some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

jeudi 31 décembre 2009

Best films of the decade (by Roger Ebert)


Roger Ebert vừa đưa ra danh sách phim ông đánh giá cao nhất trong thập niên 2000, danh sách gây khá nhiều bất ngờ, có lẽ là mang đậm dấu ấn của riêng Ebert. Sau đây là Top 10 (xếp theo thứ tự từ thấp đến cao):

10. My Winnipeg (2008, Guy Maddin) - IMDb: 7.9, RottenTomatoes: 95%, Trailer
09. Almost Famous (2000, Cameron Crowe) - IMDb: 8.0, RottenTomatoes: 88%, Trailer
- Câu đầu tiên của Ebert trong bài review "Oh, what a lovely film. I was almost hugging myself while I watched it." là đủ để cho biết Almost Famous là bộ phim "đẹp" và dễ chịu đến thế nào. Một bộ phim tuyệt vời cho tuổi trẻ.
08. The 25th Hour (2003, Spike Lee) - IMDb: 7.9, RottenTomatoes: 78%, Trailer
- Bộ phim tiêu biểu cho thời kỳ hậu 11-9 ở Mỹ với diễn xuất xuất sắc của Edward Norton và Philip Seymour Hoffman.
07. Le fils (Jean-Pierre & Luc Dardenne) - IMDb: 7.4, RottenTomatoes: 88%, Trailer
06. Chop Shop (2007, Ramin Bahrani) - IMDb: 7.2, RottenTomatoes: 96%, Trailer
05. Me and You and Everyone We Know (2005, Miranda July) - IMDb: 7.4, RottenTomatoes: 83%, Trailer
04. Juno (2007, Jason Reitman) - IMDb: 7.9, RottenTomatoes: 93%, Trailer
- Một bộ phim nhẹ nhàng và ý nhị, nhất là so sánh với tác phẩm liền trước của của Reitman - Thank You for Smoking vốn đầy tính châm biếm chua cay. Được coi là "phần 2" của hiện tượng phim độc lập tại lễ trao giải Oscar sau Little Miss Sunshine nhưng có lẽ Juno chưa "tới" được tầm của Miss Sunshine.
03. Monster (2004, Patty Jenkins) - IMDb: 7.4, RottenTomatoes: 82%, Trailer
- Một tác phẩm bạo liệt dữ dội chứng kiến sự hy sinh đáng kinh ngạc của Charlize Theron xinh đẹp cho vai diễn.
02. The Hurt Locker (2009, Kathryn Bigelow) - IMDb: 8.0, RottenTomatoes: 97%, Trailer
- Chẳng đạt được điều gì mới về mặt ý nghĩa, triết lý trong dòng phim chiến tranh nhưng The Hurt Locker lại có cách thể hiện đột phá để khắc họa sự tàn phá của chiến tranh đối với từng cá nhân dính líu tới nó. Sau Jane Campion, giải Oscar mới lại tìm được một ứng cử viên nặng ký là nữ cho hạng mục đạo diễn xuất sắc nhất.
01. Synecdoche, New York (2008, Charlie Kaufman) - IMDb: 7.3, RottenTomatoes: 67%, Trailer
- Một phim hết sức khó hiểu đúng như cái tựa đề của nó. Dù rất yêu thích Eternal Sunshine of the Spotless Mind của Kaufman, tôi cũng thực sự không/chưa thể cảm nhận được hết ý tưởng của Kaufman trong bộ phim dày đặc lớp nghĩa này, chỉ riêng phần thoại của phim cũng đã là một thử thách khi tính văn học của nó cao tới mức có lẽ khán giả nên ... đọc kịch bản trước khi xem phim. Không biết có phải một phim hay không nhưng Synecdoche, New York quả thực là bộ phim hết sức lạ lùng.

