some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

lundi 6 février 2017

Lion (2016)

Như rất nhiều đứa trẻ sinh ra ở vùng nông thôn rộng lớn và nghèo khó của Ấn Độ những năm 1980, cậu bé Saroo (Sunny Pawar) chưa bao giờ được hưởng cảm giác no đủ khi mẹ cậu phải một mình gánh vác ba đứa con nheo nhóc bằng nghề khuân vác trong các mỏ đá ở ngoại vi thành phố miền Trung Khandwa. Cùng cậu anh Guddu (Abhishek Bharate), Saroo phải rong ruổi theo những cung đường sắt dài vô tận để ăn trộm than từ những chuyến tàu hàng nhằm đổi lấy chút sữa đỡ đần người mẹ gầy guộc. Cuộc sống vất vả là thế, nhưng Saroo chưa bao giờ thấy buồn, bởi cậu có tình thương yêu của mẹ, của anh trai, cậu có cả thiên nhiên rộng lớn và đa dạng của Ấn Độ là bè bạn, và thứ duy nhất cậu thèm muốn mà chẳng thể có được chỉ là những chiếc bánh rán jalebi vàng óng ở chợ.

Sống bám vào những chuyến tàu, cuộc đời của cậu bé 5 tuổi Saroo cũng thay đổi hoàn toàn vì một chuyến tàu. Chờ anh trai đi kiếm ăn trên sân ga khuya, Saroo ngủ quên trên một toa tàu vắng mà không biết rằng con tàu không người đó sẽ đưa cậu vượt qua cả chiều ngang của tiểu lục địa Ấn Độ với điểm đến cuối cùng là thành phố biển miền Đông Calcutta. Bỗng dưng bị số phận đưa đẩy tới một thành phố xa lạ, nơi người dân thậm chí còn chẳng sử dụng thứ ngôn ngữ nơi quê nhà, Saroo buộc phải một mình đối mặt với muôn vàn khó khăn, từ những cơn đói triền miên, đến nỗi nhớ mẹ, nhớ anh trai da diết, và thậm chí là cả hiểm họa thường trực từ những kẻ mặt người dạ thú muốn lạm dụng các đứa trẻ ngây thơ như cậu. Tất nhiên giữa đô thành đông đúc Calcutta vẫn có những tấm lòng nhân hậu muốn giúp Saroo tìm về với gia đình, nhưng tất cả những gì cậu có thể mô tả cho họ là tên người anh trai – Guddu và tên ngôi làng nghèo của cậu bé – “Ginestlay” – một cái tên chẳng thể tìm thấy ở bất cứ nơi đâu trên bản đồ Ấn Độ.

Vận may cuối cùng đến với Saroo khi cậu cùng một đứa bé lang thang khác là Mantosh (Keshav Jadhav) được cặp vợ chồng người Úc Sue (Nicole Kidman) và John Brierley (David Wenham) nhận nuôi. Từ Calcutta tới hòn đảo xa xôi Tasmania, Saroo Brierley (Dev Patel) lớn lên trong tình thương yêu hết mực của Sue và John với ký ức tuổi thơ dần phai nhòa tới mức cậu chẳng còn thể nói được thứ tiếng mẹ đẻ Hindi. Nhưng nỗi nhớ mẹ, nhớ anh trai Guddu thì vẫn còn nguyên vẹn trong trái tim Saroo. Với sự động viên của cô bạn gái Lucy (Rooney Mara) và sức mạnh công nghệ của phần mềm bản đồ Google Earth, Saroo quyết tâm lần theo những mảnh vụn còn lại của cung đường định mệnh năm xưa với hy vọng sẽ tìm thấy mẹ, tìm thấy anh trai, tìm thấy quê hương một lần nữa. 

