some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

lundi 6 février 2017

Manchester by the Sea (2016)




Lee Chandler (Casey Affleck) có một cuộc sống trầm lặng và nhàm chán ở xứ New England với những mùa đông lạnh lẽo dài đằng đẵng đặc trưng của miền Đông Bắc nước Mỹ. Ban ngày cặm cụi dọn dẹp và sửa chữa nhà cửa cho những cư dân khó tính của thành phố nhỏ Quincy ngoại vi Boston, ban đêm Lee chỉ có hai người bạn duy nhất trong căn phòng tầng hầm ngột ngạt là chai bia và những trận bóng rổ của Boston Celtics hay khúc côn cầu trên băng của Boston Bruins. Trong những lúc buồn bực vì công việc, Lee đôi khi ra các quán bar đông người, nhưng ít nói, khó gần, Lee cũng chẳng kiếm được cho mình người bạn hay mối tình thoáng qua nào, có chăng chỉ là những trận ẩu đả xuất phát từ sự nóng giận bột phát và vô cớ của chính Lee. Điểm sáng duy nhất trong cuộc đời của anh là những mảnh vụn ký ức về các chuyến ra khơi dưới ánh nắng ấm áp của mùa hè từ thị trấn quê nhà Manchester-by-the-Sea cùng người anh trai Joe Chandler (Kyle Chandler) và nhóc Patrick, con trai Joe. Tại sao một người có vẻ ngoài điển trai với cặp mắt sâu thẳm như Lee lại cứ sống lầm lũi cô đơn trong căn hộ chẳng có ánh Mặt Trời mỗi khi tuyết rơi? Tại sao ẩn chứa bên trong anh thợ sửa chữa chăm chỉ, chu đáo này lại là những cơn giận dữ và bạo lực vô duyên vô cớ đến vậy? Người xem dần tìm được câu trả lời cho những thắc mắc này, cũng như những bí mật ẩn sâu bên trong Lee Chandler khi anh phải quay trở về Manchester-by-the-Sea để lo hậu sự cho người anh đột vừa đột ngột qua đời, cũng như trở thành người giám hộ bất đắc dĩ của Patrick (Lucas Hedges) bởi cậu cháu lém lỉnh đang ở cái tuổi ẩm ương của Lee chẳng còn người thân nào khác ở gần sau khi bố mất còn người mẹ nghiện ngập Elise (Gretchen Mol) đã bỏ đi từ lâu buộc Joe phải chịu cảnh gà trống nuôi con. Trở lại Manchester-by-the-Sea, Lee vừa phải mang trong mình nỗi đau của người em chẳng được nhìn mặt anh trai lần cuối, vừa phải đối diện với quá khứ đau đớn của chính anh khi mà hầu như mọi người quen cũ đều tỏ vẻ xa lánh Lee ngoại trừ vợ chồng người bạn vong niên của gia đình George (C.J. Wilson). Nhưng có lẽ chẳng nỗi buồn nào của Lee Chandler so sánh được với cảm xúc của anh khi gặp lại Randi (Michelle Williams), người vợ hiền từng chia sẻ những năm tháng hạnh phúc bên Lee và ba đứa con đáng yêu trong căn nhà nhỏ ven vịnh North Shore của New England nhưng nay đã có gia đình mới với một cậu nhóc xinh xắn. Tại sao gia đình nhỏ bé sáng ngời của Lee Chandler lại vỡ vụn vào quá khứ của anh? Liệu Lee có thể vượt qua những mặc cảm cũ để trở thành chỗ dựa cho cậu cháu Patrick?