Và 10 phim khác (thứ tự ABC):
01. Adaptation (2002, Spike Jonze)
02. The Bad Lieutenant: Port of Call, New Orleans (2009, Werner Herzog)
03. City of God (2002, Fernando Meirelles)
04. Crash (2004, Paul Haggis)
05. Kill Bill Vols.1 and 2 (2003 + 2004, Quentin Tarantino)
06. Minority Report (2002, Steven Spielberg)
07. No Country for Old Men (2007, The Coen Brothers)
08. Pan's Labyrinth (2006, Guillermo del Toro)
09. Silent Light (2009, Carlos Reygadas)
10. Waking Life (2001, Richard Linklater)

===
Cùng loạt "best films of the decade":
- Top 15 films of 2000s
- The 100 Best Movies of the Noughties

mardi 29 décembre 2009

Forerunners of the 2010 Oscars (by film critics)


Time tổng hợp kết quả của 21 giải thưởng của các hội phê bình phim khác nhau trên khắp nước Mỹ. Công thức rất đơn giản, người giành giải được 1 điểm, chia giải được nửa điểm. Và đây là kết quả:

* Nữ phụ:
Mo'Nique, Precious, Based on the Novel "Push" by Sapphire (16)
Anna Kendrick, Up in the Air (4)
Samantha Morton, The Messenger (1)

* Nam phụ:
Christoph Waltz, Inglourious Basterds (18)
Christian McKay, Me and Orson Welles (2)
Woody Harrelson, The Messenger (1)

* Nữ chính:
Carey Mulligan, An Education (8)
Meryl Streep, Julie & Julia (6.5)
Gabourey Sidibe, Precious, Based on the Novel "Push" by Sapphire (3)
Melanie Laurent, Inglourious Basterds (1), Michelle Monaghan, Trucker (1),
Yolande Moreau, Seraphine (1)

* Nam chính:
George Clooney, Up in the Air (8.5)
Colin Firth, A Single Man (4)
Jeremy Renner, The Hurt Locker (3.5)
Jeff Bridges, Crazy Heart (2)
Nicolas Cage, The Bad Lieutenant — Port of Call: New Orleans (1), Viggo Mortensen, The Road (1)

* Kịch bản:
Jason Reitman and Sheldon Turner, Up in the Air (6)
Scott Neustadter and Michael H. Weber, (500) Days of Summer (4)
Quentin Tarantino, Inglourious Basterds (3.5)
Joel Coen and Ethan Coen, A Serious Man (2), Wes Anderson and Noah Baumbach, Fantastic Mr. Fox (2)

* Đạo diễn:
Kathryn Bigelow, The Hurt Locker (14)
Jason Reitman, Up in the Air (3)
Quentin Tarantino, Inglourious Basterds (2)
Pete Docter, Up (1), Clint Eastwood, Invictus (1)

* Phim:
The Hurt Locker (8.5)
Up in the Air (6)
Inglourious Basterds (3.5)
Avatar (1), Up (1)

dimanche 27 décembre 2009

The Breakfast Club (1985)


Đánh giá một bộ phim kiểu "thời thượng" ra đời cách đây tới một phần tư thế kỷ như The Breakfast Club quả không dễ chút nào vì chê thì rất đơn giản nhưng đặt mình trong hoàn cảnh ra đời của phim để hiểu được tại sao nó được yêu thích đến thế thì lại quá khó.

Breakfast Club là một nhóm 5 học sinh trung học bị kỉ luật và phải đến trường trình diện 8 tiếng vào ngày thứ 7. 5 người của nhóm ứng với 5 stereotype đã trở thành "kinh điển" của phim teen về sau, đó là một nàng "công chúa" (the princess - nhà giàu, yểu điệu, kênh kiệu nhưng thực tế luôn sợ hãi bị mọi người bỏ rơi), một cậu chàng nổi loạn (the rebel - đẹp trai, phong cách bất cần, luôn tỏ ra cứng đầu cứng cổ để che dấu vết thương tinh thần vì gia đình nghèo/không hạnh phúc), một cậu mọt sách (the geek - học giỏi nhưng ngờ nghệch với cuộc sống bên ngoài, yếu đuối về thể chất, dáng vẻ bình thường luôn chìm khuất giữa đám đông), một cô bé "lạc loài" (the outcast - hành xử, ăn mặc quái dị, không có bạn bè và cũng không tỏ vẻ là cần có bạn bè, ít nói và thường có tài lẻ), một anh chàng "thể thao" (the jock - mặt mũi khôi ngô sáng sủa, giỏi thể thao, thường (ra vẻ) bảo vệ các bạn gái và the geek). Bộ 5 này trong phim lần lượt là Claire the princess, John the rebel, Andrew the jock, Allison the outcast và Brian the geek.

