some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

samedi 29 août 2015

Boogie Nights (1997) ... or "Porn vs. Cinema"



Hôm nay đọc trên Reddit thấy có thảo luận "Could a porn movie ever crossover and be considered a piece of artwork an seen as a legit film?" làm tôi nghĩ ngay tới Boogie Nights, một trong những bộ phim hay và cảm động nhất tôi từng xem. Việc "phân tích" hay "phê bình" bộ phim này ở thời điểm hiện tại có lẽ là thừa, vì tôi chắc rằng những ai đã xem Boogie Nights thì đều có thể cảm nhận được nội dung nhân văn và vẻ đẹp điện ảnh của bộ phim (đây có lẽ là bộ phim dễ tiếp cận nhất của "wunderkind" Paul Thomas Anderson). Ở đây tôi chỉ muốn nhắc đến khía cạnh "porn vs. cinema" - liệu một bộ phim khiêu dâm (phim được làm với mục đích khơi gợi ham muốn - không phải phim có cảnh quan hệ tình dục "thật", vì rất nhiều tác phẩm điện ảnh "xịn" có những cảnh như vậy, đặc biệt là phim châu Âu vốn ít chịu ràng buộc tôn giáo hơn phim Hollywood) có thể xuất sắc tới mức được coi là một tác phẩm nghệ thuật điện ảnh thực sự? Theo tôi thì là không, lý do thì đã có Julianne Moore - người thủ vai nữ chính (một ngôi sao phim khiêu dâm) trong Boogie Nights chia sẻ với James Lipton trong chương trình Inside the Actors Studio: 


Moore: 
... I was at a Christmas Party, and a friend of mine said "I want you to meet this kid [PTA kém Moore chẵn 10 tuổi và Boogie Nights hoàn thành khi PTA mới 27 tuổi], he wrote this script and there's a part in here for you, he wrote this part with you in mind, he wants you to do it". So I go over and meet Paul. I said "Hey, how are you", and he's like "You know, I have this thing I want to talk with you", and I said "This is great, okay, I'm looking forward to it", and he's like "You gonna be in my movie, man!".

... and I read it, and I called him and said "Yeah, I am going to be in your movie, this is fantastic!". It was so moving, so exciting, and exhilarating, and I was like "This guy is a major talent".

Lipton:
... Burt Reynolds was here on that chair. He told us that he visited a porn set in preparation for the role. Did you ever consider doing it?
  
Moore: 
I did. Paul and I went to one. This is a small scale video thing in a hotel room... So there we were, Paul and I sitting on the floor of a room smaller than this stage [sân khấu của Inside the Actors Studio rất nhỏ theo kiểu "bục giảng", vì Lipton thực sự dùng chương trình này để "dạy" học trò của ông về nghề diễn], you know. We sat out there on the floor and we watched this thing. But you know, it was interesting because it's so dangerous. It's so dangerous I think what they were doing because you can't have that kind of intimacy and have it be okay, you know. People talk a lot about actors with the experiences - is it real kissing, is it not, da da da. And there are things that you can do, and you know, you can figure that out...

Lipton:
The crucial scene, which you initiated the neophyte porn star Dirk [Mark Wahlberg trong vai diễn xuất sắc nhất trong sự nghiệp] is necessarily graphic, to say the least. I've seen other scenes that are like it, but this must be extremely difficult?

Moore:
No, it wasn't, because of Paul [Thomas Anderson], because of Mark [Wahlberg], you know. I mean, anything that you do where there's such a degree of... Yeah, I mean, there's enormous sensitivity when we were doing that kind of stuff, but the stuff that we were doing in the scene was supposed to be a kind of acting of porn was actually very disconnected and more or less positional and not emotional, as it supposed to be. 

Nói ngắn gọn thì Moore cho rằng những cảnh diễn tình dục "thật" khiến các diễn viên phim khiêu dâm buộc phải gần gũi thực sự về mặt xác thịt và cảm xúc, và vì thế không thể thực sự "diễn" theo kịch bản được. Bởi vậy phim khiêu dâm cũng không thể thực sự trở thành tác phẩm điện ảnh.

mardi 7 juillet 2015

A Brighter Summer Day (1991)






Vốn định không review phim này (vì ít lời thì không xứng với phim, mà nhiều lời thì không đủ thời gian), nhưng cuối cùng lại thấy không đành, phải lôi máy ra gõ vài dòng về tuyệt phẩm này.

Theo tôi cái tên tiếng Anh của bộ phim này thực sự rất xuất sắc, một cái tên rất đẹp, nên thơ, đúng như 3/4 chiều dài bộ phim, đúng như những nhân vật đang ở cái độ tuổi đẹp nhất trong cuộc đời mỗi người - tuổi mới lớn, mà lại "đánh lạc hướng" được khán giả và giữ cho cảm xúc của người xem lần đầu như tôi được nguyên vẹn cho đến những phút cực kì bất ngờ ở cuối phim. Tên gốc tiếng Trung của phim - Cổ Lĩnh Nhai thiếu niên sát nhân sự kiện ( 牯嶺街少年殺人事件, Vụ án thiếu niên giết người ở Cổ Lĩnh Nhai) làm lộ khá nhiều nội dung của phim, và hơn nữa nó lại làm phim mang hơi hướng của một bộ phim "hình sự - phá án". Quả thực bộ phim có "giết người", có "thủ phạm", có "nạn nhân", nhưng tôi chắc chắn một điều rằng Dương Đức Xương khi làm phim này không hề có ý định tìm cách giải thích cái vụ án có thật này, bởi vì có xem xong phim người xem như tôi cũng chỉ có thể thấy đau lòng và bàng hoàng như chính những nhân vật trong phim khi phải chứng kiến những "đứa trẻ mới lớn" đẹp đẽ đến nhường ấy tự hủy hoại bản thân mình, hủy hoại cuộc đời của những người chúng hết mực yêu quý. 

