some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

mercredi 25 août 2010

Rest in peace, Kon-sensei


- Perfect Blue
- Millennium Actress
- Tokyo Godfathers
- Paranoia Agent
- Paprika

No one will ever forget you, Kon-sensei!

mercredi 11 août 2010

Vô gián đạo hay Inception phiên bản Hồng Kông

(Bắt chước bài của chú Quang)


Phân vai:


* Lương Triều Vỹ vai Đoạt Mộng, một chuyên gia trong lĩnh vực đột nhập giấc mơ để ăn cắp ý tưởng của người khác. Tuy đạt tới vị trí "minh chủ" trong nghề nhưng không rõ tại sao Đoạt Mộng phải lang thang khắp xứ trong nỗi tưởng nhớ người vợ Linh và hai đứa con thương yêu nơi quê nhà.


* Ngô Ngạn Tổ vai Trọng, trợ tá của Đoạt Mộng, người được Đoạt Mộng tin tưởng giao nhiệm vụ nghiên cứu đối tượng trong mọi phi vụ nhờ đức tính cẩn trọng đúng như cái tên của anh.


* Trần Đạo Minh vai Trí, phú gia Đại lục trong ngành bất động sản, người nhờ Đoạt Mộng thực hiện phi vụ khó khăn lần này để mở rộng cơ hội kinh doanh tại Hồng Kông.


* Trương Tịnh Sơ (hoặc Lâm Gia Hân) vai Minh, thần đồng trong kiến tạo không gian mộng ảo. Minh là đệ tử của Giáo Sư, bố vợ Đoạt Mộng và là sư phụ, người giúp Đoạt Mộng có được vị trí ngày nay. Tuy chưa có chút kinh nghiệm "trong nghề" nào nhưng ngay ở những thử thách đầu tiên do Đoạt Mộng đặt ra, Minh đã chứng tỏ mình là người xứng đáng có mặt trong phi vụ lần này (người hợp nhất cho một vai thông minh dạng này là Từ Tịnh Lôi, tiếc là Từ đã hơi quá tuổi).


* Lưu Thanh Vân vai Ngụy, chuyên gia lừa đảo trong mơ thượng thặng với đủ các kĩ năng như giả trang, khởi tạo ý tưởng. Ngụy cũng tỏ ra là người sành sỏi nhất của nhóm khi mà Đoạt Mộng luôn bị Linh ám ảnh, Trọng quá cẩn thận trong hành động còn Minh quá trẻ và thiếu kinh nghiệm.


* Hoàng Thu Sinh vai Giả Kim, người tạo ra thứ mê dược giúp duy trì giấc mơ tới tầng thứ 3.


* Trương Mạn Ngọc vai Linh, người vợ Đoạt Mộng hết sức yêu thương nhưng đã qua đời vì một lý do bí ẩn. Tuy đã mất nhưng hình bóng của Linh vẫn phảng phất trong các giấc mơ của Đoạt Mộng khiến anh không thể tập trung toàn tâm toàn ý cho công việc.


* Cổ Thiên Lạc vai Công Tử, đối tượng trong phi vụ lần này của nhóm Đoạt Mộng. Lão Gia (Tần Phái) chết đi bỏ lại cho Công Tử một đế chế xây dựng khổng lồ và là mục tiêu thèm muốn của mọi đối thủ kinh doanh.


* Tần Phái vai Lão Gia, bố của Công Tử và là người luôn tỏ ra khắt khe với con trai cho đến tận lúc mất.


* Lương Gia Huy vai Cố Vấn, trợ tá của Lão Gia và là bố nuôi của Công Tử.


* Ngô Trấn Vũ vai Hùng, chuyên gia kiến tạo không gian từng cộng tác với Đoạt Mộng nhưng nay bị thay thế bằng Minh bởi anh quá nóng tính, thiếu bình tĩnh trong công việc.


* Vương Thực Kỳ vai Giáo Sư, bố vợ Đoạt Mộng (rất khó giao vai này vì thực sự hệ thống ngôi sao của Hồng Kông khiến cho những vai the old wise guy ít có đất diễn và ít có người diễn).

Để Vô gián đạo (hoặc Định mộng) ăn khách thì đội ngũ làm phim được đề nghị là: Đạo diễn Đỗ Kỳ Phong, biên kịch chuyển thể Vi Gia Huy, quay phim Lưu Vỹ Cường, nhạc phim Taro Iwashiro, chỉ đạo hành động Hồng Kim Bảo-Chân Tử Đan.
Để phim được tham gia LHP Cannes và hy vọng có giải thì đội ngũ làm phim được đề nghị là: Đạo diễn kiêm biên kịch Vương Gia Vệ, quay phim Christopher Doyle, nhạc phim Shigeru Umebayashi, chỉ đạo hành động Viên Hòa Bình.

Hiệu sách cũ tại Hà Nội


Các hiệu sách cũ tại Hà Nội:
* 117 Bạch Mai: Quán bé, sách không nhiều, phố đông nên chỗ để xe khá khó khăn.

* 106/A11 Tôn Thất Tùng

* 46 Nguyễn Ngọc Nại

* 822 đường Láng: Ưu điểm là cực kì nhiều sách nhưng chủ hàng quát giá khá "chát" so với các hàng khác. Nhưng hiệu sách thì ... phải nhiều sách nên đây vẫn xứng đáng là lựa chọn số 1 cho người yêu sách Hà Nội.

* 344 Thụy Khuê: Quán này ít sách nhưng ưu điểm là ở phố vắng, không xô bồ chen lấn, chỗ để xe rộng, cô bán hàng dễ chịu.

* 102 Mai Dịch

* 279 Trần Quốc Hoàn

* 3 Minh Khai

vendredi 6 août 2010

In limbo with Inception (Part 2)


(Spoiled - Spoiled - Spoiled!!!)

Hình trên (click vào hình để phóng to) là một minh họa tuyệt vời cho nội dung của Inception, nó chứng tỏ phim cũng không đến nỗi quá khó hiểu "kiểu (David) Lynch" nhưng cũng không dễ hiểu đại chúng như The Dark Knight. Hình được dùng để mô tả nội dung phim là Cầu thang Penrose, một dạng cầu thang ảo giác mang tính đánh lừa và nó cũng là nguyên lý tạo "thế giới ảo" trong giấc mơ của các "The Architect"

======
Không có thời gian và cũng chưa thể nghĩ ra một cái review tử tế cho Inception, tôi đành dịch qua bài review của Roger Ebert về phim này, Ebert là nhà phê bình phim được kính trọng bậc nhất ở Hollywood, bản thân tôi cũng rất thích ông vì cách dùng từ sáng tạo, thông minh và giàu tình cảm của người đàn ông không hàm (theo nghĩa đen) này.

