some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

Affichage des articles dont le libellé est books. Afficher tous les articles
Affichage des articles dont le libellé est books. Afficher tous les articles

lundi 27 juillet 2026

Keigo Higashino (1958 - 2026)


 

I just can't believe that Keigo Higashino has passed, too suddenly, too soon. Higashino-sensei, you have been, and always will be, one of my most favourite authors. Rest in peace. 


Every year I am expecting new English/French translations of your books, and always enjoy them immersely when they come out. I feel so sad that now there will be no more "new" books I can have from you. But rest assured that the books that you wrote will always stay in my memories long after this day (23 July 2026), the day you passed away.

lundi 10 février 2020

Little Women (2019)


Trong những năm những người đàn ông khoác áo lính của Liên bang miền Bắc và Liên minh miền Nam đang giao tranh quyết liệt trên các chiến trường đẫm máu của cuộc Nội chiến Hoa Kỳ, thì tại thị trấn nhỏ Concord bang miền Bắc Massachusetts, gia đình nhà March hoàn toàn là một thế giới thu nhỏ của những người phụ nữ nhỏ bé. Đó là bà Marmee March (Laura Dern), người phụ nữ hiền hậu và đảm đang một nách phải quản bốn cô con gái đang trong độ tuổi mới lớn, đồng thời vẫn phải quán xuyến mọi việc trong nhà và tham gia các hoạt động xã hội với hy vọng ông March (Bob Odenkirk) sẽ trở về với vợ và con gái sau khi chiến trường tắt tiếng súng. Bốn cô con gái của vợ chồng ông March là bốn tính cách hoàn toàn trái ngược. Chị cả Margaret "Meg" (Emma Watson) dịu dàng với vẻ đẹp của một cô thiếu nữ mới lớn và mong ước được trở thành một phần của giới nghệ sĩ và thượng lưu thông qua việc tìm được một tấm chồng “đáng giá” trong những buổi khiêu vũ dành cho các cô gái trẻ. Hoàn toàn trái ngược với chị gái, cô con gái thứ hai của nhà March là Josephine "Jo" (Saoirse Ronan) lại sở hữu tính cách mạnh mẽ, bướng bỉnh nhất quyết không chịu nhún nhường trước bất cứ ai nhưng lại sẵn lòng đặt cả trái tim và khối óc vào những trang viết như một nhà văn nữ thật sự. Không đam mê viết lách, cô con gái thứ ba của nhà March là Amy (Florence Pugh) với năng khiếu vẽ bẩm sinh lại nuôi trong mình ước mộng được trở thành một hoạ sĩ đại tài bất chấp việc cô gái mới vừa qua tuổi dậy thì luôn chịu lép vế trước hai cô chị nhiều máu nghệ sĩ Meg và Jo. Không rõ có phải được sinh ra cuối cùng sau ba người chị gái có tính cách mạnh mẽ, mà cô út Elizabeth "Beth" (Eliza Scanlen) lại là người ít nói, bẽn lẽn nhất dù là người sở hữu ngón tay điêu luyện nhất trên những phím đàn. Dù cuộc sống thời chiến có vất vả giữa vùng quê lạnh lẽo xứ New England, nhưng tình yêu thương và niềm tin vào cuộc sống giúp gia đình nhà March có một cuộc sống yên bình, hạnh phúc tưởng chừng không gì chia cắt. 

Bảy năm sau những ngày hoa mộng ấy, Jo xuống Thành phố New York để kiếm tìm cơ hội với ngòi bút – một thử thách chẳng hề dễ dàng trong một xã hội dù đã có chút hiện đại nhưng vẫn còn đầy ắp định kiến và tâm lý trọng nam khinh ngữ, đặc biệt là trong những lĩnh vực đòi hỏi tính sáng tạo, và sự độc lập, như nghề viết. Dù có những người bạn tốt như anh chàng “giáo sư” người Pháp Friedrich Bhaer (Louis Garrel) luôn sẵn lòng ở bên cô trong lúc khó khăn, nhưng sự khốc liệt của trong làng văn New York để có được một vị trí giữa những nhà văn nam giới đã khiến Jo vẫn có những giây phút yếu lòng, khi cô nhớ lại ngôi nhà nhỏ ở Concord cùng các chị em gái của cô, và ngẫm nghĩ về lý do tại sao cái gia đình nhỏ bé mà hạnh phúc ấy, và bản thân cuộc đời của chính cô lại thay đổi hoàn toàn kể từ khi có sự xuất hiện của anh chàng lãng tử Theodore "Laurie" (Timothée Chalamet) – cháu trai duy nhất của ông lão hàng xóm giàu có và tốt bụng Laurence (Chris Cooper). 

Là bộ phim thứ ba trong sự nghiệp đạo diễn của nữ đạo diễn đang lên Greta Gerwig, nhưng đây đã là lần thứ bảy Little Women (Những cô gái nhỏ) được chuyển thể lên màn ảnh lớn trong vòng một thế kỷ qua. Đó là bởi cuốn tiểu thuyết thứ hai trong sự nghiệp của nhà văn nữ Louisa May Alcott với một nội dung đơn giản là kể lại một phần cuộc đời nhiều sự kiện của bà cùng các chị em gái nơi thôn quê New England ngay sau khi ra đời năm 1868 đã được coi là một hiện tượng của văn học Hoa Kỳ không chỉ bởi nội dung giản dị, lôi cuốn, mà còn vì đây là một trong những tác phẩm văn học đầu tiên của văn đàn Mỹ xây dựng được hình ảnh những người phụ nữ độc lập, năng động trong bối cảnh nước Mỹ nói riêng và xã hội phương Tây nói chung vẫn còn đang ở trong tình trạng trọng nam khinh nữ hết sức nặng nề. Thông điệp nữ quyền thấm đẫm trong tác phẩm của nữ nhà văn người Massachusetts có lẽ chính là lý do chính thúc đẩy Greta Gerwig chắp bút viết kịch bản và tự tay đạo diễn lần chuyển thể điện ảnh thứ bảy của Little Women sau thành công vang dội của tuyệt phẩm dành cho tuổi mới lớn Lady Bird (2017). Với kinh phí chỉ vỏn vẹn 10 triệu đô la, Lady Bird của Gerwig đã gây tiếng vang lớn với 5 đề cử Oscar với cách kể truyện chân thành, cảm động về những trăn trở đầu đời của cô thiếu nữ Lady Bird (Saoirse Ronan) đang gắng tìm kiếm cho mình chân trời mới, sự vô giá của tình yêu thương giữa người thân trong gia đình, và cả mối dây liên hệ vô hình giữa mỗi cá nhân với nơi chôn nhau cắt rốn của bản thân. Ở Little Women một lần nữa người xem lại được lặng ngắm những câu chuyện đầy tình người ấy qua diễn xuất tràn đầy năng lượng và tình cảm của chính Saoirse Ronan trong vai Jo – nhân vật trung tâm và cũng là người kể chuyện của cả bộ phim. Thừa hưởng phần nội dung gốc của một tác phẩm đã được xếp vào hàng kinh điển, Little Women có tuyến nhân vật hết sức dày dặn, nhiều màu sắc, nhiều cung bậc cảm xúc và cực kì đáng nhớ. Bởi vậy mà không chỉ Jo của Saoirse Ronan mà các gần như toàn bộ tuyến nhân vật của Little Women đều tạo được dấu ấn khác biệt, từ sự hồn hậu, ngây thơ đến nao lòng của Beth qua sự thể hiện của nữ diễn viên tuổi mới ngoài đôi mươi Eliza Scanlen, cho đến cái cách sóng gió cuộc đời dần làm nhoà đi sự vô ưu trong tâm tính của Amy nhờ diễn xuất tuyệt vời của Florence Pugh, và tất nhiên không thể không kể đến sự xuất hiện dù không nhiều nhưng luôn toả ra sự ấm áp của tình mẹ đến từ Bà March – một trong hai vai phụ xuất sắc của năm 2019 đến từ cùng một cái tên Laura Dern. 