The Breakfast Club có cấu trúc rất đơn giản, chuyện phim ứng với đúng buổi phạt ngày thứ 7 đầu tiên của 5 người, tình tiết trong phim cũng không có gì phức tạp, chủ yếu là những cuộc đối thoại ngắn, có lúc nhẹ nhàng, có lúc nảy lửa giữa các thành viên trong nhóm để cuối cùng nổi bật lên là hình ảnh thật sự, suy nghĩ thật sự của năm cô cậu học trò ở vào cái tuổi nổi loạn và phức tạp nhất này. Và The Breakfast Club gây ấn tượng mạnh đến như vậy có lẽ vì John Hughes đã rất thành công trong việc khắc họa năm gương mặt vị thành niên sống động, có chiều sâu, có tốt có xấu và nhất là đều khiến khán giả, đặc biệt là khán giả trẻ cảm thấy yêu quý vì sự gần gũi của nhân vật trong phim với tuổi trẻ nổi loạn ngoài đời. Dù sao phim cũng ra đời cách đây khá lâu, vì vậy nhịp phim khá chậm và nội dung phim cũng đơn giản hơn nhiều nếu so với những phim teen giai đoạn sau này, tuy nhiên 5 gương mặt, 5 cái tên Claire, John, Andrew, Brian và nhất là Allison với tôi vẫn thực sự tươi mới, gần gũi, ấn tượng và gợi lại chút gì đó của tuổi học trò đẹp đẽ. Cả 5 diễn viên của nhóm Breakfast Club đều đóng rất đạt, rất tự nhiên và nhập vai, tôi rất thích hai nhân vật nữ Claire và Allison, cả hai đều có tốt có xấu chứ không bị "một màu" như type outcast và princess trong các phim teen sau này, hai nữ diễn viên thủ vai Claire và Allison tuy không xinh nhưng có cách diễn rất trẻ trung (1 người khi đó mới 17, 1 người 22) và ấn tượng. Không hiểu sao xem The Breakfast Club làm tôi nghĩ đến Friends, cũng là nhóm bạn đủ cả ưu, nhược điểm, có lúc cãi vã, có lúc giận hờn nhưng ở thời khắc quan trọng vẫn luôn chứng tỏ mình là một Friend thực sự, 6 nhân vật không ai phải làm sandbag cho ai, ai cũng khiến khán giả thấy yêu quý, một điều chưa bao giờ là dễ ở dòng feel-good movie.

Có lẽ The Breakfast Club sớm muộn rồi cũng sẽ trở thành lạc hậu, "đồ cổ" của một thời dĩ vãng, thật tiếc là không ai trong số 5 người của nhóm vượt lên để trở thành một ngôi sao "người lớn" như John Cusack, Tom Cruise đã từng làm được, vì thế bộ phim chắc cũng sẽ chỉ còn là hoài niệm của một thế hệ nay đã ở vào tuổi trung niên. Âu đó cũng là số phận của một thời tuổi trẻ, đẹp đẽ nhưng nhanh chóng trôi đi và nhòa dần vào quá khứ.

jeudi 24 décembre 2009

Joyeux Noël ! - Love Actually (2003)


