some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

vendredi 20 novembre 2009

My Sister's Keeper (2009), Man on Wire (2008)


Không biết có phải do sinh ra từ một mối tình nổi tiếng của Hollywood giữa John Cassavetes và Gena Rowlands hay không mà Nick Cassavetes, con trai của John Cassavetes-nghệ sĩ tiên phong trong dòng phim indie và cinéma-vérité lại không theo con đường cha mình đã chọn mà chỉ tập trung vào những bộ phim có mức độ lãng mạn và mơ mộng cao, hay nói vui là "phim Hàn xẻng". Tiêu biểu nhất cho các bộ phim Hàn xẻng của Nick chính là The Notebook, tác phẩm đã lấy nước mắt của không biết bao nhiêu chị em phụ nữ vì những cảnh quay lãng mạn dưới mưa, trong sương mù,... Và năm nay Nick lại cho ra đời một tác phẩm không hề kém cạnh The Notebook trong nghệ thuật "lấy nước mắt", đó là My Sister's Keeper.

Nhân vật chính của My Sister's Keeper là gia đình nhà Fitzgerald, một gia đình bình thường, hạnh phúc như bao gia đình Mỹ (trong phim Hollywood) khác trước khi tai họa ập xuống - Kate Fitzgerald, cô con gái út trong nhà, bị chẩn đoán mắc ung thư máu, căn bệnh mà y học hiện đại hoàn toàn không có khả năng chữa lành. Để chăm sóc Kate, mẹ cô bé, Sara-một luật sư giỏi, quyết tâm bỏ việc ở nhà, cô dành nhiều thời gian chăm sóc con gái tới mức gần như bỏ quên mất đứa con trai cả Jesse, vốn cũng là một đứa trẻ gặp nhiều khó khăn trong cuộc đời vì mắc chứng khó đọc. Căn bệnh ung thư máu khiến thận của Kate dần bị thải loại, cô bé sẽ không thể sống nổi nếu không được ghép thận trong tương lai từ một người hiến tạng cực kì phù hợp. Và nghe theo lời bác sĩ, Sara cùng chồng, Brian-một anh lính cứu hỏa trầm lặng, quyết định thụ tinh nhân tạo để cho ra đời người hiến tạng cần thiết-Anna, con gái út của gia đình Fitzgerald. Cô bé út ít Anna lớn lên trong tình thương yêu hết mực của cả gia đình, đôi lúc bé phải thực hiện những cuộc lấy máu, lấy tủy sống cực kì đau đớn để phục vụ việc điều trị của Kate, nhưng có hề gì, vì Anna yêu thương chị trong khi Sara và Brian, dù biết con gái út đau đớn, vẫn mặc nhiên coi đó là việc cần làm và nên làm. Nhưng thời hạn ghép thận cận kề cũng là lúc Anna đủ lớn để nhận ra rằng dường như mình đang phải làm một việc quá sức và ảnh hưởng tới cả cuộc đời sau này của cô bé, mất đi một quả thận, cô sẽ mãi mãi không thể chơi bóng đá, làm cheerleader như những bé gái bình thường khác. Cuối cùng Anna quyết định nhờ tay luật sư Campbell Alexander ... kiện Sara và Brian ra tòa để giành quyền kiểm soát các tác động y học tới bản thân. Những rạn nứt dưới sức ép từ căn bệnh quái ác của Kate và quyết tâm có phần thái quá của Sara, vốn âm ỉ từ lâu trong gia đình Fitzgerald nay có cơ hội bùng phát và không thể cứu vãn nổi.

Phút yên bình hiếm hoi của nhà Fitzgerald

Thật ngạc nhiên là hai căn bệnh tác động lớn nhất tới xã hội Mỹ hiện đại - béo phì và ung thư, lại rất hiếm khi được các đạo diễn đưa lên màn ảnh lớn, hoặc có đưa lên thì cũng hạ thấp đi rất nhiều sự đau đớn và rắc rối do căn bệnh đó gây lại như trong The Bucket List (cuối cùng thì năm nay cũng có một bộ phim về căn bệnh béo phì ra mắt công chúng, Precious). My Sister's Keeper không phải một tác phẩm phi hiện thực như The Bucket List, dù là đạo diễn theo típ lãng mạn nhưng trong bộ phim này, Nick Cassavetes đã miêu tả cực kì tỉ mỉ, chính xác và không hề né tránh bất cứ chi tiết đau đớn khủng khiếp nào của căn bệnh ung thư máu giai đoạn cuối. Bộ phim, dù không hề có chút bạo lực nào, vẫn khiến khán giả nhiều phen nhăn mặt, rùng mình khi phải chứng kiến sự đau đớn đến tột bậc của các bệnh nhân ung thư trong quá trình hóa trị, xạ trị và nhất là những giờ phút đau đớn tột bậc mà họ phải trải qua. Người ta thấy Kate từ một cô bé đáng yêu, tóc dài mượt mà, dần biến thành một bệnh nhân đầu trọc, da dẻ phù nề, môi khô khốc và thường xuyên ho ra máu trong đau đớn. Có lẽ chỉ bằng những hình ảnh chân thực như vậy Nick Cassavetes mới giúp người xem phần nào cảm nhận được sức ép tâm lý nặng nề mà gia đình Fitzgerald nói riêng và những gia đình có người thân mắc ung thư nói chung, phải chịu đựng.

Đương nhiên, nội dung chính của My Sister's Keeper không phải là căn bệnh ung thư, mà là cái cách mọi người đương đầu và chống lại nó thế nào. Bộ phim tràn ngập những hình ảnh cảm động về gia đình nhà Fitzgerald trong cuộc chiến của họ chống lại căn bệnh của Kate và chống lại chính những xung đột tâm lý của bản thân, có thể nói những trường đoạn "lấy nước mắt" trong tác phẩm này của Nick Cassavetes còn đậm đặc hơn The Notebook. Thông thường "nhiều" dễ dẫn đến "nhàm", "sến", nhưng My Sister's Keeper không hề rơi vào cái bẫy dễ mắc đó, Nick Cassavetes đã rất tài tình trong việc xây dựng nhân vật, mỗi người đều có một tính cách, hình ảnh rõ ràng và hoàn toàn khác biệt, thậm chí ngay cả những nhân vật "phụ" trong phim như bà thẩm phán DeSalvo, tay luật sư Campbell hay Taylor, anh chàng người yêu ngắn ngủi của Kate, đều cực kì đặc sắc và có cuộc sống riêng, bí ẩn riêng của họ. Tôi thực sự thích các nhân vật của My Sister's Keeper, họ rất "thật" nhưng cũng lại rất dễ gây thiện cảm từ người xem, điển hình như nhân vật Campbell do Alec Baldwin đóng, nhân vật tưởng như đứng về "phe ác" này cuối cùng lại gây được thiện cảm rất lớn từ phía người xem vì cách hành xử của ông trong vụ kiện tụng đầy rắc rối.

Một hình ảnh "rất The Notebook"

Tuyến nhân vật "không có người xấu" đã khiến My Sister's Keeper trở nên dễ xem hơn nếu so với cốt truyện bi thương của nó, bộ phim cũng chứa đựng những twist và bất ngờ dễ chịu hiếm khi gặp ở những bộ phim bi dạng này. Hơn nữa cũng phải nói rằng My Sister's Keeper không chỉ "có mỗi việc" "mua nước mắt" của khán giả, bộ phim còn đề cập tới một vấn đề hết sức nóng bỏng hiện nay ở xã hội Mỹ, đó là sự xung đột giữa hai trường phái "pro-choice" và "pro-life" trong quan điểm về cách ứng xử với các căn bệnh thuộc dạng vô phương cứu chữa. "Pro-life" xuất phát từ đức tin có gốc rễ tôn giáo, đặc biệt là Công giáo (Catholicism), cho rằng tính mạng là thứ quý giá (của Chúa ban tặng) nên con người phải giữ lại nó bằng mọi cách và không có quyền tự kết liễu cuộc đời mình, vì vậy các bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối dù đau đớn đến đâu, vô phương cứu chữa đến đâu, cũng phải tìm mọi cách để duy trì sự sống để chờ phương thuốc mới hoặc chờ thời điểm sự sống tự thoát ra khỏi cơ thể họ. "Pro-choice" lại gắn liền với chủ nghĩa tự do (Liberalism) vốn rất phổ biến từ lâu ở Tây Âu nhưng lại khá mới mẻ ở "mảnh đất tự do" Mỹ (vốn không "tự do" như người ta tưởng - trừ tự do kinh tế) lại cho rằng quyền quyết định sống hay chết là tùy thuộc vào mỗi cá nhân, vì đó mới là chủ sở hữu thực sự của sự sống, nếu họ cảm thấy không thể chịu nổi những đau đớn hoặc đã quá tuyệt vọng vì căn bệnh vô phương cứu chữa thì họ hoàn toàn có quyền tự kết thúc sự sống (đúng hơn là sự sống trong đau đớn) của chính họ. Tất nhiên, cuộc tranh luận thực sự về vấn đề này phức tạp hơn rất nhiều vì nó còn liên quan tới vô vàn mâu thuẫn trong luật pháp và đạo đức y học. My Sister's Keeper cũng không có tham vọng lái độc giả theo phe "pro-life" hoặc "pro-choice", Nick Cassavetes chỉ bằng những hình ảnh chân thực, cảm động của ông khiến cho khán giả phải tự mình đặt ra câu hỏi: "Ta phải làm gì trong hoàn cảnh đó?". Theo tôi đó là cách xử lý tác phẩm khá tinh tế và khiến cho My Sister's Keeper thực sự trở thành một bộ phim đáng xem và đáng suy ngẫm thay vì dừng lại ở một tác phẩm lãng mạn "kiểu Hàn Quốc" thông thường.

