some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

dimanche 10 juin 2012

Ozu (1)

 
Đống sách tôi mua (và chẳng biết đến bao giờ mới có thời gian để đọc) trong một đợt sang Áo công tác.

Đi xem Madagascar 3, một bộ phim hoạt hình đúng kiểu Mỹ - vui nhộn, hoành tráng, màu sắc tươi sáng, nhưng kịch bản thì dở tệ, tự dưng tôi lại muốn viết mấy dòng về Ozu, đạo diễn tôi hết mực yêu quý.

Hôm trước đọc blog của Roger Ebert, tôi đọc bài viết của ông về những bộ phim vĩ đại nhất (greatest), và tự dưng vui vui vì đọc được dòng này của Ebert: "There must be an Ozu [among the top ten greatest films]. It could be one of several. All of his films are universal. The older I grow and the more I observe how age affects our relationships, the more I think "Tokyo Story" has to teach us." Tôi không phải người làm phim hoặc có ý định làm phim, cũng chẳng phải người yêu thích phê bình phim theo cách chính thống (vì hẳn những người ấy sẽ tự, và phải, xem Ozu để học, để hiểu cách làm phim của ông). Chỉ đơn giản là một người mê phim, và từng có quãng thời gian rảnh rỗi đến mức có thể xem phim hết tháng này qua tháng khác, tôi biết, và thích Ozu qua thư viện thành phố nơi tôi học tập thời còn ở Pháp (một quốc gia rất mê phim, và rất trân trọng phim châu Á, đặc biệt là phim Nhật Bản và Hồng Kông). Cho đến tận bây giờ khi lang thang trên mạng tìm ... phim cũ để down, tôi thỉnh thoảng vẫn nhớ lại cảm giác run run như những ngày vùi đầu trong thư viện tìm phim mà chợt nhận ra lấp ló sau hàng đống đĩa DVD là một DVD bằng thứ nhựa mờ đục có in dòng chữ lớn OZU. Ngay cả ở Pháp, phim của Ozu cũng không nhiều, tính ra số phim của Ozu tôi may mắn được xem chắc chỉ đếm trên đầu ngón tay (dưới 10 phim), từ phim câm nhòe nhoẹt Les gosses de Tokyo (tên tiếng Anh là I Was Born, But...) cho đến bộ phim đen trắng giản dị nhưng cực kì cảm động là Il était un père (tên tiếng Anh là There Was a Father) cho tới bộ phim cuối cùng trong cuộc đời của Ozu là Le gout du Saké (tên tiếng Anh là An Autumn Afternoon) - tất nhiên không thể bỏ qua Voyage à Tokyo (Tokyo Story). Tôi run run là vì phim của Ozu giản dị lắm, chẳng có những đại cảnh hoành tráng (spectacle), chẳng có những kịch tính giả tạo kiểu Hollywood, chỉ là những cảnh gia đình bình dị, những nhân vật khiêm nhường, và những câu thoại nhẹ nhàng nhưng thấm thía. Xem Ozu trong những ngày tâm hồn xáo động, tôi thực sự có được những giờ phút bình yên hiếm hoi, và quan trọng hơn là tìm thấy cảm giác bình thản rất Thiền, cảm giác mà xem (đa số) những bộ phim Hollywood dù tôi có hào hứng (exciting) đến mấy thì cũng không thể tìm thấy được. Chẳng khó để hiểu tại sao khi viết sách về Ozu, người ta lại hay dùng những cái tựa mỹ miều như Vers une esthétique du vide au cinéma (Hướng tới cái đẹp của sự trống rỗng trong điện ảnh) hay Ozu and the Poetics of Cinema. Giờ đây về Việt Nam, tôi gần như không còn cơ hội tiếp xúc với phim của Ozu (ngay cả trên mạng, ai lại thừa thời gian đi rip phim của một đạo diễn-của-thời dĩ vãng như Ozu?!), thành ra chỉ còn biết lần mò tìm lại những cảm xúc của mình khi xem Ozu bằng cách đọc sách và những bài bình phim Ozu.

Tôi hay viết và dịch bài trên Wikipedia (rất nhiều trong số đó là về điện ảnh), và "tác phẩm" mà tôi hài lòng nhất tất nhiên chẳng gì khác hơn ngoài bài tiểu sử về Ozu. Tất nhiên đã đăng lên Wikipedia thì chẳng còn phải là "của tôi" nữa, cũng không thể biến nó thành bài viết để gửi đăng báo (và chắc cũng chẳng báo nào buồn đăng những nhân vật và tác phẩm xưa cũ thế này!), nhưng vẫn cứ muốn post lên blog của mình, cho bõ cái công đọc sách, xem phim, và cho thỏa lòng "nhớ" phim của Ozu.

=========
Ozu

Cuộc đời trầm lặng
Ozu Yasujirō sinh ngày 12 tháng 12 năm 1903 tại Furukawa, Tokyo. Đây là một khu phố nằm ở phía Nam của thủ đô với hệ thống kênh ngòi ở cửa sông Sumida, trong một số bộ phim sau này đạo diễn thường nhắc lại những kỉ niệm thời thơ ấu thông qua hình ảnh những cây cầu hoặc các tòa nhà in bóng trên mặt nước. Bố mẹ của Ozu thuộc tầng lớp tương đối sung túc, hai ông bà có năm người con trong đó đạo diễn tương lai là con thứ. Năm Ozu mười hai tuổi, mẹ của ông đưa các con về sống tại Matsusaka, quê hương của bố Ozu. Sau khi học tiểu học ở Matsusaka, Ozu đăng ký học trung học tại thành phố láng giềng Ujisenda, nơi đạo diễn tương lai bắt đầu hình thành tình yêu với điện ảnh. Năm 19 tuổi, vì thi trượt Đại học Waseda Ozu quyết định chọn nghề dạy học tại một làng miền núi hẻo lánh cách Matsusaka chừng ba mươi cây số, đây có lẽ là giai đoạn buồn bã nhất trong cuộc đời của ông. Làm giáo viên được một năm thì gia đình Ozu chuyển về đoàn tụ tại Tokyo, ông quyết định tận dụng cơ hội này để theo đuổi nghề điện ảnh bằng cách nhờ bố mẹ giới thiệu cho ông vào làm trợ lý trong hãng phim Shochiku Kinema, tiền thân của hãng Shochiku sau này. Năm 1934 trong khi Ozu đang quay bộ phim Haha o kowazuya mà phần mở đầu đề cập tới cái chết của một ông bố thì người cha của chính Ozu qua đời, mẹ của đạo diễn qua đời năm 1961.

 Ngôi mộ của Ozu tại đền Engaku-ji thuộc Kamakura, Kanagawa với duy nhất một chữ vô khắc trên bia mộ.

Trái ngược với sự nghiệp phong phú với rất nhiều tác phẩm điện ảnh, những chi tiết về đời tư của đạo diễn không được ghi chép lại nhiều. Ozu nổi tiếng là người thích uống rượu và uống rượu khỏe, ông thường cùng nhà biên kịch Noda Kogo ngồi uống rượu tại nhà trọ trong nhiều ngày để sáng tác kịch bản mới, rất nhiều phim của Ozu cũng có những cảnh uống rượu sake hoặc whisky. Tuy thời trẻ từng chịu ảnh hưởng của các tác phẩm điện ảnh phương Tây nhưng Ozu chỉ ra nước ngoài hai lần duy nhất trong thời gian chiến tranh. Cho tới khi mất, Ozu vẫn chỉ sống với mẹ của ông, đạo diễn chưa từng lập gia đình và không có con cái. Mắc ung thư, ông qua đời vào đúng ngày sinh nhật lần thứ 60, 12 tháng 12 năm 1963. Trên nấm mộ của mình ở Đền Engaku-ji thuộc Kamakura, Kanagawa, đạo diễn chỉ cho khắc duy nhất một chữ mu (無, vô), chữ thể hiện ý nghĩa cốt yếu của tư tưởng Thiền.