Manchester by the Sea là một bộ phim về sự mất mát, và cách mỗi người đối mặt với những mất mát ấy, đặc biệt là cái chết của những người gần gũi. Đại diện cho niềm vui luôn là những nụ cười hạnh phúc, minh chứng cho sầu muộn thường là những giọt nước mắt buồn, nhưng ở tận cùng của đau buồn và mất mát, mỗi người phản ứng theo một cách rất riêng của mình. Patrick bình thản đón nhận tin dữ về người bố của cậu bởi từ rất lâu bác sĩ đã chẩn đoán là Joe chẳng thể sống đến tuổi già với một trái tim yếu đuối, nhưng cậu học sinh cấp ba vẫn đau đáu với nỗi sợ rằng bố mình sẽ phải cô đơn trong buồng lạnh trong suốt mùa Đông dài dằng dặc để chờ ngày được an nghỉ dưới lớp đất mềm của mùa xuân phương Bắc đến muộn. George choáng váng trước sự ra đi của người bạn thân nhưng vẫn đủ minh mẫn và nhạy cảm để lo lắng mọi việc thay mặt cho gia đình nhà Chandler vốn đã trơ trụi đến những người cuối cùng. Randi quằn mình, hoảng loạn trong tuyệt vọng tới mức làm tổn thương cả những người thân yêu nhất, nhưng rồi cô của cô, nhưng rồi cô cũng dần hồi phục, dần tìm được chút hạnh phúc nhỏ nhoi trong cuộc đời. Nhưng Lee chẳng giống ai trong số họ. Anh vẫn sống, vẫn lo lắng, quan tâm cho người thân của anh với tất cả những gì tốt đẹp còn lại của tâm hồn. Nhưng đồng thời ngọn lửa cảm xúc bên trong con người Lee Chandler đã nguội lạnh từ lâu, hay đúng hơn là nỗi đau quá lớn trong quá khứ của Lee đã dập tắt hoàn toàn những mầm mống hạnh phúc ấy, để lại duy nhất trong quả tim cằn cỗi của anh những vết thương tinh thần không bao giờ có thể khép miệng.

Có lẽ là kể từ năm 2010 với Blue Valentine (đạo diễn Derek Cianfrance) và Rabbit Hole (đạo diễn John Cameron Mitchell) cho tới nay Hollywood mới lại cho ra đời một bi kịch xuất sắc như Manchester by the Sea khi xoáy sâu vào nỗi buồn và sự mất mát. Mới thực hiện hai bộ phim dài trước khi bắt tay vào Manchester by the Sea, nhưng đạo diễn kiêm biên kịch của phim - Kenneth Lonergan không còn là cái tên xa lạ với những người yêu sân khấu và điện ảnh bởi ông chính là một trong các tác giả kịch bản Gangs of New York (2002) – bộ phim gây tiếng vang của Martin Scorsese, và cũng từng được đề cử giải Oscar kịch bản gốc xuất sắc nhất tới hai lần (cho Gangs of New YorkYou Can Count On Me – bộ phim đầu tiên do Lonnergan làm đạo diễn). Tuy nhiên, Manchester by the Sea xứng đáng là một đỉnh cao mới trong sự nghiệp sáng tác của Lonnergan khi kịch bản của bộ phim thực sự là một ví dụ mẫu mực cả về cách kể chuyện và cách phân tích tâm lý nhân vật. Tuy nội dung chủ đạo của Manchester by the Sea là những bi kịch cá nhân đầy cay đắng, nhưng bộ phim không vì thế mà sa đà vào sự ướt át, u buồn quá mức. Thay vào đó những câu thoại thông minh và chua cay đặc trưng cho cư dân miền Đông Bắc nước Mỹ, tiêu biểu là trong các mẩu đối thoại giữa hai chú cháu Lee và Patrick, cùng những phân đoạn mô tả cuộc sống đời thường xứ New England tưởng không quá đặc biệt nhưng lại đóng vai trò rất lớn trong việc điều chỉnh nhịp độ của phim và giúp khán giả tránh khỏi sự mệt mỏi quá mức về mặt tinh thần khi phải chứng kiến hết bi kịch này tới bi kịch khác của các nhân vật trong phim. Ngay cả trong việc khắc họa sự suy sụp của các nhân vật trong Manchester by the Sea trước các biến cố lớn của cuộc đời, Lonnergan cũng không sử dụng các phân đoạn đẫm nước mắt dễ tạo cảm giác khiên cưỡng mà tập trung vào việc xây dựng các nhân vật có vẻ ngoài và hành xử bình thường nhất có thể, nhưng chỉ là để che đậy những vết sẹo ẩn sâu trong tâm hồn. Chính sự kìm nén cảm xúc trong kịch bản đã tạo hiệu quả tối đa cho các phân đoạn bùng nổ bất chợt khi các vết sẹo tinh thần ấy được Kenneth Lonnergan lôi lên bề mặt của các nhân vật để khiến khán giả phải choáng váng khi nhận ra rằng họ chẳng thể đo được chiều sâu thực sự của trạng thái trầm cảm mà Lee Chandler và những người xung quanh anh đang chơi với dưới đáy. Việc Lonnergan bỏ ngỏ nhiều chi tiết về quá khứ của Lee ở Manchester-by-the-Sea bằng cách kể chuyện xen lẫn giữa quá khứ và hiện tại cũng khiến bộ phim trở nên hấp dẫn hơn khi khán giả rũ bỏ được cảm giác bị động của người tiếp nhận để tham gia vào việc kết nối các chi tiết giữa quá khứ tươi sáng và hiện tại mờ mịt của Lee để dựng nên gương mặt cảm xúc thực sự của anh. Với những người sinh ra, lớn lên ở vùng đất mù mịt thừa gió tuyết, thiếu nắng ấm như New England hoặc ít ra là đã trải qua một phần đời ở các thành phố, thị trấn cổ kính nơi đây thì Manchester by the Sea còn mang một lớp nghĩa khác khi bộ phim thực sự đã đem lại được hình ảnh chân thực nhất về khu định cư đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ này với mùa Đông dài lạnh lẽo của tuyết và mưa, mùa hè ngắn ngủi nhưng tuyệt đẹp với vị mặn mòi của nước biển Đại Tây Dương, và nhất là với những con người vẫn mang trong mình sự thâm trầm, kìm nén đầy chất “Cựu Lục địa” bất chấp ngữ điệu và cử chỉ vụng về đặc trưng. Những khung hình tràn đầy ánh sáng, màu sắc tự nhiên của New England qua ống kính của nhà quay phim trẻ Jody Lee Lipes cũng cho khán giả một cơ hội được khám phá vẻ đẹp cổ kính, hiền hoà của cảnh quan nơi đây và giúp họ phần nào hiểu được lý do tại sao bất chấp cái lạnh tê người của mùa Đông u ám, người dân New England vẫn yêu quý và gắn bó với cái mảnh đất này đến thế.