Để tạo sự khác biệt so với những chuyển thể trước đây của Little Women, Greta Gerwig cũng lựa chọn cho mình một cách tiếp cận hiện đại trong việc chuyển thể tiểu thuyết đã được xuất bản từ năm 1868 với cách sắp xếp phi tuyến xen kẽ giữa “hiện tại” màu xám của năm 1868 với “quá khứ” màu hồng của những năm Nội chiến cùng cách kể chuyện kết hợp cả góc nhìn của người thứ ba và người thứ nhất. Cấu trúc tương đối phức tạp này của Little Women khiến tác phẩm mới nhất của Greta Gerwig trở nên tương đối khó theo dõi nếu so với sự giản dị của Lady Bird. Nhưng càng xem, khán giả sẽ càng thấy cuốn hút trước các tuyến truyện đan xen như chính cuộc đời rất nhiều nút thắt của Jo, của Amy, của Laurie. Và quan trọng hơn thế, cách kể chuyện hiện đại của Greta Gerwig cũng tạo ra sự khác biệt và mới mẻ cho lần chuyển thể thứ bảy của Little Women, một thử thách không hề dễ dàng cho bất cứ đạo diễn nào khi phải đưa lên màn ảnh lớn một tác phẩm đã được xếp vào hàng kinh điển và đã được chuyển thể trước đó bởi nhiều đạo diễn tài năng và dàn diễn viên thượng hạng như Gillian Armstrong (phiên bản năm 1994 với sự xuất hiện của Winona Ryder trong vai Jo và Christian Bale trong vai Laurie) hay George Cukor (phiên bản năm 1933 với sự xuất hiện của Katharine Hepburn trong vai Jo và Douglass Montgomery trong vai Laurie). Sự mới mẻ của Little Women còn đến từ tài năng của hai cái tên Pháp trong đoàn làm phim của Greta Gerwig – đó là nhà quay phim Yorick Le Saux và nhà soạn nhạc Alexandre Desplat. Với những góc máy lạ và cách chọn ánh sáng cũng như tông màu dịu ngọt, Yorick Le Saux không chỉ đem lại cho vùng đất New England của nước Mỹ thế kỷ 19 một vẻ đẹp bình yên, thân thuộc, mà còn giúp đặc tả tâm trạng và số phận những người phụ nữ nhỏ bé nhà March trong những thời khắc quan trọng của cuộc đời họ thông qua dáng hình, màu sắc mà chẳng cần tới bất cứ câu thoại nào. Về phần mình, Alexandre Desplat lại một lần nữa chứng tỏ sự mát tay của ông trong việc viết nhạc cho những bộ phim có nhịp độ nhẹ nhàng, đòi hỏi chiều sâu cảm xúc. Người xem có thể quên nội dung cuộc trò chuyện giữa Jo và Beth trên bãi biển năm nào, nhưng chắc chắn họ chẳng thể quên cái cách hai chị em dựa vào nhau trong cái lạnh đến tê người đến từ gió biển trong một ngày u ám điển hình của vùng đất phương Bắc New England. Và người xem cũng có thể quên tên anh chàng “giáo sư” thẳng tính Friedrich nhưng có lẽ sẽ không thể quên cái cách anh giáo sư dạo nên những nốt nhạc da diết của bản xô-nát số 8 của Beethoven trên chiếc đàn thân yêu của Beth – những nốt nhạc nói lên nỗi lòng của tất cả những thành viên nhà March khi nghĩ về những người họ yêu quý. Những thành công riêng của Yorick Le Saux và Alexandre Desplat đã khoác lên Little Women – một tiểu thuyết đã có trên 150 năm tuổi một tấm áo khác biệt, mới mẻ, gần gũi và hết sức lôi cuốn.

Trái ngược với cái tên của mình (có thể dịch là “Những cô gái nhỏ” hay “Những người phụ nữ nhỏ bé”), Little Women là câu truyện về những người phụ nữ mạnh mẽ, dám yêu, dám sống, dám lựa chọn cho mình một số phận thay vì chịu sự sắp đặt của cha mẹ, của xã hội, của định kiến người đời. Chẳng cần lên gân với những thông điệp mang tính cổ động, tuyên truyền, cũng chẳng cần kịch tính hóa một cách quá mức cần thiết những câu chuyện buồn mà đời người ai chẳng có, Little Women vẫn tạo được sự đồng cảm từ khán giả nhờ rất nhiều những lát cắt vui có, buồn có, nhưng đều rất đẹp, rất đời về những người phụ nữ nhà March. Sau khi xem xong phim, có lẽ mỗi khán giả sẽ đem về cho một mình một câu truyện riêng từ Little Women. Đó có thể là bài học về cách yêu và cách mở lòng cho tình yêu của những cô gái mới lớn như Jo, như Amy. Đó có thể là bài học về cách vượt qua gánh nặng của cơm áo gạo tiền để biến tình yêu, sự nhiệt huyết với nghiệp viết trở thành thành công và danh tiếng dài lâu. Hoặc đó có thể là bài học giản đơn về cách dung hòa những mâu thuẫn trong tính cách, trong lối sống hiện hữu ở bất cứ gia đình nào để mọi thành viên trong gia đình yêu thương và hiểu nhau hơn. Nhưng chắc chắn rằng mỗi người trong số chúng ta sau khi xem xong Little Women của Greta Gerwig đều có thể cảm nhận được rằng đây là một tác phẩm của những người phụ nữ, làm về những người phụ nữ, và để nói lên sự trân quý và tin yêu hết mực của những người làm phim dành cho phụ nữ.

========

mardi 5 mars 2019

Green Book (2018)


Trong giới văn nghệ sĩ Mỹ thập niên 1960, Don Shirley (Mahershala Ali) có thể coi là một trường hợp đặc biệt khi ông không chỉ là một thiên tài piano cổ điển từng được đào tạo ở tận nước Nga xa xôi, mà ông còn sở hữu một bằng tiến sĩ tâm lý học và có thể nói thành thạo rất nhiều thứ tiếng. Tài năng và danh tiếng giúp Don Shirley có một cuộc sống đáng mơ ước với một căn hộ xa hoa nằm ngay phía trên Thính phòng Carnegie nổi tiếng và những người bạn quyền lực trong chính trường Mỹ như anh em tổng thống John F. Kennedy và và tổng trưởng lý Robert Kennedy. Nhưng dù có tài hoa đến mấy, giàu có đến mấy, thì có một sự thật Don Shirley vẫn phải chấp nhận, đó là làn da màu của nghệ sĩ piano tài năng này vẫn khiến ông trở thành nạn nhân của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc đối với người da đen vẫn còn đang hoành hành ở nước Mỹ trong thập niên 1960. Đặc biệt là ở các bang miền Nam của Hoa Kỳ - kẻ thất trận trong cuộc Nội chiến Mỹ vì cố níu kéo chủ nghĩa nô lệ, người da đen bị phân biệt đối xử một cách tệ bạc không khác nhiều so với những năm thế kỷ 19 khi họ vẫn còn phải oằn mình làm nô lệ cho những chủ đồn điền da trắng. Bởi vậy mà khi Don Shirley quyết định lên đường cùng hai nghệ sĩ da trắng khác trong nhóm tam tấu của ông là Oleg (Dimeter Marinov) và George (Mike Hatton) để thực hiện tua lưu diễn xuyên qua các bang miền Nam nước Mỹ, Don Shirley cảm thấy rằng ông cần phải có một người tài xế đủ tin cậy trên những cung đường trải dài suốt nước Mỹ, và đủ mạnh mẽ để giúp Don Shirley vượt qua những trở ngại chắc chắn sẽ phải gặp từ nạn phân biệt chủng tộc của dân da trắng miền Nam nước Mỹ để có thể hoàn thành một cách tốt đẹp chuyến biểu diễn trước Giáng sinh của ông.