Người ta nói rằng Christopher Nolan đã dành tới 10 năm để viết kịch bản cho Inception. Hẳn quá trình đó phải đòi hỏi sự tập trung cao độ, giống như việc một người vừa chơi cờ mù vừa đi thăng bằng trên sợi dây cáp mảnh. Nhân vật chính của phim thử tài năng một kiến trúc sư trẻ tuổi bằng cách thách thức cô gái sáng tạo ra một mê cung, còn Nolan cũng thử thách chúng ta với cái mê cung kì ảo của chính ông ấy. Người xem phải tin rằng Nolan có thể dẫn chúng ta đi qua nó, bởi vì phần lớn thời gian ta bị lạc lối và mất phương hướng trong mê cung. Có lẽ Nolan đã phải viết đi viết lại nhiều lần kịch bản này khi ông phát hiện ra rằng mọi thay đổi đều tác động đến suốt cả tác phẩm.

Câu chuyện của Inception có thể được kể lại trong vài câu, hoặc không tìm nổi cách nào để diễn giải. Đây là một bộ phim miễn nhiễm với chuyện tiết lộ nội dung trước: Nếu bạn biết nó kết thúc thế nào, điều đó sẽ chẳng nói lên điều gì trừ khi bạn biết làm thế nào để bộ phim đi tới đó. Và tường thuật lại cho bạn làm thế nào để phim đi tới phần kết là cực kì khó khăn. Bộ phim này thực chất là một quá trình, quá trình tìm đường đi qua những lớp lang lồng nhau của thực tại và mộng ảo, thực tại bên trong mộng ảo, mộng ảo không có thực tại. Đó là một quá trình chông chênh đến nghẹt thở, và có thể Nolan đã coi bộ phim Memento (2000) của ông như một màn khởi động cho tác phẩm này; rõ ràng Nolan đã bắt đầu viết kịch bản của Inception khi đang quay Memento. Đó là câu chuyện của một người đàn ông với chứng mất trí nhớ ngắn hạn, và nó được kể ngược với trình tự thời gian.

Giống như nhân vật chính của phim đó, khán giả của Inception bị thả trôi trong thời gian và trải nghiệm. Chúng ta chẳng bao giờ có thể tương đối chắc chắn xem mối quan hệ giữa thời gian thực tại và thời gian mộng ảo là thế nào. Nhân vật chính của phim giải thích rằng ta không bao giờ có thể nhớ được điểm khởi đầu của một giấc mơ, và rằng giấc mơ dường như kéo dài nhiều giờ trong khi thực tế nó chỉ diễn ra rất ngắn. Đúng như vậy, nhưng bạn không biết rằng lúc nào là bạn đang mơ. Và chuyện gì sẽ xảy ra nếu bạn ở trong giấc mơ của một người khác? Làm thế nào để thời gian mộng ảo của bạn đồng bộ được với họ? Làm thế nào để bạn thực sự biết?

Cobb (Leonardo DiCaprio) là một chuyên gia đột nhập thượng thặng. Anh ta đột nhập vào trí óc của người khác để ăn cắp những ý tưởng của họ. Bây giờ anh ta được một tỷ phú đầy quyền lực thuê để thực hiện việc ngược lại: Cấy một ý tưởng vào trí óc địch thủ của ông ta, và làm nó hoàn hảo tới mức người này tin rằng đó chính là ý tưởng của anh ta. Chưa ai từng thực hiện thành công việc này trước đó; trí óc của chúng ta luôn cảnh giác với những ý tưởng ngoại lai chẳng khác nào hệ miễn dịch cảnh giác với các mầm bệnh. Nhà tỷ phú giàu có tên Saito (Ken Watanabe) đưa ra một đề nghị mà Cobb không thể chối từ, một đề nghị có thể giúp Cobb chấm dứt chuỗi ngày phải lưu vong khỏi quê nhà và gia đình.

Cobb tập hợp một nhóm chuyên gia, và ở đây bộ phim dựa vào những thủ tục đã có từ lâu trong mọi bộ phim trộm cắp. Người xem được gặp những thành viên trong nhóm sẽ làm việc với Cobb: Arthur (Joseph Gordon-Levitt), cộng sự lâu năm của Cobb; Eames (Tom Hardy), một bậc thầy của nghệ thuật lường gạt; Yusuf (Dileep Rao), một chuyên gia hóa chất. Và đây là thành viên mới của nhóm: Ariadne (Ellen Page), một nữ kiến trúc sư trẻ tuổi tài năng và là một thần đồng trong việc kiến tạo không gian. Cobb còn tới trao đổi với ông bố vợ Miles (Michael Caine), người biết những việc Cobb đang thực hiện và làm cách nào để anh ta tiến hành được chúng. Giờ đây thì Michael Caine chỉ cần xuất hiện trên màn hình là khán giả đã mặc định rằng ông uyên bác hơn tất cả các nhân vật khác. Đó là một khả năng trời phú.

Nhưng đợi đã. Tại sao Cobb lại cần một kiến trúc sư để kiến tạo không gian trong giấc mơ? Anh giải thích cho cô gái. Ta đều biết giấc mơ là những kiến trúc động, nơi ta dường như có cách để di chuyển chúng. Công việc của Cobb là "khởi nguyên" một ý tưởng mới trong trí óc một tỷ phú trẻ khác, Robert Fischer Jr. (Cillian Murphy), người thừa kế đế chế của bố anh ta. Saito muốn Cobb cấy những ý tưởng có thể khiến tập đoàn đối thủ của ông ta phải đi tới chỗ đầu hàng. Cobb cần Ariadne tạo ra một không gian-mê cung dối lừa trong giấc mơ của Fischer sao cho (theo ý tôi) những ý tưởng mới có thể tuồn vào mà không bị phát hiện. Có phải trùng hợp hay không khi mà Ariadne chính là tên của người phụ nữ trong Thần thoại Hy Lạp đã giúp Theseus thoát khỏi mê cung của Minotaur?

Cobb hướng dẫn cho Ariadne về thế giới của những kẻ đột nhập giấc mơ, nghệ thuật điều khiển giấc mơ và lái chúng theo ý mình. Phần này còn được Nolan sử dụng như một trường đoạn hướng dẫn cho chính khán giả về giấc mơ. Và đây cũng là nơi để bộ phim bộc lộ một số kỹ xảo đặc biệt đến kinh ngạc vốn có vẻ vô nghĩa trong trailer giới thiệu nhưng nay trở nên cực kì hợp lý. Kĩ xảo ấn tượng nhất, theo tôi, là ở trường đoạn tại (hoặc có vẻ là tại) Paris khi cả thành phố uốn lại, theo đúng nghĩa đen, như một tấm vải.