Lonnergan là người thai nghén kịch bản cũng như tạo dựng hình hài cho Manchester by the Sea, nhưng bộ phim khó lòng có thể gây tiếng vang lớn đến thế nếu không có sự thể hiện xuất sắc của dàn diễn viên của phim. Trong số này ngôi sao sáng nhất không ai khác ngoài Casey Affleck – diễn viên gốc New England được nhà sản xuất của Manchester by the Sea và cũng là một ngôi sao hàng đầu của Hollywood Matt Damon nhường vai Lee Chandler chỉ hai tháng trước khi phim bắt đầu được khởi quay. Thường bị phủ bóng bởi danh tiếng của người anh trai Ben Affleck – người từng giành giải Oscar từ năm 25 tuổi và sau đó tiếp tục thành công trong cả vai trò diễn xuất và đạo diễn, nhưng thực tế thì Casey Affleck cũng có một sự nghiệp hết sức đáng tự hào với các vai diễn đáng nhớ trong Gone Baby GoneThe Assassination of Jesse James by the Coward Robert Ford (cùng 2007) hay với bộ phim giả tài liệu do anh đạo diễn I'm Still Here (2010). Nhưng với vai diễn trong Manchester by the Sea, Casey Affleck đã cho thấy rằng anh hoàn toàn xứng đáng đứng ngang hàng với người anh trai của mình hay bất cứ nam diễn viên hạng A nào khác của Hollywood về mặt tài năng. Dù cái chết và tình yêu là những đề tài màu mỡ nhất cho các diễn viên thể hiện năng lực diễn xuất cảm xúc, nhưng nhân vật Lee Chandler không hề là một nhân vật dễ dàng cho bất cứ diễn viên nào bởi trong phần lớn thời lượng của phim các suy nghĩ, xúc cảm được Lee chôn giấu sâu bên trong vẻ ngoài vô cảm và những cơn bạo lực bột phát của anh. Ngoại trừ những khoảnh khắc ngắn ngủi khi sự đau đớn, cùng quẫn hiện lên rõ ràng trong hành động, khuôn mặt của Lee Chandler, khán giả chỉ có thể cảm nhận được sự trầm cảm ăn sâu bám rễ vào Lee sau những bi kịch lớn của cuộc đời thông qua ánh mắt buông xuông, cử chỉ ngập ngừng, hay những chi tiết tưởng như bâng quơ trong các mẩu đối thoại của Lee. Tài năng của Casey Affleck được thể hiện rõ ràng hơn bao giờ hết trong những trường đoạn đòi hỏi sự pha trộn của cả hai pha bùng nổ và tiết chế của cảm xúc như cảnh quay đáng nhớ trong đồn cảnh sát, khi chỉ trong khoảnh khắc anh vừa khiến người xem phải bất ngờ vì sự thay đổi đột ngột của tâm trạng nhân vật, lại vừa khiến họ cảm thấy chua xót vì chợt nhận ra rằng họ đang được chứng kiến một trong những nhân vật bi kịch, đớn đau nhất của điện ảnh Hollywood những năm gần đây. Với vai diễn xuất sắc hiếm có này, Casey Affleck thực sự đã trở thành ứng cử viên hàng đầu cho giải Oscar hạng mục vai nam chính xuất sắc nhất năm nay, nhất là sau khi anh đã giành chiến thằng ở hạng mục tương tự trong lễ trao giải Quả cầu vàng vừa qua.