Khởi đầu sự nghiệp và ảnh hưởng của Hollywood
Sự nghiệp của Ozu có thể chia làm hai giai đoạn chính ngăn cách bởi cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai. Năm 21 tuổi, Ozu vào làm trong hãng phim Sochiku, một hãng phim đóng tại Kamata, Ōta, Tokyo chuyên sản xuất những bộ phim tâm lý tình cảm, với vai trò trợ lý quay phim, khi được hỏi về những bộ phim của hãng Shochiku mà mình đã xem, Ozu đã thừa nhận rằng ông chỉ đam mê điện ảnh Mỹ và chỉ nhớ được có ba bộ phim Nhật. Hai năm sau ông trở thành trợ lý đạo diễn và một năm sau là vai trò đạo diễn cho những bộ phim được hãng giao chứ không phải theo lựa chọn của chính ông. Tác phẩm điện ảnh đầu tiên do Ozu đạo diễn có tựa đề Zange no yaiba, đây là một phim thuộc thể loại jidaigeki hay phim lịch sử lấy bối cảnh nước Nhật trong quá khứ, về sau Ozu không còn thực hiện thêm bất cứ tác phẩm jidaigeki nào mà ông chỉ tập trung vào thể loại gendaigeki hay phim lấy bối cảnh nước Nhật đương đại. Zange no yaiba cùng 6 bộ phim tiếp theo của Ozu trải qua thời gian đều đã bị thất lạc, bộ phim sớm nhất của đạo diễn còn được lưu giữ nguyên vẹn cho tới ngày nay là Wataki hi (1929), một tác phẩm làm về đề tài cuộc sống sinh viên. Mang nhiều đặc điểm của điện ảnh phương Tây như các cú máy "travelling" hay những khuôn hình toàn cảnh, bộ phim được đánh giá là nhẹ nhàng và làm vừa lòng khán giả. Năm 1930, Ozu thực hiện hai bộ phim hình sự là Hogarakani ayume và Sono yo no tsuma, đây là hai trong số ba bộ phim duy nhất của đạo diễn thuộc thể loại này (cùng với Hijisen no onna năm 1936), Sono yo no tsuma chịu ảnh hưởng lớn của phim hình sự Mỹ tới mức ngoài dàn diễn viên Nhật thì bộ phim không khác gì một sản phẩm của Hollywood. Tuy rất gần gũi với những phim đen (film noir) hiện đại, bản thân đạo diễn cũng tỏ ra không hài lòng với những phim hình sự của ông trong khi giới phê bình Nhật thường coi đây chỉ là những phút nông nổi thời trẻ của nhà điện ảnh tên tuổi. Cũng trong năm 1930 Ozu cho ra đời một tác phẩm khác về đề tài sinh viên, đó là bộ phim hài kiểu Mỹ Radudai wa shita keredo. Sản xuất trong thời gian Đại khủng hoảng, phim cũng mang nhiều tình tiết châm biếm như một sinh viên bỏ rất nhiều công sức để có tấm bằng cuối cùng lại không thể xin được việc trong khi một người khác lười biếng, phải thi lại, nhưng cuối cùng lại có thể ăn không ngồi rồi một năm vì có sự hỗ trợ của bố mẹ. Một năm sau đạo diễn tiếp tục thực hiện hai bộ phim hài là Shukujo to hige, một tác phẩm hài thông thường lấy bối cảnh trường học, và Tokyo no gassho, một phim có phần mở đầu hài hước về cuộc sống sinh viên nhưng kết thúc bằng cảnh đời khó khăn của một viên chức nhỏ trong cảnh kinh tế suy thoái. Trong Tokyo no gassho, lần đầu tiên Ozu thử nghiệm những góc quay thấp và khuôn hình tĩnh, những đặc điểm điển hình trong phim giai đoạn sau của đạo diễn.
 
Ryu Chishu và Hara Setsuko trong Banshun. Ryu Chishu đã được Ozu chọn đóng trong bộ phim nói đầu tiên của ông là Hitori musuko.
 
Năm 1933 dựa trên cảm hứng từ bộ phim The Champ (1931) của King Vidor, Ozu thực hiện bộ phim Dekigokoro lấy đề tài về cuộc sống của tầng lớp công nhân Tokyo, đây là tác phẩm thử nghiệm của đạo diễn với những chân trời điện ảnh mới thay vì những bộ phim tình cảm lãng mạn theo kiểu Mỹ mà ông đã chán ngán. Tác phẩm này của Ozu được coi là nguồn cảm hứng cho loạt phim Otoko wa tsurai yo do Yamada Yoji thực hiện cho hãng Shochiku năm 1969. Trước Dekigokoro một năm, Ozu cho ra đời Umarete wa mita keredo, tác phẩm được coi là phim câm xuất sắc nhất của ông, bộ phim nói về sự đối đầu giữa một ông bố nhu nhược với hai đứa con trai tuy nhỏ tuổi nhưng đã có cá tính rất mạnh mẽ. Chứng kiến sự khúm núm của người bố trước ông sếp cấp trên, hai đứa con trai thất vọng tới mức bỏ ăn vì ông bố giải thích rằng mình phải cư xử như vậy là để có tiền nuôi cả gia đình, sự cứng rắn của hai đứa con đẩy ông tới chỗ phải lựa chọn hoặc là tiếp tục nhún nhường trước cấp trên để có công việc ổn định, hoặc là cư xử mạnh mẽ để có được sự tự hào từ các con. Tuy đề cập tới một đề tài nghiêm túc nhưng Ozu đưa vào phim nhiều cảnh hài hước và tạo cho tác phẩm của mình nhiều tầng ý nghĩa, với khán giả thuộc tầng lớp nghèo họ sẽ cảm thấy đây là một phim hài còn với khán giả thuộc tầng lớp trung lưu hay giới phê bình điện ảnh, họ sẽ thấy đây là một phim hết sức nghiêm túc. Mặc dù vẫn còn chịu ảnh hưởng của phim Mỹ nhưng Umarete wa mita keredo đã chứng tỏ Ozu hoàn toàn nắm bắt được thực tế của xã hội Nhật đương đại, giới phê bình coi bộ phim này của Ozu là một kiệt tác xuất sắc không chỉ của phim câm Nhật mà còn của cả nền điện ảnh thế giới.

Ukigusa monogatari được đạo diễn thực hiện năm 1934 dựa theo bộ phim Mỹ The Barker (1928) của đạo diễn Georges Fitzmaurice, tác phẩm lấy bối cảnh là cuộc sống của những diễn viên sân khấu với câu chuyện về một diễn viên bị giằng xé giữa gia đình và cuộc sống mới với người tình. Năm 1959 Ozu làm lại tác phẩm này dưới tên mới Ukigusa. Cùng với Dekigokoro, Ukigusa monogatari cho thấy Ozu đã bắt đầu loại bỏ những yếu tố hoàn toàn Hollywood để xây dựng một phong cách riêng cho mình, ví dụ ông đã thay thế những cảnh bạo liệt trong các bộ phim Mỹ gốc bằng những tình huống nhẹ nhàng theo kiểu Nhật, nhân vật chính trong phim cũng không còn được Ozu rập khuôn theo những hình mẫu nhân vật trong phim Mỹ. Hitori musuko (1936) là bộ phim nói đầu tiên của Ozu, người đã kiên trì với phim câm và tránh thể loại phim mới này trong một thời gian dài, ông thực hiện Hitori musuko với phần âm thanh được giao cho Mohara Hideo, người quay hầu hết các phim trước đó của đạo diễn. Phần hình ảnh của phim do Sugimoto Masajiro đảm nhiệm, trợ tá của ông là Atsuta Yuharu, người sau này trở thành quay phim cho gần như toàn bộ phim giai đoạn sau của Ozu. Theo nhà biên kịch Noda Kogo, Ozu lấy cảm hứng từ bộ phim Mỹ Make Way for Tomorrow (1936) của Leo McCarey để làm Hitori musuko, tác phẩm nói về một người mẹ sẵn sàng làm lụng vất vả vì thành công của con cái, đề tài sau này còn được đạo diễn sử dụng trong nhiều tác phẩm khác. Bộ phim được Ozu hoàn thành trước Hitori musuko một năm là Tokyo no yado cũng được dựng thành bản phim nói trong thời gian này. Tokyo no yado khắc họa cuộc sống khốn cùng của một người công nhân bị mất việc mà một đứa con trai. Cả Hitori musuko và Tokyo no yado đều được coi là những bộ phim xuất sắc của Ozu về đề tài cuộc sống của những người dân nghèo trong thời kì nước Nhật phải hứng chịu cuộc khủng hoảng kinh tế. 

Chiến tranh
Tháng 9 năm 1937 Ozu được tổng động viên vào quân đội đế quốc Nhật, với quân hàm hạ sĩ ông đóng quân tại Trung Quốc trong vòng hai mươi tháng và được chứng kiến tận mắt những trận đánh khốc liệt tại chiến trường này. Trở về Nhật Bản, Ozu thực hiện bộ phim Todake no kyodai (1941), tác phẩm nói về sự li tán của một gia đình với cái chết của người bố. Từng có nhiều bộ phim Nhật làm về câu truyện này như Haha izuko (1922) của Ushihara Kiyohiko nhưng tác phẩm của Ozu là bộ phim đầu tiên vượt được khỏi khuôn khổ của một phim tâm lý tình cảm thông thường để đạt được những giá trị nghệ thuật sâu sắc. Todake no kyodai được coi là tác phẩm mở đầu cho đề tài về gia đình với nhiều hình mẫu được lặp lại trong các bộ phim giai đoạn sau của đạo diễn, có một điều trùng hợp là người cha trong Todake no kyodai qua đời vào đúng ngày sinh nhật lần thứ 60, chi tiết trùng khớp với cuộc đời của đạo diễn vì Ozu trút hơi thở cuối cùng cũng vào ngày sinh nhật lần thứ 60 của ông. Vốn đã đề cập nhiều tới đề tài gia đình trong phim của mình, năm 1942 Ozu cho ra đời bộ phim xuất sắc nhất của ông trong giai đoạn trước chiến tranh về đề tài này, đó là Chichi ariki. Bộ phim kể về một giáo viên trung học góa vợ (Ryu Chishu) vì cảm thấy có lỗi trong cái chết của một học sinh nên quyết định thôi nghề giáo và lên Tokyo để có tiền cho đứa con trai ở quê nhà ăn học. Con ông (Sano Shuji) sau đó cũng trở thành giáo viên nhưng rồi lại muốn bỏ việc lên thành phố để sống gần bố, một quyết định bị ông bố phản đối cho tới khi qua đời vì ông cho rằng con trai mình cần có trách nhiệm với nghề dạy học. Hình ảnh nhân vật đặt trách nhiệm với xã hội lên trên hạnh phúc cá nhân vốn là một đặc điểm rất Nhật Bản và xuất hiện trong nhiều phim Nhật làm về đề tài lịch sử, tuy nhiên trong những bộ phim lấy đề tài đương đại thì nhân vật do Ozu sáng tạo ra trong Chichi ariki là ngoại lệ hiếm hoi. Chichi ariki sau khi ra đời đã được đón nhận rất nồng nhiệt vì nó vừa có chất lượng nghệ thuật cao, vừa nguyên bản không dựa vào tác phẩm văn học như trào lưu thịch hành, lại phản ánh được quan niệm đặt trách nhiệm lên hàng đầu vốn được coi trong ở Nhật Bản thời chiến. Theo nhà phê bình Yamamoto Kikuo, Ozu đạo diễn Chichi ariki với cảm hứng từ bộ phim Mỹ Sorrell and Son (1927) của Herbert Brenon, một bộ phim nói về sự hy sinh của người bố để đứa con có thể thành đạt trong sự nghiệp, đề tài cha mẹ hy sinh vì con cái cũng là đề tài được yêu thích thời gian này ở cả Mỹ và Nhật Bản.