Bảo vệ Fischer là một nhóm vệ sĩ súng ống đầy mình, họ có lẽ đang làm việc như là những kháng thể về mặt tinh thần, họ vừa mang vẻ chân thực lại vừa có tính ẩn dụ cao, nhưng dù họ có là ai thì nhóm vệ sĩ này cũng gây ra rất nhiều cuộc đọ súng dữ dội, các pha truy đuổi và những vụ nổ, đúng như cái cách các bộ phim hiện đại mô tả xung đột. Nolan tài tình tới mức ông ấy khiến tôi thực sự bị cuốn theo một trong các cuộc truy đuổi, trong khi tôi nghĩ rằng mình đã tương đối miễn nhiễm với những cảnh đã trở thành tiêu chuẩn như vậy. Lý do là vì tôi quan tâm tới cả kẻ truy đuổi và cả người bị truy đổi.

Nếu bạn từng xem bất kì một quảng cáo nào về bộ phim này, bạn biết rằng kiến trúc của nó có cách bỏ qua trọng lực. Những tòa nhà nghiêng ngả. Những con đường cuộn lại. Những nhân vật bay lơ lửng. Tất cả được giải thích qua câu chuyện kể. Bộ phim này là một mê cung phức tạp không hề chứa một đường thẳng đơn giản nào xuyên xuốt nó, chắc chắn nó sẽ tạo cảm hứng cho những cuộc phân tích bất tận trên mạng.

Nolan giúp chúng ta bằng một tuyến tình cảm đồng nhất. Lý do khiến Cobb vì công việc mà liều lĩnh với những nguy hiểm của sự khởi nguyên là vì anh chất chứa trong lòng nỗi đau khổ và tội lỗi liên quan đến người vợ Mal (Marion Cotillard) và hai đứa con của họ. Tôi sẽ không (hoặc chẳng thể) nói nhiều hơn. Cotillard đã hóa thân tinh tế vào vai người vợ theo một cách lý tưởng hóa. Thật khó nói là khán giả đang chứng kiến kí ức của Cobb hay giấc mơ của anh ta cho đến, nói theo nghĩa đen) tận cảnh quay cuối cùng. Nhưng cô ta làm Cobb trục trặc trong công việc như tác dụng của một nam chân tình cảm, và tình yêu giữa hai bên đã tạo ra một hằng số tinh thần trong thế giới của Cobb, mà nếu thiếu nó thế giới sẽ dịch chuyển không ngừng nghỉ.

"Inception" hiện ra với người xem như cái cách bản thân thế giới tồn tại với Leonard, nhân vật chính của "Memento." Chúng ta luôn luôn ở trong Thực Tại. Chúng ta ghi chép vài thứ khi đến Nơi Đây nhưng lại chẳng rõ Nơi Đây là ở đâu. Mặc dù thế nó vẫn liên quan tới những vấn đề của sự sống, cái chết và trái tim, à, và tất nhiên của cả những tập đoàn liên quốc gia. Và Nolan không ngừng nghỉ trước khi sử dụng những cảnh phim được chuẩn bị tỉ mỉ từ máy bay trinh thám hay gián điệp, gồm cả một âm mưu tinh tế trên khoang một chiếc 747 (và thậm chí giải thích tại sao đó phải là một chiếc 747).

Ngày nay phim ảnh dường như rất hay đến từ thùng tái chế: Phần tiếp theo; phim làm lại; thương hiệu. "Inception" đã làm được một điều rất khó khăn, đó là nó hoàn toàn nguyên gốc như được cắt ra từ một tấm vải mới, và mặc dù vậy vẫn được cấu trúc theo những cơ sở của phim hành động khiến người xem cảm giác như nó (rất có thể) có ý nghĩa hơn là những gì do chính nó mang lại. Tôi từng nghĩ rằng có một lỗ hổng trong "Memento:" Làm thế nào một người đàn ông bị mất trí nhớ ngắn hạn lại nhớ được rằng anh ta bị bệnh mất trí nhớ ngắn hạn? Có lẽ "Inception" cũng có lỗ hổng, nhưng tôi chưa thể tìm ra nó. Christopher Nolan đã tái tạo lại loạt phim "Batman." Lần này ông ấy chẳng tái tạo ra cái gì. Mặc dù thế tôi nghĩ rằng sẽ có vài đạo diễn định tái chế "Inception". Tôi nghĩ rằng khi Nolan để lại cái mê cung này, ông ấy đã vứt mất cái bản đồ của nó.

jeudi 29 juillet 2010

In limbo with Inception (Part 1)