Điều tuyệt vời của Manchester by the Sea là bộ phim không chỉ có một mình Casey Affleck. Dù thời lượng xuất hiện trên hình không nhiều, nhưng Michelle Williams một lần nữa đã cho thấy rằng khó ai có thể vượt qua cô trong những vai diễn đòi hỏi sự nhạy cảm, tinh tế, đặc biệt là khi đối diện với những nỗi đau không thể cất thành lời. Chỉ với một phân đoạn ngắn tả lại cuộc gặp mặt gượng gạo sau nhiều năm giữa Randi và Lee trên mảnh đất nhiều kỉ niệm Manchester-by-the-Sea, Williams với những giọt nước mắt, với giọng nói run run đầy tiếc nuối, và với những cử chỉ hết sức nữ tính, đã mang lại được cho khán giả cả một chương buồn thảm trong cuộc đời và tâm trạng của Randi. Ánh mắt biểu cảm của Williams trong những giây phút ngắn ngủi cô xuất hiện trên màn ảnh cũng là quá đủ để cho người xem thấy rằng cả Randi và Lee đều chỉ là nạn nhân trong những bi kịch do chính họ tạo ra, bởi mỗi một hành động, một lời nói của họ, dù là để thể hiện tình yêu thương hay sự căm hận, đều trở thành một nhát cuốc khiến họ trôi sâu hơn vào vực thẳm của trầm cảm và tuyệt vọng. Nếu như ở Michelle Williams người xem thấy được sự ăn ý về diễn xuất với Casey Affleck cả trong sự yêu thương và thù hận, thì ngôi sao trẻ Lucas Hedges trong vai Patrick lại là đối trọng cần thiết cho vai Lee của Casey. Nhựa sống tràn đầy bên trong chàng trai tuổi mới lớn Patrick – người luôn sống hết mình với những gì cậu có, từ thể thao, âm nhạc cho tới các “bạn gái” càng làm nổi bật hơn bi kịch của một người đàn ông đã hoàn toàn khô cạn khát vọng sống như Lee. Điều đáng trân trọng ở Manchester by the Sea là dù khác biệt là vậy, nhưng từ Lee, từ Patrick, từ Randi, và cả các nhân vật phụ khác như Joe hay Elise, khán giả đều có thể cảm nhận được tình cảm sâu sắc, chân thành mà các nhân vật dành cho nhau. Có lẽ chính mối liên hệ đầy chất nhân văn ấy đã giúp níu kéo Lee và những người xung quanh anh khỏi chết chìm trong tai ương của số phận. 

Trong một năm với rất nhiều tác phẩm điện ảnh đề cập tới các đề tài nóng bỏng của xã hội đương đại như nạn phân biệt chủng tộc, sự phân cách giàu nghèo, hay những lo toan về bất ổn chính trị trong tương lai, thì Manchester by the Sea quả thực là một cánh chim lạ, bởi nhân vật của phim là những con người hết sức bình thường trong xã hội nhưng nỗi đau mà họ phải chịu đựng lại mang tính cá nhân rất cao mà không nhiều khán giả có thể liên hệ với suy nghĩ, hoàn cảnh của chính họ. Tuy nhiên, thành công vang dội cả về mặt nghệ thuật và doanh thu của bộ phim đã cho thấy đạo diễn-biên kịch Kenneth Lonergan đã rất đúng đắn khi tách khỏi trào lưu chung của Hollywood để kể câu chuyện rất riêng của ông về những con người và câu chuyện của vùng đất New England Đông Bắc nước Mỹ. Vậy điều gì đã làm nên thành công của một tác phẩm đậm chất bi thương như Manchester by the Sea? Có lẽ đó là sự chân thành toát ra từ từng câu thoại, từ cách xây dựng nhân vật, từ cách lựa chọn hình ảnh và âm nhạc. Chính sự chân thành đó đã giúp khán giả cảm nhận được nỗi đau của Lee, của Randi, của Patrick, để rồi từ đó chợt nhận ra rằng chúng ta chẳng có nhiều cơ hội để yêu thương lẫn nhau, bởi thế dù chỉ là 10 phút hay là cả cuộc đời, hãy cứ dành tình cảm trân trọng cho những người thân yêu, bởi biết đâu một ngày kia, bi kịch cuộc đời sẽ chẳng còn cho chúng ta cái cơ hội tưởng chừng đơn giản ấy.


