some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

Affichage des articles dont le libellé est 2006 film. Afficher tous les articles
Affichage des articles dont le libellé est 2006 film. Afficher tous les articles

samedi 28 novembre 2015

The Professor's Beloved Equation (2006)




“Điều gì đọng lại trong kí ức ta khi trí nhớ đã phai tàn?” – Câu hỏi mang đầy tính hiện sinh này là một trong những chủ đề yêu thích của điện ảnh thế giới với những bộ phim xuất sắc như Eternal Sunshine of the Spotless Mind, Memento, hay The Man Without a Past. Cũng đi tìm lời đáp cho câu hỏi ấy, bộ phim The Professor’s Beloved Equation của đạo diễn Takashi Koizumi, một chuyển thể điện ảnh của tiểu thuyết The Housekeeper and the Professor, lại khai thác một khía cạnh tưởng như khô khan và ít khi được nhắc tới trên màn ảnh lớn – tình yêu với Toán học và việc dạy Toán học.

Nhân vật chính của The Professor’s Beloved Equation là vị giáo sư già ẩn danh (Akira Terao), người từng được coi là một ngôi sao sáng của ngành lý thuyết số Nhật Bản. Sau một tai nạn giao thông ở tuổi 47, Giáo sư chỉ còn có thể ghi nhớ “hiện tại” trong vòng 80 phút trước khi những thông tin này bị xóa sạch khi bộ nhớ của Giáo sư quay lại thời điểm trước khi tai nạn xảy ra. Bởi thế, Giáo sư mãi trở thành con người của quá khứ - không có hiện tại, không có tương lai. Đồng hành với Giáo sư chỉ còn lại tình yêu với Toán học, với đội bóng chày Hanshin Tigers, và nỗi khắc khoải với những kí ức vốn đã dừng lại ở cái tuổi 47. Để chăm lo cho vị Giáo sư luôn sống với quá khứ ấy, cô gái trẻ Kyoko (Eri Fukatsu) được thuê làm người giúp việc trong căn nhà nhỏ nơi góc vườn của ông. Trái ngược với Giáo sư, mọi lo toan, suy nghĩ của bà mẹ đơn thân Kyoko gắn liền với hiện tại, nhất là với đứa con trai bé bỏng, tinh nghịch của cô (Takanari Saito). Câu chuyện của bộ phim được kể lại qua lời của cậu nhóc ấy – người lớn lên với cái biệt danh đáng yêu “Căn bậc hai” do Giáo sư đặt, và cả tình yêu với Toán học do ông truyền thụ, để rồi chính cậu trở thành một thầy giáo đưa niềm đam mê với khoa học ấy đến với những thế hệ học sinh mới.

Đúng như cái tên của mình – “Công thức yêu thích của Giáo sư”, phần lớn thời lượng của bộ phim tập trung mô tả ham mê bất tận của Giáo sư đối với những con số. Có lẽ chính cái tình yêu với những con số, vốn ánh lên trong cặp mắt sáng ngời của Giáo sư, đã giúp ông tiếp tục sống, tiếp tục làm Toán, bất chấp cuộc sống cô độc không có bạn bè, không có hiện tại. Nhưng sự xuất hiện của Kyoko và “Căn bậc hai” đã buộc ông phải tìm lời giải cho một bài toán mới khó khăn không kém – làm thế nào để kết nối với hai con người hết mực yêu quý ông với cái trí nhớ chỉ kéo dài 80 phút. “Công thức” cho bài toán ấy chính là cái cách ông truyền tải “món quà của Tạo hóa” – những con số đến với Kyoko và “Căn bậc hai”. Với nhiệt huyết và niềm đam mê tràn đầy, vị giáo sư già đã biến hai con người xa lạ trở thành những “tín đồ” nhiệt thành của Toán học, và hơn thế, kéo chính ông lại gần với thực tại bằng sợi dây tình người giữa ông và mẹ con Kyoko. Câu chuyện giản dị nhưng sâu sắc này đã được truyền tải rất hiệu quả bởi khả năng diễn xuất và sự ăn ý của bộ ba Akira Terao, Eri Fukatsu, và cậu bé Takanari Saito. Terao già dặn, hóm hỉnh, Fukatsu nhanh nhẹn, nhiệt thành, Saito hồn nhiên, dễ thương, mỗi người mỗi vẻ đã giúp bộ phim giữ được sự sống động và tươi mới bất chấp bối cảnh và kịch bản tương đối đơn giản, không nhiều cao trào của phim.  

Chuyển thể gần như nguyên vẹn từ cuốn tiểu thuyết hết sức ăn khách của nữ nhà văn Yoko Ogawa, The Professor’s Beloved Equation đã giữ được cách giải thích hết sức trong sáng, dễ hiểu và thú vị của tác phẩm gốc về những khái niệm Số học không phải ai cũng biết, cũng nắm vững như “số bạn bè”, “số hoàn chỉnh”. Bên cạnh điểm sáng đó, bộ phim còn đem lại cho khán giả cảm giác nhẹ nhõm với những nhân vật có phong thái sống hết sức lạc quan, tích cực, và cách giải quyết tình huống nhẹ nhàng đậm chất nhân văn. Bởi thế, tuy nhịp phim có đôi lúc đứt đoạn và kịch bản phim có lẽ không được chắc tay như những bộ phim về khoa học hoặc nghề giáo khác như Good Will Hunting hay Dead Poets Society, gam màu tươi sáng của The Professor’s Beloved Equation lại giữ cho bộ phim một vẻ duyên dáng riêng. Quan trọng hơn cả, bộ phim đã cho thấy rằng bất cứ ai, từ những đứa trẻ ham chơi như “Căn bậc hai” hay những phụ nữ luôn bận bịu với công việc nội trợ như Kyoko, cũng có thể yêu thích, đam mê Toán học – thứ khoa học “khó gần, khó hiểu”, nếu như họ có được một Người thầy đam mê, nhiệt huyết, yêu khoa học, yêu học trò như Giáo sư. 