Người được Don Shirley thuyết phục để đảm nhận vị trí khó khăn này là Frank "Tony Lip" Vallelonga (Viggo Mortensen). Vốn là nhân viên “bảo an” tại hộp đêm nổi tiếng Copacabana của thành phố New York, người đàn ông gốc Ý có cái tên khó đọc này đột ngột thất nghiệp vì hộp đêm phải đóng cửa sửa chữa trong bối cảnh người vợ Dolores (Linda Cardellini) và hai đứa con trai đang rất cần những đồng tiền lương của Frank để trang trải cuộc sống. Chẳng thể đi cầm hết đồ đạc để lấy tiền trả tiền thuê nhà, và cũng không muốn đảm nhận những phi vụ mờ ám của những người đồng hương, Frank Vallelonga cuối cùng đành miễn cưỡng nhận lời Don Shirley để xa vợ con trong vòng 2 tháng trời rong ruổi trên những nẻo đường miền Nam nước Mỹ cũng người nghệ sĩ piano thiên tài. Gai góc là thế, dạn dày kinh nghiệm với dân giang hồ là thế, nhưng Frank cũng không thể ngờ rằng đây sẽ là một chuyến đi bão táp, đặc biệt là với người hành khách có nước da đen Don Shirley ngồi phía sau xe, bất chấp việc hai người đã cố gắng làm theo đúng hướng dẫn của quyển Sách xanh (“Green Book”) hướng dẫn đi lại cho các tay lái da đen. Qua từng chặng biểu diễn của Don Shirley, đi sâu từng dặm vào trong lòng miền Nam nước Mỹ, Frank Vallelonga và Don Shirley càng nhận ra rằng ngay giữa nước Mỹ hiện đại, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc vẫn còn hiện hữu một cách nặng nề đè chặt lên cuộc sống ngột ngạt của những người da đen vốn đã chịu đựng quá nhiều khổ đau trong suốt chiều dài lịch sử của nước Mỹ.

Green Book là bộ phim thứ 14 trong sự nghiệp đạo diễn của Peter Farrelly nhưng mới là thử nghiệm đầu tiên của đạo diễn 62 tuổi này với một thể loại mới ngoài phim hài. Mặc dù vẫn có đây đó một số chi tiết hài hước, nhưng Green Book không phải là một tác phẩm “thọc cười” – dòng phim đã giúp Peter Farrelly và người em trai Bobby Farrelly thành danh từ cách đây cả một phần tư thế kỷ với các tác phẩm như Dumb and Dumber (1994) hay There's Something About Mary (1998). Tuy là một lựa chọn nghệ thuật gây ngạc nhiên đối với nhiều khán giả, nhưng có lẽ việc thử nghiệm với một dòng phim mới cũng là điều cần thiết, nếu không nói là hơi muộn cho Peter Farrelly sau thất bại thảm hại về chất lượng nghệ thuật của các tác phẩm gần đây của hai anh em như Movie 43 (2013) và Dumb and Dumber To (2014). Dựa trên câu truyện có thật của Frank Vallelonga và Don Shirley qua ngòi bút của chính con trai Frank là Nick Vallelonga, trong lần thử sức đầu tiên với phim chính kịch, Peter Farrelly đã lựa chọn một đề tài đang thu hút rất nhiều sự quan tâm ở Hollywood nhưng cũng không dễ để dựng thành một tác phẩm hay, hấp dẫn người xem, đó là nạn phân biệt chủng tộc ở nước Mỹ nói chung và đặc biệt là ở các bang miền Nam nơi các đạo luật Jim Crow đã biến cuộc sống của người da đen trở thành địa ngục cho đến tận những thập niên cuối của thế kỷ 20.

Được đặt trong một bối cảnh lịch sử giàu sự kiện, có bộ đôi nhân vật chính có thật với nhiều nét tính cách đặc sắc, Green Book đã thành công trong việc kể lại một câu truyện đáng nhớ về cuộc hành trình “khám phá” tệ phân biệt chủng tộc ở miền Nam nước Mỹ của Don Shirley và Frank Vallelonga, và cũng là cuộc hành trình khai phá cho một tình bạn mới mẻ giữa hai con người tưởng chừng không thể khác biệt hơn. Với nhiều phân đoạn gây sốc vì sự phân biệt chủng tộc tàn nhẫn nhưng lộ liễu đến mức khó tin ở một quốc gia dân chủ như Hoa Kỳ, chắc chắn Green Book sẽ góp thêm một tiếng nói mới ở Hollywood để giúp khán giả hiểu hơn về những nỗi đau mà người da màu đã và đang phải chịu đựng vì nạn phân biệt chủng tộc, nhất là ở các bang miền Nam nước Mỹ. Một số cảnh quay đẹp về thiên nhiên nước Mỹ, về cách bộc lộ tâm sự, tình cảm rất khác nhau của một Don Shirley lịch lãm nhưng cô độc và một Frank Vallelonga thô lỗ nhưng luôn tràn đầy tình yêu cho những người thân thiết của Green Book cũng giúp bộ phim mới nhất của Peter Farrelly trở nên dễ xem và lôi cuốn bất chấp chủ đề nặng nề của tác phẩm. Tuy vậy, có lẽ vì đây mới là tác phẩm chính kịch đầu tiên của mình, nên cách Peter Farrelly truyền tải các thông điệp về bình đẳng sắc tộc, về sự cần thiết của tình cảm trân trọng giữa người với người trong một xã hội hiện đại có cảm giác gượng ép và tương đối lộ liễu. Thay vì những hình ảnh ẩn dụ nhẹ nhàng mang tính khơi gợi giúp khán giả tự tìm cho mình một thông điệp đẹp từ bộ phim, đa phần các chi tiết hay câu thoại mang tính biểu tượng trong phim đều được lồng ghép một cách khá vụng, khiến khán giả cảm thấy mình đang bị ép phải cảm nhận, phải hiểu những ý tưởng cụ thể của đạo diễn. Và một khi đã bị gò bó như vậy, thì dù thông điệp, ý tưởng có đẹp đến mấy, người xem vẫn sẽ có cảm giác gợn không cần thiết đối với một tác phẩm khá nhẹ nhàng và giàu cảm xúc như Green Book. Thêm vào đó, việc biểu đạt các thông điệp của phim qua những mô-típ truyền thống, gò bó cũng khiến Green Book phần nào trở nên “dễ đoán” và mất đi sự mới mẻ đáng có trong một tác phẩm tiểu sử về hai nhân vật hết sức đặc biệt nhưng chưa từng được khai thác trên màn ảnh lớn như Don Shirley và Frank Vallelonga. Về một khía cạnh nào đó, Green Book có thể coi là một phiên bản ngược của Driving Miss Daisy (1989) – bộ phim chỉ trích chủ nghĩa phân biệt chủng tộc ở nước Mỹ thập niên 1940, 1950 thông qua những chuyến đi của người tài xế da đen Hoke Colburn (Morgan Freeman) và bà goá phụ người Do Thái giàu có Daisy (Jessica Tandy). Nhưng sự trùng hợp giữa hai tác phẩm có lẽ chỉ dừng lại ở đó, vì Driving Miss Daisy của đạo diễn Bruce Beresford là một tác phẩm hết sức sâu sắc với những thông điệp nhẹ nhàng nhưng mang tính gợi mở rất cao. Chất lượng nghệ thuật vượt trội của Driving Miss Daisy sau đó đã được chứng minh bằng bốn tượng vàng Oscar tại lễ trao giải của Viện hàn lâm điện ảnh Mỹ năm 1990, trong đó có ba giải rất quan trọng là giải Oscar cho phim hay nhất, kịch bản chuyển thể xuất sắc nhất, và vai nữ chính xuất sắc nhất. Với cách tiếp cận thua kém nhiều mặt, sẽ là rất khó để Green Book có thể lặp lại thành tích của Driving Miss Daisy trong mùa trao giải điện ảnh năm 2019.

Diễn xuất không ấn tượng của dàn diễn viên là một điểm yếu khác của Green Book. Ngoại trừ Linda Cardellini phần nào chứng tỏ được năng lực của cô qua vai Dolores Vallelonga, dàn diễn viên phụ của Green Book không để lại dấu ấn nào đối với khán giả và thậm chí một số nhân vật phụ còn tạo cho người xem cảm giác họ đang được xem các diễn xuất ở tầm nghiệp dư vốn phù hợp với các bộ phim hài “nhảm” hơn là một tác phẩm nói về đề tài nghiêm túc, cần sức nặng như Green Book. Ngay cả Mahershala Ali trong vai Don Shirley và Viggo Mortensen trong vai Frank Vallelonga cũng chỉ có thể được coi là những diễn xuất tròn vai, nhất là khi so sánh với những vai diễn đáng nhớ hơn nhiều của hai diễn viên đầy thực lực này như vai Juan trong Moonlight (2016) – diễn xuất giúp Mahershala Ali giành giải Oscar cho vai nam phụ nhất, hay vai Tom Stall của Viggo Mortensen trong A History of Violence (2005) – một trong những vai diễn đáng nhớ của dòng phim hành động Hollywood trong vòng hai thập niên vừa qua. Có lẽ sự tương tác giữa Don Shirley và Frank Vallelonga, chứ không phải chân dung riêng của từng nhân vật, qua sự thể hiện của Ali và Mortensen mới là điểm nhấn lớn nhất về mặt xây dựng nhân vật và diễn xuất của Green Book. Tất nhiên là dù có tài năng đến mấy nhưng Mahershala Ali và Viggo Mortensen cũng khó lòng vượt ra khỏi cách tiếp cận kịch bản mang nhiều tính gượng ép của Peter Farrelly, nhưng khán giả hẳn vẫn cảm thấy đáng tiếc khi Ali và Mortensen không có cơ hội để khắc hoạ một cách sống động hơn, đa chiều hơn hình ảnh của Don Shirley và Frank Vallelonga.