Lion là bộ phim điện ảnh đầu tay của đạo diễn người Úc Garth Davis dựa trên sự kiện có thật về chặng đường gian nan tìm lại gia đình sau 20 năm của Saroo Brierley. Từng gây xôn xao dư luận ở cả Úc và Ấn Độ năm 2011, hành trình trở về của Saroo vừa là câu truyện cảm động về tình cảm gia đình, vừa là một bài học đậm chất nhân văn về sự sẻ chia, về tình yêu thương vượt qua ranh giới về địa lý, về sắc tộc. Dưới ngòi bút của nhà biên kịch người Úc có tiếng Luke Davies, kịch bản của Lion, đặc biệt là ở nửa đầu tác phẩm, đã thành công trong việc tái hiện lại những cảm xúc và giá trị tình người này, khi sự lạc quan một cách ngây thơ và tình yêu vô hạn dành cho mẹ, cho anh trai, cho thiên nhiên cuộc sống của Saroo luôn đóng vai trò chủ đạo vượt lên trên những hiểm nguy rình rập của một xã hội Ấn Độ còn nhiều khốn khó. Cũng ở nửa đầu của Lion, nhịp phim nhanh, dồn dập theo từng bước chạy của Saroo cùng bối cảnh đa dạng, nhiều màu sắc của đất nước Ấn Độ chắc chắn sẽ khiến nhiều khán giả nhớ tới tác phẩm từng giành giải Oscar cho phim xuất sắc nhất Slumdog Millionaire (2008) của đạo diễn Danny Boyle – tác phẩm đã giới thiệu chính ngôi sao của Lion là Dev Patel với người xem toàn thế giới. Cũng dành được nhiều lời ngợi khen từ khán giả và giới phê bình, cũng như được đề cử ở hạng mục phim xuất sắc nhất tại giải Oscar năm nay, nhưng có lẽ Lion khó lòng lập lại được kỳ tích 10 năm trước của tác phẩm cùng đề tài Slumdog, bởi nửa sau của bộ phim có nhịp độ khá chậm với bối cảnh và truyện phim bị giới hạn trong khuôn khổ gia đình nhà Brierley vốn hoàn toàn tương phản với sự bao la rộng lớn của đất nước Ấn Độ ở nửa đầu phim. Vẫn biết rằng những dằn vặt tâm lý vì quá khứ tổn thương như của Saroo là một chất liệu quen thuộc của các tác phẩm điện ảnh, nhưng sự trầm lắng và thiếu kịch tính của nửa sau Lion đã phần nào làm ảnh hưởng tới mạch cảm xúc của khán giả được gây dựng từ đầu phim. Việc bộ phim quá tập trung vào việc mô tả diễn biến tâm trạng của Saroo cũng khiến các nhân vật có số phận rất đáng chú ý khác như mẹ đẻ và cha mẹ nuôi của anh không được chú trọng đúng mức dù tình thương yêu vô bờ bến của họ dành cho con trai có vai trò hết sức quan trọng trong cuộc đời của Saroo.

Truyện phim không thực sự trọn vẹn của Lion cũng phần nào đó làm ảnh hưởng tới chất lượng diễn xuất của dàn diễn viên trong phim bởi ngoại trừ vai Saroo của Dev Patel và diễn viên nhí Sunny Pawar, dàn diễn viên phụ của phim với những tên tuổi đáng chú ý như Nicole Kidman hay Rooney Mara không có nhiều đất để thể hiện khả năng của họ. Ngay đối với Dev Patel, dù sự xuất sắc của anh trong Lion đã được tưởng thưởng bằng đề cử Oscar đầu tiên trong sự nghiệp, thì trạng thái trầm cảm xuyên suốt nửa cuối bộ phim của Saroo cũng giới hạn ít nhiều các cung bậc cảm xúc của nhân vật mà anh hoàn toàn có khả năng thể hiện. Tương tự như Dev Patel, nhà quay phim Greig Fraser dù hết sức thành công với các bối cảnh rộng lớn, nhiều màu sắc và ánh sáng về thiên nhiên và con người Ấn Độ ở nửa đầu của Lion cũng bị hạn chế phần nào ở nửa sau khi các bối cảnh của phim phần lớn diễn ra trong căn hộ chật hẹp của gia đình nhà Brierley. Vẫn biết rằng sự tương phản về mặt hình ảnh này là rất cần thiết để phản chiếu trạng thái cảm xúc của nhân vật, nhưng nó cũng tước đi của Lion cơ hội mô tả vẻ đẹp của mảnh đất và đặc biệt là con người Ấn Độ. Bởi vậy mà bộ phim trở nên yếu thế nếu so sánh với Slumdog Millionaire.