Một điều làm tôi hết sức bất ngờ đó là A Brighter Summer Day có vô số điểm chung với một bộ phim làm tôi "mê mệt" khác - Once Upon a Time in America của Sergio Leone. Cả hai bộ phim đều rất, rất dài - Once Upon a Time in America có hai bản dài 3 tiếng 49 phút và 4 tiếng 11 phút, A Brighter Summer Day dài 3 tiếng 57 phút. Dài, nhưng mỗi giây, mỗi phút của cả hai bộ phim đều đẹp, đều đáng được khán giả trân trọng. Cả hai đều nói về vẻ đẹp của tình bạn, tình yêu thuở đầu đời, khi mà con người ta còn chưa bị những toan tính, lo nghĩ về cuộc sống xóa nhòa những lý tưởng tốt đẹp họ dành cho những người thân yêu, dành cho cuộc sống phía trước. Cả hai đều đề cập tới chất mã thượng nửa mùa của giới băng đảng, vốn nhanh chóng chìm nghỉm trước những phù phiếm (A Brighter Summer Day), tham lam (Once Upon a Time in America) của chính những thành viên băng đảng từng coi nhau như anh em, ruột thịt. Đặc biệt hơn nữa, cả hai bộ phim đều "bắt đầu" bằng cách "kết thúc" với cảnh mở đầu phim chính là một lát cắt từ cảnh cuối phim, một phần để nói lên cái vòng tuần hoàn bất tận của cuộc đời nơi số phận của mỗi cá nhân riêng biệt trở nên nhỏ bé trước những quy luật muôn đời của cuộc sống, của tình bạn, của tình yêu, một phần để cho người xem thấy được rằng vẫn cùng một khung hình, một bối cảnh như vậy, nhưng ý nghĩa của chúng sẽ hoàn toàn khác nhau, thậm chí là đối lập nhau khi ta hiểu được số phận của mỗi con người trong khung hình ấy. Và dù cùng mang mác "phim hình sự", nhưng cả hai bộ phim đều đậm chất sử thi theo đúng cái nghĩa là những tác phẩm điện ảnh mang lại cho người xem cái không khí riêng, cái bối cảnh riêng của một giai đoạn lịch sử, một vùng đất (New York trong Once Upon a Time in America và Đài Loan, cụ thể hơn là Đài Bắc trong A Brighter Summer Day), một xã hội tao loạn với sự xung đột của những người "cũ" và những người "mới", của thế hệ "cũ" và thế hệ "mới" ("dân mới nhập cư" đối đầu "dân bản địa" New York trong Once Upon a Time in America, và dân "Quốc Dân Đảng" chạy loạn sang Đài Loan đối đầu dân bản địa Đài Loan trong A Brighter Summer Day), đủ để người xem nhận ra rằng khuôn mặt của những thành phố, vùng đất ấy đã thay đổi lớn lao tới nhường nào. Điều khác biệt duy nhất giữa hai bộ phim có lẽ là độ dài thời gian của truyện phim - Sergio Leone kể một câu chuyện kéo dài tới vài thập kỉ trong khi Dương Đức Xương chỉ tập trung vào một lát cắt rất mỏng của Đài Loan những năm 1960.

