some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

lundi 7 décembre 2015

Mr. Holmes (2015)




Trong lịch sử điện ảnh và truyền hình có lẽ hiếm cái tên nào để lại dấu ấn đậm nét như nhân vật Thám tử Sherlock Holmes của nhà văn Conan Doyle – nhân vật được sách kỷ lục Guinness mệnh danh là “nhân vật được khắc họa nhiều nhất trên màn ảnh lớn”. Từ John Barrymore trong những năm 1920 cho tới Vasily Livanov trong thập niên 1970, hay gần đây là Robert Downey, Jr. và Benedict Cumberbatch, rất nhiều diễn viên đã tạo dựng tên tuổi bằng việc tái hiện lại hình ảnh Sherlock Holmes theo nhiều cách khác nhau. Đó là một Holmes hoàn toàn trung thành với nguyên tác - sắc sảo, lạnh lùng “phớt Ăng-lê” do Livanov thủ diễn, tới một Holmes tinh quái, của Robert Downey, Jr., hay một Holmes được “hiện đại hóa” trong bối cảnh London thế kỷ 21 qua thể hiện của Cumberbatch. Tuy nhiên, cũng như bộ truyện gốc của Conan Doyle, hầu như tất cả các tác phẩm điện ảnh về Sherlock Holmes đều tập trung vào tài quan sát và khả năng lập luận siêu phàm của người thám tử lừng danh, những phẩm chất đã giúp ông tìm ra lời giải cho mọi vụ án dù là hóc búa nhất. Bản thân Holmes là con người thế nào? Có bao giờ ông cảm thấy cô độc trong những năm dài vinh quang nhưng bên cạnh không nhiều người thân thiết? Và trong những năm cuối đời ở vùng đồng quê Sussex, Holmes sống ra sao khi cả những người đồng hành ít ỏi ấy như Bác sĩ Watson, như bà chủ nhà phúc hậu Hudson cũng không còn bên ông? Đó là những câu hỏi mà các bộ phim về Sherlock Holmes ít khi chạm tới, và đó cũng chính là những câu hỏi mà bộ phim “Mr. Holmes” của đạo diễn Bill Condon, chuyển thể từ tiểu thuyết A Slight Trick of the Mind của Mitch Cullin, muốn đưa ra câu trả lời cho khán giả.

Khác hoàn toàn với hình ảnh Sherlock Holmes mạnh mẽ, nhiệt huyết phá án vốn đã rất quen thuộc trên điện ảnh và truyền hình, Mr. Holmes đem tới một hình ảnh Holmes khác hẳn, một Sherlock Holmes ở tuổi 93. Không còn London náo nhiệt, không còn những vụ án ly kỳ, ông lão Sherlock Holmes (Ian McKellen) lui về ở ẩn tại một nông trang hẻo lánh xứ Sussex. Ngoại trừ bà Munro (Laura Linney), người phụ nữ góa chồng giúp việc cho Holmes, đứa con trai Roger (Milo Parker) của bà, và thú nuôi ong giản dị, vị thám tử về hưu sống hoàn toàn cô độc với những kí ức và hào quang về những câu chuyện phá án cũ. Ngay cả những kí ức ấy cũng dần rời bỏ Holmes khi chứng mất trí nhớ khiến ông quên dần những gì đã “thực sự” diễn ra trong quá khứ (thay vì những chi tiết được bác sĩ Watson “kịch tính hóa” trong các câu chuyện phá án về Holmes mà ông đã ghi lại). Tất nhiên, bản năng quan sát thiên bẩm của Holmes vẫn còn chảy trong máu vị thám tử, nhưng ông không còn đủ sức khỏe, và nhiệt tâm, để giải mã các vụ án, bất chấp cả những lời đề nghị chân thành của Umezaki (Hiroyuki Sanada) – một người hâm mộ ông ở nước Nhật xa xôi. Thậm chí Sherlock Holmes còn không thể nhớ nổi tại sao ông lại quyết định về hưu, quyết định từ bỏ nghiệp thám tử sau vụ án cuối cùng ông điều tra – vụ án về người phụ nữ bí ẩn Ann Kelmot (Hattie Morahan). Bởi thế, để có thể sống tiếp trong những ngày tháng cuối đời, Sherlock Holmes phải “phá” được cả ba “vụ án” – giữ lại những người thân thiết cuối cùng bên ông là bà Munro và cậu bé Roger, đưa ra một câu trả lời thỏa đáng cho Umezaki về câu hỏi đau đáu của gia đình người Nhật, và lục lại trong ký ức cái kết thực sự của câu chuyện về Ann Kelmot – cái kết của câu chuyện về một Sherlock Holmes – thám tử.