Một năm sau Chichi ariki, hãng Shochiku gửi đạo diễn tới Singapore với vai trò phụ tá trong Lục quân Đế quốc Nhật Bản và thành viên cơ quan thông tin để thực hiện một phim chiến tranh có tên Harukanari fubo no kuni - Biruman sensen nói về chiến dịch của quân đội Nhật tại Myanmar. Tại Singapore, đạo diễn từ bỏ dự án phim chỉ sau vài cảnh quay, thay vào đó ông dành thời gian xem các bộ phim mới của phương Tây bị quân đội Nhật tịch thu, trong số này ông đặc biệt ấn tượng với Angel (1937) của Ersnt Lubitsch, đạo diễn mà Ozu yêu thích, và Công dân Kane (Citizen Kane, 1941) của đạo diễn lúc này còn ít tên tuổi Orson Welles. Khi trở về Nhật Bản ông đã phát biểu về Welles rằng: "Chàng thanh niên hai tư tuổi này còn tài năng hơn cả Charlie Chaplin". Cho tới khi kết thúc chiến tranh đạo diễn không hề thực hiện một bộ phim nào tuyên truyền cho quân đội Nhật Bản, các bộ phim làm trong giai đoạn này của Ozu cũng không bao giờ có sự xuất hiện của hình ảnh binh lính, thực tế thì Ozu hay Naruse Mikio thuộc nhóm đạo diễn không để ý nhiều tới thời cuộc và chỉ làm phim theo phong cách của chính họ. Tháng 8 năm 1945 sau khi Nhật Bản đầu hàng đồng minh, Ozu và nhiều đồng nghiệp ở Singapore bị tạm giam trong nhà tù của quân đội Anh ở Singapore, nơi đạo diễn giết thời gian bằng cách làm thơ. Tới tháng 2 năm 1946 thì Ozu được trả tự do, ông hồi hương và tiếp tục làm việc cho hãng Shochiku ở Ofuna, tác phẩm đầu tiên của Ozu sau chiến tranh là Nagaya shinshi roku thực hiện năm 1947 nói về cuộc sống của một khu phố bình dân của Tokyo bị không quân Mỹ phá hủy. Một năm sau Ozu cho ra đời Kaze no naka no mendori, một tác phẩm khắc họa số phận của người dân Nhật Bản sau khi chiến tranh kết thúc với nhiều cảnh quay chân thực tới mức gây sốc. Kaze no naka no mendori không được giới phê bình đánh giá cao và chính bản thân Ozu cũng coi đó là một thất bại của ông.

Thăng hoa
Năm 1949, bước ngoặt sự nghiệp của đạo diễn đến khi ông hợp tác với nhà biên kịch Noda Kogo để quay bộ phim Banshun (Xuân muộn), bộ phim xuất sắc mở đầu cho phong cách riêng của đạo diễn. Banshun nói về cuộc sống bình dị của một giáo sư đại học góa vợ (Ryu Chishu) và con gái duy nhất (Hara Setsuko), điều lo lắng nhất của ông giáo sư là gả chồng cho con gái trong khi cô gái lại không muốn lập gia đình vì không muốn để bố sống cô đơn. Thay vì những xung đột hay kịch tính xã hội thông thường, bộ phim chỉ tập trung khắc họa chi tiết tình cảm và suy nghĩ tế nhị, nhiều khi đối lập của hai nhân vật chính thông qua những bối cảnh hết sức thông thường như tiệc trà hay đám cưới. Đây là một trong những bộ phim đầu tiên của Nhật Bản sau chiến tranh thực sự khắc họa sự quay trở lại của hòa bình và yên ổn trong xã hội Nhật, yếu tố được Ozu lặp lại nhiều lần trong các bộ phim sau này. Bộ phim Banshun không chỉ đánh dấu bước ngoặt về phong cách của Ozu mà còn mở đầu cho sự hợp tác giữa đạo diễn với một nhóm làm phim thân cận gồm nhà biên kịch Noda Kogo, đồng tác giả kịch bản của Ozu trong hầu hết các phim giai đoạn sau và Atsuta Yuharu, người phụ trách quay phim cho gần như toàn bộ phim của đạo diễn kể từ Todake no kyodai (1941) và được coi như "con mắt" của Ozu trong các bộ phim của ông. Tiếp sau Banshun, Ozu thực hiện Bakushu (Đầu hè, 1951), một phim gia đình với nhân vật chính là cặp vợ chồng già (Sugai Ichiro và Higashiyama Chieko), cô con gái đến tuổi lấy chồng (Hara Setsuko) và vợ chồng người anh trai (Ryu Chishu và Miyake Kuniko). Đây là một tác phẩm hiếm hoi của Ozu đề cập trực tiếp tới xung đột của các thành viên trong gia đình khi cô con gái bất ngờ lấy một người đàn ông góa vợ bất chấp sự phản đối của gia đình. Năm 1952 Ozu hiện thực hóa một kịch bản ông viết từ năm 1939, đó là Ochazuke no aji, một tác phẩm đề cập tới cuộc sống của một cặp vợ chồng gặp xung đột vì xuất thân khác biệt. Kịch bản này của Ozu sau khi ra đời năm 1939 đã bị cơ quan kiểm duyệt Nhật loại bỏ chỉ vì có những cảnh phụ nữ thuộc tầng lớp trung lưu sống nhàn rỗi, hình ảnh được coi là không phù hợp trong hoàn cảnh Nhật Bản tham gia chiến tranh, sự kiện này đã gây sốc cho làng điện ảnh Nhật Bản vì sự chặt chẽ của cơ quan kiểm duyệt ngay cả đối với một đạo diễn nổi tiếng như Ozu.

 Áp phích phim Banshun, bộ phim đánh dấu bước ngoặt sự nghiệp của Ozu, trên áp phích là chân dung của Hara Setsuko với nụ cười đặc trưng.

Hai năm sau Bakushu, Ozu thực hiện một trong những bộ phim xuất sắc nhất của ông, Tokyo monogatari (Truyện kể Tokyo). Tác phẩm kể lại chuyến đi tới Tokyo của một cặp vợ chồng già (Ryu Chishu và Higashiyama Chieko) để thăm các con (Yamamura So, Sugimura Haruko). Bắt đầu chuyến đi với cảm giác hạnh phúc vì được gặp lại con cháu, hai vợ chồng nhanh chóng nhận ra rằng các con của họ quá bận bịu để có thể dành thời gian cho bố mẹ, người duy nhất quan tâm tới hai người cuối cùng lại là vợ góa (Hara Setsuko) của người con trai đã chết trong chiến tranh của ông bà. Bộ phim đề cập tới tất cả những tình cảm và suy nghĩ sâu sắc của con người về cuộc sống, cái chết, sự cô đơn cùng những quan hệ gia đình tinh tế, nhiều màu sắc được thể hiện bởi diễn xuất ấn tượng của dàn diễn viên. Chỉ cần thông qua những nụ cười của các nhân vật, Ozu cũng đã khắc họa được nỗi buồn sâu kín của từng người trước sự tan vỡ không thể tránh khỏi của quan hệ gia đình gắn bó kiểu truyền thống, bản thân đạo diễn cũng coi đây là tác phẩm "ướt át" (melodramatic) nhất của mình. Sau khi được giới thiệu ra quốc tế, tác phẩm đã gây tiếng vang lớn và được coi là một trong những kiệt tác của điện ảnh thế giới. Năm 1956, Ozu đạo diễn Soshun (Xuân sớm), một bộ phim dường như quay lại phong cách thời kì đầu của đạo diễn với nhân vật chính là những viên chức nhỏ sống trong một khu phố bình dân của Tokyo, một trong số họ (Ikebe Ryo) yêu thầm một đồng nghiệp nữ (Kishi Keiko) mặc dù ông ta đã có vợ (Awashima Chikage). Với nhiều chi tiết hài hước, bộ phim khắc họa một cách chân thực xã hội Nhật Bản ở giai đoạn khó khăn khi người dân thường vẫn chưa được chứng kiến thành quả của sự bùng nổ kinh tế. Tác phẩm đen trắng cuối cùng của Ozu, Tokyo boshoku (1957) là bộ phim mang màu sắc ảm đạm nhất của đạo diễn, tác phẩm nói về một người phụ nữ (Hara Setsuko) bỏ chồng để rồi sau đó tìm lại được người mẹ đã mất tích sau nhiều năm, đây là bộ phim duy nhất Ozu xây dựng nhân vật của Hara Setsuko là một phụ nữ bỏ chồng, Hara Setsuko trong phim cũng thường mặc áo khoác dày và đeo khẩu trang che gần kín mặt, hình tượng nhân vật nữ ở giai đoạn đổi thay này sau đó không còn được Ozu lặp lại trong phim của ông. Bối cảnh của phim cũng diễn ra trọn vẹn trong mùa đông đã đem lại cho Tokyo boshoku một gam màu hết sức buồn bã khiến phim khi công chiếu không nhận được phản ứng tốt từ công chúng. Tuy nhiên Tokyo boshoku được coi là một tác phẩm quan trọng trong giai đoạn sau của Ozu vì nó cho thấy sức sáng tạo của đạo diễn ở nhiều đề tài khác nhau, một phản đề cho những chỉ trích rằng phim của Ozu thường đơn giản và ít thay đổi về đề tài, đồng thời Tokyo boshoku cũng là bộ phim cuối cùng ở giai đoạn sau của Ozu cho thấy mối liên hệ với những tác phẩm ở giai đoạn trước chiến tranh của đạo diễn.