Tại Giải thưởng Nobel năm 2015, có tới hai nhà khoa học Nhật được vinh danh, góp phần đưa Nhật Bản trở thành quốc gia có số giải Nobel về khoa học nhiều thứ hai trong thế kỷ 21, chỉ sau Hoa Kỳ. Với những câu chuyện như của “Căn bậc hai” và Giáo sư trong The Professor’s Beloved Equation, hay như của cô bé Totto-chan và Thầy Kobayashi trong Totto-chan: Cô bé bên cửa sổ, có lẽ ta có thể hiểu được một phần nào lý do của những thành công đó. Hãy trân trọng tri thức và sáng tạo, hãy trân trọng những người Thầy yêu nghề đang miệt mài truyền lửa đam mê khoa học. 

mardi 1 juin 2010

Fehér tenyér (2006)


Fehér tenyér (Bàn tay trắng - chỉ bàn tay của những vận động viên thể dục dụng cụ luôn phủ đầy bụi phấn trắng) là bộ phim đại diện cho Hungary ở Oscar 2006, phim không lọt được đến vòng 5 phim ứng cử, và có lọt vào thì có lẽ cũng sẽ thua Das Leben der Anderen của Đức (một phim hay và quan trọng là "hợp gu" với Hollywood).

Dongo (Zoltán Miklós Hajdu) là một thần đồng thể dục dụng cụ - môn thể thao là niềm tự hào hiếm hoi của đất nước Hungary đang oằn mình trong khó khăn kinh tế và xã hội vào đầu những năm 1980. Tất nhiên chỉ tài năng thôi là không đủ, Dongo được, đúng hơn là "phải", tôi luyện trong trường năng khiếu thể thao ở Debrecen, nơi cậu và các bạn phải luyện tập hết sức vất vả theo giáo án và chiếc roi của ông thầy nghiêm khắc. 20 năm sau người ta gặp lại Dongo, nay đã là một vận động viên giải nghệ, ở thành phố nhỏ và lạnh lẽo Calgary của Canada. Tại đây Dongo bắt đầu một sự nghiệp mới, nghiệp huấn luyện viên thể dục dụng cụ, với việc huấn luyện Kyle Manjak (Kyle Shewfelt - vận động viên mang về cho Canada huy chương vàng thể dục nghệ thuật đầu tiên trong lịch sử tham gia Olympic vào năm 2004), cũng là một thần đồng thể dục dụng cụ của Canada nhưng đồng thời là cậu thanh niên hết sức ngỗ ngược mà không huấn luyện viên nào "trị" nổi. Điều gì đã khiến Dongo phải từ bỏ quê hương Hungary để sang mảnh đất Canada xa xôi và lạnh lẽo, và liệu anh có thể truyền tình yêu và ý chí khổ luyện trong môn thể dục dụng cụ cho người học trò ngang ngược của mình? Bằng cách lồng xen kẽ hai câu chuyện về Dongo "của những năm 1980" và Dongo "của những năm 2000", bộ phim dần phác họa nên hình ảnh của một Dongo tài năng, yêu thích thực sự môn thể thao mình theo đuổi, nhưng đồng thời cũng canh cánh tâm trạng bức bối như con chim bồ câu không thể tìm thấy trời xanh khi mà cuộc sống của cậu luôn chịu sự kìm kẹp của bố mẹ, của thầy giáo, những người chỉ quan tâm tới huy chương, tới bằng khen và không hề để ý tới việc bản thân Dongo cũng cần phải có một tuổi thơ của riêng mình.