Một cách ngắn gọn thì A Brighter Summer Day là câu chuyện về những biến động tuổi mới lớn của Tiểu Tứ (Trương Chấn trong vai diễn đầu tiên trong sự nghiệp ở tuổi 15 (!) đã lập tức chứng tỏ anh sẽ là một ngôi sao lớn của điện ảnh tiếng Trung, cả về tài năng diễn xuất và vẻ đẹp hết sức điện ảnh, đặc biệt là đôi mắt sáng và thông minh, của anh), cậu học trò được nuôi nấng trong một gia đình hết sức gia giáo với một ông bố luôn sống bằng lý tưởng bất kể bối cảnh xã hội tao loạn của Đài Loan thời thập niên 1960. Xung quanh Tiểu Tứ là gia đình, là những người "anh em" thân thiết trong lớp, là người bạn gái Tiểu Minh (thật đáng tiếc vai diễn hết sức xuất sắc này lại cũng là vai diễn duy nhất (!) của Dương Tĩnh Di), là "kẻ thù" của băng đảng đối nghịch, là những "ông già" giám thị hay chủ tiệm tạp hóa khó tính, là một tay "anh chị" mã thượng nhưng hết thời phải chịu cảnh sống chui lủi. Với thời lượng xấp xỉ 4 tiếng của bộ phim, TẤT CẢ các nhân vật này đều được đạo diễn Dương Đức Xương chăm chút với đất diễn vừa đủ, với câu chuyện vừa đủ, với những nét đặc tả vừa đủ để hình ảnh, số phận của họ "in dấu" trong tâm trí khán giả. Không chỉ có vậy, tài năng của đạo diễn họ Dương thể hiện ở chỗ những nhân vật của ông làm khán giả "nhớ", khán giả "yêu quý" không phải vì số phận bi thương "mua nước mắt" của họ (tất nhiên một vài trong số đó có kết cục hết sức bi thương, nhưng vì "số phận điện ảnh" của những nhân vật này đặt họ vào vị trí đó chứ không phải họ được đặt vào đó để "bắt" khán giả phải nhớ tới), đó là một Trương Hàn ham chơi bi-a tới mức mang chiếc đồng hồ quý của nhà đi cầm đồ nhưng vẫn hết mực bảo vệ người em Tiểu Tứ lúc Tiểu Tứ cần đến anh trai, đó là một Tiểu Mã nhà giàu nhưng trọng nghĩa, luôn đặt tình anh em cao hơn hết thảy "lũ con gái", và tất nhiên chẳng ai có thể quên giọng hát của Tiểu Miêu Vương hay hành động phá ghế lấy chân ghế đi "xử lý" đối phương cứu Tiểu Tứ của cậu bé này. Ở đây Dương Đức Xương làm tôi nhớ tới đạo diễn yêu thích của tôi - Yasujiro Ozu, người vốn cũng rất giỏi gợi lên số phận, bi kịch của cuộc đời từ những hình ảnh tưởng chừng hết sức thanh thản của những nhân vật hết mực bình dị của ông. Có lẽ chịu ảnh hưởng từ Ozu, Dương Đức Xương cũng sử dụng rất nhiều cảnh quay với khung hình tĩnh, sử dụng tối đa ánh sáng tự nhiên, những khung hình ấy có thể "bắt" được toàn bộ hình ảnh nhân vật trong khung hình, nhưng cũng đôi khi chỉ bắt được cái bóng của họ, những chi tiết quan trọng của truyện phim vì thế đôi khi cũng không nằm trong "tầm mắt" của khán giả mà họ chỉ có thể "nghe" từ một mẩu đối thoại vọng lại từ đâu đó hoặc từ "đoán" từ một chi tiết nào đó còn sót lại trong khung hình (phong cách đậm "chất Ozu" này được Dương Đức Xương thể hiện rất rõ trong tuyệt phẩm cuối đời của ông Yi Yi). Tôi cũng cảm thấy rất dễ chịu trước cách sử dụng những hình ảnh mang tính biểu tượng xuyên suốt bộ phim của Dương Đức Xương, rất tự nhiên, dễ nhận, dễ cảm, không làm người xem có cảm giác bị "giáo huấn", bị "ép phải hiểu". Một ví dụ điển hình là chiếc đèn pin của Tiểu Tứ, nó luôn ở bên cậu bé suốt gần hết bộ phim, là công cụ soi đường, đọc sách của cậu, nhưng cũng là thứ giúp Tiểu Tứ nhận ra sự thật bạo liệt, chết chóc xung quanh cậu. Bởi thế mà khi Tiểu Tứ từ bỏ chiếc đèn pin, người xem hẳn sẽ phải nín thở chờ đợi một sự thay đổi nội tại lớn lao nào đó của Tiểu Tứ, một sự thay đổi về hướng nơi đó không còn ánh sáng soi đường của chiếc đèn pin ấy.

Cái kết của A Brighter Summer Day làm tôi thực sự kinh ngạc, thậm chí là cảm thấy sốc vì sự bất ngờ và bạo liệt của nó (thật may là trước khi xem phim tôi không hề đọc thông tin liên quan tới bộ phim trên Wikipedia, cũng như không biết tên gốc của bộ phim, bởi thế cảm xúc xem là hoàn toàn nguyên vẹn). Tôi cảm thấy buồn, bởi số phận những nhân vật mình hết sức yêu quý lại rẽ sang một khúc quanh đau đớn đến như vậy, bởi "lịch sử lại lặp lại" khi mà những người làm ta đau đớn nhất lại luôn là những người ta yêu quý nhất. Nhưng tuổi mới lớn là như vậy, có ai có thể hiểu được họ, những người trẻ ấy, khi mà chính chúng ta chắc chắn cũng chưa bao giờ hiểu được chính chúng ta ở vào cái tuổi ấy. Có chăng chỉ là một sự trân trọng cho cái cách Dương Đức Xương đã vẽ lại chân dung của những người trẻ ấy, hết sức đẹp đẽ, hết sức hồn nhiên, nhưng cũng không thiếu cái chất điên khùng của tuổi trẻ. Bởi thế, có thể A Brighter Summer Day không hẳn là một "ngày đẹp trời" nhưng chắc chắn sẽ luôn mà một ngày đáng nhớ đối với người yêu điện ảnh, bởi nó chính là hình ảnh phản chiếu của tuổi trẻ mỗi người.

jeudi 14 mai 2015

Mad Max: Fury Road (2015)




(vì review viết vội nên tôi dùng tiếng Anh, rất xin lỗi nếu làm bạn nào thấy khó chịu)