Tuy còn nhiều khuyết điểm, nhưng chắc chắn sau khi xem phim, không một khán giả nào có thể phủ nhận rằng Green Book được Peter Farrelly đem tới cho khán giả với sự trân trọng dành cho nhân vật của ông, dành cho chủ đề mà ông muốn khai thác. Chỉ riêng chi tiết này thôi cũng đã khiến Green Book trở thành một tác phẩm đáng xem sau những thất bại khó tin trong sự nghiệp của anh em nhà Farrelly với những tác phẩm “siêu tệ” như Movie 43. Nhưng Green Book còn là một bộ phim nhiều ý nghĩa. Ý nghĩa đó nằm ở chân dung hai con người sâu sắc theo những cách riêng đang tìm đến nhau qua một tình bạn lạ lùng. Ý nghĩa đó nằm ở cách thức bộ phim làm người xem bị sốc vì nạn phân biệt chủng tộc vô nhân đạo ở miền Nam nước Mỹ. Và ý nghĩa đó còn nằm ở thông điệp thúc đẩy chúng ta, bất kể màu da, địa vị, phải gắng sống một cách có ý nghĩa, có lòng tự trọng, biết giữ gìn phẩm giá không chỉ của bản thân mà còn của những người xung quanh. Bởi thế, chúng ta hoàn toàn có thể coi Green Book là một bộ phim đẹp, một tác phẩm đáng xem, và nên xem của điện ảnh Hollywood trong năm 2018.


========

lundi 10 décembre 2018

BlacKkKlansman (2018)


Trong lịch sử nước Mỹ, cuộc nội chiến đẫm máu từ năm 1861 đến 1865 được coi là một trong những cột mốc đáng nhớ nhất trong nỗ lực bãi bỏ chế độ nô lệ, đặc biệt là ở các bang miền Nam nơi nhiều người da đen phải sống suốt đời phục vụ các ông chủ da trắng trong các dinh thự xa hoa hay các cánh đồng bông vải bao la mà không có nổi lấy một phút tự do, bình đẳng. Với thất bại của các bang miền Nam trong cuộc nội chiến, tưởng như nạn phân biệt chủng tộc, đặc biệt là đối với người da đen và các chủng tộc ít người như dân Do Thái, dân châu Á, sẽ theo đó mà biến mất. Nhưng non sông dễ đổi mà bản tính thì khó dời, những kẻ mang danh nước Mỹ đòi phân biệt đối xử với người da đen lại tiếp tục tập hợp nhau lại dưới trướng của của Ku Klux Klan – một hội kín nửa mang tính tôn giáo, nửa mang tính chính trị với mục đích tối thượng lấy cảm hứng từ bộ phim The Birth of a Nation (1915) của D. W. Griffith là biến nước Mỹ trở thành một quốc gia riêng của người da trắng theo đạo Thiên chúa – nơi không có chỗ cho những nhóm người khác biệt về sắc da, tôn giáo. Chính Ku Klux Klan, hay đảng KKK, cùng những bộ óc bị mê muội bởi thuyết ưu sinh về vị thế “vượt trội” của người da trắng đã kích động và trực tiếp gây ra vô số tội ác chống lại người da đen ở nước Mỹ xuyên suốt thế kỷ 20, từ những vụ hành hình tập thể, công khai với mức độ man rợ khó có thể tin nổi trong một xã hội cận và hiện đại như vụ tra tấn và thiêu chết cậu thanh niên da đen mới có 17 tuổi Jesse Washington tại Waco, Texas năm 1916 trước sự chứng kiến của hơn mười nghìn người, những vụ xử oan các bị cáo da đen bởi bồi thẩm đoàn chỉ toàn người da trắng, hay nạn cảnh sát phân biệt đối xử với người da đen vốn vẫn còn tồn tại cho tới tận ngày nay.

Một trong những trang sử của cuộc chiến chống lại nạn phân biệt chủng tộc đối với người da đen ở Mỹ, cũng như cách thức KKK tìm cách tồn tại bằng cách thu hút đảng viên mới thông qua những thông điệp giả tạo, dối trá được kể lại trong tác phẩm mới nhất của đạo diễn Spike Lee – bộ phim BlacKkKlansman. BlacKkKlansman kể lại câu truyện có thật về cuộc thâm nhập đảng KKK trong những năm đầu thập niên 1970 của Ron Stallworth (John David Washington) – sĩ quan cảnh sát da đen đầu tiên của thành phố Colorado Springs,  bang Colorado. Thông minh, cương quyết, yêu nghề, Stallworth có gần như đầy đủ mọi điều kiện để trở thành một thanh tra cảnh sát thành công. Nhưng màu da ngăm đen khoẻ khoắn cùng kiểu tóc xù “afro” của Stallworth không chỉ là cái gai trong mắt những tay cảnh sát biến chất như Andy Landers (Fred Weller) mà còn khiến những viên lãnh đạo sở cảnh sát ở Colorado Springs như Cảnh sát trưởng Bridges (Robert John Burke) e ngại tới mức công việc đầu tiên của Stallworth ở nơi làm việc mơ ước lại là cái ghế trông phòng lưu trữ. 

Cơ hội chứng tỏ tài năng chỉ đến khi Ron Stallworth được giao trà trộn theo dõi cuộc họp mặt của các sinh viên da đen ở Colorado với thủ lĩnh đấu tranh đòi quyền bình đẳng Kwame Ture (Corey Hawkins). Không chỉ có thêm cái nhìn rõ ràng hơn về những căng thẳng sắc tộc ở nước Mỹ và khao khát đòi bình quyền, kể cả bằng bạo lực, của những nhà hoạt động da đen thông qua bài nói chuyện của Ture, phi vụ trà trộn bất đắc dĩ này còn tạo cho Stallworth cơ hội làm quen với cô sinh viên xinh đẹp nhưng đầy nhiệt huyết chính trị Patrice Dumas (Patrice Dumas), và giúp anh có đủ sự tin tưởng từ Cảnh sát trưởng Bridges để được chuyển sang Tổ tình báo để làm việc cùng hai người đồng nghiệp vui tính Flip Zimmerman (Adam Driver) và Jimmy Creek (Michael Buscemi). 

Tại vị trí mới, Stallworth nảy ra ý tưởng thâm nhập chi nhánh của đảng KKK ở Colorado Springs để nắm rõ hơn âm mưu và thủ đoạn của tổ chức vốn chuyên kích động bạo lực và hận thù này. Tất nhiên với bề ngoài của mình thì Ron Stallworth không thể đích thân đăng ký tham gia các hoạt động của KKK, anh chỉ có thể đứng sau chiếc điện thoại để đánh lừa các đảng viên KKK bằng chất giọng đặc sệt “Mỹ trắng”. Vào vai “Ron Stallworth da trắng” trực tiếp đi vào hang ổ của những kẻ-ghét-người-da-đen là Flip Zimmerman – viên thanh tra vốn ban đầu cũng không hào hứng lắm với vở kịch do Stallworth đạo diễn bởi anh có gốc Do Thái – nhóm người bị lũ KKK căm ghét không kém gì dân da đen. Nhưng sự dũng cảm, và tinh quái của cặp “Stallworth da đen” và “Stallworth da trắng” rồi cũng dần chinh phục được lòng tin của các đảng viên KKK ở Colorado Springs như gã trưởng nhóm Walter Breachway (Ryan Eggold), cặp vợ chồng KKK với giấc mơ tiêu diệt người da đen Felix và Connie Kendrickson (Jasper Pääkkönen và Ashlie Atkinson) để rồi cái tên Ron Stallworth thậm chí đến tai của David Duke (Topher Grace) – Đảng trưởng KKK toàn nước Mỹ. Có cơ hội tiếp xúc với Breachway, với Kendrickson, với Duke, Stallworth và Zimmerman dần nhận ra rằng KKK không chỉ có những âm mưu ngắn hạn khủng bố người da đen về mặt thể xác và tinh thần, mà còn hướng tới mục tiêu dài hạn là khôi phục vị thế trong xã hội Mỹ của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và thuyết thượng đẳng da trắng từ đống tro tàn bởi ngọn lửa của cuộc nội chiến và phong trào đấu tranh đòi quyền bình đẳng của Mục sư Martin Luther King và các nhà hoạt động xã hội Mỹ trong thập niên 1960. 