Là câu chuyện về Holmes của buổi xế chiều, Mr. Holmes không chứa đựng một cốt truyện ly kỳ với những cảnh hành động đuổi bắt giữa đô thành London, hay những đoạn thoại dài của Sherlock Holmes về các suy đoán tinh tế của ông. Tuy nhiên, bộ phim vẫn lôi cuốn khán giả bởi một cuộc đuổi bắt khác – cuộc đuổi bắt của Sherlock Holmes với kí ức phai tàn. Có thể cuộc đuổi bắt ấy không đem lại cho khán giả những thời khắc giật gân, ngạc nhiên tới nghẹt thở, nhưng nó lại đem lại cho người xem một cái nhìn rất mới về vị thám tử lừng danh. Đó là cái nhìn khiến Holmes-huyền thoại trở nên gần gũi hơn với đời thực, với đủ những cung bậc tình cảm từ hạnh phúc, hy vọng, tới buồn bã, tuyệt vọng. Hiếm khi nào trên màn ảnh lớn Sherlock Holmes được khắc họa với rất nhiều giờ phút yếu lòng vì thất bại, vì cô độc như trong Mr. Holmes. Nhưng với cái tài của đạo diễn Condon và biên kịch của phim, những trường đoạn đượm màu bi kịch ấy không hề làm xấu đi hình ảnh Holmes trong mắt người xem, trái lại họ-những khán giả, những người hâm mộ vị thám tử lừng danh, sẽ lại càng cảm nhận được sâu sắc hơn cái bi kịch rất con người của một huyền thoại đã vì nghề nghiệp, vì niềm say mê khám phá các vụ án mà dần mất đi mối dây cảm xúc với thực tại, với những con người bình thường xung quanh ông. Xuất sắc hơn nữa, thông qua câu chuyện về những ngày tháng cuối đời của Holmes, Mr. Holmes còn gián tiếp nói lên được vai trò hết sức ý nghĩa của Bác sĩ Watson trong việc “kịch tính hóa” các câu chuyện phá án của người bạn thám tử, trong việc giúp đưa những câu chuyện ấy tới độc giả một cách trọn vẹn, thỏa đáng và qua đó đem lại cho chính Sherlock Holmes và độc giả những giờ phút bình yên trong tâm hồn.