Cameron Diaz với "kiểu tóc" lạ lẫm

Tương tự như cái poster ở trên, My Sister's Keeper có phần hình ảnh đẹp và thơ mộng, cái cách mà Nick Cassavetes miêu tả mối tình ngắn ngủi giữa Kate và Taylor - hai bệnh nhân ung thư, hai cái đầu trọc, hai cặp môi nứt nẻ vì hóa trị liệu, chắc chắn sẽ khiến khán giả quên đi những "mối tinh ung thư" đẹp nhưng phi hiện thực trong phim Hàn Quốc. Dàn diễn viên trong phim tuy không phải là những tên tuổi lớn (của phim tâm lý) nhưng họ đều diễn rất nhập vai, người xem chắc chắn sẽ phải bất ngờ trước một Cameron Diaz, vốn chỉ nổi bật trong dòng phim hành động và hài hước, lại diễn xuất đạt đến vậy vai bà mẹ kiên cường Sara, Jason Patric-nỗi thật vọng của Speed 2 cũng nhập vai không kém với hình ảnh ông bố Brian ít nói và chỉ thể hiện tình yêu với con gái qua ánh mắt biết nói, tất nhiên không thể bỏ qua Sofia Vassilieva, một phát hiện mới trong vai diễn khó, nhưng cực kì ấn tượng-vai cô bé Kate. Đáng ngạc nhiên là một lần nữa diễn viên khiến tôi thất vọng lại là Abigail Breslin, "Little Miss Sunshine" lại một lần nữa chọn được một kịch bản rất tốt nhưng diễn xuất thì không thuyết phục chút nào (như Definitely, Maybe). Tất nhiên đó chỉ là hạt sạn rất nhỏ trong món ăn ngon, và có thể khẳng định My Sister's Keeper là một món ăn tinh thần đặc sắc.


Đây là phim tài liệu được đánh giá cao nhất của năm 2008 và đoạt hầu hết các giải thưởng về phim tài liệu trong năm. Phim kể về Philippe Petit, một nghệ sĩ đi trên dây (funambule) người Pháp với kế hoạch không tưởng là thực hiện cuộc biểu diễn đi trên dây từ nóc của 2 tòa nhà World Trade Center ở New York (cao 417 mét). Vốn có "máu liều" và chất nghệ sĩ như truyền thống của người Pháp (đồng hương của Petit là Alain Robert, biệt danh "người nhện" vì chuyên nhà chọc trời bằng tay không, cũng là tiêu biểu cho tính cách "càn rỡ" này của người Pháp), Philippe Petit ngay từ khi còn rất trẻ đã yêu thích biểu diễn đi trên dây từ đỉnh của những công trình nổi tiếng như Nhà thờ Đức Bà Paris hay Cầu cảng Sydney. Ngay khi World Trade Center mới bắt đầu được xây dựng, Petit đã nảy sinh quyết tâm thực hiện cuộc biểu diễn có một không hai trên nóc nhà mới của thế giới. Và Man on Wire kể lại cho cho khán giả về việc làm thế nào Petit có thể thực hiện được "âm mưu" không khác gì một vụ ... ăn trộm này.

Man on Wire nhìn chung không làm tôi ấn tượng. Trừ một số đoạn phỏng vấn mà Petit bộc lộ ước mơ từ bé của mình hoặc trường đoạn trên đỉnh của World Trade Center thì phim không để lại cảm xúc gì đáng kể, ngay cả những người được phỏng vấn cũng có vẻ không còn quá hào hứng và xúc động vì sự kiện đặc biệt này, có lẽ vì thời gian đã trôi qua quá lâu (34 năm). Thật ngạc nhiên là phim được đánh giá cao đến thế, không biết có phải vì nó gắn với hai cái biểu tượng đau thương của người Mỹ hay không (chắc là vậy, dù phim không hề nhắc gì tới sự kiện 11 tháng 9). Tôi cũng không đánh giá cao cách dựng lại quá khứ "như một vụ trộm" của Man on Wire, vì nó cũng chỉ na ná các bộ phim tài liệu của Discovery Channel chứ không có gì đột phá. Theo tôi thì một phim tài liệu làm về Alain Robert có lẽ sẽ gây cảm xúc mạnh hơn nhiều vì anh chàng "Người nhện Pháp" này vẫn đang ngày ngày leo lên đỉnh của những tòa nhà cao nhất thế giới.

He isn't Spider-Man, he's Alain Robert

lundi 16 novembre 2009

Thirst (2009)


Chứng kiến những nỗi đau đớn kéo dài của bệnh nhân trong bệnh viện mình làm tình nguyện, đức cha Sang-hyun quyết định sang xứ sở châu Phi xa xôi để hiến mình làm thí nghiệm cho các bác sĩ nhằm tìm ra thuốc chữa cho loại virus Emmanuel chết chóc. Thí nghiệm thất bại, đức cha qua đời sau khi được truyền một loại máu lạ, máu ma cà rồng. Nhờ đó mà Sang-hyun được tái sinh trong cơ thể của một con ma cà rồng khát máu, khát máu nhưng lại không thể giết người vì nó đi ngược lại với nguyên tắc sống cơ bản của Sang-hyun, đó là hy sinh vì người khác chứ không để người khác hy sinh vì mình.

Trở về Hàn Quốc từ châu Phi, Sang-hyun tình cờ gặp lại gia đình của bà Ra trong đó có đôi vợ chồng trẻ Kang-woo và Tae-ju mà đức cha quen biết từ ngày còn là một đứa trẻ mồ côi sống trong cô nhi viện. Nét xuân tươi trẻ cùng sức sống hừng hực của Tae-ju đã đánh thức trong Sang-hyun một tình cảm mãnh liệt vốn đã âm ỉ kể từ khi đức cha biến thành ma cà rồng. Về phần mình, Tae-ju cũng tìm được ở Sang-hyun hình ảnh của một người đàn ông mạnh mẽ đích thực, phẩm chất mà Kang-woo, vốn "dở ông dở thằng" vì bệnh tật, không hề có. Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén, Tae-ju và Sang-hyun quan hệ vụng trộm đồng thời ấp ủ âm mưu thủ tiêu Kang-woo nhằm hai mục đích hoàn toàn khác nhau: với Tae-ju đó là cuộc sống tự do thoát khỏi sự kìm kẹp của mẹ con bà Ra, với Sang-hyun đó là sự giải thoát cho Tae-ju khỏi sự "hành hạ" của Kang-woo (thực chất chỉ là trò lừa của Tae-ju để Sang-hyun đồng ý dùng sức mạnh ma cà rồng của mình để giết người). Cuối cùng thì vụ mưu sát cũng được thực hiện thành công, Kang-woo vĩnh viễn nằm lại đáy hồ còn bà Ra vì sốc mạnh sau cái chết của đứa con duy nhất đã bị liệt tứ chi và gần như trở thành một người sống thực vật. Tuy không còn có thể cử động hoặc nói năng nhưng các giác quan khác của bà Ra vẫn đủ tinh nhậy để nhận ra thủ phạm thực sự trong cái chết của con trai mình - Tae-ju và Sang-hyun, nay đã trở thành hai con người bị dày vò vì không thể thoát khỏi nỗi ám ảnh từ Kang-woo.

Nỗi ám ảnh Kang-woo

Nhân ngày sinh nhật của Tae-ju, Sang-hyun tặng cô "món quà" sinh nhật quý giá, đó là dòng máu độc của mình. Tae-ju trở thành ma cà rồng, một con ma khát máu và ác độc hơn nhiều lần so với Sang-hyun. Sự tàn bào của Tae-ju là điều Sang-hyun không hề ngờ tới, đức cha rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan khi mà lương tâm ông không cho phép Tae-ju, người ông yêu quý, tiếp tục hành động như vậy. Cũng trong lúc ấy, bà Ra, dù liệt tứ chi, vẫn tìm mọi cách để vạch bộ mặt thật của hai con ma cà rồng sống bên cạnh mình.

Thirst là bộ phim đầu tiên của Park Chan-wook trong 4 năm và cũng là sự trở lại của đạo diễn với dòng phim bạo lực quen thuộc mà Park đã từng rất thành công trong quãng đầu thập niên 2000 với bộ ba Sympathy for Mr. Vengeance, Oldboy và Sympathy for Lady Vengeance. Tôi rất thích phim của Park Chan-wook bởi một lẽ đơn giản-phim của ông có tính giải trí rất cao, khoan nói đến phần ý nghĩa của phim thì chỉ riêng tài đẩy cảm xúc của phim lên cao bằng những hình ảnh bạo lực rất đẹp và stylish cũng đủ khiến phim của Park được hâm mộ bất kể việc khán giả có nắm được ý nghĩa ẩn phía sau những hình ảnh đó hay không. Xem phim của Park rất "sướng" vì nhân vật trong phim của ông được cách điệu hóa cao độ, họ (các nhân vật) không thật, không gần gũi với thực tế nhưng lại hết sức ấn tượng, chắc chắn ai đã từng thưởng thức phim của ông không thể quên được nụ cười nửa ngây thơ, nửa bạo liệt của nàng Geum-ja (Lee Yong-ae) trong Lady Vengeance hay ánh mắt sát thủ của Dae-su (Choi Min-sik) trong Oldboy. Các cung bậc cảm xúc trong phim của Park Chan-wook thường xuyên được đẩy lên cao độ nhờ diễn xuất của diễn viên (Park chọn diễn viên rất chuẩn, diễn viên trong phim ông không chỉ hợp về diễn xuất mà ngay cả ngoại hình của họ cũng cực kì hợp với nhân vật) cùng phần hình ảnh được biên tập, chuẩn bị chu đáo với bố cục và màu sắc ấn tượng y hệt những bức tranh theo phong cách baroque. Và ở Thirst, một lần nữa Park Chan-wook đã lại chứng tỏ được mình là bậc thầy của dòng phim bạo lực kì quái này.