Thể thao luôn mà một mảnh đất màu mỡ cho những phim bi như Fehér tenyér, tuy nhiên theo tôi thì bộ phim này đã chưa khai thác được hết thế mạnh của một môn thể thao vừa mang tính nghệ thuật rất cao lại vừa đòi hỏi thể lực và nghị lực phi thường như thể dục dụng cụ/thể dục nghệ thuật. Tuy đã cố miêu tả một "Hungary xã hội chủ nghĩa" khốn khổ với những con người khắc nghiệt theo kiểu cộng sản nhưng chất bi kịch của phim cũng chẳng vì thế mà cao hơn, trái lại cốt truyện của Fehér tenyér chẳng có lấy một điểm nhấn nào đã khiến phim trở thành một tác phẩm tiểu sử mang tính "kể lể" bằng hình ảnh nhiều hơn là xây dựng nên cuộc sống, suy nghĩ của Dongo thông qua những biến cố trong đời anh. Vì thế sau 90 phút khán giả vẫn cảm thấy hụt hẫng với phần kết dang dở của phim và chẳng hiểu rút cục bộ phim thực sự muốn nói tới điều gì. Bên cạnh kịch bản không vững tay thì phần hình ảnh của Fehér tenyér cũng không khiến tôi hài lòng, ngoại trừ một số góc quay hẹp mang tính biểu tượng cao (đặc biệt là trường đoạn cậu bé Dongo leo lên mái nhà để rồi trở thành một con người khác) thì có thể nói phim được quay không "đẹp", gam màu xám với những không gian hẹp chiếm ưu thế chủ đạo khiến bộ phim càng có vẻ gì đó bí bách, mệt mỏi (tuy có thể đó là ý đồ của đạo diễn). Fehér tenyér làm tôi nghĩ tới một Frozen River, một phim có kinh phí cực thấp của Mỹ cũng có phần hình ảnh mờ xỉn nhưng cả bộ phim vẫn "sáng" nhờ nội dung giàu kịch tính và nhân văn (là những thứ mà Fehér tenyér không có). Ngay cả hình ảnh những đoạn biểu diễn, thi đấu thể dục dụng cụ cũng không được khai thác một cách triệt để khi mà các góc quay quá "thực" theo kiểu phim tài liệu, biên tập yếu (gần như không có quay chậm và cắt cảnh ở nhiều góc quay khác nhau) và nhạc thiếu "ép phê" khiến khán giả chỉ cảm nhận được phần cơ bắp, độ vất vả của môn thể thao này mà không thấy được nét đẹp và cái nền nghệ thuật của thể dục dụng cụ.

Bộ phim này tôi đi xem nhân dịp Tuần lễ phim châu Âu tại Hà Nội, xin hai vé mà cuối cùng không rủ được ai đành phải đi một mình với tâm trạng ... tiếc cái vé thừa. Thật "may" là xem xong phim thì thấy nhẹ nhõm hơn hẳn vì phim dở thế này mà bắt thêm một người khác nữa "chịu đựng" cùng thì thật quá tội. Hai sao.

jeudi 18 mars 2010

Copying Beethoven (2006), The Visitor (2008)


Copying Beethoven là một phim tiểu sử mô tả lại giai đoạn cuối đời của Ludwig van Beethoven khi ông phải vật lộn với chứng điếc để cho ra đời tác phẩm vĩ đại nhất của mình - Bản giao hưởng số 9. Hình ảnh thiên tài của Beethoven (Ed Harris) trong phim được nhìn qua con mắt của một cô gái yêu nhạc cổ điển có tên Anna Holtz (Diane Kruger). Là sinh viên xuất sắc nhất của Nhạc viện Viên, Anna được chọn làm người chép nhạc (copyist) cho Beethoven, thiên tài số một của thành Viên nói riêng và giới sáng tác nhạc cổ điển nói chung. Tràn ngập niềm vui sướng được làm việc cho thần tượng, Anna tìm tới căn phòng tồi tàn và bừa bãi của Beethoven và phát hiện ra bộ mặt thứ hai của nhà soạn nhạc - một người khó chịu, trái tính trái nết, thường xuyên làm mất lòng người khác và nhất là đã ở cuối sườn dốc của sự nghiệp khi hào quang đã qua và chẳng còn ai muốn nghe những bản nhạc do thiên tài một thời ấy sáng tác. Beethoven không chỉ gần như điếc đặc, ông còn chẳng bao giờ muốn lắng nghe những mong muốn của người khác mà luôn xét đoán mọi việc theo ý của mình, kết quả là nhà soạn nhạc trở thành con người cô độc khi mà chính cháu trai của Beethoven, người ông hết mực yêu quý, cũng ghét bỏ ông chú và chỉ tìm tới căn hộ của nhà soạn nhạc mỗi khi thiếu tiền.

Nhưng chính trong giờ phút khó khăn nhất, Beethoven mới bộc lộ hết tư chất của một thiên tài âm nhạc, một nhạc sĩ không chỉ có sức cảm thụ phi thường "những âm thanh của Thượng Đế" mà còn sẵn sàng dốc hết sức lực để lao động sáng tạo. Người ta không bao giờ thấy Beethoven ngủ, vì mỗi khi buồn ngủ ông lại tự dội lên đầu vài gáo nước lạnh (một trong những nguyên nhân dẫn đến căn bệnh điếc của Beethoven) để có thể tiếp tục làm việc. Kết quả của những giờ phút lao động miệt mài ấy là Bản giao hưởng số 9 - tác phẩm vĩ đại nhất của Beethoven, một trong số ít những bản giao hưởng có đời sống vượt ra bên ngoài khuôn khổ của nhạc cổ điển (Bản giao hưởng số 9 đã được EU chọn làm "Liên quốc ca" của cộng đồng này). Trường đoạn Beethoven chỉ đạo dàn nhạc giao hưởng cùng dàn đồng ca trình diễn Bản giao hưởng số 9 chắc chắn là trường đoạn hoành tráng, xúc động và ấn tượng nhất của phim.