Tất nhiên Mr. Holmes cũng không hẳn là một bộ phim hoàn hảo, việc xây dựng xen kẽ ba câu chuyện với ba bối cảnh và thời điểm khác nhau khiến kịch bản phim đôi lúc có cảm giác bị rối và đứt quãng. Nhịp phim trầm buồn thiếu cao trào, và phần bối cảnh không mấy ấn tượng chắc chắn cũng sẽ khiến nhiều khán giả phải nhìn đồng hồ trong hai hồi đầu của bộ phim trước hồi cuối hết sức xuất sắc. Nhưng dù có thiếu kiên nhẫn hay không thì hẳn bất cứ ai xem Mr. Holmes cũng sẽ phải ngả mũ thán phục trước tài nghệ diễn xuất của Ian McKellen. Được công chúng biết tới nhiều hơn qua những vai diễn trong các bộ phim ăn khách như Gandalf (trong The Lord of the Rings và The Hobbit) hay Magneto (trong loạt phim X-Men), nhiều khán giả có lẽ không biết rằng Ian McKellen được coi là một huyền thoại của làng kịch nước Anh hay nghĩ rằng năm nay ông đã ... già (McKellen đã 76 tuổi). Có lẽ hiếm có bộ phim nào thích hợp hơn vào thời điểm này để McKellen thể hiện tài năng sân khấu, trong một vai diễn phù hợp với tuổi đời thực của ông, như Mr. Holmes. Với rất nhiều trường đoạn cận cảnh mô tả một Holmes yếu đuối cả về mặt thể chất và tinh thần, uy lực diễn xuất của Ian McKellen đã giúp ông đem được từng góc cạnh con người nhất của vị thám tử huyền thoại tới khán giả, giúp họ hiểu được những bi kịch hiếm được nhắc tới trong cuộc đời Sherlock Holmes nhưng lại là những bi kịch khó lòng tránh khỏi ở chặng cuối đường đời mỗi người. Bổ sung cho sự già dặn và uy lực sân khấu mạnh mẽ của McKellen, cậu bé Milo Parker trong vai Roger Munro lại đem tới sự tươi mới và sức sống hết sức cần thiết cho Mr. Holmes với diễn xuất tự tin, chân thành. Có lẽ do kịch bản tập trung mọi giờ phút đẹp nhất cho Sherlock Holmes, ngoại trừ Hattie Morahan với một cảnh quay ngắn ngủi nhưng đậm chất bi thương và đáng nhớ, các diễn viên còn lại trong phim xuất hiện tương đối nhạt nhòa với không nhiều đất diễn, kể cả Laura Linney – một trong những nữ diễn viên thực lực nhất của Hollywood hiện nay.    

“I've decided to write the story down; as it was, not as John made it. Get it right, before I die.” (“Tôi đã quyết định viết lại câu chuyện này; đúng như những gì đã xảy ra, chứ không phải những gì John [Watson] đã nghĩ ra. Viết lại đúng sự thực, trước khi tôi chết.”). Ông già Sherlock Holmes đã nói như vậy trong Mr. Holmes. Với trí nhớ ngày càng nhạt nhòa của Holmes, có lẽ chẳng ai dám chắc những gì ông lão 93 tuổi đang viết ra ấy có đúng là “sự thực”. Nhưng những câu chuyện như thế trong Mr. Holmes về vị thám tử lừng danh chắc chắn sẽ giúp chính huyền thoại Holmes trở nên gần với “đời thực” hơn, trở nên “con người” hơn. Chừng đó thôi cũng đã đủ giúp Mr. Holmes trở thành một bộ phim đáng xem, đáng nhớ đối với những người hâm mộ hình tượng nhân vật Sherlock Holmes.  

samedi 28 novembre 2015

The Professor's Beloved Equation (2006)




“Điều gì đọng lại trong kí ức ta khi trí nhớ đã phai tàn?” – Câu hỏi mang đầy tính hiện sinh này là một trong những chủ đề yêu thích của điện ảnh thế giới với những bộ phim xuất sắc như Eternal Sunshine of the Spotless Mind, Memento, hay The Man Without a Past. Cũng đi tìm lời đáp cho câu hỏi ấy, bộ phim The Professor’s Beloved Equation của đạo diễn Takashi Koizumi, một chuyển thể điện ảnh của tiểu thuyết The Housekeeper and the Professor, lại khai thác một khía cạnh tưởng như khô khan và ít khi được nhắc tới trên màn ảnh lớn – tình yêu với Toán học và việc dạy Toán học.