Too beautiful to become a vampire

Thirst có cốt truyện dựa theo tiểu thuyết Thérèse Raquin của nhà văn Pháp Emile Zola, tuy bối cảnh của hai tác phẩm là hoàn toàn khác nhau nhưng đường dây dẫn dắt chính thì đều xoay quanh "tội ác và trừng phạt" của cặp tình nhân vì yêu nhau mà để bản năng lấn át lý trí. Sự xung đột giữa lý trí (phần người) và bản năng hoang dại (phần con) vốn là chủ đề được Park khai thác rất kĩ trong bộ ba phim trả thù nay lại được phát triển theo một hướng hoàn toàn mới nhờ cái nền phim ma cà rồng cùng kịch tính đặc biệt do Thérèse Raquin tạo nên. Với diễn xuất xuất sắc của Song Kang-ho, cha cố-ma cà rồng Sang-hyun thực sự trở thành đại diện ấn tượng mới cho cái dilemma "giết-không giết?" vốn tưởng như đã bị khai thác đến nhàm chán trong các bộ phim về ma cà rồng. Về phần Kim Ok-bin, theo tôi cô diễn vẫn hơi bị "non" vai Tae-ju, một vai khó cho diễn viên còn trẻ và ít kinh nghiệm như Kim, nét xinh đẹp cùng lối diễn hơi bị over của cô ở nửa đầu dễ làm người xem liên tưởng tới Lee Young-ae trong Lady Vengeance (nhưng ở mức độ thấp hơn), rất may là ở nửa cuối phim khi nhịp độ được đẩy lên cao, Kim Ok-bin đã diễn tốt hơn rất nhiều và đủ để khán giả cảm thấy ấn tượng về một Tae-ju dù ma mãnh nhưng vẫn còn chút gì đó ngây thơ như vẻ đẹp trong sáng thánh thiện của cô. Cũng như diễn xuất của Ok-bin, theo tôi thì phần giữa của Thirst hơi trùng và kém kịch tính hơn hẳn so với phần đầu và phần cuối phim (đặc biệt là phần cuối), ở phần này khán giả không rõ Park Chan-wook muốn đặt điểm nhấn vào đâu-sự dằn vặt vì cái chết của Kang-woo hay mâu thuẫn giữa tình người-bản năng ma cà rồng của Sang-hyun và Tae-ju. Nhưng càng về cuối, khi nhịp phim được đẩy nhanh cùng với ánh mắt biết nói của bà Ra thì cảm xúc của phim dần được đẩy lên cao theo một hướng thống nhất, tôi rất thích phần kết của Thirst, đẹp, ấn tượng và mang đầy đủ khí chất của một bộ phim "kiểu Park Chan-wook".


Như thường lệ, phần hình ảnh và âm nhạc vẫn luôn là thế mạnh của Park, tuy không giàu màu sắc như Oldboy hay Lady Vengeance (Thirst có gam màu tăm tối khá gần với Mr. Vengeance) nhưng phim vẫn rất ấn tượng nhờ những khung hình có tính thẩm mỹ rất cao, Park luôn tận dụng được tối đa những kỹ xảo gắn với sức mạnh phi thường của ma cà rồng để khiến khán giả ngạc nhiên trước vẻ đẹp của các pha hành động dứt khoát, bạo liệt và rất baroque. Bên cạnh đó phim lại có những khoảng lặng về hình ảnh đáng quý, đặc biệt là với hình ảnh đôi giày mà Sang-hyun cho Tae-ju, khiến Thirst có được nhịp điệu phim rất riêng mà không lẫn với những bộ phim ma cà rồng hành động kiểu thông thường. Tôi khá ngạc nhiên vì phần kỹ xảo của phim, rất thật (theo kiểu Hollywood) chứ không thô như một số phim Hàn Quốc tôi đã xem, đồng thời lại không bị lạm dùng mà được Park lồng một cách rất cẩn thận vào phim để làm nổi bật cái tinh tế thường thấy ở phần hình ảnh trong phim của ông.

Thirst thực sự là một bộ phim hay và đáp ứng được mong đợi của khán giả từ một tác phẩm gắn mác Park Chan-wook.

===

Ai thích phim này thì chắc chắn cũng sẽ thích Shallow Grave của Danny Boyle, một phim có concept về dằn vặt, tội lỗi, mưu mô,... rất gần với Thirst.

dimanche 15 novembre 2009

Millennium Trilogy (2009)


Phim này sang tiếng Anh được dịch nguyên thành Men Who Hate Women trong khi tiểu thuyết gốc lại bị dịch thành The Girl with the Dragon Tattoo. Ở Pháp thì ngược lại, tiểu thuyết giữ tên gốc (Les hommes qui n'aimaient pas les femmes) trong khi phim lại đổi thành Millenium, chẳng biết đằng nào mà lần.

Mikael Blomkvist là nhà báo điều tra kinh tế có tiếng của tờ Millennium nhưng vì vướng vào một vụ bê bối bôi nhọ nên ông buộc phải từ chức và còn bị tòa tuyên 6 tháng ngồi nhà đá. Trước khi vào tù, Blomkvist nhận được một công việc cuối cùng, đó là điều tra vụ sát hại cô cháu gái 16 tuổi của nhà tài phiện Henrik Vanger. 40 năm trước, Harriet Vanger đột nhiên biến mất với manh mối duy nhất để lại là một bức ảnh trên báo trong đó có bóng mờ của cô gái. Và sau sự kiện bi thảm ấy, hàng năm vào dịp sinh nhật mình, ông Henrik Vanger lại nhận được một bức tranh làm từ hoa khô ép-món quà mà Harriet vẫn tặng ông trước lúc biến mất không để lại dấu vết. Henrik tin rằng cô bé đã bị giết, kẻ giết cô chính là người đã gửi quà cho ông mỗi năm, và hơn hết, ông tin rằng kẻ giết Harriet là một trong số thành viên của nhà Vanger, những người vốn ghen tị với Harriet vì sự yêu quý của ông Henrik-người nắm tài sản của đại gia đình, dành cho cô.

40 năm đã qua, ánh mắt ấy nói lên điều gì?

Thời gian trôi qua mà cuộc điều tra của Blomkvist vẫn dậm chân tại chỗ vì sự bất hợp tác của những người trong gia đình Vanger và bản thân ông cũng không thể suy luận được gì từ những dòng chữ bí ẩn ghi bên trong cuốn nhật ký mà Harriet để lại trước khi biến mất. Hướng điều tra chỉ thực sự được mở ra nhờ sự xuất hiện của Lisbeth Salander, một cô gái có vẻ ngoài của dân goth đầy nổi loạn nhưng cũng lại sở hữu khả năng suy luận sáng suốt và tài nghệ của một hacker ngoại hạng. Nhờ có Lisbeth, Blomkvist mới dần khám phá được những bí ẩn khủng khiếp ẩn giấu bên trong gia đình Vanger, đó là những sự thật còn tàn bạo và khó tin hơn nhiều lần so với một vụ án mạng thông thường. Cuộc điều tra mở ra một hướng mới cũng là lúc Blomkvist nhận được những lời đe dọa từ gia đình nhà Vanger cộng thêm một vụ mưu sát hụt, người đi săn đã trở thành kẻ bị đi săn, tất cả mới thực sự bắt đầu.

Lisbeth Salander và Mikael Blomkvist

Män som hatar kvinnor (Những người đàn ông không yêu phụ nữ) được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của tác giả người Thụy Điển Stieg Larsson. Larsson chỉ viết văn như một thú vui tay trái, nghề nghiệp chính của ông là nhà báo kinh tế (giống như Blomkvist), ông qua đời đột ngột vì đau tim khi mới 50 tuổi (năm 2004). Chỉ sau khi Larsson đã qua đời, bản thảo bộ ba tiểu thuyết Millennium (mà Män som hatar kvinnor là tập đầu tiên) mới được xuất bản và lập tức gây được tiếng vang lớn vì giọng văn khác lạ và cách xây dựng nhân vật rất mới mẻ nếu so với lối mòn truyền thống của dòng tiểu thuyết trinh thám. Trong vòng chỉ có 4 năm kể từ năm 2005, bộ ba Millennium đã bán được trên 20 triệu bản sách, một con số thuộc loại "khủng khiếp" cho những tác phẩm nằm ngoài thị trường Mỹ, riêng ở Pháp thì cả ba tập của Millennium nằm trong danh sách các tiểu thuyết bán chạy nhất nước Pháp trong vòng hơn 2 năm liên tiếp. Những con số như vậy cũng đủ để chứng tỏ sức hấp dẫn của bộ tiểu thuyết trinh thám này.