Chứng kiến cuộc hành trình đáng kinh ngạc của Saroo vượt qua khoảng cách về không gian, về thời gian, về định kiến để tìm thấy, và tìm lại tình cảm đích thực đối với những người thân thiết, hẳn nhiều khán giả sẽ nhận ra rằng chẳng có biên giới địa lý nào có thể ngăn cản con người đến với nhau một khi họ đã dành cho nhau sự yêu thương, trân trọng. Bởi thế mà tuy vẫn còn những khiếm khuyết, nhưng chỉ với thông điệp giản dị mà nhân văn này thôi, Lion cũng đã rất xứng đáng được coi là một trong những bộ phim về gia đình đáng nhớ nhất của năm 2016.

====

Bản đã được biên tập trên Zing.

Arrival (2016)



Nữ giáo sư Louise Banks (Amy Adams) là một chuyên gia có tiếng trong giới ngôn ngữ học Hoa Kỳ. Tuy vậy, thành công trong sự nghiệp chẳng thể giúp Louise tránh khỏi những bi kịch gia đình khi Banks phải một mình nuôi nấng cô con gái yêu quý để rồi phải đau xót chứng kiến căn bệnh ung thư quái ác cướp cô bé khỏi vòng tay của Louise mãi mãi. Sau cái chết của con gái, tưởng như cuộc sống Louise sẽ mãi xoay quanh những giờ giảng dạy và nghiên cứu ở trường đại học cùng những đêm dài cô đơn trong căn nhà đẹp đẽ nhưng trống trải bên bờ hồ. Nhưng số phận của Louise, và của mọi người dân trên thế giới, thay đổi đột ngột khi mười hai chiếc phi thuyền khổng lồ của người ngoài hành tinh đáp xuống Trái Đất ở nhiều địa điểm khác nhau. Lơ lửng trên không như một đường con sừng sững đen đúa đầy bí hiểm, hai chiếc phi thuyền được phát hiện ở Nga, một chiếc ở Trung Quốc, một chiếc ở Nhật Bản, và một chiếc ở bang miền Tây hoang dã Montana của Hoa Kỳ. Chẳng tấn công bất cứ quốc gia nào, nhưng cũng chẳng truyền tải bất cứ thông điệp hòa bình gì ngoại trừ những âm thanh lạ lùng không phải “tiếng người”, mười hai chiếc phi thuyền khiến các thành phố, quốc gia, và cả địa cầu trở nên xáo trộn khi người dân bình thường trở nên hoảng loạn vì lo sợ cuộc xâm lăng của người ngoài hành tinh, còn các chính phủ thì bối rối vì không biết phải ứng xử ra sao với những tạo vật bí ẩn này. Là một tên tuổi lớn của ngành ngôn ngữ học và từng hỗ trợ chính phủ Mỹ trong dịch thuật các văn bản mang tính an ninh quốc gia, Louise Banks được Thượng tá Weber (Forest Whitaker) đề nghị tới Montana để tiếp cận chiếc phi thuyền và tìm hiểu ý đồ thực sự của người ngoài hành tinh khi đáp xuống Trái Đất là gì. Cùng tham gia nhiệm vụ đầy khó khăn tưởng như không có lời giải đáp này của Louise là tiến sĩ Ian Donnelly (Jeremy Renner), một chuyên gia vật lý lý thuyết có nhiệm vụ hóa giải câu hỏi làm sao những chiếc phi thuyền khổng lồ như vậy có thể vượt qua khoảng cách vô tận về không gian và thời gian để đáp xuống Trái Đất. Mọi thứ càng trở nên khó khăn với Louise khi các quốc gia có phi thuyền khác khác, đứng đầu là Trung Quốc dưới quyền của tướng Shang (Mã Chí), từ chối chia sẻ thông tin vì lý do an ninh, trong khi thứ duy nhất Louise khai thác được từ các bóng đen ngoài hành tinh bí hiểm là vô số vòng tròn huyền ảo ẩn chứa những thông điệp phức tạp và đa nghĩa. Nhưng bất chấp màn sương mịt mù che phủ các thông điệp của người ngoài hành tinh, bất chấp sự cản trở đến từ sự hoài nghi của chuyên gia mật vụ David Halpern (Michael Stuhlbarg) hay đại úy Marks (Mark O'Brien), Louise vẫn quyết tâm hiểu bằng được tận cùng ý nghĩa những ký hiệu của người ngoài hành tinh, không chỉ bởi sự an nguy của cả Trái Đất đang được đặt lên vai cô, mà còn vì trong quá trình phiên dịch và đối thoại ấy, Louise cũng dần tìm lại được ý nghĩa của cuộc sống tưởng chừng đã mất.