Phim màu và những suy ngẫm cuối đời
Higanbana (Hoa điểm phân, 1958) là phim màu đầu tiên của Ozu, đây tiếp tục là một phim gia đình với đề tài nhẹ nhàng và dàn diễn viên tên tuổi của đạo diễn. Một ông bố (Saburi Shin) tức giân vì con gái (Arima Ineko) lập gia đình không hỏi ý kiến ông nên quyết định không dự đám cưới của con làm vợ ông (Tanaka Kinuyo) và người họ hàng (Yamamoto Fujiko) phải hết sức thuyết phục để buổi lễ diễn ra suôn sẻ. Đây được coi là một tác phẩm hoàn hảo về cả nội dung, diễn xuất của các diễn viên nhất là Yamamoto Fujiko và cả thiết kế mỹ thuật của các ngôi nhà truyền thống kiểu Nhật. Năm 1959, Ozu quay lại với phim hài với Ohayo (Xin chào). Tương tự như tác phẩm xuất sắc đầu tiên của đạo diễn là Umarete wa mita keredo, bộ phim khắc họa quan hệ giữa cha mẹ và hai đứa con trai nhỏ trong đó xung đột nhỏ trong gia đình lại gây ra rắc rối cho cả một khu phố nơi mọi người từng có quan hệ gắn bó ngày càng trở nên xa cách. Năm 1959, Ozu đạo diễn bộ phim màu duy nhất cho hãng Daei là Ukigusa. Đây là tác phẩm làm lại một bộ phim từ năm 1934 của đạo diễn là Ukigusa monogatari, nếu như tác phẩm gốc là một phim hài thì bộ phim năm 1959 của Ozu lại mang đậm tính triết lý và những suy nghĩ hoài cổ với góc máy quay tuyệt đẹp của Miyagawa Kazuo, người thường đảm nhận quay phim cho Mizoguchi Kenji. Bộ phim màu thứ tư của đạo diễn là Akibiyori (Cuối thu, 1960) với những nhân vật chính ở vào độ tuổi của đạo diễn, đó là ba viên chức sắp tới thời điểm nghỉ hưu (Saburi Shin, Nakamura Nobuo và Kita Ryuji) muốn tìm cách giúp đỡ vợ góa của người bạn cũ (Hara Setsuko) và con gái của bà (Tsukasa Yoko) lập gia đình mới. Sự quan tâm và gắn bó giữa các nhân vật trong phim được thể hiện qua các chi tiết hài hước tinh tế và những cuộc xung đột nhỏ nhưng bộc lộ được những lẽ chính yếu của cuộc sống con người.

Năm 1961 Ozu Yasujirō đạo diễn bộ phim màu Kohayagawa-ke no aki tại trường quay của hãng Toho ở Takarazuka với dàn diễn viên gồm hầu hết các ngôi sao lớn nhất của điện ảnh Nhật Bản đương thời. Phim có nhân vật chính là một ông già ở tuổi gần đất xa trời (Nakamura Ganjiro) nhưng vẫn muốn tận hưởng những thú vui của cuộc sống như chơi với con cháu và nhất là muốn tìm lại người tình trong quá khứ bất kể sự phản đối của các con và sức khỏe không ổn định. Phim chứng kiến diễn xuất xuất sắc của Nakamura trong vai ông bố già và cũng ẩn chứa nhiều thông điệp tinh tế của Ozu về cuộc sống thông qua những câu thoại và chi tiết hài hước nhỏ trong phim. Samma no aji (1962) là bộ phim cuối cùng trong sự nghiệp của đạo diễn và được coi như một di ngôn của Ozu, đây cũng là một tác phẩm lấy đề tài về gia đình và những suy nghĩ của tuổi già, chủ đề mà Ozu theo đuổi trong những phim cuối cùng trước khi ông qua đời năm 1963. Có cốt truyện chính gần tương tự với Banshun, Samma no aji đề cập tới những suy nghĩ của một viên chức ở tuổi gần nghỉ hưu (Ryu Chishu) về người con gái (Iwashita Sima) không muốn lấy chồng vì muốn dành thời gian chăm sóc bố. Trong cả hai bộ phim màu cuối cùng, người xem đều được chứng kiến phong cách đạo diễn đã đạt tới mức hoàn hảo của Ozu với những cảnh quay tĩnh, các câu thoại ngắn, sâu sắc và những chi tiết tuy rất nhỏ nhưng đều thể hiện ý nghĩa tinh tế. Samma no aji kết thúc với hình ảnh người cha ngồi lặng lẽ một mình sau đám cưới của con gái, hình ảnh khiến người xem xúc động không chỉ vì nỗi buồn sâu kín của người bố thể hiện qua dáng ngồi mà còn vì sự cô đơn tuyệt đối toát ra từ tác phẩm cuối cùng của Ozu.

(còn tiếp)
=========

Cùng chủ đề


dimanche 20 mai 2012

Dành cho tháng Sáu (2012)


Nếu phải dùng một tính từ thôi để nói về Dành cho tháng Sáu, có lẽ tôi sẽ dùng từ "giản dị". Đã lâu tôi không ra rạp mua vé để xem phim Việt Nam (ngoại trừ một lần sang trường Bách khoa xem Đừng đốt ... miễn phí, nhưng đó cũng là gần 2 năm trước), nhưng qua những gì tôi thấy trên các bộ phim truyền hình, cuộc sống hiện đại của người Việt, đặc biệt là người thành phố, luôn hiện lên với vẻ hào nhoáng giả tạo, biệt thự, xe hơi, nhà chọc trời..., học sinh "kém" hơn chút đỉnh thì là iPhone, iPod, LX, SH,... Đó là một "hội chợ phù hoa" mà người Pháp đã dành hẳn một tính từ (và nụ cười mỉm) để mô tả nó - bourgeois hay giàu xổi. Dành cho tháng Sáu không như thế, cả bộ phim là một câu chuyện giản dị về những đứa học trò giản dị, với những ước mơ cũng giản dị.

Dành cho tháng Sáu xoay quanh những ngày hè của Kiên, Hoàng và Minh, ba cô cậu học trò chuẩn bị bước vào những ngày tháng cuối cùng của đời học sinh, hai người đầu là cầu thủ, còn cô bé cuối cùng là manager của đội bóng rổ trường Duy Tân (lấy bối cảnh là trường Phan Đình Phùng, một ngôi trường cổ và có địa thế vào loại đẹp nhất Hà Nội). Tháng Sáu đến, sách vở không còn là nỗi lo thường trực, thay vào đó là bóng rổ, là nghỉ hè, và tất nhiên, là những "mối tình đầu" của tuổi học trò. Truyện phim không có gì phức tạp, Kiên (Huỳnh Anh) đẹp trai, giỏi bóng rổ nhưng lại xin học ở trường Duy Tân - ngôi trường có đội bóng rổ "tệ" tới mức một tay cầu thủ "không hiểu có mặt ở trên sân để làm gì" như Hoàng (Quốc Trung) cũng có chân. Lý do đơn giản nằm ở cô bé manager của đội - Minh (Thiên Tú), giản dị (khác hẳn stereotype trong phim truyền hình bây giờ là nữ sinh nhà giàu là cứ phải nhuộm tóc, dùng điện thoại xịn, đi xe xịn!), cá tính, thông minh và rất duyên. Lấy hết sự tự tin có thể, Kiên mang hoa đến "tỏ tình" với Minh và bị cô bé nhẹ nhàng, nhưng cương quyết, từ chối vì "chưa bao giờ nghĩ đến chuyện này". Cậu chàng "thất tình" bèn bỏ luôn về Thái Nguyên nghỉ hè, bỏ mặc lại đội bóng rổ Duy Tân vốn đã yếu nay còn yếu hơn ngay trước trận đấu quan trọng với đội bóng vô địch Lý Thường Kiệt. Chẳng còn cách nào khác Hoàng và Minh phải lên Thái Nguyên mong thuyết phục Kiên quay trở lại để duy trì chút hy vọng chiến thắng nhỏ nhoi của Hoàng trong trận đấu cuối cùng của cầu thủ vụng về nhưng vô cùng yêu bóng rổ này.