====

Bài đã được biên tập trên Zing.

Lion (2016)

Như rất nhiều đứa trẻ sinh ra ở vùng nông thôn rộng lớn và nghèo khó của Ấn Độ những năm 1980, cậu bé Saroo (Sunny Pawar) chưa bao giờ được hưởng cảm giác no đủ khi mẹ cậu phải một mình gánh vác ba đứa con nheo nhóc bằng nghề khuân vác trong các mỏ đá ở ngoại vi thành phố miền Trung Khandwa. Cùng cậu anh Guddu (Abhishek Bharate), Saroo phải rong ruổi theo những cung đường sắt dài vô tận để ăn trộm than từ những chuyến tàu hàng nhằm đổi lấy chút sữa đỡ đần người mẹ gầy guộc. Cuộc sống vất vả là thế, nhưng Saroo chưa bao giờ thấy buồn, bởi cậu có tình thương yêu của mẹ, của anh trai, cậu có cả thiên nhiên rộng lớn và đa dạng của Ấn Độ là bè bạn, và thứ duy nhất cậu thèm muốn mà chẳng thể có được chỉ là những chiếc bánh rán jalebi vàng óng ở chợ.

Sống bám vào những chuyến tàu, cuộc đời của cậu bé 5 tuổi Saroo cũng thay đổi hoàn toàn vì một chuyến tàu. Chờ anh trai đi kiếm ăn trên sân ga khuya, Saroo ngủ quên trên một toa tàu vắng mà không biết rằng con tàu không người đó sẽ đưa cậu vượt qua cả chiều ngang của tiểu lục địa Ấn Độ với điểm đến cuối cùng là thành phố biển miền Đông Calcutta. Bỗng dưng bị số phận đưa đẩy tới một thành phố xa lạ, nơi người dân thậm chí còn chẳng sử dụng thứ ngôn ngữ nơi quê nhà, Saroo buộc phải một mình đối mặt với muôn vàn khó khăn, từ những cơn đói triền miên, đến nỗi nhớ mẹ, nhớ anh trai da diết, và thậm chí là cả hiểm họa thường trực từ những kẻ mặt người dạ thú muốn lạm dụng các đứa trẻ ngây thơ như cậu. Tất nhiên giữa đô thành đông đúc Calcutta vẫn có những tấm lòng nhân hậu muốn giúp Saroo tìm về với gia đình, nhưng tất cả những gì cậu có thể mô tả cho họ là tên người anh trai – Guddu và tên ngôi làng nghèo của cậu bé – “Ginestlay” – một cái tên chẳng thể tìm thấy ở bất cứ nơi đâu trên bản đồ Ấn Độ.

Vận may cuối cùng đến với Saroo khi cậu cùng một đứa bé lang thang khác là Mantosh (Keshav Jadhav) được cặp vợ chồng người Úc Sue (Nicole Kidman) và John Brierley (David Wenham) nhận nuôi. Từ Calcutta tới hòn đảo xa xôi Tasmania, Saroo Brierley (Dev Patel) lớn lên trong tình thương yêu hết mực của Sue và John với ký ức tuổi thơ dần phai nhòa tới mức cậu chẳng còn thể nói được thứ tiếng mẹ đẻ Hindi. Nhưng nỗi nhớ mẹ, nhớ anh trai Guddu thì vẫn còn nguyên vẹn trong trái tim Saroo. Với sự động viên của cô bạn gái Lucy (Rooney Mara) và sức mạnh công nghệ của phần mềm bản đồ Google Earth, Saroo quyết tâm lần theo những mảnh vụn còn lại của cung đường định mệnh năm xưa với hy vọng sẽ tìm thấy mẹ, tìm thấy anh trai, tìm thấy quê hương một lần nữa. 