Cuối những năm 1980, đầu những năm 1990 Spike Lee từng được coi là một trong những đạo diễn xuất sắc nhất trong đội ngũ các nhà làm phim da màu của Hollywood với các bộ phim xuất sắc đậm chất văn hoá của người Mỹ gốc Phi và tinh thần đấu tranh bình quyền như Do the Right Thing (1989) hay Malcolm X (1992). Nhưng suốt trong hai thập niên sau đó, Spike Lee có một sự nghiệp không thực sự ấn tượng khi ông chỉ cho ra đời được đôi ba tác phẩm đáng nhớ như 25th Hour (2002) hay Inside Man (2006) và không ít thất bại cả về mặt doanh thu và chất lượng nghệ thuật như Oldboy (2013). Với việc phong trào đấu tranh đòi quyền bình đẳng cho người da đen quay trở lại như một đề tài nóng bỏng của nước Mỹ và Hollywood trong vòng 3, 4 năm trở lại đây với phong trào Black Lives Matter và sự chống đối của một bộ phận dân chúng Mỹ đối với tổng thống mới đắc cử Donald Trump, nhiều người đã hy vọng rằng Spike Lee có thể “nhớ nghề” để quay về thể hiện khả năng thực sự với một bộ phim nói lên tiếng nói của những người da màu như ông – những người Mỹ gốc Phi. BlacKkKlansman chính là câu trả lời mạnh mẽ của Spike Lee cho sự mong đợi đó từ phía công chúng. Dựa trên cuốn tự truyện cùng tên của Ron Stallworth – một viên cảnh sát có thật, với cuộc thâm nhập có thật vào hang ổ của đảng KKK của những kẻ không mong muốn gì hơn là cái chết của những người Mỹ gốc Phi như ông, BlacKkKlansman vừa là câu truyện chân thực về một giai đoạn có thật trong lịch sử nước Mỹ khi người da đen còn đang phải đấu tranh đòi lấy những quyền cơ bản nhất, nhưng cũng lại mang hơi thở thời đại của Black Lives Matter, của phong trào phản đối tổng thống Donald Trump để duy trì sự bình đẳng về tôn giáo, về sắc tộc trong lòng nước Mỹ hiện đại. Có lẽ khi mới đọc qua phần tóm tắt cốt truyện, hay xem các đoạn phim quảng cáo cho BlacKkKlansman nhiều người sẽ nghĩ rằng Spike Lee sẽ khai thác tối đa sự “trớ trêu” của tình huống viên thanh tra da đen Stallworth tìm cách xâm nhập vào tổ chức của những kẻ da trắng-ghét-dân-da-đen để biến bộ phim mới nhất của ông trở thành một tác phẩm hình sự-hài được thêm nếm gia vị chính trị và xã hội. Quả thực BlacKkKlansman có nhiều giờ phút hài hước, đặc biệt là trong các phân đoạn về sự tương tác giữa hai viên thanh tra Ron Stallworth và Flip Zimmerman, hay giữa Flip và gã đảng viên KKK phục phịch ngớ ngẩn Ivanhoe (Paul Walter Hauser). Nhưng những phút hài hước, hay thậm chí là chất hình sự của phi vụ thâm nhập trong BlacKkKlansman chỉ là phần gia vị bổ sung thêm vào nội dung chủ đạo của bộ phim – tệ phân biệt chủng tộc ăn sâu bám rễ trong lòng xã hội nước Mỹ, và sự nguy hại của những tư tưởng phân biệt chủng tộc ngu ngốc nhưng đầy lôi cuốn với một nhóm người Mỹ của đảng KKK. Không chỉ bằng lòng với các hình ảnh ẩn dụ, các câu truyện ngầm chỉ về tình cảnh của người da đen trong một xã hội Mỹ còn nhiều bất công, Spike Lee còn tăng tối đa thời lượng cho các đoạn đối thoại nhắc đi nhắc lại đối với khán giả một cách trực tiếp về khối u nhức nhối này, và về sự mâu thuẫn giữa giới chức, giữa những người có quyền lực trong tay nhưng lại sợ trách nhiêm như Cảnh sát trưởng Bridges và những nhà hoạt động không quản ngại vất vả gian lao nhưng trong tay lại chẳng có lấy một gram thực quyền như Patricia Dumas. Tiến thêm một bước nữa, với sự cộng tác của nhà quay phim Chayse Irvin, Spike Lee còn sử dụng rất nhiều cảnh quay cận mặt mang đầy tính sắp đặt để nhấn mạnh hơn nữa thông điệp của bộ phim, để cảnh tỉnh khán giả về nạn phân biệt chủng tộc vẫn còn lan tràn ngay trong lòng nước Mỹ hiện đại, và từ đó kêu gọi họ suy ngẫm về tác hại lâu dài của KKK đối với xã hội nước Mỹ. Không suy ngẫm sao được khi BlacKkKlansman có một đoạn kết khác tông nhưng mang thông điệp chính trị mạnh mẽ hiếm có trong số các bộ phim điện ảnh của Hollywood năm 2018. 

Thành công tuyệt đối về mặt thông điệp chính trị và xã hội, nhưng xét trên khía cạnh một tác phẩm điện ảnh – bởi xét cho cùng BlacKkKlansman vẫn là một bộ phim điện ảnh với kịch bản do chính Spike Lee chắp bút cùng ba nhà biên kịch khác – thì tác phẩm mới nhất của đạo diễn người New York chưa hẳn đã vượt trội. Việc cán cân kịch bản nghiêng hẳn về khía cạnh chính trị - xã hội khiến BlacKkKlansman bỏ lỡ cơ hội trở thành một tác phẩm hấp dẫn trong dòng hình sự về “điệp viên tay trong” như The Departed (2006) của Martin Scorsese, và lôi cuốn khán giả nhờ chất hài châm biếm về đề tài phân biệt chủng tộc như Django Unchained (2012) của Quentin Tarantino. Tất nhiên, lựa chọn của Spike Lee – một đạo diễn luôn đề cao tinh thần “nhập thế” là hoàn toàn có thể hiểu được khi xét tới bối cảnh chính trị đầy nóng bỏng của nước Mỹ ở thời điểm hiện tại, nhưng việc bỏ lỡ bối cảnh đắt giá của BlacKkKlansman vốn cực kì thuận lợi cho dòng phim hình sự-hài đã biến tác phẩm mới nhất của Spike Lee mất đi phần nào sự hấp dẫn với một kịch bản không đồng đều về nhịp phim, một cốt truyện bị ngắt quãng và thiếu cao trào, và nhiều chi tiết không được khai thác một cách triệt để. Việc xây dựng nhân vật trong phim vì thế mà cũng bị ảnh hưởng phần nào, bởi nếu so với các bộ phim xuất sắc cùng đề tài xung đột sắc tộc như 12 Years a Slave (2013) của Steve McQueen hay Loving (2016) của Jeff Nichols thì BlacKkKlansman không thực sự có nhiều nhân vật đáng nhớ, bất chấp diễn xuất không tồi của John David Washington và đặc biệt là Adam Driver trong vai bộ đôi “Stallworth da đen” và “Stallworth da trắng”. Đây là một khía cạnh tương đối đáng tiếc của BlacKkKlansman không chỉ bởi cả Washington và Driver đều là những diễn viên tài năng, mà còn vì mảnh đất màu mỡ cho những nhân vật đáng nhớ đối với khán giả của BlacKkKlansman – đó là những xung đột về mặt tư tưởng, tinh thần, về định nghĩa thế nào là một người có ích của các nhân vật bị đặt trong bối cảnh đầy mâu thuẫn của một người da đen bị coi là đại diện cho quyền lực của người da trắng, của một người Do Thái phải làm bạn với những kẻ luôn phủ nhận nạn diệt chủng người Do Thái trong Thế chiến thứ hai là câu truyện không có thật. 