Như đã nói ở trên, cốt truyện của Dành cho tháng Sáu giản dị như chính những nhân vật của nó, bộ phim không có những điểm cao trào (về mặt cảm xúc hay hành động) và cũng chẳng có những nút thắt-mở theo thị hiếu thông thường (đây cũng là lý do tôi sợ rằng phim sẽ khó lòng ăn khách, vì vừa thiếu vẻ hào nhoáng, vừa thiếu kịch tính kiểu "thị hiếu" thì khó lòng thu hút số đông khán giả vốn đã quá quen những bộ phim hài nhảm, hành động hoành tráng hay ngồn ngộn "trai xinh, gái đẹp"). Có thể nói Dành cho tháng Sáu là những mảng sống, mảng suy nghĩ của ba cô cậu học trò được kết nối với nhau bằng những buổi tập, trận thi đấu bóng rổ. Người xem như tôi thực sự thấy nhẹ nhõm và thư giãn khi chứng kiến những cô cậu học trò buồn, vui, phấn khích, sầu não một cách rất chân thật, rất chân thật theo cái kiểu "dở dở ương ương" của tuổi mới lớn. Tôi cũng rất vui khi thấy đã lâu lắm rồi (hay chưa bao giờ?) tuổi học trò được mô tả thật như thế, không cường điệu, không "giáo dục đạo đức", và tràn đầy tiếng cười qua từng khung hình (tôi rất thích trường đoạn Kiên, Hoàng và Minh ở Thái Nguyên). Có cảm giác Dành cho tháng Sáu của bạn Nguyễn Hữu Tuấn rất gần với những bộ phim độc lập mới nổi gần đây của Mỹ như Juno, nhưng xem xong phim (và luôn ám ảnh trong đầu cái tease trailer rất hay của Dành cho tháng Sáu lồng nhạc của Joe Hisaishi) tôi lại thấy bộ phim cũng lại gần với cái đơn giản của phim Nhật Bản, điển hình là Only Yesterday của Isao Takahata. Nói về nhạc phim, theo cá nhân tôi thì đây là một trong những điểm thành công nhất của Dành cho tháng Sáu - phim lồng rất nhiều nhạc, đa phần là rock Việt, nhạc được lồng rất "đắt", phù hợp với cung bậc cảm xúc của nhân vật trong phim và trợ giúp rất nhiều cho cốt truyện ít kịch tính. Tôi đọc thấy phim được quay bằng Canon 5D, nếu vậy thì lại càng thấy phục bạn Tuấn hơn vì phim của bạn được quay rất đẹp, các khung hình có gam màu ấm, góc quay không bị gò bó càng làm bộ phim trở nên nhẹ nhõm với người xem, kể cả với những pha bóng rổ tốc độ, bối cảnh phim cũng được chọn rất kỹ lưỡng, đẹp, nhưng không phải cái đẹp hoành tráng, kỳ vĩ của nhà cao ốc, của thắng cảnh thiên nhiên mà là cái đẹp giản dị, thanh bình của những khu tập thể cũ kĩ, của một góc phố Hà Nội xanh ngắt, và của đồng quê thiên nhiên (Thể thao Văn hóa có một bài review khá hay phân tích chuyện phim dùng Canon 5D để quay thế nào). Tóm lại theo tôi dù có thiếu đôi chút kịch tính (sẽ được cải thiện nếu phim dài hơn và được đầu tư nhiều hơn?) nhưng Dành cho tháng Sáu vẫn là bộ phim học trò đáng xem, đáng xem theo tiêu chuẩn phim nói chung chứ không phải theo tiêu chuẩn "phim Việt Nam".

Một khung hình đẹp của phim

Không biết có phải tình cờ (hay là chiến thuật marketing của đoàn làm phim?) mà Dành cho tháng Sáu ra mắt đúng vào những ngày học trò lớp 12 chia tay nhau để bước vào cuộc đời mới-không có nhau bên cạnh. Tôi nhớ là vì đây cũng là dịp kỉ niệm lớp tôi chia tay, chia tay trong những giọt nước mắt mà chẳng hiểu sao mình khóc, để rồi mãi đến năm, mười năm sau mới nhận ra đó chính là những giọt nước mắt, những cái ôm hôn, bắt tay li biệt cái giai đoạn đẹp nhất của cuộc đời, li biệt những người bạn mà sau này có khi chẳng bao giờ ta còn gặp lại. Xem xong phim bạn tôi có hỏi, rút cục tên phim Dành cho tháng Sáu có nghĩa gì? Quả thực tôi cũng không rõ, và cũng chẳng muốn đoán già đoán non khi mà cái sự giản dị của bộ phim có lẽ cũng không buộc khán giả phải làm cái việc như vậy. Chỉ mong là những ai đã từng có một tháng Sáu cuối cùng của tuổi học trò - như tôi, hoặc đang tận hưởng những ngày cuối cùng trong đời học sinh - như những cô cậu khóc lóc chia tay được chụp ảnh đầy trên báo mạng, hãy đi xem bộ phim này để rồi lưu giữ cho mình một chút kỉ niệm trong sáng của thời học sinh. Tôi nhớ sau khi tốt nghiệp cấp III lớp tôi có đi xem bộ phim Tuổi dậy thì (Change) của Hàn Quốc ngoài rạp Quốc gia, một phim hài vui vui kiểu Hàn mà nội dung tôi cũng không còn nhớ rõ, nhưng đến tận bây giờ khi ai đó nhắc đến tên phim này, tôi vẫn thấy chút gì đó bùi ngùi khi nghĩ về những tháng ngày đẹp đã không bao giờ còn quay trở lại. Hy vọng Dành cho tháng Sáu cũng sẽ làm được điều đó - giúp những cô cậu đang chia tay có được chút kỉ niệm "để dành" cho sau này khi nghĩ về thời học sinh.

dimanche 12 février 2012

Whitney Houston dies


Hope she would rest with such child-like smiles.

samedi 31 décembre 2011

One sentence reviews (2)

Chào đón năm mới bằng Contagion của Steven Soderbergh. Cứ mỗi tháng trôi qua là lại thấy mình thêm bận bịu, có lẽ thời gian cho những bài review dài thật dài đã qua rồi, giờ chỉ còn đủ tâm trí cho vài dòng ngắn ngủi trên Rotten Tomatoes.

01. 13 Assassins (2011): 5/5
Cruelly emotional. Just like watching Seven Samurai, in colour.

02. Midnight FM (Simya-ui FM) (2010): 4/5
Watch during my flight from Korea back to Vietnam. Terrific tension build-up! Some silly (even incongruous) plot-holes and factual errors are made up by very good acting from Yu Ji-tae and Su Ae (who reminds me very much of the supreme Uhm Jung-hwa in Princess Aurora).

03. Hanna (2011): 3/5
A not-really-successful attempt to stylize a conventional action movie. All artistic and symbolic angles (typical of Joe Wright's movies) and allegory-wannabe details could not fill up the big hole coming from an ordinary, weak plot and an uncharacteristic ending.

04. Sucker Punch (2011): 3/5
A surprisingly entertaining movie, especially when comparing with the overwhelming negative reviews that I've read. Guilty (and sadistic) pleasure indeed when watching a movie with Lolita-like characters (Jena Malone rules them all!), a One-Flew-Over-the-Cuckoo-Nest-like background (and ending) bound by a ridiculous video-game plot.

05. The Rite (2011): 1.5/5
From a great trailer comes a ridiculously nonsense movie, damn those trailer editors! The movie's score is quite good, though.

06. The Girl Who Kicked the Hornet's Nest (2009): 3.5/5
Satisfying ending for the series, especially when one already read the not-so-exciting novel that it is adapted from. The twist and details are unsurprisingly monotone but the acting is really good, notably Noomi Rapace.

07. Battle: Los Angeles (2011): 2.5/5
Really surprise that the film is quite entertaining, fast tempo, satisfied climax, it would be much more better if the length is cut half to annihilate all those cheesy conversations. Actually the ridiculousness of this film has just redeemed the way it ridiculously glorified the US Marines.

08. Paul (2011): 3/5
Still possess a glimpse of that clever (and bitter) British humours like in Shaun of the Dead or Hot Fuzz, but the acting and the distasteful (and obviously dirty) joke "à-la-Judd Apatow" really made me disappointed (with the appearance of the duo Frost-Pegg). It's enjoyable the way they make fun of the American silliness like homophobia or xenophobia, though, no wonder why the film cannot make money in the US.

09. Dragon (Wu xia) (2011): 4.5/5
Despite its name, the film contains only a minimal number of fighting scenes, but, despite that number, the film deserves to be the legacy of One-Armed Swordsman and The Blade - here we have the quintessence of Hong Kong wuxia genre, fine acting, marvellous landscape, ingenious action, and above all, the true spirit of Wu Xia.

10. X-Men: First Class (2011): 2.5/5
Awful CGI, dated screenplay - when was the last time Hollywood made Soviet people look like a bunch of no-brain, sex (and power)-addicted, rude and cruel? Too bad the film makers could do nothing but reuse (for the thousand times) the "Soviet cliché" to try "to resolve" the connection between the good old three films and this dated one.

11. Limitless (2011): 3/5
The hallucination of drug-addiction is very well illustrated but what kind of ending is that? Cooper is on the right track to be a leading man of Hollywood, though.

12. Your Highness (2011): 3/5
Surprisingly this film seems to be really entertaining as a vulgar version of The Princess Bridge. Of course some details are obnoxious but there are still a bunch of hilarious (and creative) things that somewhat remind viewers of Monty Python and the Holy Grail. Besides, it should mention that Nathalie Portman is really a Jewess, if this film had been shown before the Oscar, she would have never won the little golden guy.

13. Made in Dagenham (2010): 4/5
Predictable but delight to watch. No real tension, doesn't matter, attraction comes from catchy (and quite emotional) quotes ("I'm Lisa Burnett, I'm 31 years old and I have a first class honours degree from one of the finest universities in the world, and my husband treats me like I'm a fool. ") and especially from the driving force of Sally Hawkins, who seems to be born with upbeat spirit in her eyes.

 14. Man From Nowhere (2010): 4/5
The plot is somewhat inconsistent and full of cliché but the actors really deliver the film to audience, truly happy for Won Bin, now has grown into a leading man of Korean cinema, with charisma indeed.

15. Don't Go Breaking My Heart (Daan gyun naam yu...) (2011): 4/5
In To we trust!

16. The Secret World of Arrietty (2012): 3/5
It is the lack of tension that kills the charming of the film.

17. Confessions (Kokuhaku) (2010): 5/5
Revenge is a dish best served cold - Purely ingenious! A new high for mind and humanity deception.

18. Jianyu (Reign of Assassins) (2010): 3/5
The film itself is not too bad but Michelle Yeo is REALLY too old for the role, why don't they reverse the switch at the beginning (Kelly Lin-who is hundred times more beautiful <=> Michelle Yao)? Barbie Hsu has a really hilarious character and situation, though.

