên cạnh kịch bản phim, phần hình ảnh của The Ballad of Buster Scruggs do Delbonnel đảm nhiệm với rất nhiều cảnh quay ngoại cảnh tại những địa điểm đáng nhớ gắn liền với miền Tây nước Mỹ và những tông sắc màu rất khác nhau cho từng chương phim có lẽ là hai điểm nhấn lớn nhất trong tổng thể xuất sắc của bộ phim mới nhất của anh em nhà Coen. 

Nếu để phàn nàn về The Ballad of Buster Scruggs thì những người xem khó tính chỉ có thể nhắc tới việc cách mô tả hình ảnh hoang dại tới mức man rợ về người thổ dân trong phim sẽ khiến một vài khán giả hiểu nhầm về số phận đậm chất bi thương mà những bộ lạc này phải gánh chịu trong lịch sử phát triển của miền Tây nước Mỹ. Thêm vào đó, việc phim được phát hành chủ yếu thông qua kênh Netflix sẽ vừa làm mất đi cơ hội của khán giả được thưởng thức những cảnh quay tuyệt đẹp của Bruno Delbonnel trên màn ảnh lớn, và cũng khiến The Ballad of Buster Scruggs trở nên yếu thế trong cuộc đua giành giải Oscar lần thứ 91 vào tháng 2 sắp tới. Nhưng nếu gạt những vết gợt có lẽ không thực sự đáng kể này sang một bên, thì The Ballad of Buster Scruggs hoàn toàn xứng đáng là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất năm 2018 của Hollywood và là một trong những bộ phim miền Tây đáng nhớ nhất trong thế kỷ mới.

======

lundi 31 décembre 2018

Roma (2018)


Mexico City của những năm đầu thập niên 1970 là một thành phố đầy ắp biến động và sự kiện, vui tươi sôi động có, mà bạo lực đẫm máu cũng rất nhiều. Tháng 6 năm 1970, người dân thủ đô Mexico City được chứng kiến một trong những trận chung kết đáng nhớ nhất trong lịch sử World Cup khi Brazil đánh bại Ý với tỉ số 4-1 để giành cúp vàng lần thứ ba. Chỉ đúng một năm sau đó, chỉ một ngày trước dịp lễ hội quan trọng của đất nước Mexico sùng đạo là Lễ Mình và Máu Thánh Chúa, cũng chính những người dân Mexico City ấy đã phải chứng kiến một trong những sự kiện đau buồn nhất trong lịch sử nước này khi quân đội và lực lượng bán vũ trang Mexico xả súng giết chết hơn 100 sinh viên diễu hành hoà bình đòi cải cách và dân chủ cho đất nước. 

Mexico City giai đoạn 1970, 1971 nóng bỏng, máu lửa là thế, nhưng ở khu phố cổ Roma trong trung tâm thành phố, có cảm giác dòng đời trong những ngôi nhà khá giả như của gia đình bác sĩ Antonio (Fernando Grediaga) vẫn luôn bình yên trong hạnh phúc. Tuy bác sĩ Antonio thường xuyên vắng nhà, nhưng bà Sofia vợ ông (Marina de Tavira) cũng chẳng có phút giây nào cô đơn trong căn hộ rộng lớn bởi bà còn phải chăm lo cho người mẹ già Teresa (Verónica García) và bốn đứa con nhỏ. Tất nhiên trong một gia đình trung lưu Mexico như của vợ chồng Antonio – Sofia, phần việc nặng nhọc nhất, từ quét dọn nhà cửa, nấu nướng, cho tới chăm lo cho từng miếng ăn giấc ngủ của bọn nhỏ là trách nhiệm của hai cô giúp việc Cleo (Yalitza Aparicio) và Adela (Nancy García). Xuất thân từ một vùng quê khô cằn của Mexico, Cleodegaria "Cleo" Gutiérrez nhỏ bé, hiền lành, chất phác, nhưng hết sức chăm chỉ, chu đáo và yêu thương bọn trẻ nhà Antonio-Sofia. Cuộc sống hàng ngày của Cleo và cô bạn Adela ở khu phố Roma từ sáng sớm đến tối khuya thường chỉ giới hạn trong bốn bức tường nhà Antonio, nhưng hai cô cũng có những phút vui vẻ riêng trong căn phòng nhỏ nơi gác mái, hoặc khi cả hai có những buổi hẹn hò cùng hai anh chàng Ramon (José Manuel Guerrero Mendoza) và Fermin (Jorge Antonio Guerrero). Có một người chủ giàu có, hiểu chuyện, có bốn đứa nhóc nghịch ngợm nhưng luôn miệng “con yêu Cleo”, có người bạn trai Fermin nghèo khó nhưng mạnh mẽ giỏi võ, tường chừng cuộc sống của Cleo sẽ trôi đi phẳng lặng như những mảnh đời khác trong khu phố cổ Roma. Nhưng rồi những sự kiện lịch sử đang làm xáo trộn cả thủ đô Mexico City rồi sẽ tác động đến từng số phận đang sinh sống nơi đây như Cleo theo cái cách chẳng ai ngờ, và phía dưới cái vẻ yên bình của Roma, rất nhiều những biến động, những đổi thay đã ẩn mình từ lâu để chờ ngày phá tan cái sự tĩnh lặng của khu phố cũ.