One of the best action films I have seen in years! I have to give this film four and a half stars despite its full five-star quality due to its simplistic script (one may call it minimalist, but I think that such simplicity is definitely intentional for the sake of the action set-pieces). Simply put, "Fury Road" is a cat-and-mouse race full of awesome heroes and villains, spectacularly choreographed action sequences, but without any character development, in which the roles and characteristics of all the "racers" are set at the very beginning with only slim back-story and some slight "twists" along the race (the premise of this film is really similar to "Children of Men"'s, with an even stronger metaphoric emphasis on the matriarchy and the essential role of woman in human history but less complexed situations or twist-and-turn). But does that matter? No, absolutely not. Firstly, the film succeeded in NOT betraying its incredible trailer, a feat that not many films were able to accomplish in recent years. "Fury Road"'s trailer reminds me of Zack Snyder's "Sucker Punch" - intense, stylistic, vengeful, and with a unique style of post-apocalyptic fantasy. But whereas "Sucker Punch" did suck in delivering such premise (pun intended), "Fury Road" in full is even more furious than its trailer and admirably appears with its own thirsty ambiance, ruddy environment, post-apocalyptic background without any lengthy voice-over explanations. One can tell that the director was able to achieve such amazement since he had done three such films before (I cannot tell, because I have not watched any of them, or could not remember watching them before - I was only amazed finding out that this is the same director of ... "Happy Feet" and this is the film pure action film that he directed after thirty bloody years!), but nevertheless such unique look and style are really really a treat to the audience's eyes with amazing details after amazing details, from the crazily-primped cars to the metaphoric appearance of the characters (this film definitely deserves to be watched on big screen, IMAX preferably, for thorough appreciation). The simple story-line and heroic awesomeness of the protagonists (which means not much place for contemplation or inner struggle - this film does not need them anyway) are delivered through spectacular high-octane action sequences (I feel sorry not being able to find a better word to describe their beauty), arranged with excellent tempo throughout the film, seamlessly stitched together through short but much-needed silence and peaceful moments. Even better than the choreograph and practical effects of the action sequences themselves is the superb score that successfully puts classical and metal soundtracks into an intense, excellently-timed, and, amazingly enough, touching when needed. Due to its thin plot, it will be a little bit difficult for the audience to "retell" "the film's story" to others, but every single one of those who have watched the film will definitely be able to tell how awesome and dominant Charlize Theron's Imperator Furiosa was throughout the film (euphorically and figuratively, since this is the first film I have seen that is able to "utilize" Theron's well-known super model build), even in comparison with the subtler Tom Hardy's Mad Max. As impressive as her own name, Imperator Furiosa might be one of the best action heroines of Hollywood this decade, alongside with Emily Blunt's Rita Vrataski from "Edge of Tomorrow". Not satisfied with that giant and effective pair of protagonists, the director still gave enough space for the minor characters to shine, and shine indeed they did, from the crazy but gradually likeable Nicholas Hoult's Nux, to the "Victoria Secret" Queens, who, despite their limited "true" on-screen time and restraint roles of "being beautiful", still have their own shining moments, especially Riley Keough's Queen Capable (capable indeed she was). In comparison, the antagonists were less built and appeared more generic and even a little bit disappointing (especially the boss-like ones), but they are nonetheless memorable for their fantastic outfits and some strange but iconic sequences. If not for the expensive price of the IMAX ticket, I really want to go back to the cinema to immerse myself in "Fury Road"'s awe-inspiring soundtrack and watch the breathtakingly iconic scenes that are normally reserved for epic historical/war films. Yes, in a way, this is a true epic action film, if I may say, and not those pretentious Marvel films, of which no "super-heroines" (well, they have only one so far) can be compared with the one-and-only true heroine Imperator Furiosa (I doubt that Warner Bros. can retain this effective style for their up-coming DC "movie-verse", given a was-and-always-will-be pretentious Zack Snyder). I can write longer and longer about this beloved film, but really, this is a cinema experience and high-quality entertainment that the audience deserves. Love this film, yes, I love this film.

mercredi 18 février 2015

2015 Academy Awards



Lại một mùa giải Oscar mới, năm nay tôi có may mắn được xem gần như toàn bộ đề cử, nhưng cuối cùng lại thành "không may" vì chẳng kiếm nổi phim Hollywood nào để lại ấn tượng sâu sắc hoặc khiến mình phải phấn khích khi xem xong (tới mức mà trong số 8 ứng viên của hạng phục Phim hay nhất, tôi không kiếm nổi lấy một phim để bỏ phiếu - nếu có cái quyền đó). Sau đây là dự đoán của tôi về các bộ phim sẽ chiến thắng trong lễ trao giải sắp tới, như thường lệ, đỏ là ứng viên tôi dự đoán sẽ chiến thắng, còn xanh là ứng viên tôi hy vọng sẽ chiến thắng (nếu ứng viên đó khác với ứng viên tôi dự đoán sẽ đoạt giải).

Best Picture
American Sniper 
Birdman 
Boyhood 
The Grand Budapest Hotel 
The Imitation Game 
Selma 
The Theory of Everything 
Whiplash 
Tôi tương đối thích Boyhood vì cách xử lý nhẹ nhàng hết sức "Richard Linklater", nhưng lại cũng không thích bộ phim vì sự nửa vời cũng rất "Richard Linklater", vì vậy tôi dành phiếu bầu của mình cho Birdman, dù bộ phim mang tính biểu tượng cao này tương đối lộn xộn và vì thế thiếu đi phần cảm xúc (trừ cảnh phim cuối cùng). So với những Selma hay American Sniper thì Gone Girl của David Fincher và Inherent Vice của PTA xứng đáng có mặt trong danh sách đề cử này hơn nhiều. 


Best Director
Wes Anderson – The Grand Budapest Hotel
Alejandro González Iñárritu – Birdman or (The Unexpected Virtue of Ignorance)
Richard Linklater – Boyhood
Bennett Miller – Foxcatcher
Morten Tyldum – The Imitation Game
Thật vui khi thấy Wes Anderson được thừa nhận rộng rãi đến như vậy, nhưng tôi nghĩ Linklater vẫn sẽ là người chiến thắng.


Best Film Editing
American Sniper – Joel Cox and Gary D. Roach
Boyhood – Sandra Adair
The Grand Budapest Hotel – Barney Pilling
The Imitation Game – William Goldenberg
Whiplash – Tom Cross
Không hiểu sao Birdman xuất sắc như vậy lại không được đề cử cho hạng mục này. 