19. The Stool Pigeon (Sin yan) (2010): 2.5/5
A film that seems to be stylistic and raw but in fact lacks a coherent plot and character development.

 20. Piranha 3-D (2011): 2.5/5
One star for the (awful) quality, one star for the guilty pleasure to watch it with friends, and half a star for the boobies.

 21. Attack the Block (2011): 4/5
When Muzzy gone mad (the aliens look really alike my dear Muzzy-the-English-teacher-on-television of the old days)! Excellent tempo, unique background (even the Harry Potter series forgot this poor and devastated area of London), solid acting, hilarious talks ("Go home and watch Naruto!"), all make the film really enjoyable and engaging. Some interesting leads are forgotten (or neglected, I don't know) such as the rich-poor tension build-up (premonition of the London riots?!), the "why the hell they come here?", but even without that subtleness, the film can still stay on the same par with its predecessors Shaun of the Dead & Hot Fuzz.

22. Transformers: Dark of the Moon (2011): 1/5
Half a star for the awesome CGI, another half for the upbeat soundtrack, and zero for everything else.

23. Captain America: The First Avenger (2011): 3/5
Lousy plot, awful (and stupid as usual - the typical idea of Hollywood about Nazi) villain, dissatisfying ending, but entertaining enough to watch, can't wait for the real Avengers to come.

24. Colombiana (2011): 3/5
For guilty pleasure, this film's done his work: Simple plot, checked; hot chick, checked; cool hero, checked; revenge is a dish best served cold, checked; evil villain, checked - what could you expect more?

25. Real Steel (2011): 3/5
Conventional plot, characters lack of subtleness but in a whole the film is fun to watch, quite compelling, and I'm quite satisfied with the quality of the film's subtitles, which were made by me.

26. Drive (2011): 5/5
An indie retro 80ish superhero movie with a The-Man-with-No-Name-mixed-with-Travis-Bickle-like protagonist.

27.  Green Lantern (2011): 1/5
Plot - wtf? Characters - wtf? Acting - wtf? CGI - wtf? Even 10 hotgirls like Blake Lively cannot save this film. By the way, what's the matter with you Leo, Gisele, Bar, and now Blake, you hooked up with those awesomely beautiful girls only to mercilessly dumb them later?

28. Harry Potter and the Deathly Hallows - Part 2 (2011): 3.5/5
Good but not great film, the trio's acting is trivial, Alan Rickman is as good as one could expect, but apparently no film could ever fully describe the priceless chapter about Snape.

29. The Guard (2011): 4/5
Un héro très discret - A very quiet hero, that's how you can find calmness among aims and blood.
   
30. Super 8 (2011): 4/5
A sublime tale of friendship and love for cinema but mediocre monster/alien film (The Host is much better), 4 stars for the "Stand by Me"-like feeling, though.
    
31. Revenge: A Love Story (Fuk sau che chi sei) (2010): 2/5
Promising twist-and-turn, good (and cheesy) environment to develop the plot but wooden acting and most of all, stupid climax and ending, kill them all. A failed case of film-noir-wannabe.

32. The Ides of March (2011): 3.5/5
Very promising beginning but disappointing ending - lack of climax and powerful plot/acting, should have been a better film with such background and leading.

33. Mission: Impossible Ghost Protocol (2011): 3.5/5
The action (especially the Burj Khalifa sequence) is heart-breaking, the chemistry between Renner & Pegg is surprisingly enjoyable, but the plot is quite disruptive and the villains is disappointing (and why the hell does Hollywood still like to depict Russian in a whole as a savage, uneducated and stupid people???).

34. Moneyball (2011): 4.5/5
The improbable combination of Brad Pitt, Jonas Hill (the fat guy from Superbad) and Lenka's The Show proves to be a surprisingly perfect match, a sport film to watch!

35. Cowboys vs Aliens (2011): 2.5/5
Awful mixture of Western and Alien.

samedi 5 novembre 2011

Phim truyền hình một thời xưa cũ

Tự dưng muốn ghi lại mấy phim truyền hình của thời xưa cũ. Thực ra cũng không đến nỗi "xưa cũ" lắm nhưng ở thời buổi thông tin tràn ngập như hiện nay, một cái gì đó của tháng trước, của năm trước cũng đã trở thành cũ kĩ, và thêm mấy năm là đã kịp trở thành thứ gì đó retro rồi. Một lý do nữa khiến tôi nhớ lại những bộ phim cũ là vì vào cái thời "ti vi là tất cả" ấy, văn hóa đồng nghĩa với những bộ phim truyền hình được chiếu nhỏ giọt trên ti vi, chứ chẳng phải là phim điện ảnh, vốn xa lạ hoàn toàn với tôi suốt cả thời trẻ con. Về sau tôi yêu thích phim Đài Loan-Hồng Kông cũng chính bắt đầu từ những phim bộ TVB, ATV kiểu này.

(ở đây không tính phim bộ chỉ phát hành ở dạng băng VHS như Bến Thượng Hải, Hồ sơ trinh sát,...)

1. Xóm vắng
Trước khi Hoàn Châu Cách Cách càn quét Việt Nam thì tác phẩm của Quỳnh Dao được mọi người nhớ nhất chắc chắn là Đình viện thâm thâm (庭院深深) hay Xóm vắng. Thời đấy mọi người còn phải tranh nhau đi mượn băng từ VHS để xem Xóm vắng (Hà Nội có nguyên một phố chuyên cho thuê băng VHS - đoạn phố Lê Hồng Phong đối diện Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh, về sau các hàng cho thuê băng ở đây dần biến mất hoặc chuyển thành cửa hàng cho thuê đĩa VCD, DVD nhưng đến nay thì đã "tuyệt chủng" hẳn, những cửa hàng băng đĩa ngày nào thì giờ chuyển sang bán nào là loa Bose với đồ đánh Golf), về sau phim này cũng được chiếu trên truyền hình (HTV) nhưng cái cảm giác đau xót cho số phận của Hàm Yên và anh mù Bách Phối Văn qua từng cuộn băng VHS nhòe nhoẹt thì khó lòng mà lấy lại nổi. Về sau tôi cũng chẳng bao giờ xem lại bộ phim "sến rện" này nữa, nhưng cứ mỗi lần nghe Mười năm tình cũ của Elvis Phương/Chế Linh thì (không hiểu sao) những hình ảnh cũ của Xóm vắng lại quay về, có lẽ những câu chuyện khiến cho người ta xúc động thường là những câu chuyện được nhớ lâu nhất.



 2. Mạt đại hoàng tôn
Phim này với tôi còn đáng nhớ hơn Xóm vắng vài lần, vì tuy cũng là một mối tình bôn ba trắc trở nhưng câu chuyện của Mạt đại hoàng tôn được xây dựng trong bối cảnh lịch sử có thật, và những biến loạn của thời đại, sự thăng trầm của tầng lớp hoàng tộc lại càng tô đậm thêm mối tình Đoan Khang - Như Ý. Cho đến tận bây giờ khi nhìn lại tôi cũng vẫn thấy là cái "thực đơn" "Nhà Thanh sụp đổ + quý tộc lầm than + hoạn quan tuyệt đất sống + cướp bóc lan tràn" vẫn còn thể là mảnh đất màu mỡ cho vô số các thể loại bi kịch mà "ung thư máu" hay "tình tay ba" của phim Hàn Quốc sau này không thể sánh nổi. Còn thì thời ấy với lũ trẻ con như tôi, thì chẳng ai có thể xinh hơn được "cô Như Ý" do Châu Hải Mỵ đóng, và cũng không "thằng nào" có thể đáng ghét hơn "thằng" Diêu Thế Xương (Từ Thiếu Cường). Buồn cười là về sau tôi cũng có xem một số phim khác của Từ Thiếu Cường đóng, nhưng dù đóng vai tốt hay xấu thì cứ nhìn mặt anh này là tôi lại nhìn ra cái sự đểu cáng của "thằng" Diêu Thế Xương từ một thời xa lắm.



3. Lâm Xung
Sau này Trung Quốc có chuyển thể Thủy Hử thành bộ phim truyền hình cực kì xuất sắc, nhưng nếu hỏi những đứa tầm tuổi như tôi "Đâu là chuyển thể đáng nhớ nhất của Thủy Hử" thì câu trả lời chắc chắn vẫn là Lâm Xung. Thời đó VTV mới bắt đầu phát thử nghiệm phim truyền hình (tôi vẫn còn nhớ sau này khi VTV3 chập chững ra đời thì tác phẩm đầu tiên được phát trên kênh này là phim bộ TVB Bảy sắc cầu vồng, phát vào chiều tầm 6h, phim chưởng pha thần thoại, rất hút khách - trong đó, tất nhiên, có tôi, và là bước đệm đầu tiên để VTV3 được như ngày nay), Lâm Xung được phát buổi tối như một hòn đá lớn ném vào cái ao phẳng lặng những thứ giải trí của trẻ con chúng tôi, và tất nhiên là đứa nào cũng lập tức chết mê chết mệt "chú" Lâm Xung (Cao Hùng) khổ thân bị "thằng" Cao Cầu hãm hại, vợ chết, nhà tan, rồi "anh" Yến Thanh (Thang Trấn Nghiệp - một trong Ngũ hổ tướng một thời của TVB) đẹp trai vô ngần, và trên hết, là cô Lý Sư Sư (do Thích Mỹ Trân đóng) sắc nước hương trời mà số phận (cũng) lại vô cùng đáng thương. Những pha đánh đấm trong phim cũng nhanh chóng trở thành "tuyệt đỉnh võ công" tới mức mà cứ đến lớp là thể nào cũng lại gặp một ông giời nào đấy đang bắt chước Lỗ Trí Thâm nhổ cây hay Yến Thanh bắn tên. Tiếc là bộ Lâm Xung rất ngắn vì TVB chỉ chuyển thể một đoạn tương đối ngắn của Thủy Hử liên quan đến Lâm Xung, thời ấy tôi đã rất hụt hẫng vì Lâm Xung ngắn như thế, mặc dù đoạn kết thì rất thỏa mãn người xem (Lâm Xung đâm chết Cao Cầu trốn trong quan tài). Thú thật là thời ấy tôi vẫn chưa đọc Thủy Hử (về sau có đọc nhiều lần nhưng tôi thực sự không thích lắm, nhất là khi so sánh nó với một tiểu thuyết anh hùng mã thượng đại trượng phu như Tam quốc diễn nghĩa - là tác phẩm tôi dùng để tập đọc và thuộc gần như nằm lòng) thành ra mãi về sau tôi vẫn cứ đinh ninh là trong bộ Thủy Hử thì "thằng" Cao Cầu nhất định sẽ chết.