Love Actually có lẽ sẽ còn nhiều năm nữa là bộ phim yêu thích vào mỗi dịp Giáng Sinh và Năm mới. Một tác phẩm giản dị với cách miêu tả tình yêu mộc mạc, đẹp đẽ khiến người ta dễ xích lại gần nhau hơn để thưởng thức những nụ cười của Keira Knightley, giọt nước mắt của Emma Thompson, trình độ ngoại ngữ "hạng quèn" của Colin Firth, vẻ điển trai của Hunt Grant và đương nhiên cả những phút hài hước của "Mr. Bean" Rowan Atkinson. Yes, love actually is all around! (well, not really, đúng ngày hôm nay thì một trong những cặp đôi bền vững nhất của Hollywood trong suốt hai thập kỉ qua, Tim Robbins và Susan Sarandon chính thức tuyên bố chia tay sau 23 năm chung sống)


(những ai muốn tìm cảm giác nhẹ nhàng của Love Actually có thể xem The Boat that Rocked)

dimanche 20 décembre 2009

Best films of 2009

Poster Year One, tất nhiên không liên quan đến nội dung entry.

Top ten by Roger Ebert (mainstream):
01. Bad Lieutenant (Werner Herzog)
02. Crazy Heart (Scott Cooper)
03. An Education (Lone Scherfig)
04. The Hurt Locker (Kathryn Bigelow)
05. Inglourious Basterds (Quentin Tarantino)
06. Knowing (Alex Proyas)
07. Precious: Based on the Novel Push by Sapphire (Lee Daniels)
08. A Serious Man (Coen Brothers)
09. Up in the Air (Jason Reitman)
10. The White Ribbon (Michael Haneke)

My top ten (trong số - không nhiều những phim đã xem):


01. The Boat That Rocked (Michael Curtis) - Trailer - IMDb: 7.6 - Rotten Tomatoes: 54%
- Feel-good movie of the year. Sau Love Actually, Michael Curtis lại chứng tỏ ông là "vua" của những bộ phim người ta nên mua vào dịp nghỉ lễ bên gia đình.


02. District 9 (Neil Blomkamp) - Trailer - IMDb: 8.4 - Rotten Tomatoes: 90%
- Phim khoa học giả tưởng của năm. Kinh phí chỉ ngang một phim hành động bình thường của Hollywood nhưng chất lượng và mức độ sáng tạo thì vượt trội các blockbuster hè năm nay.


03. In the Loop (Armando Iannucci) - Trailer - IMDb: 7.7 - Rotten Tomatoes: 95%
- Phim hài của năm. Anh vẫn chứng tỏ là mảnh đất màu mỡ cho những bộ phim hài thâm thúy và đề cập trực tiếp đến chính trị chứ không chỉ "gãi" bên ngoài như các phim của Mỹ.


04. Inglourious Basterds (Quentin Tarantino) - Trailer - IMDb: 8.5 - Rotten Tomatoes: 88%
- Movie of the year. Tarantino không bao giờ làm thất vọng người hâm mộ của ông.


05. Looking for Eric (Ken Loach) - Trailer - IMDb: 7.4 - Rotten Tomatoes: 88%
- Bộ phim của năm cho giới bình dân. Diễn viên giản dị, nội dung mộc mạc nhưng vẫn đầy ắp ý nghĩa và tình người.


06. (500) Days of Summer (Marc Webb) - Trailer - IMDb: 8.1 - Rotten Tomatoes: 86%
- Phim tình cảm lãng mạn của năm, vượt trội trong một năm mất mùa của thể loại này.


07. Ponyo (Hayao Miyazaki) - Trailer - IMDb: 8.0 - Rotten Tomatoes: 91%
- Phim hoạt hình của năm.


08. Thirst (Park Chan-wook) - Trailer - IMDb: 7.4 - Rotten Tomatoes: 82%
- Film noir của năm.


09. Vengeance (Đỗ Kỳ Phong) - Trailer - IMDb: 6.7 - Rotten Tomatoes: 80%
- Phim hành động của năm.


10. The White Ribbon (Michael Haneke) - Trailer - IMDb: 8.2 - Rotten Tomatoes: 90%
- Phim chính trị của năm. Giành giải Cành cọ vàng trong một năm có rất nhiều phim xuất sắc dự thi.