Best Actor
Steve Carell – Foxcatcher as John Eleuthère du Pont
Bradley Cooper – American Sniper as Chris Kyle
Benedict Cumberbatch – The Imitation Game as Alan Turing
Michael Keaton – Birdman as Riggan Thomson / Birdman
Eddie Redmayne – The Theory of Everything as Stephen Hawking
Eddie Redmayne hiện đang có "đà" sau khi giành giải BAFTA, nhưng tôi đánh giá nhân vật của anh (Stephen Hawking) được xây dựng khá thường, nếu so với nhân vật của Felicity Jones, vì vậy Redmayne cũng "dễ diễn" hơn (đóng người bị ALS cho giống không phải vấn đề lớn, mà mô tả tình cảm của họ thể hiện qua cử chỉ mới là điều khó khăn, rất tiếc là kịch bản phim "làm không ra" khía cạnh này và vì thế Redmayne cũng ít cơ hội toả sáng hơn).



Best Actress
Marion Cotillard – Two Days, One Night as Sandra Bya
Felicity Jones – The Theory of Everything as Jane Wilde Hawking
Julianne Moore – Still Alice as Dr. Alice Howland
Rosamund Pike – Gone Girl as Amy Elliott-Dunne
Reese Witherspoon – Wild as Cheryl Strayed
Gần như 99,9% Moore sẽ giành giải Oscar đầu tiên cho một vai diễn kém hơn nhiều những vai cô từng đóng trong Boogie Nights, Magnolia, hay Far from Heavens. Đây là điều khá đáng tiếc bởi danh sách đề cử này có nhiều vai diễn khiến tôi thích thú hơn nhiều lần như vai của Felicity Jones hay Rosamund Pike (vai của Moore không tồi, nhưng một lần nữa kịch bản tồi đã không tạo đủ đất diễn cho cô thể hiện hết mình), nhưng nếu có thể bầu thì tôi sẽ bầu cho Cotillard, vai diễn "trầm" nhất trong số các đề cử năm nay nhưng lại thể hiện sức mạnh diễn xuất phi thường của Cotillard.   


Best Supporting Actor
Robert Duvall – The Judge as Judge Joseph Palmer
Ethan Hawke – Boyhood as Mason Evans, Sr.
Edward Norton – Birdman as Mike Shiner
Mark Ruffalo – Foxcatcher as Dave Schultz
J. K. Simmons – Whiplash as Terence Fletcher
Tương tự Moore, Simmons gần như đã "chắc giải", tôi cũng rất thích vai diễn của ông, nhưng sẽ là điều tuyệt vời nếu Ed Norton-một trong những diễn viên tôi yêu thích nhất, được "trả lại" một giải Oscar mà anh đã bị "lấy mất" trong lần được đề cử với American History X.



Best Supporting Actress
Patricia Arquette – Boyhood as Olivia Evans
Laura Dern – Wild as Barbara "Bobbi" Grey
Keira Knightley – The Imitation Game as Joan Clarke
Emma Stone – Birdman or (The Unexpected Virtue of Ignorance) as Sam Thomson
Meryl Streep – Into the Woods as The Witch
Arquette là điểm sáng nhất của Boyhood (vì thế nhiều người đã nhận xét rằng bộ phim hoàn toàn có thể đổi tên thành Motherhood). 


Best Original Screenplay
Birdman – Alejandro González Iñárritu, Nicolás Giacobone, Alexander Dinelaris, Jr. and Armando Bo
Boyhood – Richard Linklater
Foxcatcher – E. Max Frye and Dan Futterman
The Grand Budapest Hotel – Wes Anderson and Hugo Guinness
Nightcrawler – Dan Gilroy


Best Adapted Screenplay
American Sniper – Jason Hall from American Sniper by Chris Kyle, Scott McEwen and Jim DeFelice
The Imitation Game – Graham Moore from Alan Turing: The Enigma by Andrew Hodges
Inherent Vice – Paul Thomas Anderson from Inherent Vice by Thomas Pynchon
The Theory of Everything – Anthony McCarten from Travelling to Infinity: My Life with Stephen by Jane Wilde Hawking
Whiplash – Damien Chazelle from his short film of the same name
Inherent Vice có lẽ là bộ phim kém tiếng nhất của PTA kể từ nhiều năm trở lại đây, nhưng với tôi, đây vẫn là bộ phim xuất sắc vào loại nhất của năm nay.


Best Animated Feature Film
Big Hero 6 – Don Hall, Chris Williams and Roy Conli
The Boxtrolls – Anthony Stacchi, Graham Annable and Travis Knight
How to Train Your Dragon 2 – Dean DeBlois and Bonnie Arnold
Song of the Sea – Tomm Moore and Paul Young
The Tale of the Princess Kaguya – Isao Takahata and Yoshiaki Nishimura
How to Train Your Dragon 2 là một bước lùi khủng khiếp của Dreamwork nếu so với phần 1, Big Hero 6 là một phim hoạt hình "mỳ ăn liền" kiểu Marvel hết sức bình thường. Tôi rất rất hy vọng Isao Takahata sẽ có giải Oscar đầu tiên trong năm Miyazaki có được giải Oscar thành tựu sự nghiệp, nhưng có lẽ hy vọng đó quá nhỏ nhoi. 