Tất nhiên nhắc đến Lâm Xung còn là nhắc đến đoạn nhạc mở đầu phim, một trong những đoạn nhạc phim đáng nhớ nhất của TVB.



4. Ngày mai trời lại sáng
 Phim này được HTV chiếu buổi trưa với target audience là chị em phụ nữ, thể hiện qua bộ đôi nhân vật chính Tú Văn (Trần Tú Văn) và Tú Xảo (Đặng Tụy Vân) "giỏi việc nước, đảm việc nhà" và thể hiện qua ... độ dài cả trăm tập của phim. Tuy nhiên cũng như Mạt đại hoàng tôn, phim này lấy bối cảnh thời cuối Thanh đầu Dân quốc - giai đoạn tao loạn trong lịch sử Trung Quốc, vì thế học sinh như tôi (vốn kiểu gì cũng đang ... ăn trưa khi phim chiếu) cũng thuộc nằm lòng nội dung và các diễn viên trong phim.










dimanche 21 août 2011

Don't Go Breaking My Heart (2011)


Bắt đầu chán ngán với dòng phim lãng mạn "kiểu mới" rất nhiều nút thắt mở hay sử dụng cách kể chuyện phi tuyến tính, tôi rất mừng khi cuối cùng đạo diễn yêu thích của mình - Đỗ Kỳ Phong, lại quay lại với dòng phim tình cảm với Don't Go Breaking My Heart. Kể từ sau thất bại với Linger (2008) họ Đỗ dường như quên mất rằng ông từng đem lại cho khán giả những giây phút thư thái với Needing You... hay Love on a Diet, ông chú tâm vào những bộ phim hành động-xã hội đen vốn chủ yếu chỉ dành cho "fan ruột" (thật may trong đó có tôi), và cùng với sự lãng quên của Đỗ, dòng phim hài tình cảm lấy bối cảnh đô thị vốn từng một thời là "thương hiệu" của Hồng Kông cũng dần chìm nghỉm trong dòng thác những dòng phim hào nhoáng kinh phí lớn hướng về thị trường khổng lồ Đại lục.

Về một khía cạnh nào đó, Don't Go Breaking My Heart (tên tiếng Trung là Đơn thân nam nữ) cũng là một bộ phim hào nhoáng. Kịch bản của Vi Gia Huy (cộng sự thân thiết nhất của Đỗ Kỳ Phong) xoay quanh mối tình, đúng hơn là mối quan hệ tay ba đầy rắc rối giữa cô nàng cá tính Trình Tử Hân (Cao Viên Viên - một thời từng khiến anh em mê phim chưởng ghét cay ghét đắng khi thủ vai Chu Chỉ Nhược trong Ỷ Thiên Đồ Long ký phiên bản 2002) với hai anh chàng tài hoa và đều mê Trình Tử Hân như điếu đổ là Trương Thân Nhiên (Cổ Thiên Lạc) và Phương Khải Hoành (Ngô Ngạn Tổ). Tình cảm giữa Trình Tử Hân và ngôi sao mới nổi của ngành tài chính Trương Thân Nhiên nảy sinh từ ... hai cái cửa sổ văn phòng của hai tòa nhà cao ốc đối diện nhau. Là người đa tình, họ Trương nhanh chóng nhận ra "đối tượng" của mình chính là cô gái dễ thương và hồn nhiên ở văn phòng đối diện, và anh nhanh chóng "hạ gục" cô bằng những bài tỏ tình kinh điển như dán posh-it lên cửa sổ để gây chú ý rồi pha trò và làm ảo thuật để Trình Tử Hân cảm thấy thoải mái hơn trong môi trường đầy sức ép của ngành tài chính. Nhưng không chỉ mình Trương để ý để Trình Tử Hân, anh chàng kiến trúc sư thất thế Phương Khải Hoành cũng qua một lần gặp gỡ tình cờ với cô gái họ Trình mà tìm lại được niềm cảm hứng với công việc tưởng đã mất từ lâu, để rồi tự lột xác chờ cơ hội tiếp cận cô gái xa lạ. Tất nhiên, "nhất cự ly nhì tốc độ", Trương Thân Nhiên chiếm ưu thế tuyệt đối trong cuộc đua này, nhưng tính đào hoa đã khiến anh bỏ lỡ cơ hội lớn của mình, và cũng khoét thêm một vết thương nữa trong tim của Trình Tử Hân, người vốn rất sợ ai đó đến, rồi đi, sau khi "break her heart".

Vài năm sau, Trương Thân Nhiên quay lại, lần này trong vai ông chủ của chính văn phòng nơi Trình Tử Hân làm việc, tất nhiên vẫn với mục đích cưa đổ lần nữa "cô gái của đời mình". Nhưng mọi chuyện không còn dễ dàng cho Trương, khi mà Phương Khải Hoành đã khôi phục lại danh tiếng của mình và thuê ... chính văn phòng của của Trương để mở công ty kiến trúc và tiếp tục ấp ủ mối tình trong mộng với Trình. Liệu ai sẽ là người chiến thắng trong cuộc đua tới trái tim của Trình Tử Hân?

Tôi nói về khía cạnh nào đó Don't Go Breaking My Heart cũng là một bộ phim hào nhoáng vì bối cảnh của phim quanh đi quẩn lại chỉ là những tòa nhà chọc trời và văn phòng, những tiệm cà phê và nhà hàng xa hoa, người ta rất khó có thể nhận ra cái hồn hay cá tính riêng của những bối cảnh ấy, đó có thể là Hồng Kông, nhưng đó cũng có thể là một thành phố mới nổi nào đó của Đại lục như Tô Châu (quê hương của Trình Tử Hân và là bối cảnh kết của phim). Cốt truyện "truyền thống" - đơn giản, ít nút thắt mở, đây đó vẫn pha trộn những tình huống và nhân vật hài kiểu bản địa Hồng Kông hơi khó nuốt (Lâm Tuyết - gương mặt quen thuộc trong phim của Đỗ Kỳ Phong, như thường lệ "phải" đảm nhận vai này) càng làm cho Don't Go Breaking My Heart có vẻ "thị trường" và "bề nổi". Nhưng nếu chú ý kĩ hơn một chút (và sẽ tốt hơn nếu khán giả là người yêu phim Hồng Kông nói chung và phim Đỗ Kỳ Phong nói riêng) thì Don't Go Breaking My Heart vẫn mang những màu sắc rất riêng. Đó là tuyến ba nhân vật chính được xây dựng chỉn chu và khác biệt - Trương Thân Nhiên và Phương Khải Hoành đều xứng đáng là "người trong mộng" của nhiều chị em nhưng mỗi người mỗi vẻ với những tính cách không thể trộn lẫn, điều đó khiến khán giả ngay cả khi phim đi vào hồi kết vẫn khó lòng mà xác định được cho mình ai là người "xứng đáng hơn" trong cuộc đua đến trái tim của Trình Tử Hân. Đó còn là những góc quay và cách xây dựng tình huống trau chuốt rất "Đỗ Kỳ Phong", họ Đỗ tận dụng tối đa những mảng, khối, màu sắc của các tòa nhà chọc trời để tạo nên bối cảnh về tâm lý cho các nhân vật của ông, để rồi khi họ cần thể hiện tâm trạng của mình, những ánh mắt, những cử chỉ là quá đủ để thay thế cho những lời thoại dài dòng mang đậm tính tuyên ngôn triết lý. Chính cách làm phim "kiệm lời" của Đỗ Kỳ Phong đã khiến Don't Go Breaking My Heart có vẻ hơi "nhạt", nhưng những khoảng lặng bằng hình ảnh như thế chính là thời gian để khán giả có thể thưởng thức các tình huống của phim và một phần nào đó chiêm nghiệm về một "lựa chọn đúng đắn" cho mình nếu đặt họ vào trong vị trí của Trình Tử Hân.