samedi 19 décembre 2009

Die Welle (2008)


Rainer Wenger là một giáo viên trung học phổ thông trẻ, yêu đời, yêu nhạc rock và có một cô người yêu kiêm đồng nghiệp dễ thương. Cuộc sống yên ả của anh bắt đầu thay đổi khi Wenger được phân công giảng bài Chế độ chuyên chế (autocracy) cho môn Chính trị vốn luôn ám ảnh học sinh bởi sự nhàm chán và tẻ ngắt. Để thay đổi phong cách, Wenger quyết định cho học trò của mình thực hành luôn mô hình Chuyên chế trong lớp học, anh đề nghị học sinh gọi mình là "Ông/Ngài Wenger" (Herr Wenger) thay vì cái tên Rainer thân mật, những đặc điểm khác của một nhà nước chuyên chế như đồng phục (sơ mi trắng), kỷ luật, trật tự hay tính tập thể đều được mang ra thử nghiệm. Sáng kiến của Wenger thành công đến không ngờ khi lũ học trò của anh, vốn đã quá chán ngán với cuộc sống thường nhật không thể thỏa mãn trí óc mới lớn của các em, cảm thấy cực kì hứng thú với "Nhà nước của Ngài Wenger" và bắt đầu dồn toàn tâm toàn ý để củng cố cho mô hình ấy. Và rồi cái gì đến cũng phải đến, một mô hình chuyên chế, dù là ở quy mô tế bào như "Nhà nước của Ngài Wenger" cũng tiến tới chỗ biến dạng khỏi mục đích tốt đẹp ban đầu của nó, nhất là khi người lãnh đạo mô hình - Wenger, lại không lường trước được hậu quả từ "sáng kiến" của anh, trong khi cái thế hệ nòng cốt của mô hình lại là thanh niên mới lớn - lứa tuổi nổi loạn và sẵn sàng làm tất cả mọi thứ để bảo vệ cái mà các em cho là lý tưởng của mình.

Có thể nói Die Welle là một phim sư phạm hoàn hảo về nguyên nhân và tác hại của chế độ chuyên chế. Bằng một ví dụ cực kì đơn giản, gần gũi là một lớp học bình thường với những cô cậu thanh niên hết sức bình thường với đủ cả những giây phút sáng suốt và vô số thời khắc khác nổi loạn, Die Welle đã cho người xem thấy được cả mầm mồng, cách thức lây lan và tác hại khôn lường của một mô hình chuyên chế: Khi một tầng lớp hoặc một xã hội cảm thấy mất phương hướng về lý tưởng sống, mất niềm tin vào môi trường sống xung quanh của họ, thì chỉ cần một người lãnh đạo có khả năng, cả cái tầng lớp, cái xã hội ấy sẽ hòa nhịp để tạo thành một đợt sóng (die welle) rồi lớn dần thành cơn sóng thần cuốn phăng đi tất cả. Bộ phim cho ta thấy mối nguy hiểm tiềm tàng của một chế độ phát xít mới khi mà mầm mống của nó luôn luôn hiện hữu trong một tầng lớp mất phương hướng và khao khát lý tưởng như thanh niên mới lớn. Và cái mầm mống ấy càng có khả năng nảy mầm thành cây độc khi mà xã hội, hay cụ thể là bố mẹ lại bỏ mặc các em "tự lớn", tự đối phó với những bế tắc về suy nghĩ, về cách nhìn cuộc sống.