Best Foreign Language Film
Ida (Poland) in Polish  – Paweł Pawlikowski
Leviathan (Russia) in Russian – Andrey Zvyagintsev
Tangerines (Estonia) in Estonian and Russian – Zaza Urushadze
Timbuktu (Mauritania) in French  – Abderrahmane Sissako
Wild Tales (Argentina) in Spanish  – Damián Szifrón


Best Documentary – Feature
Citizenfour – Laura Poitras, Mathilde Bonnefoy and Dirk Wilutsky
Finding Vivian Maier – John Maloof and Charlie Siskel
Last Days in Vietnam – Rory Kennedy and Keven McAlester
The Salt of the Earth – Wim Wenders, Lélia Wanick Salgado and David Rosier
Virunga – Orlando von Einsiedel and Joanna Natasegara


Best Original Score
The Grand Budapest Hotel – Alexandre Desplat
The Imitation Game – Alexandre Desplat
Interstellar – Hans Zimmer
Mr. Turner – Gary Yershon
The Theory of Everything – Jóhann Jóhannsson


Best Original Song
"Everything Is Awesome" from The Lego Movie – Music and Lyric by Shawn Patterson
"Glory" from Selma – Music and Lyric by John Legend and Common
"Grateful" from Beyond the Lights – Music and Lyric by Diane Warren
"I'm Not Gonna Miss You" from Glen Campbell: I'll Be Me – Music and Lyric by Glen Campbell and Julian Raymond
"Lost Stars" from Begin Again – Music and Lyric by Gregg Alexander and Danielle Brisebois


Best Production Design
The Grand Budapest Hotel – Adam Stockhausen (Production Design); Anna Pinnock (Set Decoration)
The Imitation Game – Maria Djurkovic (Production Design); Tatiana Macdonald (Set Decoration)
Interstellar – Nathan Crowley (Production Design); Gary Fettis (Set Decoration)
Into the Woods – Dennis Gassner (Production Design); Anna Pinnock (Set Decoration)
Mr. Turner – Suzie Davies (Production Design); Charlotte Watts (Set Decoration)


Best Cinematography
Birdman or (The Unexpected Virtue of Ignorance) – Emmanuel Lubezki
The Grand Budapest Hotel – Robert Yeoman
Ida – Łukasz Żal and Ryszard Lenczewski
Mr. Turner – Dick Pope
Unbroken – Roger Deakins











mardi 3 février 2015

Leviathan (2014)


Ngươi có thể câu sấu với lưỡi câu, Và dùng dây mà xỏ lưỡi nó chăng?
Nó há sẽ cầu ơn nhiều cùng ngươi, Và nói với ngươi những lời êm ái sao?
Tại thế thượng, chẳng có vật chi giống như nó; Nó được dựng nên để không sợ gì hết.
Nó nhìn xem các vật cao lớn; Nó làm vua của các loài thú kiêu ngạo.
Kinh Cựu Ước, Sách Gióp, Chương 41

Đây là những câu thánh kinh về loài thủy quái “Leviathan” được vị linh mục già đọc cho Kolya (Aleksei Serebryakov), nhân vật chính của bộ phim, khi Kolya đang ở vào những thời khắc đau khổ đến cùng cực nhất. Leviathan là tên của bộ phim – tác phẩm được làm một phần dựa trên chính câu truyện của Sách Gióp, và cũng là biểu tượng cho những đau khổ, bất công dài mãi không dứt của những mảnh đời Nga ở phương Bắc trống trải và lạnh lẽo.

Những sự kiện trong Leviathan xoay quanh cuộc đời Kolya trong cái giai đoạn gian khó của cuộc đời. Một mặt ông vừa phải gắng gượng giữ lại căn nhà tuyệt đẹp với khung cửa kính nhìn thẳng ra biển Barents lạnh giá cùng mảnh đất hương hỏa của cha ông khỏi lòng tham của gã thị trưởng Vadim (Roman Madyanov), người đã dùng cả cái “chính quyền” nằm trong tay, gồm đủ từ cảnh sát tới viện công tố và tòa án, để giật lấy mảnh đất ở vị trí đắc địa ấy với cái giá rẻ mạt. Mặt khác Kolya còn phải đương đầu với những khó khăn trong gia đình, khi cậu con trai Roma (Sergey Pokhodaev) tỏ rõ sự hằn học đối với người vợ hai Lilya (Elena Lyadova), còn chính Lilya dường như cũng dần trở nên chán nản với cuộc sống buồn bã phương Bắc, nhất là với sự xuất hiện của anh chàng luật sư sôi nổi Dmitri (Vladimir Vdovichenkov), đồng đội cũ của Kolya, người lặn lội từ Moskva tới đây để giúp “ông anh” quân ngũ lấy lại số tiền bồi thưởng xứng đáng với mảnh đất Kolya phải từ bỏ. Cuộc đấu giữa Kolya và Vadim là cuộc đấu không cân sức, bởi Vadim có đủ loại thế lực đen tối và mưu mô, thậm chí là cả nhà thờ Chính thống giáo, đứng sau gã, còn Kolya chẳng có ai ngoài vài người bạn chất phác đến ngây thơ, ngây thơ như chính Kolya, người đã giành phần lớn cuộc đời để làm bạn với chai rượu vodka. Có lẽ ở cái xứ âm u ấy, vodka là người bạn tin cậy duy nhất của Kolya, và những người Nga khốn khổ như anh, để chống lại nỗi buồn thường trực và những bất hạnh dồn dập đến với họ.

Nội dung u ám là vậy, Leviathan còn trở nên ám ảnh hơn nhờ cách kể chuyện giản dị nhưng đầy tính biểu tượng của đạo diễn Andrey Zvyagintsev cùng những nhân vật có vẻ ngoài thô ráp, hồn hậu, thậm chí là cam chịu, nhưng lại ẩn chứa những tâm hồn những suy tư, tình cảm hết sức mãnh liệt. Một trong những “nhân vật” để lại ấn tượng sâu sắc nhất của bộ phim chính là bối cảnh phim, một thành phố từng một thời phồn thịnh nhưng nay đã trở nên xơ xác và tàn lụi giữa thiên nhiên bao la, đẹp đẽ nhưng thưa thớt và u ám nơi nơi cực Bắc nước Nga. Cái bối cảnh ngột ngạt ấy dường như khiến các nhân vật của Leviathan càng trở nên mụ mị và lạc lối giữa những đau khổ triền miên khi mà đến Đức Chúa Trời cũng chẳng thể chỉ cho họ một lối ra một khi niềm tin vào Chúa, vào cuộc đời đã chẳng còn. Bức áp phích rất ấn tượng của Leviathan dự tranh Giải Cành cọ vàng của Liên hoan phim Cannes là hình ảnh một cậu bé gục đầu bên bộ xương cá voi trắng giữa bãi lầy mênh mông ven biển. Có lẽ những nhân vật của Leviathan cũng chính là những con cá voi khốn khổ ấy, những con cá voi bị mắc cạn nơi bãi lầy để rồi chết dần chết mòn trong tuyệt vọng mà không còn thấy lại biển lớn-cuộc đời thực sự nơi họ có thể sống, có thể vùng vẫy.