Về chất lượng chuyển thể, có thể nói đạo diễn của Män som hatar kvinnor mới chỉ ... hoàn thành một nửa độ hấp dẫn của tiểu thuyết, nửa đầu tiên. Trong khoảng một tiếng đầu tiên của Män som hatar kvinnor, khán giả được chứng kiến một tác phẩm điện ảnh cực kì hấp dẫn của dòng phim trinh thám và rất khác lạ so với những bộ phim tương tự của Hollywood. Sự khác lạ đầu tiên nằm ở tuyến nhân vật, chắc chắn chưa bộ phim trinh thám nào của Hollywood lại có nhân vật chính là một cô gái cá tính, nổi loạn (cả về hình thức bên ngoài và tính cách bên trong) như Lisbeth Salander, cũng chưa từng có bộ phim Hollywood nào "dám" đặt một người đàn ông như Mikael Blomkvist vào vị trí bạn đồng hành (sidekick) của nhân vật nữ chính. Cách tiết lộ từng manh mối về vụ án Harriet Vanger cũng được đạo diễn thực hiện rất khéo léo và hoàn toàn lôi cuốn được độc giả vào cùng suy luận với Blomkvist và Salander trong vụ điều tra tên giết người bí ẩn. Rõ ràng với dòng phim trinh thám vốn đã được khai thác quá mức này, những twist hay trick của kẻ thủ ác sẽ không còn khiến người xem hứng thú (vì họ ít nhiều đã gặp chúng ở một tác phẩm khác), quan trọng là đạo diễn có lôi kéo được họ cùng đặt câu hỏi "Tại sao lại như vậy?" như các nhân vật của bộ phim hay không.

Ai là kẻ thủ ác?

Tiếc là không khí căng thẳng, kích thích người xem ở nửa đầu phim đã bị kéo trùng xuống trong phần cuối kết quả là phần "hạ màn" của bộ phim chỉ khiến khán giả có đôi chút hứng thú chứ không còn giữ được sự hưng phấn ban đầu khi họ chứng kiến Salander và Blomkvist lật mở vụ án. Dường như việc đây chỉ là tập đầu tiên trong bộ ba phim đã khiến đạo diễn lỏng tay và làm đoạn kết của phim thiếu đi sự hấp dẫn cần thiết đồng thời lại không tạo được sự hứng thú cần thiết cho khán giả về hai phần tiếp theo. Điểm sáng duy nhất ở những phút cuối của phim là diễn xuất rất tốt của Noomi Rapace trong vai Lisbeth Salander, cặp mắt có lửa của cô đã giúp người xem cảm nhận được sự yếu đuối ẩn trong vẻ ngoài bạo liệt của Salander, có lẽ nét bí ẩn của Salander là sự gợi mở duy nhất của Män som hatar kvinnor cho hai phần tiếp theo. Hy vọng ở phần hai và phần ba, đạo diễn sẽ tận dụng được hết khả năng của Rapace để biến Millennium thực sự trở thành một bộ ba phim trinh thám khiến cho Hollywood phải ghen tị.


Lại một lần nữa phải bái phục sự dịch tên tác phẩm sang tiếng Anh và tiếng Pháp, tập thứ 2 của loạt Millennium này được dịch nguyên sang tiếng Anh thành The Girl Who Played with Fire trong khi bản tiếng Pháp (cả truyện và phim) lại được dịch thành La fille qui rêvait d'un bidon d'essence et d'une allumette (nôm na: Cô gái có giấc mơ về can xăng và cái bật lửa - ám chỉ quá khứ của Lisbeth Salander.

Tập phim này có thể coi là một bước thụt lùi so với tập đầu tiên, lý do đơn giản vì sự bất ngờ về xây dựng nhân vật đã mất đi, giờ đây khán giả đã biết Lisbeth đặc biệt thế nào, chỉ còn một dấu hỏi đặt ra: "Tại sao và cái gì đã biến Lisbeth trở thành cô gái lập dị như vậy". Tập phim thứ hai này xoay quanh những khám phá của Blomkvist về quá khứ của Lisbeth cùng một vụ án bí ẩn liên quan tới băng buôn bán và lạm dụng phụ nữ làm nô lệ tình dục. Nói qua về nội dung cũng có thể thấy Millennium đang nghiêng theo phong cách bắt chước bộ Bourne (một điều cực kì khó khăn vì ba tập Bourne đã được làm quá xuất sắc), cũng là vừa song song phá án vừa tìm lại về quá khứ của nhân vật chính. Tập phim này lại còn thiếu màu sắc bí ẩn và mập mờ (nhưng tạo cho khán giả hứng thú "cùng phá án" với nhân vật) ở tập đầu. Tuy nhiên thì đây vẫn là một phim "xem được" và nhất là khán giả vẫn cần một cái "cầu nối" để đi tới tập 3 của loạt Millennium, vì thế miễn là cầu không quá tệ đến mức gẫy giữa chừng cũng là đạt yêu cầu.

vendredi 13 novembre 2009

The 100 Best Movies of the Noughties


Ảnh: Phim truyền hình Mexico Cô bé Chabelita, không liên quan gì đến nội dung bài viết.

Năm cuối cùng của thập niên 2000 sắp trôi qua có khác, các báo thi nhau đưa ra danh sách "Top Movies of the 2000s". Giờ đến lượt tờ The Times của Anh đưa ra cái danh sách "The 100 Best Movies of the Noughties", nghe châm biếm đúng kiểu Anh. Danh sách này khá lạ lẫm và không hợp ý tôi lắm, nhưng dù sao nó cũng đáng để tham khảo.

100 The Devil Wears Prada (David Frankel, 2006)***
099. Battle Royale (Kinji Fukasaku, 2000)*****
098. Crash (Paul Haggis, 2004)***
097. Sympathy for Lady Vengeance (Park Chan-Wook, 2005)****
096. Morvern Callar (Lynne Ramsay, 2002)
095. Amores Perros (Alejandro González Iñárritu, 2000)****
094. An Inconvenient Truth (Davis Guggenheim, 2006)
093. House of Flying Daggers (Zhang Yimou, 2004)***
092. Dirty Pretty Things (Stephen Frears, 2002)
091. Lantana (Ray Lawrence, 2001)
090. Wedding Crashers (David Dobkin, 2005)***
089. School of Rock (Richard Linklater, 2003)***
088. The Royal Tenenbaums (Wes Anderson, 2001)***
087. Time and Winds (Reha Erdem, 2006)
086. The Orphanage (Juan Antonio Bayona, 2007)
085. The Piano Teacher (Michael Haneke, 2001)****
084. Hotel Rwanda (Terry George, 2004)
083. The Wind that Shakes the Barley (Ken Loach, 2006)
082. Yi Yi: A One and a Two (Edward Yang, 2000)
081. In The Loop (Armando Iannucci, 2009)****
080. Me, You and Everyone We Know (Miranda July, 2005)
079. Le Grand Voyage (Ismael Ferroukhi, 2004)
078. About Schmidt (Alexander Payne, 2002)***
077. Bowling for Columbine (Michael Moore, 2002)****
076. Control (Anton Corbijn, 2007)
075. Talk to Her (Pedro Almodóvar, 2002)
074. Pan’s Labyrinth (Guillermo Del Toro, 2006)****
073. The Beat That My Heart Skipped (Jacques Audiard, 2005)***
072. The Hurt Locker (Kathryn Bigelow, 2008)***
071. Monsters, Inc. (Pete Docter/David Silverman/lee Unkrich, 2001)**
070. The Class (Laurent Cantet, 2008)****
069. Persepolis (Vincent Paronnaud, Marjane Satrapi, 2007)
068. Memento (Christopher Nolan, 2000)****
067. Gomorrah (Matteo Garrone, 2008)***
066. City of God (Fernando Meirelles, Katia Lund, 2002)****
065. Waltz with Bashir (Ari Folman, 2008)***
064. L'enfant (Jean-Pierre Dardenne/Luc Dardenne, 2005)
063. There Will Be Blood (Paul Thomas Anderson, 2007)****
062. Anchorman: The Legend of Ron Burgundy (Adam McKay, 2004)
061. Spirited Away (Hayao Miyazaki, 2001)*****
060. The Squid and the Whale (Noah Baumbach, 2005)
059. Être et Avoir (Nicolas Philibert, 2002)
058. Shaun of the Dead (Edgar Wright, 2004)****
057. The Consequences of Love (Paolo Sorrentino, 2004)
056. Volver (Pedro Almodovar, 2006)***
055. Chopper (Andrew Dominik, 2000)
054. Bad Santa (Terry Zwigoff, 2003)
053. Milk (Gus Van Sant, 2008)****
052. The Constant Gardener (Fernando Meirelles, 2005)****
051. The Son’s Room (Nanni Moretti, 2001)****

050. The Lord of The Rings: The Return of the King (Peter Jackson, 2003)****
049. Knocked Up (Judd Apatow, 2007)**
048. Little Miss Sunshine (Jonathan Dayton/Valerie Faris, 2006)****
047. My Summer of Love (Pawel Pawlikowski, 2004)
046. Traffic (Steven Soderbergh, 2000)***
045. Touching the Void (Kevin Macdonald, 2003)
044. Under the Sand (François Ozon, 2000)
043. The Dark Knight (Christopher Nolan, 2008)***
042. The Incredibles (Brad Bird, 2004)****
041. Children of Men (Alfonso Cuarón, 2006)****
040. Syriana (Stephen Gaghan, 2005)
039. Lost in Translation (Sofia Coppola, 2003)***
038. Mulholland Drive (David Lynch, 2001)***
037. In the Mood for Love (Wong Kar Wai, 2000)*****
036. Capturing the Friedmans (Andrew Jarecki, 2004)
035. Y Tu Mamá También (Alfonso Cuarón, 2002)
034. Finding Nemo (Andrew Stanton/Lee Unkrich, 2003)***
033. Monsoon Wedding (Mira Nair, 2002)
032. Gladiator (Ridley Scott, 2000)***
031. Iraq in Fragments (James Longley, 2006)
030. Irreversible (Gaspar Noé, 2002)
029. Being John Malkovich (Spike Jonze, 2000)
028. The Diving Bell and the Butterfly (Julian Schnabel, 2007)****
027. Sideways (Alexander Payne, 2004)***
026. Minority Report (Steven Spielberg, 2002)***