Nhân vật chính của The Professor’s Beloved Equation là vị giáo sư già ẩn danh (Akira Terao), người từng được coi là một ngôi sao sáng của ngành lý thuyết số Nhật Bản. Sau một tai nạn giao thông ở tuổi 47, Giáo sư chỉ còn có thể ghi nhớ “hiện tại” trong vòng 80 phút trước khi những thông tin này bị xóa sạch khi bộ nhớ của Giáo sư quay lại thời điểm trước khi tai nạn xảy ra. Bởi thế, Giáo sư mãi trở thành con người của quá khứ - không có hiện tại, không có tương lai. Đồng hành với Giáo sư chỉ còn lại tình yêu với Toán học, với đội bóng chày Hanshin Tigers, và nỗi khắc khoải với những kí ức vốn đã dừng lại ở cái tuổi 47. Để chăm lo cho vị Giáo sư luôn sống với quá khứ ấy, cô gái trẻ Kyoko (Eri Fukatsu) được thuê làm người giúp việc trong căn nhà nhỏ nơi góc vườn của ông. Trái ngược với Giáo sư, mọi lo toan, suy nghĩ của bà mẹ đơn thân Kyoko gắn liền với hiện tại, nhất là với đứa con trai bé bỏng, tinh nghịch của cô (Takanari Saito). Câu chuyện của bộ phim được kể lại qua lời của cậu nhóc ấy – người lớn lên với cái biệt danh đáng yêu “Căn bậc hai” do Giáo sư đặt, và cả tình yêu với Toán học do ông truyền thụ, để rồi chính cậu trở thành một thầy giáo đưa niềm đam mê với khoa học ấy đến với những thế hệ học sinh mới.

Đúng như cái tên của mình – “Công thức yêu thích của Giáo sư”, phần lớn thời lượng của bộ phim tập trung mô tả ham mê bất tận của Giáo sư đối với những con số. Có lẽ chính cái tình yêu với những con số, vốn ánh lên trong cặp mắt sáng ngời của Giáo sư, đã giúp ông tiếp tục sống, tiếp tục làm Toán, bất chấp cuộc sống cô độc không có bạn bè, không có hiện tại. Nhưng sự xuất hiện của Kyoko và “Căn bậc hai” đã buộc ông phải tìm lời giải cho một bài toán mới khó khăn không kém – làm thế nào để kết nối với hai con người hết mực yêu quý ông với cái trí nhớ chỉ kéo dài 80 phút. “Công thức” cho bài toán ấy chính là cái cách ông truyền tải “món quà của Tạo hóa” – những con số đến với Kyoko và “Căn bậc hai”. Với nhiệt huyết và niềm đam mê tràn đầy, vị giáo sư già đã biến hai con người xa lạ trở thành những “tín đồ” nhiệt thành của Toán học, và hơn thế, kéo chính ông lại gần với thực tại bằng sợi dây tình người giữa ông và mẹ con Kyoko. Câu chuyện giản dị nhưng sâu sắc này đã được truyền tải rất hiệu quả bởi khả năng diễn xuất và sự ăn ý của bộ ba Akira Terao, Eri Fukatsu, và cậu bé Takanari Saito. Terao già dặn, hóm hỉnh, Fukatsu nhanh nhẹn, nhiệt thành, Saito hồn nhiên, dễ thương, mỗi người mỗi vẻ đã giúp bộ phim giữ được sự sống động và tươi mới bất chấp bối cảnh và kịch bản tương đối đơn giản, không nhiều cao trào của phim.  