Lion là bộ phim điện ảnh đầu tay của đạo diễn người Úc Garth Davis dựa trên sự kiện có thật về chặng đường gian nan tìm lại gia đình sau 20 năm của Saroo Brierley. Từng gây xôn xao dư luận ở cả Úc và Ấn Độ năm 2011, hành trình trở về của Saroo vừa là câu truyện cảm động về tình cảm gia đình, vừa là một bài học đậm chất nhân văn về sự sẻ chia, về tình yêu thương vượt qua ranh giới về địa lý, về sắc tộc. Dưới ngòi bút của nhà biên kịch người Úc có tiếng Luke Davies, kịch bản của Lion, đặc biệt là ở nửa đầu tác phẩm, đã thành công trong việc tái hiện lại những cảm xúc và giá trị tình người này, khi sự lạc quan một cách ngây thơ và tình yêu vô hạn dành cho mẹ, cho anh trai, cho thiên nhiên cuộc sống của Saroo luôn đóng vai trò chủ đạo vượt lên trên những hiểm nguy rình rập của một xã hội Ấn Độ còn nhiều khốn khó. Cũng ở nửa đầu của Lion, nhịp phim nhanh, dồn dập theo từng bước chạy của Saroo cùng bối cảnh đa dạng, nhiều màu sắc của đất nước Ấn Độ chắc chắn sẽ khiến nhiều khán giả nhớ tới tác phẩm từng giành giải Oscar cho phim xuất sắc nhất Slumdog Millionaire (2008) của đạo diễn Danny Boyle – tác phẩm đã giới thiệu chính ngôi sao của Lion là Dev Patel với người xem toàn thế giới. Cũng dành được nhiều lời ngợi khen từ khán giả và giới phê bình, cũng như được đề cử ở hạng mục phim xuất sắc nhất tại giải Oscar năm nay, nhưng có lẽ Lion khó lòng lập lại được kỳ tích 10 năm trước của tác phẩm cùng đề tài Slumdog, bởi nửa sau của bộ phim có nhịp độ khá chậm với bối cảnh và truyện phim bị giới hạn trong khuôn khổ gia đình nhà Brierley vốn hoàn toàn tương phản với sự bao la rộng lớn của đất nước Ấn Độ ở nửa đầu phim. Vẫn biết rằng những dằn vặt tâm lý vì quá khứ tổn thương như của Saroo là một chất liệu quen thuộc của các tác phẩm điện ảnh, nhưng sự trầm lắng và thiếu kịch tính của nửa sau Lion đã phần nào làm ảnh hưởng tới mạch cảm xúc của khán giả được gây dựng từ đầu phim. Việc bộ phim quá tập trung vào việc mô tả diễn biến tâm trạng của Saroo cũng khiến các nhân vật có số phận rất đáng chú ý khác như mẹ đẻ và cha mẹ nuôi của anh không được chú trọng đúng mức dù tình thương yêu vô bờ bến của họ dành cho con trai có vai trò hết sức quan trọng trong cuộc đời của Saroo.

Truyện phim không thực sự trọn vẹn của Lion cũng phần nào đó làm ảnh hưởng tới chất lượng diễn xuất của dàn diễn viên trong phim bởi ngoại trừ vai Saroo của Dev Patel và diễn viên nhí Sunny Pawar, dàn diễn viên phụ của phim với những tên tuổi đáng chú ý như Nicole Kidman hay Rooney Mara không có nhiều đất để thể hiện khả năng của họ. Ngay đối với Dev Patel, dù sự xuất sắc của anh trong Lion đã được tưởng thưởng bằng đề cử Oscar đầu tiên trong sự nghiệp, thì trạng thái trầm cảm xuyên suốt nửa cuối bộ phim của Saroo cũng giới hạn ít nhiều các cung bậc cảm xúc của nhân vật mà anh hoàn toàn có khả năng thể hiện. Tương tự như Dev Patel, nhà quay phim Greig Fraser dù hết sức thành công với các bối cảnh rộng lớn, nhiều màu sắc và ánh sáng về thiên nhiên và con người Ấn Độ ở nửa đầu của Lion cũng bị hạn chế phần nào ở nửa sau khi các bối cảnh của phim phần lớn diễn ra trong căn hộ chật hẹp của gia đình nhà Brierley. Vẫn biết rằng sự tương phản về mặt hình ảnh này là rất cần thiết để phản chiếu trạng thái cảm xúc của nhân vật, nhưng nó cũng tước đi của Lion cơ hội mô tả vẻ đẹp của mảnh đất và đặc biệt là con người Ấn Độ. Bởi vậy mà bộ phim trở nên yếu thế nếu so sánh với Slumdog Millionaire.

Chứng kiến cuộc hành trình đáng kinh ngạc của Saroo vượt qua khoảng cách về không gian, về thời gian, về định kiến để tìm thấy, và tìm lại tình cảm đích thực đối với những người thân thiết, hẳn nhiều khán giả sẽ nhận ra rằng chẳng có biên giới địa lý nào có thể ngăn cản con người đến với nhau một khi họ đã dành cho nhau sự yêu thương, trân trọng. Bởi thế mà tuy vẫn còn những khiếm khuyết, nhưng chỉ với thông điệp giản dị mà nhân văn này thôi, Lion cũng đã rất xứng đáng được coi là một trong những bộ phim về gia đình đáng nhớ nhất của năm 2016.