025. Dancer in the Dark (Lars Von Trier, 2000)
024. 28 Days Later... (Danny Boyle, 2002)
023. Man On Wire (James Marsh, 2008)***
022. Far from Heaven (Todd Haynes, 2002)
021. Good Night, and Good Luck (George Clooney, 2005)
020. Donnie Darko (Richard Kelly, 2001)
019. United 93 (Paul Greengrass, 2006)
018. Let the Right One In (Tomas Alfredson, 2008)****
017. Brokeback Mountain (Ang Lee, 2005)
016. Eternal Sunshine of the Spotless Mind (Michel Gondry, 2004)*****
015. Downfall (Oliver Hirschbiegel, 2004)****
014. 4 Months, 3 Weeks & 2 Days (Cristian Mungiu, 2007)***
013. This Is England (Shane Meadows, 2007)****
012. The Lives of Others (Florian Henckel von Donnersmarck, 2006)
011. Borat: Cultural Learnings of America for Make Benefit Glorious Nation of Kazakhstan (Larry Charles, 2006)***
010. Hunger (Steve McQueen, 2008)
009. The Queen (Stephen Frears, 2006)***
008. Casino Royale (Martin Campbell, 2006)***
007. The Last King of Scotland (Kevin Macdonald, 2006)***
006. Slumdog Millionaire (Danny Boyle, 2008)***
005. Team America: World Police (Trey Parker, 2004)
004. Grizzly Man (Werner Herzog, 2005)
003. No Country for Old Men (Joel Coen, Ethan Coen, 2007)****
002. The Bourne Supremacy / The Bourne Ultimatum (Paul Greengrass, 2004, 2007)****
001. Hidden (Cache) (Michael Haneke, 2005)


(**, ***, ****, *****: My rating)


lundi 9 novembre 2009

Away We Go (2009), Julie & Julia (2009), Il divo (2008)

Sau một loạt bốn phim tâm lý nặng nề (American Beauty, Road to Perdition, Jarhead, Revolutionary Road), Sam Mendes lần đầu tiên thử sức với một phim hài kinh phí thấp - Away We Go. Đây là một roadmovie (phim nói về những cuộc hành trình, rong ruổi với rất nhiều gương mặt khác nhau, tiêu biểu cho dạng phim này thời gian gần đây là Into the Wild của Sean Penn và My Blueberry Nights của Vương Gia Vệ) đậm chất indie, diễn viên không phải ngôi sao nhưng đóng rất nhập vai, thoại nhẹ nhàng mà vẫn sâu sắc, bối cảnh phim mộc mạc và phần nhạc ngẫu hứng. Tuy vậy thì phim vẫn mang phong cách quen thuộc của Mendes, đó là ẩn chứa rất nhiều bi kịch của những con người bình thường, phần thoại đôi khi hơi triết lý quá (hay nói cách khác là được "kịch hóa" - ngoài đời chẳng ai nói được đến như vậy) và phần hình ảnh của phim có tông màu đồng nhất từ đầu tới cuối.

Nội dung của Away We Go khá giản dị - một cặp tình nhân sắp có đứa con đầu lòng thực hiện chuyến hành trình dài đằng đẵng để tìm một nơi thích hợp cho tổ ấm mới, mỗi một thành phố họ đi qua, cặp tình nhân lại gặp một bi kịch khác nhau của cuộc sống gia đình, để rồi họ dần tìm thấy được ý nghĩa đích thực của chính tình yêu giữa hai người và cuối cùng là tìm được cho mình một chỗ dừng chân, một mái nhà đích thực. Bộ phim tràn ngập bi kịch gia đình, bi kịch của một bà mẹ foul-mouthed sẵn sàng xỉ vả con cái và chồng tới mức không thể tin được, bi kịch của bà mẹ trẻ yêu con nhưng lại xa rời với cái gọi là cuộc sống đích thực, bi kịch của một cặp vợ chồng trẻ cố thuyết phục nhau rằng họ đang sống hạnh phúc trong sự bất hạnh, và bi kịch của một ông bố trẻ cùng cô con gái bị người vợ bỏ rơi. Chính những bi kịch đó đã giúp cặp tình nhân phát hiện ra rằng tình yêu của họ lớn hơn tất cả các đôi tình nhân mà họ từng ngưỡng mộ khác, cuộc hành trình càng dài, họ lại càng được tiếp thêm sức mạnh để gắn kết với nhau trong cuộc đời (dù cô gái nhân vật chính nhất quyết không chịu cưới anh chàng ngố bạn trai mình).

Dàn diễn viên của phim không nổi tiếng, ba cái tên ít ỏi mà tôi biết đến trong phim là Melanie Lynskey của Heavenly Creatures trước đây (không hiểu có phải vợ Mendes - Kate Winslet, đã giới thiệu Lynskey - bạn diễn của cô trong Heavenly Creatures cho chồng không), Maya Rudolph (vì là .... người yêu của đạo diễn tôi yêu thích Paul Thomas Anderson) và Maggie Gyllenhaal. Nhìn chung dàn diễn viên của Away We Go đóng tốt, bề ngoài giản dị và cái chất diễn tưng tửng của họ rất hợp với không khí của phim. Vì vậy về tổng quát Away We Go là một phim xem được, nhưng vẫn hơi khó "nuốt" vì chất bi kịch của phim vẫn hơi đậm đặc, không hề dành cho những người mong đợi được xem một bộ phim hài.


Thật sai lầm khi chọn xem Julie & Julia, phim này đúng là chỉ dành cho "chị em phụ nữ" chứ con trai xem quả thực không thể mê được. Phim nói về 2 bà nội trợ Mỹ mê nấu món ăn Pháp là Julia Child và Julie Powell, cả hai đều là nhân vật có thật ngoài đời. Tuy thuộc 2 thế hệ hoàn toàn khác nhau (Julia sinh năm 1912 còn Julie sinh năm 1973) nhưng cả hai đều sử dụng niềm vui nấu nướng và khám phá ẩm thực Pháp để vượt qua những khó khăn, thử thách trong cuộc sống - với Julia đó là nỗi buồn của một phụ nữ không có con phải theo chồng, một nhân viên ngoại giao, rong ruổi khắp thế giới, với Julie đó là sự khủng hoảng tâm lý của một phụ nữ bước vào tuổi 30 với công việc hết sức nhàm chán. Một điều may mắn nữa của hai người là cả Julie và Julia đều có những đức lang quân tốt bụng, hy sinh hết mình để giúp đỡ vợ trên con đường nấu nướng. Phim thuộc loại feel-good-movie cho chị em gái nên nội dung nhẹ nhàng, không có bi kịch hoặc xung đột thực sự, chủ yếu tập trung miêu tả tâm lý (vô cùng rắc rối và ... không thể chịu được) của hai phụ nữ, một chuẩn bị bước vào tuổi trung niên và một vừa kết thúc tuổi trung niên. Diễn xuất của hai ngôi sao nữ trong phim - Amy Adams và Meryl Streep, theo tôi là bình thường, không có gì đột phá mà cũng chẳng có gì đáng nhớ, Adams diễn giống hệt vai của cô trong Sunshine Cleaning (một phim cũng chẳng lấy gì làm xuất sắc), Streep thì vẫn cái vẻ vui tươi, xởi lởi nhưng có gì đó hơi thô kệch như trong Mamma Mia!, thực sự tôi thích Streep đóng những vai bi và đứng đắn như trong Out of Africa, Devil Wears Prada hay Doubt hơn là những vai hài hước kiểu này, vì giọng của Streep không hợp và cách bà diễn những pha hài hước cũng không thuyết phục cho lắm. Phần ẩm thực trong phim cũng không thực sự hấp dẫn, một phần vì ẩm thực Pháp không phải dạng màu mè và đòi hỏi kỹ năng chế biến cao như ẩm thực Trung Quốc, phần khác vì phim chỉ tập trung vào những món tương đối phổ biến và dễ làm của Pháp nên Julie & Julia khó lòng mà kích thích được cái dạ dày của người xem. Tóm lại tôi thấy phim này thua xa một phim khác cũng mượn chuyện ẩm thực để miêu tả tâm lý, đó là Nam nữ ẩm thực của Lý An.