Chuyển thể gần như nguyên vẹn từ cuốn tiểu thuyết hết sức ăn khách của nữ nhà văn Yoko Ogawa, The Professor’s Beloved Equation đã giữ được cách giải thích hết sức trong sáng, dễ hiểu và thú vị của tác phẩm gốc về những khái niệm Số học không phải ai cũng biết, cũng nắm vững như “số bạn bè”, “số hoàn chỉnh”. Bên cạnh điểm sáng đó, bộ phim còn đem lại cho khán giả cảm giác nhẹ nhõm với những nhân vật có phong thái sống hết sức lạc quan, tích cực, và cách giải quyết tình huống nhẹ nhàng đậm chất nhân văn. Bởi thế, tuy nhịp phim có đôi lúc đứt đoạn và kịch bản phim có lẽ không được chắc tay như những bộ phim về khoa học hoặc nghề giáo khác như Good Will Hunting hay Dead Poets Society, gam màu tươi sáng của The Professor’s Beloved Equation lại giữ cho bộ phim một vẻ duyên dáng riêng. Quan trọng hơn cả, bộ phim đã cho thấy rằng bất cứ ai, từ những đứa trẻ ham chơi như “Căn bậc hai” hay những phụ nữ luôn bận bịu với công việc nội trợ như Kyoko, cũng có thể yêu thích, đam mê Toán học – thứ khoa học “khó gần, khó hiểu”, nếu như họ có được một Người thầy đam mê, nhiệt huyết, yêu khoa học, yêu học trò như Giáo sư. 

Tại Giải thưởng Nobel năm 2015, có tới hai nhà khoa học Nhật được vinh danh, góp phần đưa Nhật Bản trở thành quốc gia có số giải Nobel về khoa học nhiều thứ hai trong thế kỷ 21, chỉ sau Hoa Kỳ. Với những câu chuyện như của “Căn bậc hai” và Giáo sư trong The Professor’s Beloved Equation, hay như của cô bé Totto-chan và Thầy Kobayashi trong Totto-chan: Cô bé bên cửa sổ, có lẽ ta có thể hiểu được một phần nào lý do của những thành công đó. Hãy trân trọng tri thức và sáng tạo, hãy trân trọng những người Thầy yêu nghề đang miệt mài truyền lửa đam mê khoa học. 

Beasts of No Nation (2015)




“The first casualty of war is innocence.” (“Sự ngây thơ là nạn nhân đầu tiên của chiến tranh.”)

“If you run, the beast will get you. If you stay, the beast will eat you.” (“Nếu bạn bỏ chạy, con thú ấy sẽ bắt được bạn. Nếu bạn ở lại, con thú ấy sẽ ăn thịt bạn.”)

Trên đây là hai câu dẫn đề (“tagline”) cho hai bộ phim nổi tiếng Platoon (Trung đội, 1986) của Oliver Stone và City of God (Thành phố của Chúa, 2002) của Fernando Meirelles. Tuy lấy bối cảnh rất khác nhau – Platoon là Chiến tranh Việt Nam còn City of God là những cuộc chiến băng đảng ở Rio de Janeiro (Brazil), nhưng cả hai bộ phim đều kể lại những câu chuyện về sự hủy hoại của nhân cách, của những suy nghĩ ngây thơ trong mỗi con người bởi sức tàn phá của bạo lực, của lòng tham, của những thiếu thốn tột cùng cả về vật chất và tinh thần. Cũng khắc họa một bi kịch tương tự như vậy, nhưng lần này là ở một quốc gia Tây Phi xa xôi, Beasts of No Nation (Những con thú không chốn nương thân) là một bộ phim hòa trộn cả Platoon và City of God với nhân vật chính là những đứa trẻ (như trong City of God) bị ném vào bối cảnh chiến tranh không giới tuyến (như trong Platoon) để rồi phải trở thành những tên lính – những con thú khát máu. 