Trường đoạn xúc động nhất phim

Ý tưởng thì hay là vậy nhưng Copying Beethoven thực tế chỉ dừng lại ở mức một phim trung bình khá. Lý do đầu tiên là vì đạo diễn đã quá tham khi cố gắng khắc họa rõ cả hình ảnh của một Beethoven-thiên tài nhưng đầy tật xấu, và một Anna Holtz-đam mê âm nhạc bất chấp thân phận phụ nữ, và kết quả cuối cùng là ... "dở ông dở thằng", chẳng nhân vật nào để lại ấn tượng trong lòng khán giả. Cũng vì cố công miêu tả nhân vật Anna nên Copying Beethoven đã bỏ qua một chi tiết rất quan trọng liên quan đến việc sáng tác Bản giao hưởng số 9 của Beethoven, đó là việc ông thực sự gần như điếc hẳn khi sáng tác bản giao hưởng này chứ không chỉ hơi điếc, vẫn nghe loáng thoáng được nhạc và người khác nói như mô tả trong phim. Thật đáng tiếc cho Copying Beethoven vì đó mới thực sự là chi tiết đắt giá và thường xuyên được nhắc lại trong các sách tiểu sử của Beethoven như một minh chứng cho thiên tài và nghị lực phi thường của ông. Bên cạnh đó, do chỉ xoay quanh việc Beethoven sáng tác nhạc thế nào, Anna vật lộn với những tính xấu của ông ra sao, thành ra Copying Beethoven không có điểm nhấn và lại càng thiếu cảm xúc - cái cần nhất ở một bộ phim xoay quanh âm nhạc như thế này. Để so sánh thì có thể thấy Copying Beethoven kém rất xa Amadeus, bộ phim tiểu sử về cuộc đời đầy bất hạnh của một thiên tài nhạc cổ điển khác - Wolgang Amadeus Mozart. Amadeus tràn ngập cảm xúc, kịch tính (hơi nhiều quá mức) và dàn diễn viên thì diễn xuất tuyệt vời, Copying Beethoven thì chẳng có lấy một điểm nào khiến tôi hài lòng ngoại trừ trường đoạn biểu diễn Bản giao hưởng số 9 như đã nói ở trên. Thật tiếc cho một cái tứ hay đã không chuyển thể được thành những hình ảnh đẹp.


Một bộ phim quá chậm rãi và não nề. Phim nói về Walter Vale, một giáo sư đại học nhạt nhẽo và gần như không "sống" kể từ sau khi vợ ông, một nghệ sĩ dương cầm, qua đời. Walter bắt đầu tìm lại được giá trị cuộc sống nhờ cuộc gặp gỡ bất ngờ với Tarek, một tay trống người Syria, cùng vợ anh. Trong một lần giúp Walter tại ga tàu điện ngầm, Tarek bị cảnh sát New York bắt và đứng trước nguy cơ bị trục xuất vì là người nhập cư trái phép. Walter, giờ đã là một con người hoàn toàn khác, không còn cách nào khác ngoài việc bỏ dạy để lo cho Tarek và mẹ của anh.

Đạo diễn kiêm biên kịch của phim hóa ra chính là diễn viên đóng vai ông bố dượng trong 2012. Thomas McCarthy có vẻ rất hào hứng với đề tài người già cô đơn (dù anh mới chỉ tầm 40), ngoài The Visitor, McCarthy còn viết kịch bản cho Up. Nhìn chung thật khó nói The Visitor hay dở thế nào vì phim quá chậm, xem rất nản, lại mắc phải những hình mẫu (leimotif) cũ rích kiểu Hollywood khiến tôi rất khó chịu - người nhập cư tại sao cứ phải là nhập cư vì chính trị và đến từ Syria? Sống tốt nhưng sống bất hợp pháp thì làm sao có cảm giác "hòa nhập" trong xã hội được?... Với một kịch bản đầy những triết lý đi theo lối mòn như The Visitor thì không lạ khi Up cũng không thể có một kịch bản sáng tạo từ cùng một tác giả.

samedi 19 septembre 2009

The Last King of Scotland (2006)


The Last King of Scotland nói về chân dung viên độc tài châu Phi Idi Amin (Forest Whitaker) thông qua con mắt của một bác sĩ trẻ người Scotland Nicholas Garrigan (James McAvoy). Tuổi trẻ nông nổi, Garrigan đến với đất nước Uganda bằng cách ... chọn random trên bản đồ, cũng chính sự nông nổi ấy đã khiến anh thần tượng (worship) Idi Amin vì sự gần gũi và tác phong rất "lãnh tụ" của viên độc tài này. Nhưng thực ra không chỉ mình Garrigan là người nông nổi, bản thân Amin cũng là viên độc tài cũng là người nông nổi - một tính cách cực kì nguy hiểm đối với người lãnh đạo. Khi biết Garrigan là người Scotland, Amin - tổng thống một quốc gia, sẵn sàng cởi chiếc áo quân phục đầy huy hiệu và lọn vàng của mình ra để đổi lấy cái áo t-shirt nhàu nát mang biểu tượng của đội tuyển bóng đá Scotland của tay bác sĩ trẻ. Dù chỉ là một tay bác sĩ vừa ra trường, Garrigan vẫn được Amin cho một chân cố vấn thân cận vì "cậu vừa là một bác sĩ, lại là một triết gia". Lúc chưa xem phim tôi cứ tưởng "The Last King of Scotland" là để chỉ Garrigan, nhưng hóa ra Amin yêu quý người Scotland tới mức tự nhận mình là "King of Scotland", thực ra thì Garrigan cũng không thua kém gì một "Scot King" ở cái xứ sở hoang dã Uganda này.