Việc Leviathan được Chính phủ Nga tài trợ kinh phí thực hiện và lựa chọn dự tranh Giải Oscar cho phim nói tiếng nước ngoài là một điều ngạc nhiên đối với nhiều nhà phê bình phương Tây. Bởi theo họ Leviathan chính là một thông điệp chỉ trích chua cay nhằm vào chính quyền của tổng thống Nga Putin và Giáo hội Chính thống giáo Nga. Cách nhìn đó cũng có thể là hợp lý khi người xem được chứng kiến cảnh gã thị trưởng Vadim ngồi chễm chệ giữa văn phòng, phía trên là bức chân dung của chính tổng tống Putin, chỉ đạo cả cảnh sát, công tố, và tòa án tìm mọi cách triệt hạ “kẻ bất trị” Kolya và Dmitri. Những khốn khổ trong đời Kolya, và những mảnh đời, những khung cảnh đổ nát xung quanh ông, bởi thế cũng chính là hậu quả của cái chính quyền hắc ám tìm mọi cách bóp nghẹt cuộc sống của họ, đúng như cái cách truyền thông phương Tây mô tả về xã hội Nga hiện nay dưới thời tổng thống Putin. Nhưng nếu như xóa đi bức ảnh của Putin, và thay những cái tên Nga, những giọng nói Nga bằng những cái tên, giọng nói của một xứ sở khác, thì có lẽ người xem vẫn cảm nhận được ở Leviathan cái dư vị cay đắng của những số phận bi kịch giữa thiên nhiên và lòng người lạnh lẽo. Cá nhân đơn độc chống lại cả bộ máy công quyền đồ sộ để giữ lại những gì thuộc về mình - đó có thể là bi kịch của Kolya, anh chàng người Nga với cái đầu nóng và trái tim dành hết cho vợ con, nhưng đó cũng có thể là bi kịch của Marvin Heemeyer, người thợ máy Mỹ cô độc đã dùng xe ủi phá nát cả trụ sở cảnh sát và chính quyền - những người ông ta cho là đã gây ra bất công cho mình trước khi tự kết liễu bản thân ở một thành phố nhỏ miền Tây Nam Hoa Kỳ. Theo lời đạo diễn Zvyagintsev, một cách nào đó Leviathan chính là bi kịch của Heemeyer được đặt trong bối cảnh nước Nga với những vấn đề xã hội rất riêng, để cho thấy rằng dù ở bất cứ nơi đâu, bất cứ thời đại nào thì cuộc sống bình thường cũng tràn ngập những số phận khổ đau cần được trân trọng.

Tại liên hoan phim Cannes 2014, Leviathan đã thất bại trước Winter Sleep của Thổ Nhĩ Kỳ trong cuộc đua giành Giải Cành cọ vàng. Đây là hai bộ phim hết sức khác nhau về bối cảnh và cách kể chuyện, một là câu chuyện trầm lắng và buồn bã trên xứ cao nguyên đồi núi Thổ Nhĩ Kỳ, một là bi kịch bạo liệt ở thành phố biển cực Bắc nước Nga. Tuy vậy, cả hai đều đã rất thành công trong việc khắc họa câu chuyện mang tính phổ quát về số phận của những con người nhỏ bé, bình thường trong xã hội với nỗi đau chung về sự cô đơn, về những mất mát tình cảm, niềm tin, và cả về những bất công thường nhật trong xã hội. Những bộ phim như thế có thể thiếu tính giải trí, có thể không đem lại cảm giác thoải mái sau khi xem, nhưng chắc chắn chúng sẽ làm khán giả thấy nhức nhối và thấu hiểu, bởi lẽ những số phận, những mảnh đời được khắc họa trên phia kia thực sự là những số phận, những mảnh đời chúng ta có thể bắt gặp ngoài đời. Xem để thấy đau đớn, xem để thấy cảm thông, xem để thấy cần phải có niềm tin hơn vào cuộc sống, dành nhiều tình cảm hơn cho những người thân yêu, có lẽ ngoài Leviathan, ít bộ phim nào có thể làm được.

mercredi 14 janvier 2015

The Wind That Shakes the Barley (2007)