Một vài suy nghĩ vụn vặt sau khi xem Inception:
* Xem trailer đã mường tượng về một Shutter Island thứ hai của Leo trong năm 2010, kết quả thì đúng là một bộ phim có nhiều nét tương đồng, vẫn là một Leo đi tìm cái bản ngã của mình trong tình cảm đớn đau, khắc khoải với người vợ, với những đứa con lẩn khuất đâu đây trong sương mù. Phần kết của cả hai đều rất mở, gợi rất nhiều suy nghĩ (tuy phần kết của Marty khó xác định hơn - theo đúng "kết kiểu Scorsese"). Tuy nhiên Inception hay hơn Shutter Island rất nhiều lần, rất nhiều lần.
* Tôi thích vô cùng cái cách Nolan khai thác ý niệm về giấc mơ, về vô thức của con người trong phim. Bởi một người-chưa-bao-giờ-ngủ-không-mơ như tôi cảm nhận được rất rõ sự miên man của giấc mơ, cái cảm giác không biết bắt đầu từ đâu mà kết thúc lại rất bất chợt, cái cảm giác chới với về thang đo thời gian trong mơ khi mà chỉ nửa tiếng mơ thôi là đủ để người ta "sống" cả ngày, thậm chí là nhiều ngày, nhiều năm trong giấc mơ ấy. Ai từng đọc khoa học về giấc mơ đều hiểu rằng thực ra giấc mơ là sự tổng hợp của những hình ảnh kí ức bởi sự dắt lối của những ý tưởng, suy nghĩ ẩn sâu trong tiềm thức. Tất cả đều được Nolan khai thác vô cùng khôn khéo, tài tình trong Inception, ví dụ một chi tiết đơn giản là cây cầu Bir-Hakeim ở Paris, một cây cầu tôi từng đi qua đi lại rất nhiều lần, lại hiện ra trong Inception bằng rất nhiều cách khác nhau, từ cây cầu có thực nơi Mal và Dom dạo chơi ngày còn hạnh phúc, tới cây cầu ảo ảnh do sức sáng tạo siêu phàm của "The Architect" Ellen Page (một lần nữa Page chứng tỏ là không sớm thì muộn cô cũng sẽ trở thành đầu tầu của dàn diễn viên nữ Hollywood) và cuối cùng là những hàng cột bê tông khổng lồ lạnh lẽo do vô thức của Dom tạo ra trong cái limbo của mình. Nói thêm một chút là "The Architect" có tên là Ariadne, trong Thần thoại Hy Lạp thì Ariadne chính là thiếu nữ đã giúp người anh hùng Theseus vượt ra khỏi mê cung Minotaur ở Knossos.
* Đây là bộ phim không nhiều kĩ xảo như The Dark Knight, một số đoạn thậm chí còn trông giống hệt Golden Eye trước đây, nhưng Inception vẫn khiến khán giả phải ngừng thở vì những pha kĩ xảo sáng tạo đến khó tưởng tượng nổi của Nolan. Nhóm bạn của tôi khi xem đoạn "in limbo" của Arthur đều phải há hốc mồm và nín thở cho tới hết trường đoạn đó để rồi phải đồng thanh ca ngợi tài năng siêu việt của Nolan.
* In limbo: Quang Hisashi là người dịch phim này cho Megastar, em đã phải lao tâm khổ tứ rất nhiều để tìm từ dịch cho chuẩn cụm in limbo của anh Nolan. Cuối cùng hôm nay ra rạp thì thấy Quang dịch thành viễn thức, một cụm từ theo tôi là nghe rất hay, kêu, nhưng hơi khó hiểu. In limbo có nhiều nghĩa, từ trạng thái lửng lơ không trọng lượng (như trong giấc mơ của Arthur), tình trạng bế tắc, không có lối thoát-bắt nguồn từ Thiên Chúa giáo dùng để chỉ khoảng không vô tận giữa Thiên đường và Địa ngục nơi các linh hồn tạm (nhưng cũng có thể là vĩnh viễn) trú chân trước khi được phán xét lên Thiên đường hay xuống Địa ngục, in limbo còn có nghĩa hiện đại dùng để chỉ một điệu nhảy. In limbo ở trong Inception dùng để chỉ "tầng" vô thức mà khi con người rơi xuống đó thì họ không còn nhận biết được đâu là thực, đâu là mơ và mãi mãi (hoặc gần như mãi mãi) không thể thoát ra khỏi đó. Vì thế tôi bỗng nghĩ đến một từ quen thuộc - Vô gián đạo - con đường vô tận không thể luân hồi trong Phật giáo, nơi đó con người phải chịu đựng cuộc sống lặp đi lặp lại mà không biết tới ngày được giải thoát, được luân hồi, Vô gián đạo chính là tên gốc và là tên chuẩn của Vô gian đạo, dù Vô gian đạo nghe cũng hay nhưng không thể phản ánh đúng hết ý nghĩa của bộ phim. Theo tôi dịch In limbo thành Vô gián đạo hoặc tầng vô gián là hay hơn và dễ hiểu hơn chút xíu, tất nhiên tôi vẫn rất thích cách Quang dịch phim này, chuẩn, hay ("luôn và ngay"-một cụm từ rất mới và rất trẻ) và nhất là dễ hiểu với phần đông công chúng. Nhân tiện tôi cũng không thích lắm cách dịch Inception thành Sự khởi đầu, nghe nó hơi "nôm" so với các dùng từ trong phim, nếu là tôi tôi sẽ dùng từ Khởi nguyên, ngắn hơn chút và nghe nhã như cách dùng từ trong bản dịch.
* Dù Inception rất "mới" và có thể coi là một đỉnh cao (mới) của Nolan, tôi vẫn thấy đây đó những hình ảnh lặp lại các bộ phim trước kia của đạo diễn này: Cảnh quay trong nước và đồng bộ hóa đồng hồ là tương tự The Prestige, mô-típ của nhân vật Dom rất giống với nhân vật chính của Guy Pierce đóng trong Memento, còn các đoạn hành động, đặc biệt là đoạn tàu hỏa đi giữa đường phố rất giống The Dark Knight, chưa kể cái gam màu tối, hành động mạnh và ... trời mưa vẫn làm Inception mang hơi hướng gì đó của những bộ phim trước kia của Nolan, đó là còn chưa kể cảnh phim bờ biển ở Tầng thứ 4 trông rất giống phim Daywatch của Nga (cảnh xe tải lộn ngửa trong The Dark Knight cũng gần như chỉ là quay lại cảnh tương ứng trong Nightwatch (cũng của Nga).
* Về diễn viên, theo tôi đây thực sự là điểm yếu của Inception, Leo tuy tiếp tục chọn được một phim rất tốt và diễn không hề tồi nhưng anh lại sai lầm khi chỉ trong một năm ngắn ngủi đã tham gia 2 vai liền gần như hoàn toàn tương tự nhau và không hề chứng tỏ được anh đã "lớn" hơn vai diễn tuyệt vời dạng này trong Blood Diamond. Vai xuất sắc nhất từ trước đến giờ của Leo theo tôi vẫn là Howard Hughes trong The Aviator, nếu không thể vượt ra khỏi chặng đường hiện tại, tôi e là khó lòng Leo có thể đoạt Oscar cho xứng đáng với vị thế siêu sao Hollywood của mình. Các vai khác trong phim cũng không thực sự nổi bật, vai "The Chemist" chưa đủ độ "quái" (exotic) của một nhà khoa học Đông phương, vai "The Point Man" được giao cho Joseph Gordon-Levitt quá hiền lành và mảnh mai (dù vai này có đất diễn vào loại nhiều nhất phim với cảnh in limbo cực kì ấn tượng), "The Forger" và "The Tourist" cũng rơi vào tình trạng mờ nhạt (Ken Watanabe nói tiếng Anh hơi tồi). Ba vai ấn tượng nhất với tôi trong phim là "The Architect" của Ellen Page, Mal "The Shade" của Marion Cotillard và Robert Fischer "The Mark" của Cilian Murphy. Page có lối diễn rất thông minh, biết cách dùng sự sắc sảo để bù đắp cho nhược điểm lớn về chiều cao và nhan sắc rất phù hợp với một "The Architect" thứ thật (tôi rất hy vọng Page sẽ được chọn vào vai Lisbeth Salander trong phiên bản Hollywood của bộ ba Millennium, ngay từ khi đọc truyện tôi đã thấy không ai có thể thích hợp hơn cho vai này ngoài Page). Cotillard mặc dù thiếu đất diễn nhưng lại biết cách tận dụng tối đa vẻ đẹp bí ẩn của cô để làm "cái bóng" Mal trở nên ám ảnh pha chút gì đó rùng rợn với không chỉ Dom mà với cả người xem, mong là Cotillard sẽ sớm có những vai "được diễn" hơn thay vì quanh đi quẩn lại những vai (gần) bình hoa di động trong các blockbuster như giai đoạn hiện tại. Mặc dù Cilian Murphy từng được Nolan chọn cho phim Batman Begins nhưng phải tới vai này tôi mới thấy cặp mắt xanh ngắt của Murphy được tận dụng tối đa, "The Mark" hầu như chỉ (cần) diễn bằng mắt và Murphy đã hoàn thành xuất sắc công việc của mình, đặc biệt là trong trường đoạn mở được két sắt chứa bí mật của ông bố (đúng hơn là bí mật do "The Forger" cấy vào giấc mơ tầng thứ 3! của "The Mark").
* Nhạc phim của Hans Zimmer phải nói là quá xuất sắc, cực kì phù hợp với nhịp độ dồn dập của phim xong lại có những khoảng lặng cần thiết để khán giả chợt nhận ra đâu là thật, đâu là mơ trong đầu các nhân vật trên phim. Tôi vẫn chưa hiểu ý đồ của Nolan trong việc sử dụng "kick" là bài Non je ne regrette rien (Không, tôi chẳng tiếc nuối điều gì) của Edith Piaf, nhưng có trùng hợp khá thú vị là nhờ vai Edith Piaf mà Cotillard đã được Oscar, một Oscar cực kì xứng đáng.
* Inception làm tôi muốn xem lại Nightmare Detective, một bộ phim cực kì sáng tạo của Nhật về những giấc mơ và những "thám tử giấc mơ". Một phim Nhật khác cũng cực kì đáng xem về đề tài này là Paprika của Satoshi Kon.