====

Bản đã được biên tập trên Zing.

Arrival (2016)



Nữ giáo sư Louise Banks (Amy Adams) là một chuyên gia có tiếng trong giới ngôn ngữ học Hoa Kỳ. Tuy vậy, thành công trong sự nghiệp chẳng thể giúp Louise tránh khỏi những bi kịch gia đình khi Banks phải một mình nuôi nấng cô con gái yêu quý để rồi phải đau xót chứng kiến căn bệnh ung thư quái ác cướp cô bé khỏi vòng tay của Louise mãi mãi. Sau cái chết của con gái, tưởng như cuộc sống Louise sẽ mãi xoay quanh những giờ giảng dạy và nghiên cứu ở trường đại học cùng những đêm dài cô đơn trong căn nhà đẹp đẽ nhưng trống trải bên bờ hồ. Nhưng số phận của Louise, và của mọi người dân trên thế giới, thay đổi đột ngột khi mười hai chiếc phi thuyền khổng lồ của người ngoài hành tinh đáp xuống Trái Đất ở nhiều địa điểm khác nhau. Lơ lửng trên không như một đường con sừng sững đen đúa đầy bí hiểm, hai chiếc phi thuyền được phát hiện ở Nga, một chiếc ở Trung Quốc, một chiếc ở Nhật Bản, và một chiếc ở bang miền Tây hoang dã Montana của Hoa Kỳ. Chẳng tấn công bất cứ quốc gia nào, nhưng cũng chẳng truyền tải bất cứ thông điệp hòa bình gì ngoại trừ những âm thanh lạ lùng không phải “tiếng người”, mười hai chiếc phi thuyền khiến các thành phố, quốc gia, và cả địa cầu trở nên xáo trộn khi người dân bình thường trở nên hoảng loạn vì lo sợ cuộc xâm lăng của người ngoài hành tinh, còn các chính phủ thì bối rối vì không biết phải ứng xử ra sao với những tạo vật bí ẩn này. Là một tên tuổi lớn của ngành ngôn ngữ học và từng hỗ trợ chính phủ Mỹ trong dịch thuật các văn bản mang tính an ninh quốc gia, Louise Banks được Thượng tá Weber (Forest Whitaker) đề nghị tới Montana để tiếp cận chiếc phi thuyền và tìm hiểu ý đồ thực sự của người ngoài hành tinh khi đáp xuống Trái Đất là gì. Cùng tham gia nhiệm vụ đầy khó khăn tưởng như không có lời giải đáp này của Louise là tiến sĩ Ian Donnelly (Jeremy Renner), một chuyên gia vật lý lý thuyết có nhiệm vụ hóa giải câu hỏi làm sao những chiếc phi thuyền khổng lồ như vậy có thể vượt qua khoảng cách vô tận về không gian và thời gian để đáp xuống Trái Đất. Mọi thứ càng trở nên khó khăn với Louise khi các quốc gia có phi thuyền khác khác, đứng đầu là Trung Quốc dưới quyền của tướng Shang (Mã Chí), từ chối chia sẻ thông tin vì lý do an ninh, trong khi thứ duy nhất Louise khai thác được từ các bóng đen ngoài hành tinh bí hiểm là vô số vòng tròn huyền ảo ẩn chứa những thông điệp phức tạp và đa nghĩa. Nhưng bất chấp màn sương mịt mù che phủ các thông điệp của người ngoài hành tinh, bất chấp sự cản trở đến từ sự hoài nghi của chuyên gia mật vụ David Halpern (Michael Stuhlbarg) hay đại úy Marks (Mark O'Brien), Louise vẫn quyết tâm hiểu bằng được tận cùng ý nghĩa những ký hiệu của người ngoài hành tinh, không chỉ bởi sự an nguy của cả Trái Đất đang được đặt lên vai cô, mà còn vì trong quá trình phiên dịch và đối thoại ấy, Louise cũng dần tìm lại được ý nghĩa của cuộc sống tưởng chừng đã mất.