Năm 2014 là một năm mà các bộ phim nổi bật hầu hết đều có tựa đề một chữ (Whiplash, Foxcatcher, Birdman, Selma, Nighcrawler,....) hoặc ngắn gọn khô khan (The Imitation Game, The Theory of Everything). Đâm tự dưng tôi lại thấy "thèm" những bộ phim có cái tựa dài, nhiều ẩn ý và mang nhiều chất thơ (nói cách khác là sến sẩm), có lẽ ảnh hưởng từ cái thời xem những Khi đàn sếu bay qua hay Bao giờ cho đến tháng Mười. The Wind That Shakes the Barley có lẽ là một trong những cái tựa hay nhất mà tôi được xem thời gian gần đây. Bộ phim đoạt giải Cành cọ vàng của Ken Loach này có cái tựa nên thơ cũng dễ hiểu vì đây chính là tựa đề bài hát dân gian cùng tên - Ngọn gió lay động bông lúa mạch. Bài thơ nói về cuộc chiến đấu của người Ireland giành lại độc lập cho hòn đảo này khỏi Vương quốc Anh. Hành quân trên những mảnh đất cằn cỗi của Ireland, thứ duy nhất những người lính nổi dậy mang theo ăn đường là lúa mạch. Bởi thế mà khi họ hy sinh, điều gần như chắc chắn xảy ra với tất cả những ai tham gia nổi loạn vì Vương quốc Anh có quân đội đông, hiện đại và tinh nhuệ hơn gấp nhiều lần, những bông lúa mạch ấy lại theo họ xuống đất, trong những nấm mồ tập thể, để rồi đến mùa lại nở thành những cây lúa mạch dại. Những bông lúa mạch mọc trên những nấm mồ ấy vừa đánh dấu nơi những người lính nổi dậy ngã xuống, vừa là biểu tượng cho tinh thần độc lập không bao giờ chết đi của người dân Ireland. Đó cũng chính là tinh thần của bài hát, và của bộ phim của Ken Loach. Nhưng bộ phim không chỉ dừng ở cái khí chất hào sảng của những bông lúa mạch ấy mà còn đi xa hơn rất nhiều và chạm tới những mâu thuẫn muôn đời của chiến tranh và của mảnh đất Ireland, những mâu thuẫn đã khiến cho không biết bao nhiêu người ngã xuống nhưng chưa bao giờ giúp mảnh đất này thực sự độc lập.

mercredi 31 décembre 2014

The Kingdom of Dreams and Madness (2013)






"The Kingdom of Dreams and Madness" là phim tài liệu của một nữ đạo diễn - Mami Sunada về Hayao Miyazaki và hãng Ghibli lấy bối cảnh là quá trình Miyazaki làm bộ phim hoạt hình cuối cùng của ông - "The Wind Rises". Phim được quay trong thời gian rất dài nhưng được biên tập rất tốt, hạn chế tối đa thuyết minh (voice-over) mà chủ yếu kể chuyện thông qua chính lời của Miyazaki và hình ảnh ông cần mẫn vẽ từng khung hình cho bộ phim mới. Điểm hay của phim là tuy nói về Miyazaki và về Ghibli nhưng phim gần như không dùng một trích đoạn hoạt hình nào, trừ một phân đoạn ngắn (và được làm tuyệt vời!) ở cuối phim để minh họa cho câu chuyện của Miyazaki, dù thế nhưng người xem vẫn cảm nhận được vì đâu mà phim của Miyazaki có được cái nét riêng biệt, vì sao phim của ông có được những hình ảnh tưởng tượng bay bổng nhưng luôn kèm theo những câu chuyện hết sức gần gũi, thực tế và nhân văn như vậy. Xem xong phim tôi thấy có một số điểm đáng chú ý là:
- Miyazaki thực sự là người ham công tiếc việc, ông tự tay vẽ toàn bộ storyboard cho phim và vẽ luôn cả những cảnh chính của phim. Có lẽ vì thế mà ông muốn dừng lại hẳn sau "The Wind Rises" vì mỗi một bộ phim là một lần ông hao tổn sức lực, và niềm hứng thú làm phim - mặc dù ông là người sống giản dị, cực kì chăm chút cho sức khỏe bản thân. 
- Miyazaki không "đáng yêu" như các nhân vật hoạt hình của ông. Ông nghiêm khắc với bản thân và với những người xung quanh, họa sĩ làm việc cho Ghibli thường rơi vào trạng thái kính trọng tài năng của Miyazaki nhưng cũng "sợ" ông vì Miyazaki có đòi hỏi rất cao, và người càng giỏi thì ông lại càng có yêu cầu cao. Kể cả những nhân viên cũ của ông nay đã thành danh như Hideaki Anno (đạo diễn "Neon Genesis Evangelion" và là người lồng tiếng cho vai nam chính của "The Wind Rises") khi gặp lại "sếp" cũ cũng vẫn sợ Miyazaki như sợ cọp.
- Dù là bậc đàn anh của Miyazaki và là đồng sáng lập hãng Ghibli nhưng Takahata luôn khiến Miyazaki và Toshio Suzuki (nhà sản xuất chính của Ghibli) phải vò đầu bứt tai vì phong cách làm phim chậm rãi của ông. Chẳng ai có thể biết bao giờ Takahata sẽ hoàn thành phim của mình, và thậm chí là ông có muốn hoàn thành nó không nữa. Bộ phim cuối cùng của Takahata - "The Tale of the Princess Kaguya" được ông làm ròng rã suốt 7 năm trời từ 2006 đến tận 2013 mới công chiếu, trong thời gian đó Yoshiaki Nishimura, nhà sản xuất chính của phim, đã kịp lấy vợ và có hai đứa con, đứa đầu đã kịp đi học tiểu học. Sự khác biệt giữa Takahata và Miyazaki lớn tới mức hai người có thể được coi là hai nửa đối nghịch sáng-tối, hiện đại-truyền thống, nhanh-chậm của Ghibli, quan hệ giữa hai người vì thế cũng mang cả hai màu yêu-ghét (love-hate) - ngày nào Miyazaki cũng phải nhắc đến Paku-san (cách cả hãng Ghibli kính trọng gọi Takahata), nhưng cứ hôm trước khen hết lời Takahata thì hôm sau thể nào Miyazaki cũng lại phải kêu ca về sự "lề mề" của người đạo diễn thân thiết.