Beasts of No Nation là câu chuyện về Agu (Abraham Attah), cậu bé mảnh khảnh với thân hình khẳng khiu của một đứa trẻ chưa qua tuổi dậy thì và tâm hồn vô tư, nhí nhảnh của đứa con được may mắn sinh ra trong một gia đình hạnh phúc. Nhưng tuổi thơ của Agu nhanh chóng bị cắt đứt bởi chiến tranh, khi những cuộc giao tranh khốc liệt giữa các phe phái khiến gia đình cậu phải ly tán, kẻ còn, người mất, còn bản thân Agu thì rơi vào tay của gã Chỉ huy trưởng “Commandant” (Idris Elba) và nhanh chóng trở thành một người lính giữa vô vàn “lính trẻ em” khác trong tiểu đoàn của gã. So với những cái chết và nỗi sợ hãi tột độ ập lên đầu Agu ngay những thời khắc đầu tiên của cuộc chiến, thì “đời lính” trong tiểu đoàn của Chỉ huy trưởng thoạt khiến cậu bé bình tâm và nuôi lại hy vọng tìm về với gia đình. Nhưng rồi nhanh chóng Agu nhận ra rằng cái tiểu đoàn “lính trẻ em” mà cậu đang lạc vào luôn ẩn chứa điều gì đó bất an, và đằng sau những những câu nói hùng hồn kích động tinh thần và phong thái dũng cảm ngoài chiến trường, gã Chỉ huy trưởng dường như cũng che dấu một vết rách rộng hoác trong tâm hồn. Nhưng bàng hoàng hơn đối với Agu là khi cậu bé nhận ra rằng chính tâm hồn ngây thơ và niềm tin vào tình người, vào Chúa của cậu cũng dần bị bạo lực và chết chóc của chiến tranh phá nát. Từ một đứa trẻ ngây thơ trong gia đình, giờ đây Agu chỉ còn là một con thú sống theo bản năng, một con thú không chốn nương thân.

Đạo diễn của Beasts of No Nation là Cary Joji Fukunaga, người khởi đầu sự nghiệp điện ảnh cũng với một bộ phim về đề tài ảnh hưởng của sự nghèo khó và tội ác lên tuổi thơ (Sin Nombre năm 2009). Tuy vậy Fukunaga được biết tới nhiều nhất có lẽ là nhờ mùa đầu tiên của loạt phim truyền hình True Detective – loạt phim truyền hình gây tiếng vang lớn năm 2014 do Fukunaga thực hiện lấy đề tài tội ác và diễn biến tâm lý của những người dính dáng đến chúng. Ở Beasts of No Nation, người xem lại được thấy những thủ pháp quen thuộc đã tạo dựng tên tuổi cho Fukunaga trong True Detective như sử dụng tông màu hoặc ngả vàng, hoặc tương phản tạo dựng không khí trầm buồn cho phim; dùng những cú bấm máy dài theo chân các nhân vật giúp cảnh quay có cảm giác thực tế như phim tài liệu; và sử dụng nhiều khung hình cận cảnh và những lời kể, thuyết minh để chia sẻ hết mức có thể với khán giả những suy nghĩ, biến động trong tâm hồn các nhân vật của phim. Phong cách đạo diễn rất chắc tay này của Fukunaga đã giúp Beasts of No Nation lôi cuốn hơn nhờ bố cục chặt chẽ và nhịp phim đều đặn với những khoảng nghỉ cần thiết để khán giả kịp cảm nhận những thời khắc cao trào của các trận chiến, của sự đối lập giữa Agu và Chỉ huy trưởng, của sự tương phản giữa nhân tính và vô nhân tính. Bố cục chặt chẽ của phim cũng đã giúp Beasts of No Nation khỏa lấp được phần nào khiếm khuyết của chính Fukunaga khi xây dựng kịch bản phim, một kịch bản chưa hẳn hợp lý với phần dẫn nhập dài quá mức cần thiết trong khi thời lượng dành để phát triển các nhân vật đôi khi tạo cảm giác thiếu hụt. Bố cục mang chất điện ảnh của Beasts of No Nation càng tỏ ra có hiệu quả trong việc lưu giữ cảm xúc cho khán giả khi ta so sánh tác phẩm này với loạt phim True Detective của Fukunaga, khi sự chênh lệch chất lượng giữa những tập đầu xuất sắc và những tập cuối lê thê khó lòng khơi nguồn cảm xúc cho người xem từ đầu cho tới cuối của loạt phim. 