dimanche 27 juin 2010

20 films for our fathers

Nhân dịp ngày của cha.


01. Ikiru (Akira Kurosawa, IMDb: 8.2, Trailer)
- Nói tới Akira Kurosawa người ta thường nghĩ ngay tới những tác phẩm dữ dội, bạo liệt kinh điển như Seven Samurai hay Rashomon mà đôi khi quên mất rằng ông còn để cho đời một nốt trầm sâu lắng nhưng vững bền qua năm tháng là Ikiru. Bộ phim nói về một người cha kiểu Nhật đúng nghĩa - người hy sinh tất cả cho con cái tới mức quên đi rằng bản thân ông vẫn có một cuộc đời riêng, vẫn cần được
sống chứ không chỉ đơn thuần là tồn tại. "Mình đã hy sinh điều gì cho người đã hy sinh cả cuộc đời vì mình?", đó có lẽ sẽ là câu hỏi của nhiều người làm con sau khi xem Ikiru.


02. My Neighbour Totoro (Hayao Miyazaki, IMDb: 8.1, Trailer)
- Bộ phim đáng yêu nhất trong sự nghiệp của Miyazaki - My Neighbour Totoro xoay quanh cuộc sống của ba cha con trong sự thiếu vắng bóng hình của người mẹ vốn đang phải nằm viện. Tràn ngập những hình ảnh dễ thương của chú yêu quái "tốt bụng" Totoro, con mèo-xe bus và đặc biệt là tình cảm ấm áp của cha dành cho con gái, của con gái dành cho mẹ, bộ phim như một lời nhắc nhở rằng "
Chẳng nơi đâu dễ chịu và bình yên như ở giữa gia đình (và ... trên bụng chú Totoro)".


03. Sympathy for Mr. Vengeance (Park Chan-wook, IMDb: 7.8, Trailer)
- Là tác phẩm mở đầu của bộ ba "
trả thù", Sympathy for Mr. Vengeance là bức tranh u tối, đau đớn về một thứ tưởng chừng luôn tốt đẹp và trong sáng - tình phụ tử. Để trả thù cho đứa con bị bắt cóc, người cha sẵn sàng làm mọi việc, vượt qua mọi giới hạn, vứt bỏ lòng cảm thông, tất cả chỉ vì đứa con yêu quý.


04. In the Name of the Father (Jim Sheridan, IMDb: 8.0, Trailer)
- Tù tội là môi trường để con người bộc lộ những gì xấu xa nhất, nhưng với In the Name of the Father, tù tội lại là nơi để người ta khai quật nên những gì lấp lánh nhất, tinh túy nhất của tình cảm con người. Chỉ xem bộ phim này thôi người ta cũng sẽ hiểu được sức mạnh tinh thần của tình cha con lớn tới nhường nào.


05. Looking for Eric (Ken Loach, IMDb: 7.3, Trailer)
- Ken Loach là "ông vua" của những bộ phim giản dị, các tác phẩm của ông thường xoay quanh cuộc đời, tình cảm của những con người hết sức bình thường và nhỏ bé trong xã hội. Nhưng dù "bình thường" đến đâu thì tình cảm cha con trong họ vẫn có nét gì đó hết sức đặc biệt, trong Looking for Eric, khán giả được chứng kiến tình yêu mộc mạc của Eric, một nhân viên bưu tá nghèo ở ngoại ô Manchester, với hai đứa con riêng, với vợ cũ và cả với bóng đá. Eric luôn tự hào vì cái triết lý "người ta có thể thay đổi tất cả, trừ câu lạc bộ yêu thích", còn sau khi xem xong khán giả hẳn sẽ thấy rằng cái "câu lạc bộ yêu thích" ở đây của Eric còn bao gồm cả những cầu thủ đặc biệt - vợ và con gái của ông.


06. Finding Nemo (Andrew Stanton, IMDb: 8.2, Trailer)
- Một ví dụ tiêu biểu và vui nhộn của Pixar trong dòng phim gia đình (mà tác phẩm xuất sắc nhất có lẽ là The Incredibles). Finding Nemo có lẽ là câu trả lời dễ "thấm" nhất dành cho các cô bé, cậu bé khi cha chúng được đặt câu hỏi "Bố có yêu con không?".