Trong một giai đoạn đầy biến động của xã hội nước Mỹ, khi bóng ma của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, của tư tưởng da trắng thượng đẳng từ những nhóm chuyên kích động hận thù bạo lực như KKK đang có nguy cơ quay trở lại ám ảnh nước Mỹ, thì những bộ phim với thông điệp chính trị mạnh mẽ như BlacKkKlansman là hết sức cần thiết. Tất nhiên, người xem sẽ còn cảm thấy hào hứng hơn nếu tác phẩm mới nhất của đạo diễn Spike Lee là một bộ phim xuất sắc của dòng phim hình sự-hài, nhưng đôi khi một cốc nước lạnh với không nhiều hương vị giải trí như BlacKkKlansman lại có hiệu quả hơn trong việc nhắc nhớ mọi người về việc dù Nội chiến Mỹ đã kết thúc cách đây hơn 150 năm, cuộc chiến chống tệ phân biệt chủng tộc vẫn còn hết sức nóng bỏng, và bình quyền cho những người da đen, cho những nhóm người thiểu số về sắc tộc, về tôn giáo ở nước Mỹ vẫn còn cần sự chung tay của tất cả chúng ta. 

mercredi 18 juillet 2018

Burning (2018)






Jong-su (Yoo Ah-in) yêu văn William Faulkner, thích học viết văn, và mang trong mình khao khát sáng tác một cuốn tiểu thuyết của riêng mình. Nhưng trong lúc chờ đợi những ý tưởng sáng tạo ào đến thì anh vẫn phải gồng mình làm những công việc chân tay để kiếm miếng ăn thường nhật và có điều kiện lo cho cái trang trại-chỉ-có-một-con-bò vùng biên giới của bố anh, người đã phải đi tù vì tấn công người thi hành công vụ. Ánh sáng chợt đến với cuộc đời u ám của Jong-su khi anh gặp lại cô bạn từ thuở thơ ấu Hae-mi (Jeon Jong-seo) – cô gái vốn cũng chẳng có nghề nghiệp ổn định nhưng luôn mơ ước được đi du lịch tới những mảnh đất xa xôi, nơi cô có thể ngắm hoàng hôn buông xuống giữa những người xa lạ. Vừa mới lục lại được những mảnh vụn kí ức về tình bạn với cô bé Hae-mi-của-quá-khứ ở vùng quê biên giới Paju, và nảy sinh tình cảm với cô gái xinh đẹp Hae-mi-của-hiện-tại chưa được bao lâu thì Jong-su đột nhiên trở thành người trông nhà và nuôi mèo bất đắc dĩ cho Hae-mi bởi cô đã quyết định lên đường sang châu Phi du lịch. Tưởng như ngày Hae-mi từ châu Phi trở về sẽ là ngày hạnh phúc của Jong-su thì anh lại bất đắc dĩ trở thành người thứ ba trong quan hệ tay ba của cô bạn gái cùng gã nhà giàu lạ mặt Ben (Steven Yeun). Giàu có, đẹp trai, lịch thiệp, Ben có tất cả những thứ mà Jong-su có mơ cũng khó lòng đạt được, nhưng gã cũng có một sở thích quái dị là đốt những nhà kính trồng cây ở các vùng quê – sở thích mà gã tiết lộ với Jong-su trong một lần phê “cỏ”. Và rồi Hae-mi đột nhiên biến mất, còn những nhà kính trồng cây ở vùng quê Jong-su dường như vẫn chưa hề bị sở thích quái đản của Ben động chạm tới. Dần dần Jong-su nhận ra rằng có lẽ đằng sau vẻ đẹp trai hào nhoáng, Ben còn có những góc khuất không muốn cho ai biết tới.
 
Burning là tác phẩm mới nhất của đạo diễn người Hàn Quốc Lee Chang-dong kể từ bộ phim xuất sắc về tuổi già và nỗi cô đơn Poetry (2010). Khoảng thời gian hơn 7 năm giữa BurningPoetry là khoảng lặng dài nhất trong sự nghiệp đạo diễn của Lee, bởi vậy người hâm mộ điện ảnh hoàn toàn có lý do để mong đợi sự tái xuất của ông – một cựu bộ trưởng của chính phủ cánh tả Hàn Quốc giai đoạn 2003-2004 từng bị đặt vào “danh sách đen” không được nhận tài trợ điện ảnh của chính quyền bảo thủ dưới thời tổng thống Hàn Quốc Park Geun-hye (2013-2017). Nhưng Burning còn được nhiều người hâm mộ văn học và điện ảnh đón đợi là vì kịch bản bộ phim này được Lee Chang-dong đồng sáng tác dựa trên truyện ngắn Barn Burning (Đốt nhà kho) của nhà văn nổi tiếng Haruki Murakami. Tuy đã có rất nhiều tác phẩm bán chạy ở tầm quốc tế và thường xuyên được nêu tên trong danh sách ứng cử viên nặng ký cho giải Nobel Văn học, nhưng giọng văn lãng đãng, đậm chất suy tư của nhà văn người Nhật khiến các tiểu thuyết và truyện ngắn của ông rất hiếm khi được chuyển thể lên màn ảnh lớn với chỉ một vài ngoại lệ như bộ phim Rừng Na Uy (2010) của đạo diễn người Pháp gốc Việt Trần Anh Hùng. Ra mắt độc giả lần đầu năm 1983 dưới dạng truyện ngắn đăng báo và sau đó được đăng lại trong tuyển tập truyện ngắn Con voi biến mất (The Elephant Vanishes), Barn Burning là câu truyện đậm chất huyền ảo, lãng đãng kiểu Murakami về mối quan hệ tay ba giữa một nhà văn đã có gia đình, một cô người mẫu yêu nghệ thuật kịch câm, và gã bạn trai giàu có với sở thích dị thường đốt nhà kho ở vùng nông thôn. Khi so với cốt truyện này của Barn Burning, kịch bản chuyển thể Burning của đạo diễn Lee Chang-dong có rất nhiều điểm khác biệt, không chỉ là bối cảnh được chuyển từ Nhật Bản sang Hàn Quốc, nhiều chi tiết hoàn toàn mới về mối quan hệ tay ba giữa các nhân vật chính, mà còn nằm ở cả cách mở đầu và kết thúc của tuyến truyện chính. Vì vậy có lẽ Burning chỉ nên được coi là bộ phim lấy cảm hứng từ truyện ngắn Barn Burning của Murakami với hơi thở cuộc sống gai góc kiểu Hàn Quốc và phong cách nghệ thuật rất riêng của Lee Chang-dong thay vì nỗ lực chuyển thể tối đa chất lãng mạn và triết lý Murakami lên màn ảnh lớn như cách Trần Anh Hùng đã từng làm đối với “Rừng Na Uy”.