Đóng góp vào thành công của Beasts of No Nation không thể không kể tới diễn xuất xuất sắc của bộ đôi diễn viên chính Abraham Attah – Idris Elba. Cậu bé vô danh người Ghana đã khiến khán giả phải bất ngờ khi thể hiện hết sức thành công sự chuyển biến trong tâm hồn của Agu từ một đứa trẻ ngây thơ, tinh nghịch tới một tên lính cằn cỗi, mất niềm tin vào cuộc sống. Bởi vậy không ngạc nhiên khi với vai diễn này Attah đã được Ban Giám khảo Liên hoan phim Venice trao Giải thưởng Marcello Mastroianni dành cho diễn viên mới xuất sắc nhất – giải thưởng từng giúp những cái tên như Gael Garcia Bernal (năm 2001), Moon So-ri (2002), và Jennifer Lawrence (2008) được công chúng biết tới. Đối nghịch với Attah hồn nhiên, mảnh khảnh là một Idris Elba cao lớn, lọc lõi luôn khiến người khác phải nể phục và khiếp sợ. Tạo dựng tên tuổi nhờ những vai diễn thủ lĩnh đòi hỏi uy lực diễn xuất mạnh mẽ như vị lãnh tụ Nelson Mandela trong Mandela: Long Walk to Freedom (2013) hay viên chỉ huy Stacker Pentecost trong Pacific Rim (2013), việc thể hiện chất lãnh đạo của “Chỉ huy trưởng” là điều hoàn toàn nằm trong khả năng của Elba. Nhưng không dừng lại ở đó, Elba còn tỏ ra xuất sắc trong việc khắc họa những góc khuất của gã Chỉ huy trưởng với đủ cả tham lam, độc ác, và thậm chí là những giờ phút dễ tổn thương tưởng chừng không thể bắt gặp ở một tay chiến binh dày dặn kinh nghiệm trận mạc. Sự tương phản giữa cái ngây thơ của Attah và kinh nghiệm tiết chế của Elba đã giúp bộ phim tái hiện rõ ràng hơn sức tàn phá khủng khiếp của chiến tranh lên tâm hồn và nhân tính của những người bị cuốn vào vòng xoáy đó. Xứng đáng với những lời ngợi khen còn là dàn diễn viên phụ của Beasts of No Nation với rất nhiều diễn viên không chuyên thủ vai những đứa trẻ-người lính trong tiểu đoàn của Chỉ huy trưởng. Tuy không nhiều đất diễn, nhưng với những ánh mắt, cử chỉ lúc ngây thơ nồng nhiệt, lúc hằn học lạnh lùng, những diễn viên nhí của bộ phim cũng đã hoàn thành nhiệm vụ trong việc tạo nên một bức tranh toàn cảnh nhiều màu sắc và rất đáng nhớ về nạn bắt trẻ em đi lính trong các cuộc xung đột ở châu Phi.

Theo tôi Beasts of No Nation là một bộ phim thành công. Có thể kịch bản mang phong cách rất truyền thống của bộ phim không đem lại nhiều đột phá hay bất ngờ cho khán giả. Có thể thời lượng trên hai tiếng của Beasts of No Nation vẫn còn những giây phút trùng nhịp có cảm giác thừa thãi. Tuy nhiên cái cách Fukunaga chăm chút cho từng khung hình, cái cách Attah và Elba nỗ lực trong từng cảnh quay, cũng đã đủ nhắc nhớ người xem rằng ở đâu đó ở châu Phi vẫn còn rất nhiều những bi kịch bị lãng quên của những đứa trẻ-người lính như Agu. Những bi kịch trên phim như vậy của Agu, và thậm chí là của gã Chỉ huy trưởng, không chỉ khiến người xem cảm nhận sâu sắc hơn về sự vô nghĩa và tàn bạo của chiến tranh, mà còn là lời kêu gọi chúng ta – thế giới cần phải nỗ lực hơn nữa để chúng không tái diễn với những số phận, mảnh đời khác, ở những quốc gia, thời khắc khác.