Trong vòng 5 năm trở lại đây, đạo diễn người Pháp Denis Villeneuve có lẽ là một trong những cái tên đáng chú ý nhất của Hollywood với một loạt tác phẩm hình sự-bi kịch gây tiếng vang lớn như Prisoners (2013), Enemy (2013), và gần đây nhất là Sicario (2015). Điểm chung của các tác phẩm này là kịch bản chặt chẽ, nhịp phim dồn dập, tính tự sự cao dù không hề thiếu chất bạo lực, và phần hình ảnh tăm tối, ám ảnh. Không phải là một phim hình sự thuần túy như ba bộ phim kể trên, nhưng Arrival cũng không hề thiếu chất bạo liệt với một kịch bản được nhà biên kịch “chuyên trị” thể loại phim kinh dị Eric Heisserer chuyển thể hết sức thành công từ truyện ngắn khoa học giả tưởng xuất sắc Story of Your Life của nhà văn Ted Chiang. Gọn gàng với rất ít nhân vật và bối cảnh phần lớn giới hạn trong chiếc phi thuyền hoặc doanh trại quân đội ở Montana, Arrival được Denis Villeneuve hướng thẳng vào mô tả song song nhiệm vụ giải mã của Louise và Ian trong bối cảnh một thế giới hỗn loạn, cùng với hành trình khám phá lại bản thân, khám phá lại quá khứ của chính Louise với những kết thúc mang tính nhân quả hết sức bất ngờ. Một trong những điểm yếu của các tác phẩm hình sự trước đây của Villeneuve là việc nhịp độ phim thường được đẩy lên rất cao từ ngay đầu phim bởi vậy đoạn kết của tác phẩm thường tạo cảm giác trùng xuống nếu so sánh với không khí dồn dập của phần mở đầu. Nhưng với Arrival, Denis Villeneuve đã hóa giải thành công vấn đề này khi phần kết dựa trên cái tứ bánh xe luân hồi của cuộc đời vừa giải đáp tương đối thỏa đáng những câu hỏi đậm chất giả tưởng của phim, vừa tạo dựng cho Louise Banks một chiều sâu tính cách với đủ mọi cung bậc cảm xúc và suy nghĩ.

Sau khi thưởng thức Arrival, chắc chắn nhiều khán giả sẽ có cảm giác thanh thản và bình an khi nhớ tới hình ảnh thanh lịch, nhẹ nhàng cùng suy nghĩ dứt khoát nhưng không hề thiếu chất nhân văn của Louise Banks. Thành công này của Arrival một phần nhờ vào kịch bản hết sức chắc tay của Heisserer, nhưng phần lớn là nhờ vào tài năng của ngôi sao Amy Adams – nữ diễn viên từng có tới 5 đề cử Oscar và nhẽ ra phải được một đề cử thứ sáu cho vai diễn Louise Banks này. Vẻ đẹp đầy nữ tính cùng diễn xuất nội tâm cực kỳ ấn tượng, đặc biệt là qua cặp mắt to biểu cảm – vốn là tâm điểm của rất nhiều cảnh quay trong Arrival, của Adams trong vai Louise Banks thậm chí còn làm lu mờ các bạn diễn của cô trong phim vốn cũng là những nam diễn viên tiếng tăm của Hollywood như Whitaker, Stuhlbarg, hay Renner.

Là một tác phẩm thuộc dòng phim khoa học giả tưởng nên Arrival chỉ có thể thực sự gây ấn tượng với khán giả nếu các yếu tố kỹ thuật như hình ảnh, kỹ xảo, và thiết kế bối cảnh được quan tâm thỏa đáng. Với sự cộng tác của nhà quay phim Bradford Young, đạo diễn Denis Villeneuve trong bộ phim khoa học giả tưởng đầu tiên của ông đã tạo dựng cho Arrival một phần nhìn đơn giản, gần gũi với thực tại, nhưng vẫn pha trộn một cách tinh tế những chi tiết vừa đậm chất giả tưởng về người ngoài hành tinh, vừa mang ý nghĩa ẩn dụ về triết lý nhân sinh và quy luật nhân quả của cuộc đời.