Alfonso Cuarón là đạo diễn người Mỹ Latinh đầu tiên được trao giải Oscar cho đạo diễn xuất sắc nhất với tác phẩm khoa học giả tưởng Gravity (2013). Nhưng trong suốt gần 20 năm qua ông được coi là một nghệ sĩ Hollywood nhiều hơn là một nghệ sĩ Mexico bởi kể từ Y Tu Mamá También (2001), thành quả sáng tạo của Cuarón giới thiệu đến công chúng như Harry Potter and the Prisoner of Azkaban (2004), Children of Men (2006), và Gravity đều là những bộ phim đậm chất Hollywood với kinh phí lớn, nhiều chất hành động-giả tưởng, và luôn khiến khán giả phải thán phục vì chất lượng quay phim và kĩ xảo điện ảnh. Bởi vậy mà tin Roma – tác phẩm thứ 8 trong sự nghiệp của Alfonso Cuarón được hãng Netflix mua quyền công chiếu đã nhanh chót thu hút sự chú ý của khán giả không chỉ vì đây là bộ phim đánh dấu sự trở lại của đạo diễn người Mexico sau năm năm vắng bóng kể từ thành công của Gravity, mà còn vì đây là một tác phẩm đen trắng thuần chất Mỹ Latinh về những con phố của thủ đô Mexico City nơi chính cậu bé Alfonso Cuarón đã lớn lên trong những năm đầu thập niên 1970.

Quả thực Roma là một bộ phim mang đậm dấu ấn cá nhân của Alfonso Cuarón. Bên cạnh vai trò đạo diễn của phim, nghệ sĩ 57 tuổi còn đảm nhiệm cả việc viết kịch bản, biên tập, sản xuất, và thậm chí là cả quay phim – vị trí quan trọng bậc nhất cho sự thành công của một bộ phim và cũng là vị trí mà Cuarón vốn thường tin tưởng trao cho người bạn của ông – nhà quay phim nổi tiếng Emmanuel “Chivo” Lubezki. Phần đề từ ở cuối Roma (“Bộ phim này ra đời để tưởng nhớ tới Libo”) phần nào giải thích cho sự “ôm đồm” của Alfonso Cuarón. Libo Rodríguez là người phụ nữ giúp việc trong gia đình Cuarón tại Mexico City trong suốt những năm thơ ấu của Alfonso Cuarón. Đạo diễn người Mexico lớn lên trong những câu chuyện kể của Libo về một Mexico nghèo khó và cổ xưa – những góc nhìn vốn rất xa lạ về Mexico với một cậu bé có bố mẹ thuộc tầng lớp trung lưu khá giả như Alfonso. Những câu chuyện kể năm xưa của Libo phần nào đó đã giúp nhen nhóm trong ông tình yêu với thiên nhiên và con người Mexico – một tình yêu chân thành được phản ánh một cách hết sức cảm động qua tuyệt phẩm Y Tu Mamá También. Và có lẽ cũng chính những câu chuyện năm xưa ấy đã tạo nguồn cảm hứng để Alfonso Cuarón cho ra đời Roma, bởi chính đạo diễn đã thừa nhận rằng hình ảnh của Cleo – nhân vật trung tâm của bộ phim được ông tạo nên từ chính cuộc đời của Libo năm xưa. 