07. I Am Sam (Jessie Nelson, IMDb: 7.3, Trailer)
- Liệu một người thiểu năng trí tuệ có thể có những tình cảm như người "bình thường"? Câu trả lời của I Am Sam là "Có, thậm chí là còn sâu sắc hơn nhiều lần". Sam, một ông bố-không bao giờ lớn, sẵn sàng làm mọi thứ, chứng tỏ mọi điều với quan tòa chỉ để được giữ lại đứa con thân yêu bên mình. Người ta thường nhắc tới những "tình yêu vượt qua mọi khoảng cách", nhưng với I Am Sam thì câu nói đó phải chuyển thành "tình yêu (con cái) bất chấp giới hạn về nhận thức", có lẽ bởi tình cha con đã trở thành một phần tất yếu của tiềm thức mỗi con người.


08. Big Fish (Tim Burton, IMDb: 8.1, Trailer)
- Với Big Fish, Tim Burton đã khẳng định tài năng của mình trong việc sử dụng những khuôn hình ma mị, kì ảo để đề cập tới những tình cảm giản dị, cơ bản nhất của mỗi con người. Bộ phim đầy những hình ảnh ẩn dụ kì ảo này hóa ra lại là câu chuyện nhẹ nhàng, sâu sắc về tình cảm cha con, về những ước mơ, hoài bão của người cha mà đôi khi đứa con chẳng bao giờ quan tâm tới. "Con cá mất là con cá to", nhưng qua Big Fish Tim Burton muốn những đứa con nhận ra rằng có một con cá rất lớn mà ta luôn cần gìn giữ trước khi nó tuột khỏi tầm tay - đó là tình cảm cha con, tình cảm gia đình.


09. There Was a Father (Yasujiro Ozu, IMDb: 7.7, Trailer)
- Cả cuộc đời mình Ozu chỉ làm phim xoay quanh chủ đề gia đình. Vì thế lẽ dĩ nhiên người đạo diễn cần mẫn ấy đã cho ra đời rất nhiều tuyệt phẩm về tình cha con, từ bộ phim câm I Was Born, But... tới đỉnh cao Tokyo Story và đến tận bộ phim cuối cùng An Autumn Afternoon. Thật khó để nói bộ phim nào là hay nhất về tình cha con, nhưng có lẽ bộ phim đậm chất Ozu nhất


10. Father and Daughter (Michael Dudok de Wit, IMDb: 7.9, Full movie)
- "
Simple is the best" có lẽ là câu nhận xét hay nhất cho bộ phim của đạo diễn Michael Dudok de Wit. Dài vỏn vẹn tám phút rưỡi, chỉ sử dụng những nét vẽ phác đen trắng cùng nhạc nền lặp đi lặp lại là bản Valurile Dunarii, Father and Daughter đã mang lại cho khán giả những giờ phút cảm động nhất về tình cảm cha con, thứ tình cảm không bao giờ đổi thay bất kể tuổi tác, bất kể núi đổi sông dời.


11. The Son's Room (Nanni Moretti, IMDb: 7.3, Trailer)
- Sau khi xem xong bộ phim từng giành giải Cành cọ vàng này, hẳn nhiều khán giả sẽ liên tưởng tới bài hát nổi tiếng của Eric Clapton - Tears in Heaven, bởi cả hai đều đề cập tới những suy nghĩ, những nỗi đau của người cha vì cái chết của đứa con trai yêu quý. Xót xa, ám ảnh, The Son's Room dõi theo cuộc sống của gia đình Giovanni sau khi con trai ông đột ngột qua đời, tuy thế điểm xuyết trong phim người ta vẫn được chứng kiến những thời khắc kí ức đẹp đẽ, thanh thản mà hình ảnh cả gia đình Giovanni hát vang trong chiếc xe nhỏ có lẽ sẽ là một trong những cảnh phim đẹp nhất của điện ảnh thế giới về tình cảm gia đình.


12. Le premier jour du reste de ta vie (Rémi Bezançon, IMDb: 7.6, Trailer)
- "Ngày đầu tiên của phần đời còn lại", bộ phim với cái tên gợi mở này là bức tranh đủ sắc màu về một gia đình điển hình kiểu Pháp - một gia đình chứa đầy những xung đột, rắc rối nhưng cũng lại tràn ngập những phút giây tình cảm thân thương "đúng kiểu Pháp" của các thành viên trong gia đình. Một ông bố làm nghề lái taxi quèn, nghiện thuốc lá nặng, "bất tài" từ nhỏ sẽ yêu thương các con của mình theo kiểu nào? Một cô gái nổi loạn, thù ghét cả gia đình rồi sẽ bộc lộ tình cảm thật cho cha mẹ ra sao? Le premier jour du reste de ta vie đưa ra những câu trả lời bình dị, rất bình dị như chính vị trí của gia đình trong mỗi con người - luôn ở đó, bên ta suốt cuộc đời.


13. Léon (Luc Besson, IMDb: 8.6, Trailer)
- Thực tế Léon chẳng phải cha của Mathilda, Mathilda cũng chẳng bao giờ nhận Léon làm bố. Nhưng số phận đã đưa hai con người cô độc ấy đến với nhau và hình thành giữa Léon và Mathilda một thứ tình cảm cha con đặc biệt, thứ tình cảm đã vun tưới cho tâm hồn của gã sát thủ máu lạnh và đem lại cho cô bé Mathilda niềm vui nhỏ nhoi mà em chưa bao giờ có trong đời.


14. The Wrestler (Darren Aronofsky, IMDb: 8.2, Trailer)
- The Wrestler hoàn toàn có thể đổi tên thành "The Loser" vì bộ phim chính là chân dung về một con người thất bại, hào quang tắt ngấm, gia đình tan vỡ, nhưng điều duy nhất mà ông muốn níu kéo chỉ là tình cảm cha con với đứa con gái vốn từ mặt cha đã lâu. Như con bù nhìn rơm căng mình ra chống lại gió bão trong vô vọng, "The Loser" vẫn cứ chiến đấu để giành lại những thứ ông đã mất, một cuộc chiến có lẽ chẳng bao giờ có ngày khải hoàn, nhưng đó là cuộc chiến mà ông vẫn phải cố gắng đến giờ phút cuối cùng vì một lẽ-"The Loser" có thể sống thiếu vinh quang, sống trong nghèo đói, nhưng ông vẫn cần được làm công việc mình yêu thích, vẫn cần có con gái để yêu thương và được yêu thương.