Thực ra tôi không hoàn toàn hài lòng với The Last King of Scotland vì phim xây dựng quá trình sụp đổ thần tượng ("thần sụp rồi tượng chỉ còn là đất đá thôi") Idi Amin trong mắt Nicholas không thực sự hay và sâu sắc, bộ phim đúng hơn là chuỗi khủng hoảng và mất niềm tin của chính Garrigan hơn là hình ảnh viên độc tài lộ dần qua con mắt của chàng thanh niên. Và đây chính là ... điểm dở của phim vì người đóng hay nhất phim không phải McAvoy mà lại là Forest Whitaker. Diễn viên "chuyên trị" những phim nhỏ như Birds, Ghost Dog: The Way of the Samurai thực sự đã có một vai diễn để đời, ông chiếm lĩnh màn ảnh (kể cả nghĩa đen và nghĩa bóng - Whitaker là người to béo) từ phút đầu tiên cho tới phút cuối cùng bằng diễn xuất xuất thần. Từ giọng nói - thật khó tin là cái giọng Anh nửa mùa rặt lỗi phát âm đúng kiểu châu Phi lại được Whitaker, một người Mỹ "xịn" sử dụng thành thục đến như vậy, đến cặp mắt rất "lãnh tụ" và cuốn hút người xem (dù Whitaker bị sụp mí một bên mắt, và nhất là tính cách thay đổi liên tục, rất trẻ con, rất nông nổi của viên độc tài tàn bạo. Thành công lớn nhất của Forest Whitaker có lẽ nằm ở chỗ ông thể hiện sự thay đổi tính cách bất thần từ thái cực này sang thái cực khác của Idi Amin cực kì chân thật và "ngọt", chứng kiến diễn xuất của Whitaker, người xem cũng dần dần cảm thấy lạnh gáy như Nicholas khi phải ở bên cạnh một con người có quyền lực tối thượng nhưng lại không thể lường trước được ông ta sẽ ứng xử với mình như thế nào. Việc Forest Whitaker giành toàn bộ các giải diễn xuất của năm 2006 thực sự là rất hợp lý. Dù sao thì tôi vẫn cảm thấy tiếc vì đã không thêm được một phim hay vào dòng phim "Road to perdition".

lundi 17 août 2009

Children of Men (2006)


Children of Men bắt đầu bằng sự kiện “Người trẻ nhất Thế giới” qua đời ở tuổi 18 vào tháng 11 năm 2027, dù sự thật thì “he’s just a wanker”, anh ta vẫn được cả nước Anh khóc thương và đặt hoa tưởng nhớ theo … phong cách Diana (không rõ đây chỉ là trùng hợp hay các nhà làm phim cố tình ám chỉ như vậy, nếu là chi tiết có chủ ý thì hết sức thú vị). Lý do cho sự thương tiếc kể trên là vì kể từ năm 2009 toàn bộ phụ nữ trên Thế giới đột nhiên bị tiệt sản, không còn bất cứ một đứa trẻ nào được sinh ra kể từ sau “Người trẻ nhất Thế giới” và toàn cầu rơi vào cảnh hỗn loạn của bạo lực, khủng bố. Quốc gia duy nhất đứng vững trong khủng hoảng, cũng như nhiều lần khác trong lịch sử loài người, là quốc đảo Anh. Với lý do bảo vệ xã hội, chính phủ Anh ra lệnh trục xuất toàn bộ người tị nạn hoặc nhập cư trái phép, những thành phần vốn không được chính phủ coi là “người”. Chính sách này gặp phải sự chống đối của một nhóm khủng bố lấy tên “Fish”, nhóm này thường sử dụng các vụ đánh bom để gây sức ép lên chính phủ và bị quân đội chính phủ truy quét gắt gao. Trớ trêu thay, vào đúng thời điểm hỗn loạn ấy thì một người phụ nữ gốc Phi – cái nôi của loài Người, có thai, đương nhiên cô nằm trong danh sách “phải bị trục xuất” của chính phủ Anh. Lãnh đạo nhóm “Fish” quyết định nhờ chồng cũ đưa cô gái da đen bằng mọi cách rời khỏi nước Anh để tìm đến Human Project với hy vọng sẽ tìm ra cách cứu vớt nhân loại.