Tất nhiên nói gì thì nói Don't Go Breaking My Heart vẫn là một bộ phim hướng tới đối tượng là số đông khán giả, đặc biệt là khán giả Đại lục. Đâu đó người ta vẫn thấy những khoảng hẫng của kịch bản hay sự thua kém chút ít về diễn xuất của Cao Viên Viên nếu so với hai bạn diễn Cổ Thiên Lạc và Ngô Ngạn Tổ. Tuy nhiên Đỗ Kỳ Phong thì vẫn vậy, ông vẫn đem lại cho bộ phim sự trau chuốt vốn có trong phim của Đỗ, và sự đơn giản mà ông lựa chọn cho phim là quá đủ để khán giả cảm thấy thư giãn và thoải mái, điều mà nhiều bộ phim "phức tạp" khác khó lòng có được.

dimanche 24 juillet 2011

Võ Hiệp (2011)


Võ Hiệp bắt đầu với khung cảnh thanh bình tuyệt đẹp của thôn Lưu Gia xứ Vân Nam xa xôi, tại đó Lưu Kim Hỉ (Chân Tử Đan), một anh thợ làm giấy chất phác, sống bình dị, hạnh phúc bên người vợ A Ngọc (Thang Duy) và hai đứa con trai ngoan ngoãn, kháu khỉnh. Nhưng mặt nước phẳng lặng Vân Nam nhanh chóng bị xáo trộn bởi sự xuất hiện của hai gã thổ phỉ táo tợn định lợi dụng sự hiền lành của người dân miền biên cương để cướp bóc. Cực chẳng đã, Lưu Kim Hỉ phải lao vào vật lộn với bọn cướp theo đúng cái kiểu chất phác nông dân của anh, và nhờ may mắn "trên trời rơi xuống", cả hai tên thổ phỉ, bằng cách này hay cách khác, đã lăn ra chết trong cuộc vật lộn. Và còn ngạc nhiên hơn khi người ta phát hiện ra rằng một trong hai tên thổ phỉ bị Lưu Kim Hỉ "nhỡ tay" đánh chết là Diêm Đông Sinh, một trong những tên tội phạm bị truy nã gắt gao nhất nước, gã này nổi tiếng vì công phu cao cường và ngón đòn hết sức tàn độc.

Sự "tình cờ" của Lưu Kim Hỉ không qua được mắt của Từ Bách Cửu (Takeshi Kaneshiro), thám tử (
bộ khoái) của chính phủ và là một chuyên gia pháp y giàu kinh nghiệm với con mắt tinh tường và trí tưởng tượng ngoại hạng. Bằng óc quan sát và trí tưởng tượng của mình, Từ Bách Cửu đã đưa ra một bức tranh khác hoàn toàn về cuộc vật lộn giữa Lưu Kim Hỉ và hai tên thổ phỉ, trong đó chính Lưu Kim Hỉ đã chủ động, bằng công phu tuyệt đỉnh, đưa hai tên cướp đến chỗ chết. Không dừng lại ở đó, Từ Bách Cửu còn cho rằng Lưu Kim Hỉ ... không phải là Lưu Kim Hỉ, anh chàng nông dân chất phác chỉ là cái lốt bên ngoài của tên tội phạm khét tiếng có tên Đường Long, nhân vật số hai của Thất Thập Nhị Địa Sát, một hội kín từ lâu đã là nỗi khiếp sợ của dân lành.

Tất nhiên Lưu Kim Hỉ phủ nhận những suy đoán của Từ Bách Cửu, anh một mực khẳng định mình chỉ là một nông dân Vân Nam không biết võ, và rằng việc hai tên cướp kia lăn ra chết hoàn toàn là do anh gặp may chứ chẳng phải vì ngón đòn đặc biệt nào cả. Nhưng một khi đã dính tới cái tên Đường Long, cuộc sống của gia đình Lưu Kim Hỉ không bao giờ còn có thể như trước, đặc biệt là khi Bang chủ Thất Thập Nhị Địa Sát (Vương Vũ) và vợ ông ta Thập Tam Nương (Huệ Anh Hồng) đã đánh hơi thấy chuyện này. Giờ đây số phận của A Ngọc, của hai cậu con trai, và của cả thôn Lưu Gia, đã được đặt hết vào tay của Lưu Kim Hỉ, liệu anh có phải là một cao thủ thực sự, một Võ Hiệp thực sự để có thể cứu được tính mạng của những người thân yêu khỏi sự tàn độc của bang Thất Thập Nhị Địa Sát?

Có thể nói
Võ Hiệp là bộ phim võ hiệp (wuxia) "thực sự" đầu tiên của Trần Khả Tân, vì bộ phim trước đó của ông - Đầu Danh Trạng, dù có sự tham gia của siêu sao (một thời) phim võ hiệp Lý Liên Kiệt, vẫn nghiêng về hướng phim chiến tranh sử thi nhiều hơn. Ngay ở tác phẩm "đầu tay" này, Trần Khả Tân đã chứng minh được khả năng sáng tạo tuyệt vời của ông trong việc kết hợp một cốt truyện võ hiệp "kinh điển" với những góc quay đẹp và tông màu ấm rất "Trần Khả Tân", và tất nhiên cả những chi tiết về khoa học pháp y cực kì hiện đại. Về mặt cốt truyện và tạo dựng nhân vật, Võ Hiệp không có sáng tạo nào đáng chú ý so với những mô-típ "kinh điển" của phim võ hiệp Hồng Kông, người xem-nếu đã hâm mộ võ hiệp Hồng Kông, chắc chắn sẽ nhận ra nhiều nét tương tự với những bộ phim "vang bóng một thời" như Độc tí đao (Độc thủ đại hiệp) hay Đao của Từ Khắc (mô-típ của Võ Hiệp còn có thể thấy ở Hollywood, đặc biệt là qua A History of Violence của David Cronenberg). Nhưng tương tự với cách Đỗ Kỳ Phong làm cho dòng phim hành động Hồng Kông, Trần Khả Tân đã trau chuốt và cách điệu hóa (stylise) cái cốt truyện truyền thống đó bằng những cảnh quay tuyệt đẹp - đại cảnh rộng, thoáng và cực kì giàu sắc màu (Vân Nam trong Võ Hiệp hiện lên đẹp hơn nhiều so với Hoắc Nguyên Giáp), cận cảnh, nhất là các cảnh giao đấu, được dàn dựng kĩ lưỡng và quay cẩn thận, mang lại cho người xem cảm giác "thật" vốn hiếm gặp trong những phim võ hiệp lạm dụng quá nhiều CGI trong thời gian gần đây. Đặc biệt những cảnh giao đấu trong phim dù ít nhưng đều đánh dấu những bước ngoặt chính của cốt truyện thay vì chỉ diễn ra một cách "vô thưởng vô phạt" để "thể hiện" trình độ của các nhân vật (và diễn viên) trong phim (điều mà phim có sự tham gia của Chân Tử Đan rất hay gặp phải). Tất nhiên ở đây cũng phải dành lời khen cho Chân Tử Đan, chỉ đạo võ thuật của phim, tôi đặc biệt thích cảnh chạy đuổi trên nóc những ngồi nhà kề vách núi Vân Nam "kiểu Bourne" do Chân Tử Đan dàn dựng, một pha rượt đuổi được "nâng tầm" hẳn so pha rượt đuổi kiểu tương tự trong Thập nguyệt vây thành. Việc lồng những kiến thức pháp y hiện đại vào phim võ hiệp không còn là điều mới - Từ Khắc (ông vua sáng tạo của điện ảnh Hồng Kông) đã mở đầu trong trào lưu này với Địch Nhân Kiệt năm ngoái, tuy nhiên những đánh giá pháp y của tay thám tử khác người Từ Bách Cửu trong Võ Hiệp tỏ ra ấn tượng, "hiện đại" và thu hút hơn nhiều lần. Xét một cách tổng thể, Võ Hiệp tuy không phải một bộ phim "lớn" về kinh phí, dàn diễn viên, bối cảnh như trào lưu chung của nhiều phim võ hiệp thời gian gần đây (Thập nguyệt vây thành, Địch Nhân Kiệt) nhưng lại được thực hiện chu đáo và mang lại ấn tượng cho người xem hơn nhiều lần (bất kể việc cốt truyện của phim tương đối dễ đoán, đặc biệt khi xét phim thuộc thể loại "trinh thám võ hiệp"). Hy vọng Nhất đại tông sư của Vương Gia Vệ sắp tới cũng sẽ tiếp nối được thành công này.

Một điểm đáng trân trọng nữa ở
Võ Hiệp của Trần Khả Tân là ở việc bộ phim - đúng như cái tên của nó - đã nhắc nhớ và tỏ sự kính trọng đặc biệt tới dòng phim võ hiệp tinh tuyền của Hồng Kông. Vương Vũ và Huệ Anh Hồng - hai cái tên lớn của dòng phim này, được Trần Khả Tân mời vào hai vai quan trọng của phim, tuy thời lượng xuất hiện của họ trong phim không nhiều nhưng khi đã xuất hiện thì họ đều trở thành điểm nhấn của bộ phim, và nhắc nhớ khán giả rằng Hồng Kông đã từng có những diễn viên với uy lực diễn xuất lớn như vậy. Bên cạnh là sự tương đồng đáng chú ý của Võ Hiệp với Độc thủ đại hiệp và Đao - hai tuyệt phẩm của dòng phim võ hiệp Hồng Kông, Gilles Jacob quả thực đã rất tinh tường trong việc chọn Võ Hiệp để chiếu tại Liên hoan phim Cannes năm nay.

Một vài dòng về các diễn viên chính trong phim. Với
Võ Hiệp, Chân Tử Đan một lần nữa chứng tỏ rằng ở Hồng Kông hiện nay, chỉ duy nhất có Chân là siêu sao phim võ hiệp thực sự. Tuy nhiên diễn xuất của Chân thì vẫn chưa tiến bộ nhiều, nhất là khi so sánh với Takeshi Kaneshiro, người đã thể hiện rất thành công vai Từ Bách Cửu - một con người dùng vỏ bọc khoa học và quái chiêu để che dấu sự hoang mang của một con người đang phải đứng giữa hai lựa chọn công lý/lẽ phải và nhân văn/tình người. Thang Duy trong phim không có nhiều đất diễn (và Thang diễn cũng chưa thực sự ấn tượng), nhưng chỉ từng ấy cũng đủ để cô chứng tỏ rằng mấy năm bị cấm diễn không làm vẻ đẹp và nét ấn tượng của cô bị phai nhòa.