Khi nhắc tới đất nước Hàn Quốc hẳn nhiều khán giả sẽ nghĩ tới những bài hát, những bộ phim tràn đầy cảnh đẹp thiên nhiên đến mê lòng hay những thành phố hiện đại náo nhiệt đại diện cho một quốc gia thịnh vượng hàng đầu thế giới. Nhưng lẩn khuất phía sau gương mặt phồn vinh, lạc quan đầy hào nhoáng ấy vẫn còn rất nhiều những số phận nghèo khổ vừa là nạn nhân của những biến cố lịch sử đất nước Hàn Quốc đã phải trải qua suốt hơn nửa thế kỷ qua, vừa bị bỏ lại phía sau trong một xã hội Hàn Quốc nơi khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng tới mức chóng mặt. Một trong những nghệ sĩ điện ảnh Hàn Quốc luôn trăn trở với những số phận buồn tủi ấy là Lee Chang-dong. Các bộ phim của ông như Green Fish (1997), Peppermint Candy (1999), hay Oasis (2002) vừa giới thiệu tới người xem một Hàn Quốc rất khác – một đất nước của những mùa đông dài tăm tối và lạnh lẽo, một đất nước vẫn còn hằn đầy những vết sẹo của chiến tranh, của chế độ độc tài kéo dài ba thập kỉ, và của hủ tục Nho giáo, một đất nước của rất nhiều những con người vẫn còn đang phải bươn chải để kiếm sống qua ngày. Đó cũng chính là bối cảnh của Burning, một bộ phim về sự tương phản đến cùng cực giữa một bên là giới thượng lưu thừa mứa của cải nhưng nghèo nàn về cảm xúc như Ben và những người bạn cùng chia sẻ cuộc sống phù phiếm với anh ta, và bên kia là những người dân lao động nghèo khó nhưng trong lòng luôn bùng cháy ngọn lửa khao khát được tận hưởng cuộc sống như Jong-su, như Hae-mi. Mối quan hệ hồn nhiên, chân thành giữa Jong-su và Hae-mi phần nào gợi nhớ đến hình ảnh của cặp đôi Jong-chan (Song Kang-ho) và Shin-ae (Jeon Do-yeon) trong tác phẩm của Lee Chang-dong từng gây tiếng vang rất lớn ở Liên hoan phim Cannes năm 2007 là Secret Sunshine. Tuy nhiên có lẽ đạo diễn họ Lee vẫn muốn giữ lại phần nào đó chất lãng mạn Murakami trong bộ phim mới nhất của ông, vì vậy có cảm giác ông vẫn muốn giữ lại chút gì đó bí ẩn mờ ảo cho bộ ba nhân vật của ông thay vì cách tiếp cận tỉ mỉ, đa diện mang đậm phong cách của chủ nghĩa hiện thực trong Peppermint Candy, Secret Sunshine, hay Poetry. Hướng đi có chút khác biệt này khiến cho Burning có được hương vị mới mẻ, nhẹ nhàng hơn so với các bộ phim trước đây của Lee Chang-dong, nhưng cũng lại làm giảm đi hiệu ứng cảm xúc đến từ những bi kịch đời thường của các nhân vật vốn là thế mạnh trong phong cách làm phim của đạo diễn người Hàn Quốc.

Bên cạnh chất hiện thực thấm đẫm, một trong những điểm nổi bật thường thấy trong các bộ phim của Lee Chang-dong là việc ông thường xuyên giúp các diễn viên của mình phát huy tối đa khả năng diễn xuất nhờ vào các kịch bản giàu kịch tính và cách đạo diễn họ Lee chú trọng đặc tả diễn biến cảm xúc của các nhân vật. Chính nhờ các tác phẩm của Lee Chang-dong mà các nữ diễn viên xuất sắc của Hàn Quốc như Moon So-ri (phim Oasis) và Jeon Do-yeon (Secret Sunshine) đã chứng tỏ được tên tuổi ở tầm quốc tế với các giải Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất tại Liên hoan phim Venice và Cannes. Khác với những nữ diễn viên gạo cội kể trên, vai Hae-mi mới là vai diễn đầu tiên trong sự nghiệp của Jeon Jong-seo - “nàng thơ” mới của Lee Chang-dong. Không phụ sự tin tưởng của đạo diễn họ Lee, nữ diễn viên 24 tuổi đã gây ấn tượng mạnh với khán giả không chỉ bởi vẻ đẹp sắc sảo, mà còn nhờ diễn xuất nhẹ nhàng nhưng không kém phần ma mị, lôi cuốn rất hợp với một nhân vật chợt đến, chợt đi trong lòng Jong-su và khán giả như Hae-mi. Thậm chí là khi so sánh với hai bạn diễn có nhiều kinh nghiệm và danh tiếng hơn cô rất nhiều là Yoo Ah-in và Steven Yeun, Jeon phần nào đó còn để lại nhiều ấn tượng hơn dù cô không có nhiều đất diễn bằng Yeun - ngôi sao của loạt phim truyền hình The Walking Dead và Yoo – một trong những nam diễn viên có tiếng của điện ảnh và truyền hình Hàn Quốc. Dù vậy thì khi so sánh với các nhân vật của Peppermint Candy, Oasis, Secret Sunshine, hay Poetry, cả bộ ba Hae-mi, Jong-su, và Ben đều khó có thể so sánh về ấn tượng lâu dài để lại trong lòng khán giả bất chấp việc Burning là tác phẩm dài nhất cho tới nay của Lee Chang-dong với thời lượng 148 phút.

Thật khó để nói Burning là một bộ phim chuyển thể thành công tinh thần văn học của Haruki Murakami. Về mặt cảm xúc, bộ phim mới này của đạo diễn Lee Chang-dong cũng chưa thể so sánh được với những những đỉnh cao trong sự nghiệp của ông như Peppermint Candy hay Oasis. Nhưng với những khán giả muốn được chứng kiến hình ảnh một đất nước Hàn Quốc lạnh lẽo vốn ít khi được đưa lên màn ảnh lớn, muốn được hiểu thêm về những gương mặt khác nhau của thế hệ trẻ ở quốc gia Đông Bắc Á, giàu sang nhưng trống hoác về tâm hồn có, nhiều mơ ước nhưng chẳng thể vượt qua rào cản xã hội có, nhưng phần lớn đều thấy cô độc giữa xã hội hiện đại, thì họ chắc chắn sẽ không cảm thấy phí hoài thời gian với Burning – một tác phẩm điện ảnh hay về đất nước và con người Hàn Quốc.

=====

dimanche 24 décembre 2017

Call Me by Your Name (2017)


Gia đình giáo sư khảo cổ gốc Do Thái Perlman (Michael Stuhlbarg) sở hữu một căn biệt thự tuyệt đẹp ở vùng đồng quê nước Ý, nơi ông nghiên cứu những di vật và phế tích của nền văn minh Hy Lạp-La Mã và tận hưởng cuộc sống an nhàn bên người vợ Annella (Amira Casar) và cậu con trai 17 tuổi Elio (Timothée Chalamet). Báu vật của ông bà Perlman – Elio là cậu nhóc mới lớn không chỉ được mọi người yêu quý vì tài năng âm nhạc, vì sở thích đọc sách đến mê mỏi, mà còn sở hữu vẻ đẹp mỏng manh, đầy chất nội tâm gợi nhớ đến những bức tượng thành hình dưới bàn tay của các nghệ nhân Hy Lạp thời cổ đại. Có lẽ tuổi mới lớn của Elio sẽ tiếp tục êm đềm và yên bình như những thị trấn cổ kính của nước Ý nếu không có sự xuất hiện giữa mùa hè Địa Trung Hải của Oliver (Armie Hammer), anh chàng sinh viên người Mỹ vạm vỡ, đẹp trai cũng mang trong mình dòng máu Do Thái. Được giáo sư Perlman mời tới biệt thự của ông để trợ giúp việc nghiên cứu, Oliver nhanh chóng gây ấn tượng và chiếm được tình cảm từ vợ chồng ông giáo sư, từ những cô bạn gái cũng đang tuổi mới lớn của Elio, và cuối cùng là từ chính Elio vì sự tự nhiên, chủ động đầy chất “Mỹ”. Một đang ở cái tuổi vô lo vô nghĩ, một đang đau đầu với những câu hỏi về sự nghiệp, về việc lập gia đình. Một sống nội tâm, khép kín, lãng đãng với những nốt nhạc, đoạn thơ, một trưởng thành, quảng giao, chủ động trong việc làm quen, thu hút cảm tình của mọi người. Một mang vẻ đẹp mềm mại có phần nữ tính của đàn ông Địa Trung Hải, một toát ra vẻ đàn ông mạnh mẽ gây ấn tượng từ cái nhìn đầu tiên đặc trưng cho xứ cờ hoa. Elio và Oliver dường như là hai mảnh ghép với hình dạng hoàn toàn khác nhau, nhưng trong mùa hè rực rỡ của nước Ý đầu thập niên 1980 ấy, họ lại chợt nhận ra rằng đó là hai mảnh ghép vừa khớp trong cuộc đời của mỗi người.