Children of Men thuộc dòng phim dystopia hay post-apocalyptic, đây là dòng phim mô tả xã hội loài người ở tương lai (thường là tương lai gần) trong tình trạng hỗn loạn, tăm tối, đứng trên bờ vực diệt vong mà nguyên nhân xuất phát chính từ những sai lầm của loài người gây ra trong “quá khứ”. Dòng phim này bắt đầu nở rộ từ đầu thập niên 1980 với thành công của Blade Runner, một phim dystopia kinh điển của Ridley Scott, các phim hay khác trong dòng phim này có thể kể tới Twelve Monkeys hay V for Vendetta. Trong Children of Men, sự kiện “triệt sản toàn cầu” và chuyến đi khỏi nước Anh của người phụ nữ có thai năm 2027 là trung tâm của truyện phim, tuy nhiên thực tế “trung tâm” của phim lại được đạo diễn Alfonso Cuaron dùng làm phông để đề cập tới những sự kiện và hình ảnh nằm ở nền phim vốn phản ánh hầu như toàn bộ những vấn đề nghiêm trọng nhất mà loài người phải đối mặt trong hiện tại (thập niên 2000). Sự kiện trục xuất người nhập cư ở Anh vốn không hề xa lạ với tiêu chí của đảng cực hữu BNP (British Nationalist Party – Đảng Dân tộc Chủ nghĩa Anh), đảng này vừa giành được 2 ghế trong cuộc bầu cử Nghị viện châu Âu năm 2009, sự kiện khiến cả nước Anh phải giật mình vì sự trỗi dậy của các lực lượng cực hữu. Trong Children of Men người ta cũng thấy những lực lượng khủng bố với mục tiêu rất “trong sáng” nhưng hành động thì hoàn toàn ngược lại, cực kì tàn ác, nhẫn tâm vô nhân tính, người ta cũng thấy những thành phố bẩn thỉu, rác rưởi tràn ngập, sương mù bao phủ, hậu quả của môi trường bị con người tàn phá một cách có hệ thống. Đương nhiên cũng như đa phần phim dystopia khác, Children of Men cũng phản ánh triết lý hiện sinh về sự tồn tại thực sự của loài người, phim có chi tiết rất hay về Ark of Art – một bộ của Anh chuyên thu thập kiệt tác nghệ thuật của thế giới, trong phòng ông bộ trưởng người ta thấy tượng Davis của Michelangelo (tượng La pieta của Michelangelo chưa kịp “được” thu hồi thì đã bị người dân nổi loạn phá hủy), người ta thấy tranh Guernica của Pablo Picasso, nhưng không hiểu Ark of Art tồn tại làm gì khi mà chỉ chưa đầy 100 năm nữa thôi loài người sẽ rơi vào cảnh diệt vong. Theo tôi thì Children of Men còn chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết dystopia kinh điển Nineteen Eighty-Four (1984), người ta thấy trong phim những tấm bảng điện tử cảnh báo, người ta thấy cả cái “triết lý về sự sợ hãi” vốn đều là những ý tưởng xuất sắc của G.Orwell trong Nineteen Eighty-Four, vả lại thực tế thì tiểu thuyết này cũng đã từng là nền tảng tư tưởng cho rất nhiều phim trong dòng dystopia. Với nội dung dầy đặc tư tưởng như trên, người ta không ngạc nhiên khi Children of Men được đề cử Oscar cho kịch bản chuyển thể, tuy vậy theo tôi thì chính vì phim hơi “tham” trong việc chuyển tải toàn bộ nội dung một tiểu thuyết trong khi vẫn giữ chất hành động kiểu Hollywood nên tác phẩm sẽ trở nên khó xem (và dẫn tới không ăn khách – một thảm họa cho phim blockbuster).

Đa phần phim dystopia đều là phim hành động, Children of Men không nằm ngoài xu hướng này và thực tế thì đây là một phim hành động cực kì xuất sắc, thậm chí là mang tính cách mạng trong thể loại. Nói Children of Men mang tính cách mạng trong thể loại hành động vì phim được quay theo phong cách cực kì mới lạ, đó là những cảnh hành động được quay theo kiểu phim tài liệu với máy quay cầm tay bám sát nhân vật và những take cực dài không hề có sự biên tập hoặc cắt, chuyển cảnh. Take dài có lẽ là đặc trưng tiêu biểu nhất của Children of Men, phim có tới vài take dài chừng 10 phút (cả phim chỉ dài 104 phút) hoàn toàn không biên tập, chuyển cảnh mà chỉ có góc nhìn từ một máy quay duy nhất. Trong cảnh dài và phức tạp nhất của Children of Men, Alfonso Cuaron thậm chí còn không màng tới việc máy quay duy nhất bị dính vài giọt “máu” mà tiếp tục cho máy chạy (đây là một lỗi khá thú vị của phim vì máu thật sẽ đọng lại thành vết trên màn ảnh trong khi ở đây các giọt “máu” bay hơi chỉ sau vài phút). Những cảnh hành động dài, các pha xả súng dứt khoát tạo cho phim sự chân thực đến cao độ, nếu không vì nhân vật chính của những cảnh đó là Clive Owen hoặc Michael Caine thì hẳn người ta đã nghĩ đạo diễn sử dụng phim tài liệu để lồng vào phim. Để thực hiện những take xuất sắc này hẳn Cuaron đã phải sắp xếp và dàn dựng cực kì kĩ lưỡng vì số lượng chi tiết phụ và nhân vật nền trong các take đều rất lớn. Thật đáng tiếc khi Children of Men trượt Oscar cho quay phim bất chấp những cảnh quay mang tính cách mạng này. Dàn diễn viên của Children of Men có ba cái tên lớn là Clive Owen, Julianne Moore và Michael Caine, trong số này thì chỉ có Owen thực sự có đất diễn. Tuy được giao một vai anti-hero nhưng Owen vẫn là cool guy như trong các phim khác của anh, anh diễn tốt và nổi bật giữa cái nền đen tối bẩn thỉu của phim, tuy vậy như đã nói ở trên thì thực ra diễn viên chính trong Children of Men chỉ làm “nền” cho các cảnh nền, vì vậy phim thực tế không cần những ngôi sao lớn, những cái tên lớn được chọn vào phim có lẽ chủ yếu nhằm vào mục đích câu khách cần thiết cho một blockbuster. Theo tôi dù hơi “tham” thì Children of Men vẫn là một phim hành động hết sức xuất sắc và đáng xem, xem để giải trí và xem để “biết sợ” trước những vấn đề toàn cầu.