Với Arrival, Denis Villeneuve đã chứng tỏ rằng tài năng của ông không chỉ giới hạn với dòng phim hình sự mà còn hoàn toàn phù hợp với các tác phẩm khoa học giả tưởng. Đây là một tin rất vui cho những người hâm mộ điện ảnh, bởi tác phẩm sắp tới của Villeneuve sẽ là Blade Runner 2049, bộ phim được coi là phần tiếp theo của Blade Runner (1982) của đạo diễn Ridley Scott – một trong những đại diện tiêu biểu nhất của điện ảnh Hollywood thập niên 1980 và thường được coi là khuôn vàng thước ngọc cho các tác phẩm hình sự-khoa học giả tưởng. Từ thành công của Arrival, khán giả hoàn toàn có thể trông đợi rằng Blade Runner 2049 của Villeneuve sẽ giữ được chất lượng của tác phẩm gốc – một điều không hề dễ dàng dưới áp lực thương mại nặng nề của Hollywood thời điểm hiện tại.

 

=====

Bài đã được biên tập trên Zing.

mardi 6 décembre 2016

The Red Turtle (2016)



Đạo diễn người Hà Lan Michaël Dudok de Wit là một hiện tượng đặc biệt của dòng phim hoạt hình thế giới. Sinh năm 1953, vị đạo diễn 63 tuổi này cho đến trước năm nay mới chỉ cho ra đời đúng bốn phim hoạt hình ngắn với tổng thời lượng vỏn vẹn 21 phút. Tuy nhiên khi nhắc tới một trong số bốn tác phẩm đó – bộ phim Father and Daughter thì hẳn bất cứ người yêu điện ảnh nào cũng sẽ phải ồ lên thán phục dù tác phẩm này đã được công chiếu từ 16 năm trước. Giành tới 21 giải thưởng điện ảnh của năm 2000, trong đó có cả hai giải thưởng cao quý bậc nhất cho dòng phim him hoạt hình ngắn là Giải Oscar và Giải BAFTA, Father and Daughter mang đến cho khán giả những gì tinh túy nhất của Dudok de Wit, đó là phần hình họa tối giản, hạn chế chi tiết thừa, gam màu trầm, nội dung cực kì tinh tế, xúc động dù không hề sử dụng thoại, và nhạc phim sâu lắng với những nốt nhạc đi vào lòng người của tuyệt khúc The Danube Waves.

Kể từ khi công chiếu năm 2000, thông điệp mang tính phổ quát về tình phụ tử của Father and Daughter không chỉ chinh phục các giải thưởng điện ảnh mà còn chiếm được tình cảm của khán giả quốc tế, trong số đó có một cái tên quen thuộc – đạo diễn huyền thoại Hayao Miyazaki. Sau khi xem tác phẩm của đạo diễn người Hà Lan, Miyazaki đã tuyên bố rằng nếu hãng hoạt hình Studio Ghibli của ông có sản xuất phim cho đạo diễn bên ngoài, người đó phải là Dudok de Wit. Từng bày tỏ rằng mình không thực sự muốn làm phim hoạt hình dài, nhưng có lẽ tên tuổi của Hayao Miyazaki và Studio Ghibli là quá đủ để Dudok de Wit đổi ý. Sau một thời gian dài sản xuất, thành quả của mối lương duyên giữa đạo diễn người Hà Lan, hãng phim Nhật Bản, và một loạt tên tuổi của dòng phim nghệ thuật Pháp như hãng Wild Bunch và Why Not Production cuối cùng cũng được ra mắt khán giả tại Liên hoan phim Cannes 2016. Dài đúng 80 phút, The Red Turtle là bộ phim hoạt hình dài đầu tiên Michaël Dudok de Wit viết kịch bản và đạo diễn.