15. Million Dollar Baby (Clint Eastwood, IMDb: 8.2, Trailer)
- Tình cha con đôi khi không xuất phát từ mối quan hệ máu mủ ruột thịt, trong Million Dollar Baby, đó là tình cha con giữa một huấn luyện viên già thất bại cùng cô võ sĩ học trò "ruột" của ông. Một già, một trẻ, một dày dạn kinh nghiệm, một chỉ có niềm tin sắt đá, cả hai gắn kết với nhau bởi tình yêu với môn quyền Anh và bởi những khó khăn, nhọc nhằn trong chặng đường đi tới vinh quang.


16. The Godfather (Francis Ford Coppola, IMDb: 9.2, Trailer)
- Rất nhiều nhà phê bình điện ảnh, và bản thân Coppola, đã nhận xét rằng bộ phim hình sự vĩ đại nhất mọi thời-The Godfather, đầu tiên và trên hết lại là một bộ phim về gia đình, về tình cảm anh em, vợ chồng, chủ tớ và trên hết là cha-con. Không ai có thể tha thứ cho bố con nhà Corleone về những tội ác mà họ đã gây ra, nhưng cũng không ai có thể làm ngơ trước sự quan tâm kín đáo, sâu sắc, tình yêu thương và nhất là sự hy sinh mà cha con mafia dành cho nhau, điều mà có lẽ hiếm gia đình "tay sạch" nào có thể làm được.


17. After This Our Exile (Đàm Gia Minh, IMDb: 6.8, Trailer)
- Thực ra dòng phim cha con của điện ảnh Trung Quốc-Hồng Kông còn rất nhiều tác phẩm đáng chú ý khác như Together của Trần Khải Ca hay Riding Alone for Thousands of Miles của Trương Nghệ Mưu, tất cả đều mang "mùi vị" phương Đông không thể lẫn với những bộ phim Hollywood cho dù cùng nói về tình phụ tử (tên gốc của After this Our Exile là "Phụ tử tình"). After This Our Exile nói về cuộc sống khó khăn của hai bố con với giấc mơ đổi đời ở nước ngoài, một mô-típ cũ kĩ nhưng với cách xử lý nhẹ nhàng của Đàm Gia Minh và diễn xuất tuyệt vời của Quách Phú Thành và Gouw Ian Iskandar đã giúp After This Our Exile trở thành bộ phim thành công nhất tại Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông năm 2007, một kết quả mà bất cứ ai đã từng xem bộ phim này cũng sẽ phải đồng tình.


18. Mystic River (Clint Eastwood, IMDb: 8.0, Trailer)
- Một người cha sẽ làm gì khi đứa con gái yêu quý bị sát hại? BẤT CỨ ĐIỀU GÌ, đó là câu trả lời của Mystic River. Cùng lấy một cái tứ như Taken nhưng Mystic River bí hiểm hơn, nặng nề hơn và cay đắng hơn nhiều lần, có lẽ vì thế mà khán giả mới có thể cảm nhận được hết nỗi đau của một người cha trước sự mất mát khủng khiếp nhất trong đời.


19. Kramer vs. Kramer (Robert Benton, IMDb: 7.7, Trailer)
- Kramer vs. Kramer là một bộ phim vui tươi hiếm hoi gây tiếng vang trong cái thập niên thống trị bởi những bộ phim u ám của Hollywood. Vui tươi vì một lẽ rất đơn giản - bộ phim nói về tình cha con của hai bố con "lạc mẹ" nhà Kramer. Thiếu vắng người phụ nữ trong gia đình, cha con Kramer gặp vô vàn khó khăn từ những thứ nhỏ nhất như ... tráng trứng cho tới những việc "to tát" như vụ kiện "đòi con" của bà Kramer. Thứ duy nhất giúp hai cha con vượt qua mọi trở ngại để tiếp tục gắn bó với nhau, tất nhiên không gì khác, là tình cha con.


20. Magnolia (Paul Thomas Anderson, IMDb: 8.0, Trailer)
- Cuộc đời chẳng phải lúc nào cũng mang màu hồng, tình cha con cũng vậy. Magnolia của Paul Thomas Anderson là bộ phim về những mối quan hệ cha con đổ vỡ, những rạn nứt không thể hàn gắn, những vết thương lòng không bao giờ nguôi ngoai của những đứa con vì cách cư xử của người cha. Nhưng có lẽ khán giả cần những bộ phim như thế để học cách tha thứ, tha thứ để giữ lấy thứ tình cảm quý giá nhất trong cuộc đời.

lundi 14 juin 2010

100 Best Films of World Cinema


Ảnh: Cate Blanchett trong Elizabeth, không liên quan đến nội dung bài.

Chọn phim hay để xem luôn là một việc khó khăn, đặc biệt là những phim không do Hollywood sản xuất hoặc/và không sử dụng tiếng Anh. Vì vậy cách lựa chọn sáng suốt nhất là tham khảo danh sách kiểu "phim hay nhất", "top 100 phim",... mà các tạp chí đưa ra. Tờ Empire mới lập một danh sách phim nước ngoài (aka. không nói tiếng Anh) hay nhất trong lịch sử điện ảnh, tuy không thể làm hài lòng tất cả mọi người nhưng theo tôi danh sách này có giá trị tham khảo rất tốt, đúng với tính chất của Empire là một tờ báo hướng tới số đông độc (và khán) giả. Và đây là danh sách cụ thể:

100. Night Watch (Nga, 2004) - Timur Bekmambetov
099. Iron Monkey (Hồng Kông, 1993) - Viên Hòa Bình
098. Ran (Nhật Bản, 1985) - Akira Kurosawa
097. Farewell My Concubine (Trung Quốc, 1993) - Trần Khải Ca
096. Delicatessen (Pháp, 1991) - Jean-Pierre Jeunet, Marc Caro
095. Way of the Dragon (Hồng Kông, 1972) - Lý Tiểu Long
094. Yeelen (Mali, 1987) - Souleymane Cisse
093. The Fourth Man (Hà Lan, 1983) - Paul Verhoeven
092. Ghost in the Shell (Nhật Bản, 1995) - Mamoru Oshii
091. Goodbye Lenin (Đức, 2003) - Wolfgang Becker
090. Rififi (Pháp, 1955) - Jules Dassin
089. Loves of a Blonde (Tiệp Khắc, 1965) - Milos Forman
088. Leningrad Cowboys (Phần Lan, 1989) - Aki Kaurismäki
087. Andrei Rublev (Liên Xô, 1966) - Andrei Tarkovsky
086. Run Lola Run (Đức, 1998) - Tom Tykwer
085. Il Conformista (Ý, 1970) - Bernardo Bertolucci
084. Orphée (Pháp, 1950) - Jean Cocteau
083. Touki Bouki (Sénégal, 1974) - Ousmane Sembene
082. Battle Royale (Nhật Bản, 2000) - Kinji Fukasaku
081. The Host (Hàn Quốc, 2006) - Bong Joon-Ho
080. Mother India (Ấn Độ, 1957) - Mehboob Khan
079. Bande à part (Pháp, 1964) - Jean-Luc Godard
078. Women on the Verge of a Nervous Breakdown (Tây Ban Nha, 1988) - Pedro Almodóvar
077. House of Flying Daggers (Trung Quốc, 2004) - Trương Nghệ Mưu
076. The Idiots (Đan Mạch, 1998) - Lars Von Trier
075. A bout de souffle (Pháp, 1960) - Jean-Luc Godard
074. Devdas (Ấn Độ, 2002) - Sanjay Leela Bhansali
073. Caché (Pháp-Áo, 2005) - Michael Haneke
072. Ten Canoes (Úc, 2006) - Rolf de Heer, Peter Djigirr
071. Personna (Thụy Điển, 1966) - Ingmar Bergman
070. Hard Boiled (Hồng Kông, 1992) - Ngô Vũ Sâm
069. Ringu (Nhật Bản, 1988) - Hideo Nakata
068. Solaris (Liên Xô, 1972) - Andrei Tarkovsky
067. The Vanishing (Hà Lan, 1988) - George Sluizer
066. Crouching Tiger, Hidden Dragon (Trung Quốc, 2000) - Lý An
065. Un chien andalou (Pháp-Tây Ban Nha, 1929) - Luis Buñuel
064. Wings of Desire (Đức, 1987) - Wim Wenders
063. Un prophète (Pháp, 2009) - Jacques Audiard
062. 8 1/2 (Ý, 1963) - Federico Fellini
061. Knife in the Water (Ba Lan, 1962) - Roman Polanski
060. Jean de Florette / Manon des Sources (Pháp, 1986) - Claude Berri
059. Heimat (Đức, 1985) - Edgar Reitz
058. Persepolis (Iran, 2007) - Vincent Paronnaud, Marjane Satrapi
057. Central do Brasil (Brasil, 1998) - Walter Salles
056. Belle de jour (Pháp, 1967) - Luis Buñuel
055. Lagaan (Ấn Độ, 2001) - Ashutosh Gowariker
054. Festen (Đan Mạch, 1998) - Thomas Vinterberg
053. All About My Mother (Tây Ban Nha, 1999) - Pedro Almodóvar
052. Xala (Sénégal, 1973) - Djibril Diop Mambéty
051. Akira (Nhật Bản, 1988) - Katsuhiro Otomo
050. Closely Observed Trains (Tiệp Khắc, 1966) - Jiri Menzel
049. Les vacances de M. Hulot (Pháp, 1953) - Jacques Tati
048. Downfall (Đức, 2004) - Oliver Hirschbiegel
047. 10 (Iran, 2002) - Abbas Kiarostami
046. Jules et Jim (Pháp, 1962) - Francois Truffaut
045. Suspiria (Ý, 1977) - Dario Argento
044. Ikiru (Nhật Bản, 1952) - Akira Kurosawa
043. Cyrano de Bergerac (Pháp, 1990) - Jean-Paul Rappeneau
042. In The Mood For Love (Hồng Kông, 2000) - Vương Gia Vệ
041. My Neighbour Totoro (Nhật Bản, 1988) - Hayao Miyazaki
040. L’Avventura (Ý, 1960) - Michelangelo Antonioni
039. Le Samourai (Pháp, 1967) - Jean-Pierre Melville
038. Ashes And Diamonds (Ba Lan, 1958) - Andrzej Wajda
037. Rome Open City (Ý, 1945) - Roberto Rossellini
036. Dekalog (Ba Lan, 1988) - Krzysztof Kieslowski
035. La Grande illusion (Pháp, 1937) - Jean Renoir
034. Waltz With Bashir (Israel, 2008) - Ari Folman
033. M (Đức, 1931) - Fritz Lang
032. La Haine (Pháp, 1995) - Mathieu Kassovitz
031. Godzilla (Nhật Bản, 1954) - Ishiro Honda
030. Infernal Affairs (Hồng Kông, 2002) - Lưu Vỹ Cường, Mạch Triệu Huy
029. Les quatre cents coups (Pháp, 1959) - Francois Truffaut
028. Raise The Red Lantern (Trung Quốc, 1991) - Trương Nghệ Mưu
027. Cinema Paradiso (Ý, 1988) - Giuseppe Tornatore
026. La Belle et la Bête (Pháp, 1946) - Jean Cocteau
025. Das Boot (Đức, 1981) - Wolfgang Petersen
024. Come and See (Liên Xô, 19) - Elem Klimov
023. Spirit of the Beehive (Tây Ban Nha, 1973) - Victor Erice
022. Rashomon (Nhật Bản, 1950) - Akira Kurosawa
021. Nosferatu (Đức, 1922) - F.W. Murnau
020. Y Tu Mama Tambien (Mexico, 2001) - Alfonso Cuarón
019. Aguirre, Wrath of God (Đức, 1972) - Werner Herzog
018. Oldboy (Hàn Quốc, 2003) - Park Chan-wook
017. The Apu Trilogy (Ấn Độ, 1955) - Satyajit Ray
016. Tokyo Story (Nhật Bản, 1953) - Yasujiro Ozu
015. Let The Right One In (Thụy Điển, 2008) - Tomas Alfredson
014. Three Colours Trilogy (Pháp-Ba Lan, 1994) - Krzysztof Kieslowski
013. La Règle du jeu (Pháp, 1939) - Jean Renoir
012. Metropolis (Đức, 1927) - Fritz Lang
011. La Dolce Vita (Ý, 1960) - Federico Fellini
010. Spirited Away (Nhật Bản, 2001) - Hayao Miyazaki
009. Le salaire de la peur (Pháp, 1953) - Henri-Georges Clouzot
008. The Seventh Seal (Thụy Điển, 1957) - Ingmar Bergman
007. City of God (Brasil, 2002) - Fernando Meirelles, Katia Lund
006. Battle of Algiers (Pháp, 1966) - Gillo Pontecorvo
005. Pan's Labyrinth (Tây Ban Nha, 2006) - Guillermo del Toro
004. Bicycle Thieves (Ý, 1948) - Vittorio Da Sica
003. Battleship Potemkin (Liên Xô, 1925) - Sergei Eisenstein
002. Amélie (Pháp, 2000) - Jean-Pierre Jeunet
001. Seven Samurai (Nhật Bản, 1954) - Akira Kurosawa