Phải nói luôn là phim Il divo không liên quan gì đến boyband Il Divo của Anh cả. Divo (số nhiều: Divi, giống cái: Diva) trong tiếng Ý nghĩa là thần thánh, trong âm nhạc có thêm nghĩa là ngôi sao của sân khấu. Il divo là bộ phim tiểu sử về Giulio Andreotti, biệt danh "Divo Giulio" ("Giulio thần thánh"), người từng ba lần làm thủ tướng Ý, ba lần giữ chức bộ trưởng quan trọng (Nội vụ, Ngoại giao, Quốc phòng), một lần ứng cử viên Tổng thống Ý, nghị sĩ trọn đời của Thượng viện Ý, và một lần bị kết án 20 năm tù vì âm mưu ám sát một nhà báo (sau rất nhiều phiên tòa xử lại được kết luận vô tội) cộng thêm rất nhiều lần bị báo chí chỉ đích danh vì những mối liên hệ chặt chẽ với mafia. Andreotti có thực sự cộng tác với mafia hay không, người ta không bao giờ biết, chỉ biết rằng sau mấy chục năm trên chính trường Ý, lần lượt những cộng sự thân tín của Andreotti bị kết án vì nhiều loại tội khác nhau, bản thân đảng do Andreotti gây dựng nên là Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo Ý - từng là thế lực mạnh nhất ở Ý những năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đã phải giải tán vì vô số bê bối liên quan đến tham nhũng. Chỉ riêng mình Giulio Andreotti vẫn lừng lững giữa xã hội Ý như một biểu tượng của quyền lực vừa được nhiều người kính phục nhưng cũng bị vô số người khác dè bỉu, một hình tượng "rất Ý".

Il divo chủ yếu xoay quanh thời gian hoạt động của Andreotti ngay trước khi ông bị rút quyền miễn tố và phải ra hầu tòa vì tội dàn xếp dẫn tới cái chết của một nhà báo nổi tiếng. Để "xứng đáng" với nhân vật đặc biệt mà bộ phim miêu tả, đạo diễn Paolo Sorrentino không sử dụng cách làm phim tiểu sử thông thường, tức là đi theo trình tự "leo núi" phấn đấu => thành công => sụp đổ, trái lại Il divo sử dụng cách kể chuyện phi tuyến tính xen kẽ giữa những tội ác mà Andreotti có dính líu trong quá khứ với những hình ảnh của một Andreotti lạnh lùng, điềm tĩnh đối mặt với tòa án, báo chí trong hiện tại. Xem Il divo, người ta dễ dàng liên tưởng đến một hai bộ phim xuất sắc khác về quyền lực đen, đó là Bố già và Bố già phần II của Francis Ford Coppola, cả hai (loạt Bố già và phim Il divo) đều tập trung khắc họa tính "hai mặt", tốt có nhưng xấu cũng có và còn nhiều hơn, của nhân vật chính-ông trùm, nếu như bố con Corleone chỉ là ông trùm của thế giới ngầm thì Andreotti "oai phong" hơn nhiều, ông ta là trùm của thế giới chính trị-một Bố già đứng ngoài ánh sáng. Nhưng khác với Bố già vốn như một vở kịch Shakespeare bi tráng, Il divo lại mang hơi hướng của một vở opera theo phong cách baroque với nhiều cung bậc cảm xúc và màu sắc khác nhau, từ sự đẫm máu, tàn bạo của các vụ ám sát đến nét châm biếm hài hước của giới chính trị gia và cả sự hối day dứt tội lỗi của những phụ tá thân cận trong "triều đình" Andreotti. Màu sắc đa dạng của "vở opera" này còn được nhấn mạnh bằng phần nhạc được đạo diễn Sorrentino sử dụng rất tài tình, nhạc nền của Il divo đủ cả metal, opera, nhạc giao hưởng, nhạc trữ tình Ý và thậm chí là nhạc Rap, tất cả được lồng một cách rất tài tình vào những trường đoạn khác nhau giúp cho khán giả càng thêm choáng ngợp vì không khí hỗn loạn đến nghẹt thở của phim. Và trong cái không khí ấy, Toni Servillo đã thể hiện tuyệt vời hình ảnh của một "Divo" Giulio Andreotti luôn lạnh lùng, châm biếm và không bao giờ bộc lộ cảm xúc thật, cuộc sống chính trị nước Ý có thể hỗn loạn vì các vụ thanh trừng, mưu sát, nhưng Andreotti thì luôn đứng đó, vững chãi giống như cách đạo diễn sử dụng rất nhiều góc quay cận cảnh để mô tả nhân vật này trong phim.

Il divo theo tôi là một phim chính trị xuất sắc, đạo diễn không hề áp đặt quan điểm của mình trong phim, thay vào đó ông chỉ tập trung khắc họa nhiều bộ mặt khác nhau của cùng một con người để khán giả có thể tự rút ra kết luận cho câu hỏi: "Andreotti có tội hay vô tội?". Tuy nhiên với những người ít am hiểu chính trị và lịch sử hiện đại của Ý như tôi thì phim có một điểm trừ lớn, đó là nhịp phim quá nhanh cùng cách dựng phim phi tuyến tính khiến khán giả rất khó theo dõi, thậm chí là khó bắt kịp hết phần thoại (được các nhân vật nói cực nhanh) và các dòng chữ chú thích gắn trực tiếp trên phim, kết quả là phim trở thành hơi khó hiểu và tính giải trí của tác phẩm thì bị giảm đi rất nhiều. Có lẽ phải đọc thêm nữa thì mới có thể hiểu tại sao năm 2008 người ta lại đánh giá tác phẩm này không thua kém gì Gomorra, bộ phim được coi là Bố già thật sự của Ý.

vendredi 6 novembre 2009

The Tournament (2009)

The Tournament chỉ là một B movie, thể loại tôi ít khi đụng tới vì sợ ... tốn thời gian, nhưng lần này là ngoại lệ vì The Tournament vay mượn (hay ăn cắp? whatever) ý tưởng từ một tác phẩm tôi rất yêu thích, Battle Royale. Tương tự Battle Royale, The Tournament (bản tiếng Pháp nghe máu me hơn nhiều - Tournoi de la mort - Cuộc đấu tử thần) lấy thời gian ở tương lai gần khi xã hội trở nên hỗn loạn vì khủng bố, chém giết và chế độ toàn trị (totalitarianism). Cũng như rất nhiều phim 1984ish (dòng phim lấy ý tưởng từ tiểu thuyết 1984 của George Orwell) khác, The Tournament lấy bối cảnh là nước Anh, ở đó mọi hoạt động của người dân đều bị theo dõi chặt chẽ bởi hệ thống camera theo dõi (CCTV, viết tắt đúng như Đài truyền hình trung ương Trung Quốc) đặt ở mọi nơi, mọi chỗ (kể cả phòng tắm, nhưng lại trừ .... nhà thờ?!). Cứ bảy năm, một ông trùm cá cược có tên Powers lại đứng ra tổ chức cuộc thi có tên The Tournament. Format của cuộc thi như sau: 30 sát thủ hàng đầu thế giới được tập trung lại trong một thành phố, họ được gắn một con chíp có hình viên đạn trong bụng để định vị cho hội cá cược cùng các thành viên còn lại của cuộc đấu, trong vòng đúng một ngày các sát thủ phải ... giết nhau để làm sao chỉ còn đúng một người thắng cuộc, người đó sẽ nhận được giải thưởng 10 triệu USD, nhưng nếu hết một ngày mà vẫn còn trên 2 người sống sót, viên đạn gắn trong người họ sẽ nổ tung. Tóm lại là hoàn toàn tương tự như Battle Royale, chỉ có thay vào chỗ một lớp học là một nhóm sát thủ, vì vậy tính máu me bạo lực sẽ cao hơn nhiều trong khi yếu tố tình cảm sẽ được giảm thiểu. Một điểm khác biệt nữa trong The Tournament là sự xuất hiện của vị cha cố say xỉn, ông ta nhỡ uống nhầm một cốc cà phê có chứa viên đạn mà tay sát thủ người Pháp vừa tự mổ bụng để tháo ra, vì vậy bất đắc dĩ ông cha sứ lại phải đóng vai tay sát thủ thứ 31 của The Tournament. "Ở hiền gặp lành", cha cố gặp ngay được em gái Trung Quốc xinh đẹp nhưng tài nghệ giết người siêu hạng có tên Lai Lai Zhen (Trịnh Lai Lai) và được em thương mến bảo vệ.

Tì chân vào xe đang chạy để bắn súng, cực kì sáng tạo!

Hoành tráng không thua gì blockbuster

The Tournament có phần mở đầu khá hứa hẹn, tuy là phim có kinh phí thấp nhưng các cảnh hành động được thực hiện gọn, đẹp mắt, máu me ê hề, nhóm sát thủ trung tâm được khắc họa khá đặc sắc, mỗi người mỗi vẻ, gợi được sự tò mò trong khán giả xem ... ai sẽ chết trước, và chết như thế nào (đương nhiên với B movie thì hai nhân vật chính - cha cố và em gái Tàu, sẽ sống đến cuối cùng). Nhóm sát thủ này, bên cạnh em Lai Lai Zhen ở trên, gồm có một sát thủ da đen người Mỹ (Ving Rhames của Pulp Fiction), người chiến thắng The Tournament của bảy năm trước nay quay lại để trả thù cho người vợ vừa bị giết, một tay sát thủ trẻ tuổi người Mỹ khác cực kì tàn bạo và mắc bệnh nghiện giết người, một cao thủ parkour người Pháp cực kì thông minh-người duy nhất biết mổ bụng lôi viên đạn ra và cuối cùng là một tay người Nga cao to lừng lững nhưng cực kì lanh lẹ, giỏi võ. Người đáng chú ý nhất trong đám sát thủ là tay sát thủ người Pháp, diễn viên thủ vai này có tên Sébastien Foucan, một trong hai người sáng lập môn phái parkour. Đây là môn phái võ Pháp đặc trưng bởi các pha nhào lộn trên mái nhà, leo tường, nhảy vượt chướng ngại vật,... Ở nước ngoài thì parkour có lẽ được biết tới rộng rãi nhất thông qua các pha hành động đầu phim Casino Royale (mà Foucan chính là người thể hiện) hay ít nổi hơn (nhưng đặc sắc hơn) là trong Banlieue 13. Không hổ danh là "sư tổ" parkour, các pha hành động của Foucan trong The Tournament cực kì sáng tạo, đẹp mắt và (trông) rất thật, trong đó trường đoạn đuổi nhau cùng xe cảnh sát hoàn toàn có thể đánh giá là xuất sắc hơn trường đoạn đuổi nhau trên mái nhà nổi tiếng của The Bourne Ultimatum. Các pha hành động của những diễn viên còn lại đương nhiên thua kém Foucan nhiều lần, tuy vậy các pha bắn nhau máu me của phim (mindless shooting) cũng đủ khiến khán giả "sướng mắt" và gợi nhớ lại những phim hành động "tinh tuyền" vào thời thập niên 80, đầu 90 của những Nico (à quên Steven Seagal), Bruce Willis hay Sylvester Stallone.