Nếu khắt khe thì người xem vẫn có thể chê Die Welle vì tính "kịch" của bộ phim khá cao bất chấp việc dàn diễn viên, đặc biệt là các diễn viên trẻ thủ vai học trò, của phim diễn rất tự nhiên và nhập vai, nhưng khó có thể trách được đạo diễn trong trường hợp này vì muốn truyền tải cái "thí nghiệm" của Wenger thì không còn cách nào khác đạo diễn phải "bắt" đa số các nhân vật trong lớp học phải biến thành "người tượng", không có quan điểm và phản ứng riêng trước sự hình thành của die welle trong khi đáng ra đặc điểm nổi bật nhất của giới trẻ phải là sự phản kháng, chống đối (anarchy - vô chính phủ). Die Welle quả xứng đáng được sinh ra trong lòng nước Đức, "tổ quốc" của chế độ chuyên chế cao độ bậc nhất - Đức Quốc Xã và cũng là quốc gia chịu thương tổn nặng nề nhất từ chế độ này. Die Welle đề cập tới Đức Quốc Xã thông qua những hình ảnh ẩn dụ hết sức tài tình, mà không tài tình sao được khi một lớp học hết sức bình thường lại có thể trở thành tấm gương phản chiếu trung thực những gì đã xảy ra trong xã hội Đức giai đoạn giữa hai cuộc thế chiến. Tôi còn hết sức hài lòng vì Die Welle không hề động tới Holocaust - thứ chủ đề "bắt buộc" trong mọi phim Hollywood nói về, hoặc động tới Đức Quốc Xã, vì thực chất Diệt trừ Do Thái chỉ là một bộ phận cấu thành nên học thuyết (doctrine) của nhà nước Đức Quốc Xã chứ chưa bao giờ là giáo điều (dogma) của chế độ này. Theo tôi, Die Welle xứng đáng được đưa vào bất cứ chương trình học phổ thông nào về lịch sử hoặc chính trị vì sự chính xác, dễ hiểu và gần gũi với học sinh của nó - muốn để "làn sóng" không biến thành cơn sóng thần hủy diệt, hãy cho mỗi tế bào cấu thành của làn sóng đó thấy được cái cách làn sóng dị dạng thành sóng thần thế nào.

Nói thêm là nhạc phim rất hay và hợp với không khí phim, toàn nhạc rock.


Ending theme

mardi 15 décembre 2009

67th Golden Globe Awards nominations


Mùa giải thưởng lại đến, vẫn như thường lệ, đỏ là dự đoán đoạt giải, xanh là hy vọng đoạt giải.

===

Jason Reitman’s Up In The Air is leading the nominations for the 67th Golden Globes with six including best film, best director and best actor for the film’s star George Clooney.

It has also picked up two nominations for best supporting actress for Anna Kendrick and Vera Farmiga, as well best screenplay. Inglourious Basterds, Quentin Tarantino’s World War Two feature, picked up four nominations including best film, best director and best supporting actor for Christoph Waltz.

Meryl Streep has picked up two nominations for best actress in a musical or comedy for Julie & Julia and It’s Complicated, while Sandra Bullock also scored two with a nomination for best actress in drama The Blind Side and best actress in a comedy or musical for The Proposal.

The Golden Globes will be hosted by Ricky Gervais on Jan. 17 at the Beverly Hilton in Los Angeles.

The nominations:

Best motion picture – drama
Avatar
The Hurt Locker
Inglourious Basterds
Precious
Up In The Air

(Avatar vừa ra rạp đã vào list, ghê thật. Basterds chắc không có giải vì Tarantino chưa bao giờ là gu của các giải điện ảnh Mỹ. Precious chỉ góp vai trò underdog, The Hurt Locker ... chả tin là có giải)

Best motion picture - musical or comedy
500 days Of Summer
The Hangover
It’s Complicated!
Julie & Julia
Nine

(weak category, mấy phim như Nine hay It's Complicated chắc chỉ vừa kịp chiếu cho giới phê bình xem. Thôi chọn bừa.)

Best director
Kathryn Bigelow, The Hurt Locker
James Cameron, Avatar
Clint Eastwood, Invictus
Jason Reitman, Up In The Air
Quentin Taratino Inglourious Basterds

(Nếu The Hurt Locker trượt Best Picture thì chắc Bigelow sẽ được an ủi bằng giải này, lại có thêm yếu tố "nữ" nên khả năng này càng lớn. Còn nếu The Hurt Locker mà bất ngờ được Best Picture thì cơ hội sẽ là 51% cho Reitman, 49% cho Bigelow.)