Les filles du botaniste (2006)


Les filles du botaniste (Con gái ông chủ vườn thuốc) là phim của Đới Tư Kiệt, một đạo diễn người Pháp gốc Hoa. Đới Tư Kiệt (Daï Sijie) là một nhà văn khá tên tuổi ở Pháp, ông từng có tiểu thuyết khá nổi là Les filles du botaniste ông còn có Balzac et la petite tailleuse chinoise (Balzac và cô bé thợ may Trung Hoa) cũng từng được chuyển thành phim (Châu Tấn thủ vai chính). Les filles du botaniste nói về mối tình của hai cô gái Min và An trong bối cảnh xã hội Trung Quốc hủ lậu nơi quan hệ đồng tính bị coi là thứ gì đó bệnh hoạn, ghê tởm. Min (Mylène Jampanoï) là một cô gái gốc Đường Sơn có bố người Hoa và mẹ người Nga, cô mồ côi cả cha lẫn mẹ sau trận động đất khủng khiếp năm 1979 ở Đường Sơn (thảm họa khiến 200.000 người thiệt mạng). Sau thời gian dài sống trong trại trẻ mồ côi, Min xin đi thực tập trong một vườn thuốc ở Quế Lâm, nơi có thạch lâm (rừng đá) – một trong những thắng cảnh đẹp nhất của Trung Quốc. Chủ vườn thuốc là một ông giáo sư khó tính, nghiêm khắc tới mức cực đoan, ngược lại, An (Li Xiaoran), con gái ông, lại là một cô gái dễ gần và cởi mở, chính cô đã giúp Min dần làm quen với cuộc sống nơi vườn thuốc. Tình cảm dần nảy nở giữa Min và An, hai người càng ngày càng cảm thấy gần gũi và không thể sống thiếu nhau. Nhưng một ngày nọ anh của An, một binh sĩ đóng ở Tây Tạng, trở về thăm nhà và ngỏ ý muốn cưới Min. Min đứng trước lựa chọn khó khăn, thành thật với lòng mình để từ chối đám cưới hay bằng lòng để rồi được sống gần gũi với An mãi mãi.

Xét về cốt truyện, Les filles du botaniste là một phim tình cảm lãng mạn buồn, Min và An yêu nhau trong nỗi lo âu có thật rằng mối tình đầu của cả hai người rồi sẽ không thể kết thúc có hậu khi mà tình cảm đồng giới vẫn chưa có chỗ đứng trong xã hội Trung Quốc. Kịch bản gốc của bộ phim có lẽ là một tác phẩm về mặt văn học hay vì trong phim có rất nhiều cảnh ẩn dụ đẹp, đáng tiếc là Đới Tư Kiệt chuyển những chi tiết văn học của chính ông vào phim chưa được “mượt”, khiến phim bị “vụn” vì nhiều cảnh đẹp mà thiếu sự liên kết cần thiết. Trailer của phim được làm rất khéo và “câu khách”, dễ khiến độc giả lầm tưởng rằng phim sẽ có nhiều cảnh “nóng”, thực ra Les filles du botaniste rất “PG”, tình yêu của Min và An chủ yếu được thông qua ánh mắt, nụ cười và tâm trạng của hai nhân vật chính. Hai diễn viên chính của phim mặc dù rất xinh, đặc biệt là Mylène Jampanoï, một cô gái lai mắt nâu, nhưng diễn xuất chưa thực sự thuyết phục, nhất là Li Xiaoran, những cảnh thể hiện tình cảm giữa hai người vẫn còn chút gì đó hơi gượng. Nhưng nói tới đây tôi mới nhớ ra mình chưa từng xem một phim nào về đồng tính nữ, vì vậy cũng không biết so sánh cặp Min-An với một cặp diễn viên nào khác.

Điểm thu hút nhất của Les filles du botaniste có lẽ là bối cảnh phim – “Quế Lâm”. Quế Lâm trong ngoặc kép vì Les filles du botaniste không được quay ở Trung Quốc-nơi đồng tính vẫn là đề tài cấm kị (“tabou”) mà quay ở Việt Nam. Thạch lâm của Quế Lâm được thay thế bằng một thắng cảnh đẹp không kém, đó là Tam Cốc-Bích Động ở Ninh Bình hay tên khác là “Hạ Long trên cạn”. Từng là bối cảnh của một phim Pháp lớn là Đông Dương, Tam Cốc-Bích Động tiếp tục làm tôi ngạc nhiên vì vẻ đẹp nên thơ đến kinh ngạc. Bên cạnh Tam Cốc-Bích Động, Les filles du botaniste còn dùng bối cảnh là hồ Hà Nội và rừng Cúc Phương. Người Hà Nội khi xem phim hẳn sẽ rất buồn cười vì hòn đảo của ông chủ vườn thuốc chính là đảo Hòa Bình giữa hồ Bảy Mẫu trong Công viên Lê-nin, nhưng khi ông chủ chèo thuyền ra bờ mua báo thì quầy báo lại nằm ở bờ … Hồ Gươm. Ngay đầu phim cũng có một chi tiết buồn cười khác, đó là cảnh Min ngồi tàu tới Quế Lâm, vụt qua cửa sổ tàu là một đoàn tàu khác có dòng chữ Đường sắt Việt Nam rất to, ấy vậy mà chỉ vài giây sau tàu của Min đã dừng lại ở tấm biển đề chữ Trung Quốc “Ga Quế Lâm”, không rõ Đới Tư Kiệt “quên” hay phong cách làm phim của ông thoải mái về mặt chi tiết phụ như vậy. Nhìn tổng thể thì phong cảnh Việt Nam trong Les filles du botaniste rất đẹp, thơ mộng và cực kì hợp với tông màu xanh mướt của bộ phim. Có lẽ Việt Nam nên thu hút các nhà làm phim nước ngoài vào quay thì hơn là bỏ ra cả đống tiền làm các clip quảng cáo trên truyền hình, vì theo tôi thì khi một địa danh khi đã lên phim, dù đẹp hay xấu, thì cũng kích thích trí tò mò của khách du lịch. “Như thường lệ” đối với phim Pháp quay ở Việt Nam, diễn viên Như Quỳnh cũng có vai phụ “chính nhất” và bà diễn hoàn toàn không hề thua kém dàn diễn viên Pháp, trong Les filles du botaniste người ta còn thấy cố diễn viên Phương Thanh trong một vai nhỏ có thoại (thoại tiếng Việt và sau đó được lồng lại tiếng Trung Quốc!). Vốn là “fan” phim tình cảm buồn, tôi hơi thất vọng về Les filles du botaniste tuy nhiên phong cảnh Việt Nam trong phim chắc chắn sẽ khiến bất cứ ai cũng phải hài lòng.