Tuy là một tác phẩm điện ảnh làm về đất nước Mexico, lịch sử Mexico, và những mảnh đời bình dị của người dân Mexico, nhưng có cảm giác Roma của Alfonso Cuarón gợi nhắc rất nhiều đến những tác phẩm đậm chất nhân văn theo chủ nghĩa tân hiện thực của điện ảnh Ý những năm 1940, 1950. Với những tác phẩm xuất sắc như Ladri di biciclette (1948) của Vittorio De Sica hay Le notti di Cabiria (1957) của Federico Fellini, trào lưu tân hiện thực đã giúp công chúng nhận ra rằng không chỉ sự hào nhoáng, lộng lẫy của những tên tuổi lớn của Hollywood mới là điện ảnh, mà điện ảnh tinh tuý còn là những bộ phim đen trắng có kịch bản đầy ắp những câu thoại giản dị không văn hoa, sử dụng những bối cảnh chân thực bên ngoài trường quay, với các nhân vật do những diễn viên nghiệp dư hoặc kém tên tuổi thủ vai, và về muôn mặt khốn khó của những mảnh đời nghèo khổ. Phần lớn các tên tuổi lớn của dòng phim tân hiện thực Ý như De Sica, như Fellini, như Roberto Rossellini đã qua đời từ lâu, nhưng các tác phẩm lớn của dòng phim này vẫn để lại dấu ấn đậm nét không chỉ trong lòng khán giả, mà còn qua tinh thần nhân văn, sự quan tâm tới những số phận bình thường trong lòng xã hội hiện đại của các bộ phim theo chủ nghĩa hiện thực của Pháp, Ý, Iran, và cả Hollywood đương đại. Roma cũng là một tác phẩm như thế. Tuy khán giả vẫn có thể cảm nhận được những biến động chính trị, xã hội của đất nước Mexico giai đoạn những năm 1960, 1970 thông qua bộ phim, nhưng Roma trước tiên và trên hết vẫn là một bộ phim về cuộc sống và suy tư của Cleo và những người xung quanh cô như Sofia, như Fermin. Dù lớn lên với những câu chuyện kể của Libo – nguồn cảm hứng chính của Cleo, nhưng Alfonso Cuarón trao cho cô nhân vật chính của ông rất ít thoại. Xuyên suốt phần lớn thời gian của Roma, người xem chỉ có thể đoán biết suy nghĩ, tình cảm của Cleo thông qua sự tỉ mỉ, tận tâm khi chăm sóc lũ trẻ nhà Antonio-Sofia của cô, hay qua phản ứng có phần bị động của Cleo trước những nhân vật mạnh mẽ hơn rất nhiều về mặt cảm xúc như Fermin, như Sofia, và kể cả người bạn hầu gái Adela. Vì lý do này mà một số nhà phê bình đã chỉ trích Cuarón khi cho rằng dù luôn nhắc tới tình cảm gần gũi của Libo dành cho ông nhưng đạo diễn người Mexico lại tạo ra một nhân vật chính hết sức “một chiều”, chỉ biết “nghe lời” những nhân vật ở tầng lớp trên mà thiếu đi sức mạnh ý chí của bản thân. Qủa thực sau khi xem xong Roma chắc chắn nhiều khán giả vẫn sẽ thấy Cleo mà một nhân vật bí ẩn vì cô gần như không bao giờ nói về gia cảnh, về suy nghĩ, về ước mơ của mình. Sự kiệm lời của Cleo và nhịp phim tương đối chậm, thiếu vắng cảm xúc đặc biệt là ở nửa đầu của Roma cũng phần nào đó làm bộ phim trở nên khó xem với một số khán giả. Tuy nhiên nhịp phim chậm rãi cùng nhiều khung hình được Alfonso Cuarón lặp đi lặp lại ở phần đầu của phim cũng lại là cơ hội để khán giả chú ý tới những chi tiết nhỏ, những câu nói tưởng chừng bâng quơ nhưng lại bộc lộ rất nhiều về con người của Cleo. Và đến nửa cuối của phim, khi nhịp phim bắt đầu được đẩy dần lên tới cực điểm với điểm nhấn là những sự kiện xoay quanh vụ thảm sát ngày Lễ Mình và Máu Thánh Chúa và chuyến du hành tìm về với biển cả thì những chi tiết tưởng chừng rời rạc ở phần đầu phim ấy sẽ được xâu chuỗi để tạo nên một bức tranh tổng thể đầy cảm xúc và hết mực nhân văn về số phận của Cleo – cô gái hiền lành, nghèo khổ, cam chịu nhưng vẫn luôn khao khát có hạnh phúc riêng của riêng mình. Có thể Cleo không phải là một nhân vật “anh hùng” đại diện cho ý chí vươn lên của tầng lớp lao động nghèo trong xã hội Mexico. Có thể sự kiệm lời của Cleo khiến khán giả không cảm thấy thoả mãn với những câu thoại mang tính tuyên ngôn. Nhưng câu truyện của Cleo trong Roma vì thế mới là câu truyện đầy tính hiện thực về một cá nhân bình thường của xã hội, một cá nhân với số phận riêng vừa mang tính đại diện cho sự khó khăn của người dân quê nghèo xứ Mexico, vừa dễ dàng đem tới cho khán giả một sự đồng cảm, gần gũi mà mô-típ nhân vật “anh hùng” khó lòng làm được.