Best animated feature
Coraline
Fantastic Mr Fox
Up
Cloudy With A chance Of Meatballs
The Frog And The Princess

(no comment!)

Best actor in a motion picture, drama
Jeff Bridges, Crazy Heart
George Clooney, Up In The Air
Colin Firth, A Single Man
Morgan Freeman, Invictus
Tobey Maguire, Brothers

(không biết underdog có làm nên được bất ngờ trước ứng cử viên nặng ký Lebowski, à quên, Jeff Bridges không)

Best actress in a motion picture, drama
Emily Blunt, The Young Victoria
Sandra Bullock, The Blind Side
Helen Mirren, The Last Station
Carey Mulligan, An Education
Gabourey “Gabby” Sidibe, Precious

(toàn phim chưa xem, lại phải đoán bừa. The Young Victoria nghe nói chất lượng không ra sao vậy mà Blunt cũng được đề cử)

Best performance by an actor in a musical or comedy
Matt Damon, The Informant!
Daniel Day Lewis, Nine
Robert Downey Jr, Sherlock Holmes
Joseph Gordon-Levitt, 500 Days Of Summer
Michael Stuhlbarg, A Serious Man

(đoán bừa)

Best performance by an actress in a musical or comedy
Sandra Bullock, The Proposal
Marion Cottillard, Nine
Julia Roberts, Duplicity
Meryl Streep, It’s Complicated
Meryl Streep, Julie & Julia

("Bạn" Streep nhất định không chịu nhường các bạn trẻ khác. Đây cũng là weak category với một loạt phim và vai diễn thường thường bậc trung - Julie & Julia, Duplicity, The Proposal không hiểu sao vẫn lọt vào danh sách. Away We Go với bộ diễn viên rất khá thì không thấy có ai, thật khó hiểu)

Best supporting actor
Matt Damon Invictus
Woody Harrelson The Messenger
Stanley Tucci The Lovely Bones
Christopher Plummer, The Last Station
Christoph Waltz Inglourious Basterds

(chắc Basterds sẽ được "an ủi" bằng giải này, mà đôn Waltz lên hạng mục vai chính có khi cũng vẫn được, Brad Pitt lại "blow off" một cơ hội nữa để có giải thưởng tử tế)

Best supporting actress
Penelope Cruz Nine
Vera Farmiga Up In The Air
Anna Kendrick Up in the Air
Mo’Nique Precious
Julianne Moore A Single Man

(đoán mò, hơi tiếc cho Maggie Gyllenhaal, vai của cô trong Away We Go rất tốt, trong Crazy Heart có vẻ Maggie cũng có đất diễn)

Best foreign film
Broken Embraces
The White Ribbon
The Maid
A Prophet
Baaria


Best screenplay
District 9, Neil Blomkap, Terri Tatchell
The Hurt Locker ,Mark Boal
Inglourious Basterds, Quentin Tarantino
It’s Complicated, Nancy Meyers
Up In The Air, Jason Reitman, Sheldon Turner

(strong category, hy vọng vào Tarantino nhưng các đối thủ khác cũng mạnh)

Best original song
The Weary Kind, T-Bone Burnett, Ryan Bingham (Crazy Heart)
I Want To Come Home,
Paul McCartney, (Everybody’s Fine)
Cinema Italiano,
Maury Yeston, Nine
Winter,
U2, Bono (Brothers)
I Will See You,
James Horner, Simon Franglen, Kuk Harrell (Avatar)

(đoán bừa, có lẽ Avatar sẽ được "an ủi" bằng giải này chăng)

Best original score
The Informant!, Marvin Hamlisch
Up, Michael Giacchino
Where The Wild Things Are, Carter Burwell, Karen Orzolek
Avatar, James Horner
A Single Man, Abel Korzeniowski

====

Source: http://www.screendaily.com/awards/golden-globes/golden-globes-news/up-in-the-air-leads-golden-globe-nominations/5009109.article