Người chắp bút chuyển thể tiểu thuyết Call Me by Your Name của nhà văn Mỹ André Aciman thành kịch bản điện ảnh là nhà làm phim 89 tuổi James Ivory – người đồng thời đảm nhiệm vai trò sản xuất của bộ phim. Với nhiều khán giả trẻ có lẽ cái tên James Ivory không thực sự gây nhiều ấn tượng, nhưng với người yêu điện ảnh giai đoạn thập niên 1980 và 1990 thì chắc chắn bộ ba Ismail Merchant - James Ivory - Ruth Prawer Jhabvala sẽ gợi nhớ cho họ nhiều kỉ niệm điện ảnh đáng nhớ. Là bởi bộ ba nhà sản xuất-đạo diễn-biên kịch này của hãng phim lừng danh một thủa Merchant Ivory Productions chính là tác giả của những bộ phim xuất sắc lấy đề tài tình cảm lãng mạn trong khung cảnh lịch sử như A Room with a View (1985), Howards End (1992), hay The Remains of the Day (1993). Lấy bối cảnh là miền đồng quê và những thị trấn châu Âu cổ kính, các sản phẩm điện ảnh của Merchant Ivory Productions thường lôi cuốn khán giả bằng truyện phim đầy cảm xúc, phảng phất hơi hướng hoài cổ, và các nhân vật dù hạnh phúc hay đau khổ vẫn luôn giữ được cốt cách thanh lịch. Merchant qua đời năm 2005, tám năm sau đó đến lượt nữ biên kịch Jhabvala, tưởng chừng chỉ một mình James Ivory vốn cũng đã ở cái tuổi gần đất xa trời sẽ chẳng thể tiếp tục phong cách rất đặc trưng của Merchant Ivory Productions. Bởi vậy, Call Me by Your Name quả thực là một bất ngờ thú vị cho giới mộ điệu điện ảnh nói chung, và cho những người từng yêu thích phim của hãng Merchant Ivory Productions nói riêng, khi tác phẩm do James Ivory chắp bút này đã lại một lần nữa khiến người xem phải mê đắm với không gian lãng mạn, hoài cổ của miền quê nước Ý đầu những năm 1980 và những nhân vật thanh lịch, phóng khoáng nhưng không kém phần sâu sắc. 

Gây ngạc nhiên trong việc lưu giữ hơi thở cổ kính, lịch lãm theo phong cách Merchant Ivory Productions, nhưng Call Me by Your Name vẫn giữ được sự tươi mới, đột phá trong cách xử lý đề tài truyền thống của điện ảnh – khao khát tình cảm trong tâm hồn mỗi người. Thành công này của Call Me by Your Name tất nhiên phần lớn xuất phát từ tài năng của đạo diễn bộ phim – nhà làm phim người Ý Luca Guadagnino. Đạo diễn Guadagnino coi Call Me by Your Name là tác phẩm mới nhất trong bộ ba phim mô tả mong muốn được yêu thương của mỗi người sau I Am Love (2010) và A Bigger Splash (2015). Tiếp nối thành công lớn về mặt nghệ thuật của I Am Love và A Bigger Splash trong việc đặc tả những con người đang mong mỏi được cho, và nhận tình cảm ẩn sâu trong tâm hồn họ, Call Me by Your Name đã đem đến cho người xem chân dung hết sức chân thật và cảm động của hai người trẻ đang ngập ngừng tìm đến với nhau với đầy khao khát tình yêu nhưng cũng ẩn giấu những lo sợ, rụt rè trước định kiến của xã hội, trước những hoài nghi có thể có từ chính những người thân thiết xung quanh họ. Không chỉ xuất sắc trong việc khắc hoạ cá tính, suy tư, tình cảm của Elio và Oliver, đạo diễn Guadagnino còn khiến người xem phải ngả mũ vì cách kể chuyện mộc mạc, hé lộ từng chi tiết trong tính cách nhân vật cùng tương tác giữa họ một cách chậm rãi nhưng vẫn đầy lôi cuốn và bất ngờ. Hơn thế nữa, tuy Call Me by Your Name là câu chuyện mối tình đầu của Elio với Oliver, nhưng đạo diễn người Ý không vì thế mà lãng quên những nhân vật phụ của phim – những người thân thiết của Elio và góp phần tạo nên tính cách, cuộc đời của chính cậu nhóc đang tuổi mới lớn này như ông bà Perlman hay cô bạn gái Marzia (Esther Garrel). Thậm chí nhân vật trung tâm của phân đoạn có lẽ là xuất sắc nhất, cảm động nhất, đi vào lòng người nhất của Call Me by Your Name – một bộ phim đầy ắp những phân đoạn cảm động lại được đạo diễn Guadagnino dành cho một trong số những nhân vật phụ ấy thay vì Elio hay Oliver. Góp phần vào hiệu quả cảm xúc của phim cũng phải kể tới sự đóng góp của nhà quay phim người Thái Lan Sayombhu Mukdeeprom – tác giả phần hình ảnh của bộ phim Thái từng giành giải Cành cọ vàng Uncle Boonmee Who Can Recall His Past Lives, và đặc biệt là của nhạc sĩ-ca sĩ Sufjan Stevens – người đã hỗ trợ Guadagnino thổi hơi thở hoài cổ, lãng đãng của thập niên 1970, 1980 vào Call Me by Your Name qua phần nhạc phim pha trộn giữa nhạc cổ điển và các bản nhạc đương đại. 

Sau thành công sớm qua vai diễn phụ trong The Social Network (2009), Armie Hammer được coi là một trong những tên tuổi triển vọng của điện ảnh Hollywood với tài năng diễn xuất được thừa nhận và vẻ ngoài đẹp trai hết sức ăn hình. Tuy vậy, suốt những năm sau đó Hammer luôn phải loay hoay tìm chỗ đứng cho mình với không nhiều vai diễn đáng nhớ và cả những thất bại lớn như vai diễn trong bộ phim thua lỗ kỉ lục The Lone Ranger (2013). Với vai diễn Oliver trong Call Me by Your Name, cuối cùng Armie Hammer đã lại có thể chinh phục khán giả và giới phê bình khó tính bằng diễn xuất đầy cảm xúc và đa diện, vừa mạnh mẽ, vừa rụt rè mong manh. Hammer xuất sắc, nhưng phát hiện mới Timothée Chalamet có lẽ còn gây ấn tượng nhiều hơn bằng một vai diễn với chiều sâu tâm hồn đáng nể với biến hoá cảm xúc khó lường đúng với hình tượng của một cậu nhóc 17 tuổi. Chứng kiến diễn xuất phóng khoáng nhưng cũng đầy ẩn ức của Chalamet trong vai Elio, chắc chắn nhiều khán giả sẽ tìm thấy một phần nào đó của chính họ khi ở vào độ tuổi ẩm ương như cậu thiếu niên đẹp trai giữa mùa hè nước Ý. Và tất nhiên, sau khi xem xong Call Me by Your Name, khán giả sẽ chẳng thể quên được hai gương mặt ấm áp, nồng hậu của Michael Stuhlbarg và Amira Casar trong vai bố mẹ của Elio. Với riêng diễn viên tài năng Stuhlbarg, có lẽ là không ngoa khi cho rằng đây là diễn xuất ấn tượng nhất của anh kể từ A Serious Man (2009) – vai diễn từng đem lại nhiều giải thưởng và đề cử cho nam diễn viên có đôi mắt hút hồn người xem này.

Việc khắc hoạ những mối tình đồng tính trên màn ảnh lớn luôn ít nhiều khiến khán giả phải xì xào, đặc biệt là khi một nửa của mối tình ấy lại chỉ là một cậu nhóc mới lớn còn chưa bước qua ngưỡng vị thành niên như Elio. Vì vậy, thật ngạc nhiên khi Call Me by Your Name lại chẳng khiến người xem cảm thấy phải băn khoăn, suy nghĩ vì những cung bậc cảm xúc của hai nhân vật nam chính được lột tả hết sức chân thực xuyên suốt bộ phim. Có lẽ thành công này xuất phát từ cách kể chuyện nhẹ nhàng, dung dị của đạo diễn Guadagnino và biên kịch Ivory, hoặc từ diễn xuất có hồn của Hammer và Chalamet. Nhưng có lẽ sự lôi cuốn của phim còn xuất phát từ một lý do đơn giản hơn thế, đó là vì thông điệp phổ quát nhưng cũng lại dễ đi vào lòng người của bộ phim – người ta chỉ sống một lần trên đời, bởi vậy hãy dành tuổi trẻ để yêu và sống hết mình trước khi thời khắc ấy trôi qua và mãi mãi không trở lại. Với thông điệp đầy ý nghĩa ấy, dù chưa chắc có thể chiến thắng tại các giải thưởng lớn, nhưng chắc chắn Call Me by Your Name sẽ được coi là một trong những tác phẩm điện ảnh đáng nhớ nhất của năm 2017.

===