Trong vòng 5 năm trở lại đây, đạo diễn người Pháp Denis Villeneuve có lẽ là một trong những cái tên đáng chú ý nhất của Hollywood với một loạt tác phẩm hình sự-bi kịch gây tiếng vang lớn như Prisoners (2013), Enemy (2013), và gần đây nhất là Sicario (2015). Điểm chung của các tác phẩm này là kịch bản chặt chẽ, nhịp phim dồn dập, tính tự sự cao dù không hề thiếu chất bạo lực, và phần hình ảnh tăm tối, ám ảnh. Không phải là một phim hình sự thuần túy như ba bộ phim kể trên, nhưng Arrival cũng không hề thiếu chất bạo liệt với một kịch bản được nhà biên kịch “chuyên trị” thể loại phim kinh dị Eric Heisserer chuyển thể hết sức thành công từ truyện ngắn khoa học giả tưởng xuất sắc Story of Your Life của nhà văn Ted Chiang. Gọn gàng với rất ít nhân vật và bối cảnh phần lớn giới hạn trong chiếc phi thuyền hoặc doanh trại quân đội ở Montana, Arrival được Denis Villeneuve hướng thẳng vào mô tả song song nhiệm vụ giải mã của Louise và Ian trong bối cảnh một thế giới hỗn loạn, cùng với hành trình khám phá lại bản thân, khám phá lại quá khứ của chính Louise với những kết thúc mang tính nhân quả hết sức bất ngờ. Một trong những điểm yếu của các tác phẩm hình sự trước đây của Villeneuve là việc nhịp độ phim thường được đẩy lên rất cao từ ngay đầu phim bởi vậy đoạn kết của tác phẩm thường tạo cảm giác trùng xuống nếu so sánh với không khí dồn dập của phần mở đầu. Nhưng với Arrival, Denis Villeneuve đã hóa giải thành công vấn đề này khi phần kết dựa trên cái tứ bánh xe luân hồi của cuộc đời vừa giải đáp tương đối thỏa đáng những câu hỏi đậm chất giả tưởng của phim, vừa tạo dựng cho Louise Banks một chiều sâu tính cách với đủ mọi cung bậc cảm xúc và suy nghĩ.

Sau khi thưởng thức Arrival, chắc chắn nhiều khán giả sẽ có cảm giác thanh thản và bình an khi nhớ tới hình ảnh thanh lịch, nhẹ nhàng cùng suy nghĩ dứt khoát nhưng không hề thiếu chất nhân văn của Louise Banks. Thành công này của Arrival một phần nhờ vào kịch bản hết sức chắc tay của Heisserer, nhưng phần lớn là nhờ vào tài năng của ngôi sao Amy Adams – nữ diễn viên từng có tới 5 đề cử Oscar và nhẽ ra phải được một đề cử thứ sáu cho vai diễn Louise Banks này. Vẻ đẹp đầy nữ tính cùng diễn xuất nội tâm cực kỳ ấn tượng, đặc biệt là qua cặp mắt to biểu cảm – vốn là tâm điểm của rất nhiều cảnh quay trong Arrival, của Adams trong vai Louise Banks thậm chí còn làm lu mờ các bạn diễn của cô trong phim vốn cũng là những nam diễn viên tiếng tăm của Hollywood như Whitaker, Stuhlbarg, hay Renner.

Là một tác phẩm thuộc dòng phim khoa học giả tưởng nên Arrival chỉ có thể thực sự gây ấn tượng với khán giả nếu các yếu tố kỹ thuật như hình ảnh, kỹ xảo, và thiết kế bối cảnh được quan tâm thỏa đáng. Với sự cộng tác của nhà quay phim Bradford Young, đạo diễn Denis Villeneuve trong bộ phim khoa học giả tưởng đầu tiên của ông đã tạo dựng cho Arrival một phần nhìn đơn giản, gần gũi với thực tại, nhưng vẫn pha trộn một cách tinh tế những chi tiết vừa đậm chất giả tưởng về người ngoài hành tinh, vừa mang ý nghĩa ẩn dụ về triết lý nhân sinh và quy luật nhân quả của cuộc đời.

Với Arrival, Denis Villeneuve đã chứng tỏ rằng tài năng của ông không chỉ giới hạn với dòng phim hình sự mà còn hoàn toàn phù hợp với các tác phẩm khoa học giả tưởng. Đây là một tin rất vui cho những người hâm mộ điện ảnh, bởi tác phẩm sắp tới của Villeneuve sẽ là Blade Runner 2049, bộ phim được coi là phần tiếp theo của Blade Runner (1982) của đạo diễn Ridley Scott – một trong những đại diện tiêu biểu nhất của điện ảnh Hollywood thập niên 1980 và thường được coi là khuôn vàng thước ngọc cho các tác phẩm hình sự-khoa học giả tưởng. Từ thành công của Arrival, khán giả hoàn toàn có thể trông đợi rằng Blade Runner 2049 của Villeneuve sẽ giữ được chất lượng của tác phẩm gốc – một điều không hề dễ dàng dưới áp lực thương mại nặng nề của Hollywood thời điểm hiện tại.

 

=====

Bài đã được biên tập trên Zing.