Máu me bạo lực y như thời của Tango & Cash

Phần cuối của The Tournament cũng còn một số pha hành động rất đẹp mắt khác, trong đó pha truy đuổi giữa chiếc xe chở hóa chất của tay sát thủ da đen với xe bus hai tầng của em gái Tàu và anh cha sứ khiến tôi khá ngạc nhiên vì mức độ "hoành tráng" và thiết kế công phu của nó, kinh phí của một B movie mà hiệu quả lại không kém bất cứ một blockbuster nào của Hollywood (The Tournament là phim Anh). Tuy nhiên thì ai chờ đợi một remake của Battle Royale thì chắc chắn sẽ phải thất vọng rất nhiều lần vì The Tournament. Tất cả những ý nghĩa được lồng bên trong các pha bắn giết ở Battle Royale đều bị vứt bỏ ở The Tournament, thay vào đó là một thứ triết lý rẻ tiền xoay quanh ông cha cố mồm luôn lải nhải "tha thứ, tha thứ". Các yếu tố này đã kéo The Tournament về đúng vị trí của nó, một B movie nhảm và mang tính giải trí giết thời gian thuần túy. Tất nhiên vẫn phải khẳng định rằng trong dòng phim hành động thì The Tournament vẫn là một phim xem rất khá, đặc biệt với những ai đã chán ngán những phim hành động nửa mùa pha chất sến hiện nay và muốn quay lại với dòng phim hành động truyền thống từng phổ biến hơn 20 năm trước.

Các con ơi đừng giết nhau nữa!?

mercredi 4 novembre 2009

Bụi quý (phần 1)

Trích đoạn truyện ngắn Bụi quý của K.Paustovsky:
Mỗi phút, mỗi lời tình cờ được nói ra và mỗi cái nhìn vô tình ta bắt gặp, mỗi ý nghĩ sâu sắc hoặc vui đùa, mỗi rung động thầm lặng của con tim, cũng như cả đến một bông xốp của hoa hướng dương đang bay hay lửa sao trong một vũng nước đêm - tất cả những cái đó đều là những hạt rất nhỏ của bụi vàng.
Chúng ta, những nhà văn, chúng ta bòn đãi chúng trong hàng chục năm, hàng triệu những hạt cát đó, lặng lẽ thu góp lại cho mình, biến chúng thành một hợp kim rồi từ hợp kim đó ta đánh
Bông Hồng Vàng của ta - truyện, tiểu thuyết hay là thơ.
Trong bài viết này tôi muốn nói tới một người thợ bạc cần mẫn gom bụi quý của đời như thế, đó là đạo diễn người Nhật Yasujiro Ozu, hay như mọi người vẫn gọi ông một cách kính trọng là Ozu sensei - thầy Ozu. Có lẽ Ozu không phải là một cái tên quen thuộc với người chỉ thích phim Nhật đương đại, ông thuộc về giai đoạn hoàng kim của điện ảnh đất nước Mặt Trời mọc từ thập niên 1950, và ngay cả xét trong giai đoạn đó thì Ozu cũng không thể nào nổi bật như hai cái chân kiềng còn lại của điện ảnh Nhật - Akira Kurosawa và Kenji Mizoguchi. Bản thân Ozu cũng từng nhận xét rằng nếu như hai người bạn của ông thuộc về "bè cao" với những bộ phim ngay lập tức gây tiếng vang lớn ở trường quốc tế thì bản thân Ozu lại thuộc về "bè trầm" khi mà các tác phẩm của ông chỉ được thế giới biết tới hơn một thập niên sau khi ông qua đời - Ozu mất sớm, ông qua đời vào đúng ngày sinh nhật lần thứ 60 của mình (năm 1963). Trong thư viện của tôi có khá nhiều đĩa DVD và băng VHS phim Ozu, chúng có cái bìa giống hệt nhau-một tờ giấy nhàu nhĩ in màu cảnh phim trong Bonjour hoặc Fleur d'équinoxe cùng ba chữ cái tướng "OZU". Tất cả chỉ có vậy, đĩa khá "ế" vì lần nào tôi lần đến ngăn vần O cũng vần từng ấy đĩa, cũng phải thôi, ngay cả ở cái xứ văn hóa cao này thì Ozu cũng làm sao "hot" được bằn The Dark Knight hay OSS 117 (một dạng 007 made in France). Cuối cùng thì tôi cũng thử mượn Voyage à Tokyo về xem, để rồi mượn tiếp Dernier Caprice, Le Goût du saké và tất cả những phim nào có cái chữ "OZU" to đùng ấy.

What've we seen here?

Trong điện ảnh có hai típ đạo diễn thường thấy, một là những người cực kì kĩ tĩnh, làm một phim mà mất tới hàng năm trời, bắt diễn viên đóng đi đóng lại một cảnh quay hàng chục, thậm chí hàng trăm lần, một típ khác lại là những người cần mẫn mỗi năm cho ra đời một phim với nhu cầu tối thượng là diễn đạt những ý tưởng đầy ắp trong đầu họ thành hình ảnh, bất kể việc chúng có trở thành kiệt tác hay không. Đại diện cho típ đạo diễn thứ nhất chắc nhiều người sẽ nghĩ ngay ra là ai - Stanley Kubrick, gần 50 năm làm phim ông chỉ cho ra đời chừng trên 10 tác phẩm, tức là trung bình cứ 5 năm mới xong một phim, nhưng hầu như phim nào của ông cũng được liệt vào hàng kiệt tác, vừa tinh xảo về chi tiết, vừa đột phá về cách thức thể hiện ngôn ngữ điện ảnh. Ozu là người thuộc típ đạo diễn thứ hai, trong vòng chưa đầy 40 năm ông đã hoàn thành tới trên 50 bộ phim, nếu không tính giai đoạn phim câm đầu tiên dễ dàng "đẻ xòn xòn" thì giai đoạn cuối đời ông cũng luôn hoàn thành "tiến độ" một năm một phim. Hẳn có người sẽ chép miệng: "Làm phim như thế thì làm sao có tác phẩm chất lượng, có kiệt tác được?!", đúng là phim của Ozu không phải là những tác phẩm điêu khắc kì công, tinh tế, ấn tượng như các bộ phim của Kubrick, nhưng cũng như cuộc đời, điện ảnh đâu thể thiếu những nốt trầm?
Xem phim của Ozu có cảm giác ông như một nghệ sĩ điêu khắc suốt đời tỉ mẩn với một hình mẫu duy nhất, ông làm hàng chục bức tượng, có bức là để sửa cho đẹp hơn một chi tiết nhỏ này, có bức lại là để thử nghiệm một góc nhìn mới khác của hình mẫu, hình mẫu cho phim của Ozu ở đây là những câu chuyện xoay quanh quan hệ gia đình. Trừ những phim thể nghiệm "kiểu Hollywood" giai đoạn đầu, về sau Ozu chỉ tập trung duy nhất vào việc khắc họa những quan hệ gia đình - bố con, vợ chồng, anh chị em, được đặt trong bối cảnh của đám cưới, đám ma, chuyện tìm vợ gả chồng cho con cái, tất cả chỉ có vậy.


Voyage à Tokyo, bộ phim được nhắc tới nhiều nhất của Ozu

Ví dụ bộ phim được nhắc tới nhiều nhất của Ozu, Voyage à Tokyo chỉ là câu chuyện của một cặp vợ chồng già lên Tokyo thăm các con, nhưng hai ông bà không ngờ rằng vì quá bận bịu, hai đứa con ruột của ông bà lại đẩy ngay bố mẹ đi nghỉ ở suối nước nóng, rồi sau đó là phó mặc bố mẹ cho cô con dâu, vợ góa người con út của ông bà đã chết trong chiến tranh. Sau đó người mẹ đột ngột qua đời mặc dù bề ngoài vẫn rất khỏe mạnh, đại gia đình lại tụ họp lần cuối cùng để làm lễ tang cho bà. Tất cả chỉ có vậy, tuyệt đối không có kịch tính, cao trào, nút thắt mở hay những chi tiết bất ngờ, giật gân để lôi kéo khán giả ngồi lại. Các cảnh quay trong phim hầu hết là cảnh tĩnh (về sau Ozu còn bỏ hoàn toàn việc di chuyển máy quay, chỉ sử dụng góc quay tĩnh), nhiều góc máy đặt thấp (gọi là góc máy tatami vì máy quay được đặt ngay trên mặt chiếu tatami của Nhật) nhìn không thuận mắt vì nó khác với bố cục hình ảnh thông thường trên phim. Tóm lại, Voyage à Tokyo nói riêng và những phim thời kỳ sau của Ozu nói chung không có một đặc điểm nào để thu hút khán giả như các bộ phim thông thường (vì thế đôi khi người ta gọi phim của Ozu là những tác phẩm "phản điện ảnh" - "anti-cinéma") trong khi phải khẳng định là phim của ông hoàn toàn không thuộc dòng điện ảnh thể nghiệm hay phim nghệ thuật kén người xem. Ozu làm phim là để phục vụ đông đảo công chúng, và những bộ phim "chán ngắn" của ông vẫn cứ được đón nhận nồng nhiệt, tại sao vậy? Nói đến đây tự dưng nghĩ đến một câu văn của Saint-Exupéry trong Hoàng tử Bé (Le Petit Prince):
On ne voit bien qu’avec le cœur, l’essentiel est invisible pour les yeux – Chỉ với trái tim, người ta mới có thể nhìn rõ những điều quan trọng vốn vô hình với đôi mắt.
Góc máy Tatami - góc máy cực thấp tiêu biểu cho phim của Ozu