The Red Turtle mở đầu với cảnh một người đàn ông vô danh bị bão tạp đánh dạt lên một hoang đảo, với duy nhất một bộ quần áo trên người và niềm tin tìm về với đất liền trong tâm trí. Có lẽ bối cảnh này của bộ phim sẽ khiến nhiều khán giả nghĩ ngay tới tác phẩm của Robert Zemeckis do Tom Hanks thủ vai chính – Cast Away. Cũng ra mắt công chúng năm 2000 như Father and Daughter, Cast Away là câu truyện sinh tồn của Chuck Noland (Tom Hanks) và người “bạn” của anh – Wilson-quả-bóng-chuyền. Nửa đầu của The Red Turtle gần như đi theo đúng mô típ của Cast Away, khi bộ phim tập trung mô tả sự tuyệt vọng của người đàn ông vô danh trên hòn đảo hoang vắng chỉ có thiên nhiên, cua cá, hải cẩu, và sự yên tĩnh trống trải đến lặng người. Với chút sức lực có được nhờ quả dại và nước ngọt trên đảo, người đàn ông quyết vượt biển khơi bao la bằng cách dựng bè từ những thân tre nhặt được trong cánh rừng bên bờ biển. Theo gió ra khơi mang theo niềm hy vọng trở về với thế giới, nhưng những chiếc bè tre của người đàn ông vô danh nhanh chóng vỡ vụn giữa biển cả bởi một thế lực bí ẩn nào đó dưới đáy sâu. Gắng sức bơi trở lại đảo, đóng những tấm bè mới lớn hơn, vững chắc hơn để rồi lại bị đánh chìm khi chưa ra được bao xa, người đàn ông dồn cả nghi ngờ con rùa đỏ to lớn, trầm mặc luôn có mặt trong các chuyến ra khơi thất bại của mình. Uất ức đến cùng cực, người đàn ông đánh rồi lật ngửa con rùa với hy vọng nó sẽ không thể phá hoại hành trình của ông ta một lần nào nữa. Nhưng sợi dây trói chặt ông với hòn đảo hoang không vì thế mà nới lỏng, bởi con rùa định mệnh lại biến mình thành một người phụ nữ xinh đẹp làm đảo lộn mọi quyết tâm và dự định của người đàn ông vô danh.

Với khán giả đã từng phải lòng phong cách nghệ thuật duyên dáng của Father and Daughter thì The Red Turtle chắn chắn sẽ không làm họ thất vọng bởi Dudok de Wit trong tác phẩm dài đầu tay này vẫn trung thành với sự tối giản đầy tính biểu tượng với những khung hình sử dụng ít màu sắc, đường nét thừa nhưng lại hết sức chăm chút vào từng chi tiết, nét vẽ mô tả thiên nhiên và nhân vật. Rất hiếm khi sử dụng những góc quay cận cảnh, con người trong các tác phẩm của Dudok de Wit luôn hiện ra nhỏ bé, mỏng manh như chính số phận của họ, bởi vậy với đạo diễn người Hà Lan thiên nhiên với sự vĩnh hằng vốn có của nó cũng trở thành một “nhân vật” với tầm quan trọng không hề thua kém trong The Red Turtle. Từ biển xanh sâu thẳm đầy bí ẩn, rừng tre xào xạc hiền hoà, cho tới những cơn sóng thần phẫn nộ và huỷ diệt, thiên nhiên trong The Red Turtle được mô tả không chỉ với nhiều góc cạnh, “tính cách”, mà còn đầy tính biểu tượng khi chính sự hùng vĩ, bao la, và biến đổi không lường của nó đã nói lên được sự ngắn ngủi, cô độc, phù du của mỗi kiếp người. Được cộng hưởng bởi phần nhạc phim sâu lắng của Laurent Perez del Mar, sự tương phản này giữa thiên nhiên và con người trong The Red Turtle chắc chắn sẽ để lại dư âm lâu dài trong lòng nhiều khán giả. Đây có lẽ là nét mới mẻ nhất trong tác phẩm dài đầu tay này của Dudok de Wit khi so sánh với các bộ phim ngắn trước đây của ông, bởi chỉ có thời lượng và kinh phí thoả đáng của một bộ phim điện ảnh mới là sân chơi sáng tạo đủ lớn để đạo diễn người Hà Lan bộc lộ hết tài năng của ông.