Tuy dành được rất nhiều vinh quang với Gravity và được đánh giá rất cao về mặt kỹ thuật dàn dựng điện ảnh với Children of Men, nhiều nhà phê bình và người hâm mộ lại cho rằng tác phẩm xuất sắc nhất của Alfonso Cuarón cho đến trước Roma lại là bộ phim “du hành” Y Tu Mamá También. Tác phẩm này được đánh giá rất cao không chỉ vì câu truyện hết sức cảm động về cuộc hành trình về với biển để tìm lại bản thân, để vượt qua những mông lung tuổi đầu đời của hai cậu thanh niên tuổi mới lớn, mà còn vì bức tranh tuyệt đẹp về đất nước Mexico của rất nhiều sự tương phản. Bởi thế bên cạnh người phụ nữ tràn đầy tình yêu cuộc sống Luisa Cortes, những cảnh quay góc rộng đặc tả thiên nhiên và xã hội Mexico cũng có thể được coi là một nhân vật chính của Y Tu Mamá También. Với Roma, Alfonso Cuarón lại một lần nữa đem tới cho người xem không chỉ câu truyện đầy chất nhân văn về những nhân vật đáng nhớ như Cleo, như Sofia, mà khán giả, đặc biệt là những khán giả nước ngoài chưa một lần đặt chân tới Mexico, sẽ còn được thết đãi một bữa tiệc thị giác tuyệt vời về thiên nhiên và xã hội của đất nước Trung Mỹ trong những năm tháng nhiều biến động. Một trong những điều đáng tiếc nhất liên quan tới tác phẩm mới nhất của đạo diễn người Mexico là việc bản quyền bộ phim đã được kênh phim trực tuyến Netflix mua lại – đồng nghĩa với việc sẽ có rất ít khán giả được thưởng thức những hình ảnh đẹp đẽ của bộ phim trên màn ảnh lớn – điều kiện xem phim tối ưu nhất cho một tác phẩm đẹp như “Roma”. Tất nhiên cái cách người xem thưởng thức điện ảnh và truyền hình đang ngày một thay đổi do sự phát triển nhanh chóng của những kênh phim trực tuyến như Netflix, nhưng có lẽ khó gì có thể thay đổi được cảm giác choáng ngợp đến cảm động khi chứng kiến những góc quay rộng đặc tả những đường phố đông đúc, náo nhiệt của thủ đô Mexico City, hay những khu nhà lụp xụp, lầy lội ở các vùng quê Mexico qua màn ảnh lớn của những rạp phim điện ảnh truyền thống.

Là một trong những khu phố cổ của Mexico City, Roma và những cư dân sinh sống nơi đây phần nào đó có thể coi là một bức tranh thu nhỏ của xã hội thủ đô đất nước Mexico City. Và Roma của Alfonso Cuarón chính là bức tranh thu nhỏ ấy với bối cảnh cụ thể là những ngày tháng đầy biến động của Mexico giai đoạn 1970-1971. Trên bức tranh ấy người xem có thể tìm thấy rất nhiều những mảng tối u ám, những nỗi buồn đến thắt ruột xảy đến không chỉ với những người dân nghèo mà còn cả với những cá nhân của tầng lớp trung lưu. Nhưng cũng trên bức tranh ấy, đặc biệt là thông qua những khung hình cuối cùng của Roma, người xem cũng lại tìm thấy được rất nhiều hy vọng, hy vọng của những con người nhỏ bé chỉ mong muốn có một cuộc no đủ, hạnh phúc bên những người thân yêu nhất của họ. Có thể đó không hẳn là một bức tranh mang tính đại diện cho lịch sử, đất nước, hay con người Mexico, nhất là vì Roma đối với Alfonso Cuarón là một bộ phim mang tính cá nhân, một tác phẩm được làm ra để đạo diễn người Mexico có thể đưa đến cho khán giả một Mexico, một Libo trong ký ức của cậu bé Alfonso năm nào. Nhưng đó vẫn là một bức tranh vừa giàu chất hiện thực, vừa đậm tính nhân văn mà bất cứ ai sở hữu một tài khoản Netflix cũng nên dành thời gian để thưởng thức. 

======