Phim của Ozu thì không đến nỗi "triết" như thế, nhưng các tác phẩm của ông được yêu thích, được trân trọng chính vì nó chạm được vào những thứ giản dị nhưng quan trọng nhất của cuộc sống - tình người. Có thể ví phim Ozu như một bức ảnh ảo ba chiều, khán giả khi mới xem sẽ chẳng nhận thấy điều gì từ những khung hình bình thường, chậm rãi, nhưng càng xem, người ta lại càng cảm nhận được từ đó một hình ảnh, một ý nghĩa có chiều sâu hơn rất nhiều. Trong Voyage à Tokyo có một trường đoạn quay cảnh ba ông bố già ngồi uống rượu và tâm sự về con cái, góc máy đặt tĩnh, câu chuyện của ba người cũng chẳng có gì, chỉ là một ông khen ông khác rằng "sao con cái của ông thành đạt thế, cuộc đời của ông thế là viên mãn rồi, chẳng bù cho mấy đứa con của tôi không đứa nào làm nên sự nghiệp lớn cả", nhân vật chính của câu nói chỉ gật gù, khề khà trong khi trước đó ông cũng vừa mới nhận ra sự thật rằng đứa con trai ông vẫn tự hào bấy lâu nay vì là "một bác sĩ ở thủ đô" hóa ra chỉ là một ông bác sĩ khu vực chuyên chữa những bệnh lặt vặt cho người dân một khu phố ngoại ô xa xôi của thành phố. Câu chuyện "chẳng có gì" của ba người ấy vừa bộc lộ sự quan tâm chân thành và giản dị của "người đầu bạc" với "kẻ đầu xanh", vừa toát lên một nỗi buồn man mác của những giấc mơ không thành, giấc mơ cho con cái và giấc mơ của chính họ. Phim của Ozu có rất nhiều những lát cắt như thế về tình cảm gia đình, đó có thể là cuộc "xung đột" giữa ông bố già "gà trống nuôi con" với cô gái đến tuổi cập kê trong việc "ai lập gia đình trước?" vì không ai bỏ người kia lại một mình (trong Le goût du saké, tác phẩm Ozu chỉ hoàn thành vài tháng trước khi qua đời), đó có thể là câu chuyện về một ông bố bỏ nghề giáo, xa nhà kiếm tiền nuôi con ăn học chỉ với hy vọng đứa con sẽ trở thành một ông giáo tốt "hơn mình" bất kể việc phải sống xa đứa con duy nhất suốt mấy chục năm cuộc đời (trong Il était un père), đó có thể là hình ảnh một ông lão gần đất xa trời nhưng vẫn cố sức sống hết mình, hết mình tới mức trước khi nhắm mắt ông chỉ kịp chép miệng "Đã kết thúc rồi ư?" (trong Dernier Caprice). Tất cả chỉ là những chi tiết rất đời thường mà ai cũng có thể gặp trong cuộc đời, trong mỗi người, và chúng được Ozu khắc họa cũng theo cái cách rất đời thường, không hề kịch tính hóa hoặc tô màu bằng những thủ pháp điện ảnh. Người đồng nghiệp cùng thời của Ozu, cây đại thụ Kenji Mizoguchi đã nhận xét:
I portray what should not be possible in the world as if it should be possible, but Ozu portrays what should be possible as if it were possible, and that is much more difficult.
Setsuko Hara (phải), diễn viên "ruột" của Ozu và là gương mặt tiêu biểu nhất cho những tác phẩm của ông bên cạnh Chishu Ryu

Người ta thường so sánh phong cách làm phim của ba cây đại thụ Mizoguchi, Ozu và Kurosawa qua hình ảnh: Sương mù của Mizoguchi, trời xanh của Ozu và mưa của Kurosawa. Mizoguchi rất hay dùng mô-típ sương mù cho các tác phẩm lấp lánh chất hư ảo của mình, Rashomon hay Bảy samurai của Kurosawa đều dùng mưa để nhấn mạnh cái xung đột, kịch tính đến bạo liệt của phim, còn Ozu lại luôn đặt những cảnh ngoại cảnh của mình dưới bầu trời xanh ngắt, một thứ mà nơi Xứ tuyết (tên truyện của Kawabata) như Nhật Bản không hề giàu có. Cuộc sống trong phim của Ozu cũng như bầu trời xanh ấy, phẳng lặng và không có những bi kịch lớn, niềm vui lớn. Các nhân vật trong phim của Ozu hiếm khi thể hiện tình cảm ra bên ngoài, dù đau khổ tột cùng vì mất đi người thân thiết hay vui sướng tột cùng vì tìm được hạnh phúc riêng cho chính mình, họ đều chỉ thể hiện bằng những ánh mắt, nụ cười và những câu "Vâng" nhẹ nhàng theo kiểu Nhật Bản. Bằng cách đó, dường như Ozu muốn các diễn viên của ông chia sẻ tình cảm trong nhân vật với người xem, để người xem tự thẩm thấu cái nỗi đau, cái niềm vui mà họ (cảm) thấy trên khung hình. Trong số các diễn viên thực hiện ý đồ đó của Ozu không ai có thể thành công và ghi dấu ấn đậm nét hơn Setsuko Hara, nữ diễn viên lớn nhất của điện ảnh Nhật Bản trong thời kỳ hoàng kim. Trong phim của Ozu, Setsuko Hara thường thủ vai những phụ nữ có số phận lận đận, hoặc là chồng chết ở vậy (Voyage à Tokyo, Fin d'automne), hoặc là lỡ thì nhưng nhất quyết không lấy chồng vì thương bố cô đơn (Printemps tardif). Vẻ đẹp tươi trẻ đến lạ lùng của Setsuko Hara cùng cách diễn tối giản, tiết chế cảm xúc của cô lại càng khiến cho khán giả cảm nhận được nỗi đau bên trong nhân vật cũng như những tình cảm, sự hy sinh rất thật, rất đời thường mà nhân vật đó mang lại. Và có lẽ "kịch bản" này thì chẳng Hollywood nào có thể nghĩ ra, năm 1963 khi Ozu qua đời, Setsuko Hara ngay lập tức lặng lẽ rút lui khỏi màn ảnh lớn dù khi ấy cô đang ở trên đỉnh cao của vinh quang, sắc đẹp và tài năng. Cô ở ẩn ngay gần nơi chôn cất của đạo diễn và từ chối bất cứ lời mời đóng phim, phỏng vấn hoặc chụp ảnh nào. Thậm chí tôi chẳng thể tìm nổi một thông tin nào về việc Setsuko Hara còn sống hay đã mất. Setsuko Hara lặng lẽ biến mất khỏi đời sống điện ảnh đúng như cái cách cô vẫn diễn trên phim, nhẹ nhàng nhưng luôn khiến người yêu điện ảnh phải xúc động. Chẳng thể mà mãi gần 40 năm sau ngày Ozu qua đời và Setsuko Hara biến mất, đạo diễn Satoshi Kon đã lại cho ra đời một bộ phim hoạt hình xuất sắc có tên Sennen Joyū (Millennium Actress) trong đó nhân vật chính được lấy hình mẫu từ Setsuko Hara. Cũng nói thêm là Ozu, bậc thầy trong việc khắc họa tình cảm gia đình, là người chưa từng lập gia đình. Ông sống một mình với mẹ cho đến cuối đời (mẹ của Ozu qua đời trước đạo diễn chỉ hai năm). Có lẽ vì vậy mà Yuharu Atsuta, quay phim "ruột" của ông, đã nhận xét:
Ozu, man of spirit of clown, was really humorous. So I hate to treat him as legend and worship like a God. The clown is lonely, but he must hide his loneliness and play the fool joyfully, comically. That's the spirit of Ozu's film.
Đúng như vậy, hãy coi mỗi bộ phim của Ozu như một lát cắt giản dị tô điểm cho cuộc đời, bạn sẽ thưởng thức được nó đúng như cách mà "anh hề" ấy đã mong muốn.


Bonjour, một trong số 6 bộ phim màu của Ozu

=====
Quy đổi tên phim:
* Voyage à Tokyo - Tokyo monogatari - Tokyo Story
* Il était un père - Chichi ariki - There Was a Father
* Printemps tardif - Banshun - Late Spring
* Fleurs d'équinoxe - Higanbana - Equinox Flower
* Bonjour - Ohayo - Good Morning
* Fin d'automne - Akibiyori - Late Autumn
* Dernier Caprice - Kohayagawake no aki - The End of Summer
* Le Goût du saké - Sanma no aji - An Autumn Afternoon