Tại thời điểm The Red Turtle mới công chiếu trong Liên hoan phim Cannes, giới báo chí đã đề cập rất nhiều tới mối liên hệ giữa tác phẩm này và hãng phim Studio Ghibli, một phần vì danh tiếng của Ghibli với tư cách ngọn cờ đầu của phim hoạt hình Nhật Bản, một phần vì sự tương đồng giữa tính nhân văn thấm đẫm trong các tác phẩm của Studio Ghibli và thông điệp ý nhị về đời người trong những bộ phim ngắn của Dudok de Wit. Quả thực cố vấn nghệ thuật của The Red Turtle không phải ai khác ngoài Isao Takahata, đạo diễn đồng sáng lập Studio Ghibli với Hayao Miyazaki, và là người vừa cho ra đời The Tale of the Princess Kaguya (2013) - một tuyệt phẩm hoạt hình về gia đình, về tình yêu cuộc sống ẩn sau những nét vẽ đơn giản trừ tượng. Tuy nhiên sẽ là không công bằng cho cả Studio Ghibli và Michaël Dudok de Wit nếu các bài bình phim luôn tập chung nhấn mạnh vào “chất Ghibli” của The Red Turtle, bởi thực tế người xem khó lòng có thể tìm đấy khí chất Nhật Bản đó từ bộ phim được làm chủ yếu tại Pháp và Bỉ của đạo diễn người Hà Lan. Bởi các bộ phim của Studio Ghibli, bất kể là do Miyazaki hay Takahata đạo diễn, luôn được xây dựng trên khung kịch bản hết sức rõ ràng với cốt truyện và tuyến nhân vật thống nhất, giúp khán giả dễ hiểu, dễ cảm nhận thông điệp của các nhà làm phim Nhật Bản. Trái ngược với sự nghiêm cẩn rất Á Đông này, The Red Turtle lại có một kịch bản hết sức trừu tượng với hai câu truyện tương đối tách biệt về sự sinh tồn giữa thiên nhiên và tầm quan trọng của gia đình, của tình yêu đối với số phận mỗi con người. Có cảm giác với hai nửa truyện phim riêng rẽ của The Red Turtle được ngăn cách bởi người phụ nữ hoá thân từ con rùa đỏ kỳ lạ, Dudok de Wit đã mời gọi chính khán giả cùng ông suy ngẫm về giá trị của cuộc sống, về lựa chọn của mỗi con người hãy tiếp tục đương đầu với sóng gió để tìm lấy những mảnh đất mới, những khúc quanh mới cho số phận, hay bằng lòng với hạnh phúc giản đơn vốn có như chú rùa đỏ tận hưởng sự yên bình của biển xanh.


Tương tự như chiếc mai rùa vỡ làm người đàn ông vô danh phải bối rối khó hiểu, điều đáng tiếc nhất của The Red Turtle có lẽ là bộ phim thiếu vắng sự kết nối giữa nửa đầu vừa nửa sau của truyện phim, khiến khán giả có cảm giác hẫng hụt sau khi họ đã dành rất nhiều tình cảm, suy nghĩ, và lo lắng cho số phận người đàn ông ở nửa đầu phim để rồi được chứng kiến những bối cảnh hoàn toàn mới không hề có chút liên hệ nhân quả nào với cuộc đấu tranh sinh tồn ở phần đầu phim. Có lẽ vì lý do này mà một số nhà phê bình phim đã cho rằng The Red Turtle là “quá dài” cho Michaël Dudok de Wit bởi những suy nghĩ trừu tượng và hiện sinh của ông thích hợp hơn với khuôn khổ ngắn, gọn của các bộ phim hoạt hình ngắn. Tuy nhiên, nhận xét này cũng chưa hoàn toàn thoả đáng khi qua suốt 80 phút của The Red Turtle, Dudok de Wit đã hoàn toàn chứng tỏ được tài năng của mình qua phần hình ảnh, tạo hình của phim. Có lẽ điều tốt nhất khán giả có thể mong đợi lúc này cho Dudok de Wit đó là thời gian, và cảm hứng, bởi với một kịch bản tốt, đạo diễn người Hà Lan chắc chắn sẽ không làm khán giả thất vọng trong tương lai, dù là ở thể loại phim dài hay phim ngắn.

====