samedi 27 juin 2009

London to Brighton (2006)


Kể từ sau “Trainspotting” của Danny Boyle tôi tự dưng thích phim Anh (Great Britain nói chung). Bên cạnh chất giọng Anh đặc trưng nghe có âm điệu và hay hơn giọng Mỹ đều đều, phim Anh còn có nhiều nét đặc biệt về kịch bản khác hẳn phim Mỹ, tiết tấu phim Anh cũng dễ chịu và không “rề rà” như phim châu Âu lục địa. “London to Brighton” là một phim tập hợp được tất cả những đặc điểm này. Phim nói về Kelly, một gái điếm hết thời cùng Joanne, cô bé “sắp” 12 tuổi bị Kelly dắt mối cho một lão già có sở thích lạm dụng tình dục trẻ em, sau khi gây chuyện với lão già, hai người buộc phải chạy trốn khỏi sự truy đuổi của con trai lão cùng gã ma cô “quản lý” của Kelly. Cố truyện của phim và mối quan hệ giữa các nhân vật không hề phức tạp, tuy nhiên các tình tiết dồn dập cùng nội dung thông minh khiến “London to Brighton” trở thành một phim hình sự nghẹt thở - người xem không thể đoán nổi phim sẽ kết thúc theo chiều hướng nào cũng như Kelly và Joanne đã “gây chuyện” gì với lão già. Xen giữa các trường đoạn căng thẳng, “London to Brighton” cũng có những cảnh ngắn cảm động về sự quan tâm của Kelly-người đã ở cuối con đường đau khổ, tội lỗi với Joanne-người suýt bị chính Kelly dẫn vào con đường này. Hai diễn viên chính của “London to Brighton”, một già một trẻ, diễn rất “ngọt” để bộc lộ tình cảm đặc biệt giữa hai người, vừa có chút gì đó của tình mẹ con, một chút tình bạn và cả sự quan tâm của hai con người cùng cảnh ngộ. Tuy không thuộc dòng “hình sự thông minh” kiểu Guy Ritchie nhưng rõ ràng “London to Brighton” xứng đáng là đại diện tiêu biểu cho phim hình sự Anh.

mercredi 13 mai 2009

The Painted Veil (2006)

Phim thuần túy tình cảm, có lồng bối cảnh chính trị Tàu những năm đầu thế kỷ 20 và thiên nhiên sơn thủy miền Trung Trung Hoa cho nó có tí khác lạ. Phim xem cũng được, Edward Norton vẫn diễn tốt như mọi khi, nhất là cặp mắt biết nói , em Watts đóng không tệ nhưng trông xấu quá, xấu hơn hồi đóng King Kong bao nhiêu. Phim xem nhẹ nhàng, lãng đãng nhưng lại thiếu cao trào hoặc là các chi tiết cao trào chưa được đẩy lên đến mức cần thiết, phần kết cũng không hay, chả hiểu sao IMDb chấm đến 7.6 .

The Fountain (2006)

Phải nói là mình rất thích phim này! Cái tên Darren Aronofsky làm mình hơi sợ vì Requiem for a Dream mang màu sắc psy ảo giác quá. Tuy nhiên The Fountain "ít" psy hơn, không hiểu sao đọc phê bình phim người ta cứ cắt ra làm 3 câu chuyện, mình chỉ thấy 1, câu chuyện của hiện tại, câu chuyện của tình yêu sự sống và học cách đón nhận cái chết. Rachel Weisz thì quá xinh, quá hấp dẫn và thể hiện quá tốt vai diễn của một con người-cận-kề-cái-chết yêu đời, qua đôi môi, qua ánh mắt của cô, chỉ có tình yêu cuộc sống, người xem có lẽ cũng như anh "Hulk" Jackman, chẳng ai muốn cô phải chết. Nhưng cái chết không phải "là một bệnh dịch", nó là định mệnh không ai tránh nổi, Weisz cũng thế, và Jackman cũng phải học cách chấp nhận như thế.

Âm thanh và nhạc phim quá xuất sắc, chỉ đơn giản như tiếng khóc trẻ thơ nho nhỏ khi Jackman được thông báo rằng con khỉ Donovan đã được chữa lành, tinh tế vô cùng.

Thực sự không thể hiểu nổi vì sao phim này thất bại về mặt thương mại và phê bình đến thế, không thể hiểu nổi!