some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

samedi 28 novembre 2015

Timbuktu (2014)









Với những người yêu thích lịch sử hoặc du lịch, địa danh Timbuktu hẳn sẽ gợi lên hình ảnh một đô thị cổ huyền bí nổi lên giữa sa mạc Sahara mênh mông với vô vàn những ngôi nhà vuông vắn phủ màu nâu sồng của đất nung và những đền thờ Hồi giáo mang hình dáng của những kim tự tháp cổ xưa. Nhưng nếu không theo dõi tình hình thời sự Bắc Phi – một chủ đề hiếm khi được truyền thông nhắc tới, chắc không nhiều người trong số họ ngờ rằng Timbuktu ngày nay chỉ còn là một thị trấn cằn cỗi hoang tàn hằn dấu tích xung đột tôn giáo, sắc tộc. Chỉ trong vỏn vẹn nửa thập kỷ gần đây, Timbuktu đã vài lần trở thành chiến địa giữa quân đội chính phủ Mali và phiến quân Hồi giáo cực đoan, những kẻ mong muốn dựng nên một nhà nước riêng vận hành bởi bộ luật Sharia hà khắc. Bộ phim Timbuktu của đạo diễn người Mauritani Abderrahmane Sissako khắc hoạ một hồi buồn như thế của Timbuktu, khi thị trấn cổ này rơi vào tay nhóm phiến quân Ansar Dine có nguồn gốc du mục và mang tham vọng “giáo hoá” người dân mọi sắc tộc ở đây bằng Sharia, tước đi của họ niềm vui được sống để thay vào đó là những luật lệ cực đoan, khắc nghiệt, vô nhân tính.

Timbuktu mở đầu bằng cuộc đuổi bắt chú linh dương đơn độc giữa sa mạc bởi một nhóm phiến quân Hồi giáo cờ đen. Dù nhanh nhẹn đến mấy nhưng chú linh dương cũng khó lòng thoát nổi tốc độ của chiếc Toyota – dòng xe yêu thích của chủ nghĩa cực đoan, và những khẩu súng AK của nhóm “chiến binh Thánh chiến” vốn muốn dồn con vật đáng thương tới đường cùng thay vì bắn hạ. Tiếp đó, cũng bằng chính họng súng AK ấy, những kẻ phiến quân lại lấy những bức tượng gỗ đậm màu truyền thống châu Phi ra làm bia tập ngắm. Hai cảnh quay rất ngắn nhưng mang đầy tính biểu tượng này sẽ được lặp đi lặp lại trong suốt cả bộ phim, với cùng một kẻ thủ ác – những phiến quân cực đoan, nhưng thế chỗ cho chú linh dương khốn khổ và những bức tượng vô tri vô giác là những người dân đầy cam chịu của xứ Timbuktu và cuộc sống vốn đã quá nhiều khắc nghiệt của họ. Trong số đó, Timbuktu lấy tâm điểm là gia đình du mục của vợ chồng Kidane – Satima và cô con gái dễ thương Toya. Sống cuộc đời du mục dưới mái lều trơ trọi nơi cồn cát trùng điệp với nguồn sống duy nhất chỉ là vài chú bò gầy guộc, nhưng Kidane, Satima và Toya vẫn vui vẻ tận hưởng những khoảnh khắc hạnh phúc của cuộc sống, từ một bát sữa bò buổi sớm tới những tiếng đàn ghita của Kidane vang lên lúc hoàng hôn. Nhưng cái hạnh phúc ấy chẳng thể bền lâu trước bóng ma của đám phiến quân xa lạ, những kẻ ập đến Timbuktu với cái danh “Thánh chiến” để áp đặt mọi người phải sống, phải suy nghĩ, phải hành động theo ý chúng. Cái cách gọng dây thòng lọng của chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan dần siết chặt những mạch sống hiếm hoi còn lại của Timbuktu được bộ phim kể lại qua câu chuyện đắng lòng của gia đình Kidane, và qua những lát cắt buồn bã không kém về cuộc đời của những người dân Timbuktu khác, những người chỉ mong muốn một cuộc sống đơn giản với tiếng hát, tiếng đàn, với những trận bóng giữa sa mạc.

Nhà sản xuất của Timbuktu là Sylvie Pialat, người vợ goá của đạo diễn quá cố từng giành giải Cành cọ vàng Maurice Pialat. Sinh thời đạo diễn Pialat được biết tới nhiều nhất qua những bộ phim đượm màu buồn mô tả những số phận ham sống nhưng bị đè nặng bởi xung đột nội tâm. Nhưng chất buồn rất Pháp ấy của Pialat có lẽ khó lòng so sánh được với những bi kịch đến nghẹt thở nơi sa mạc của Timbuktu. Đạo diễn Sissako đã cực kì thành công trong việc truyền tải sự tuyệt vọng đến người xem bằng cả những câu chuyện kể trực diện mộc mạc và cả những cảnh quay mang đầy tính biểu tượng, đẹp mà buồn đến nao lòng. Một cảnh quay như thế là trận bóng-không có bóng của những cậu bé Timbuktu mong mỏi một ngày sẽ trở thành “Zidane mới”, trở thành “Messi mới” nhưng lại bị cấm đoán bởi những kẻ bịt mặt coi trò chơi đơn giản ấy là thứ tội lỗi – “haram” của đạo Hồi. Không cần biết tới thực tế rằng chính huyền thoại sân cỏ Zidane cũng là một người Hồi giáo, những kẻ tôn sùng chủ nghĩa cực đoan luôn lăm lăm AK và đòn roi để tước trái bóng khỏi chân những đứa trẻ Timbuktu, buộc chúng phải chơi, phải “ăn mừng”, phải tự tưởng tượng ra một trái bóng vô hình để thay thế niềm vui bị đánh cắp. Những cảnh quay đẹp đầy chất ẩn dụ như vậy được trải đều suốt bộ phim, xen kẽ giữa những mẩu chuyện đơn giản nhưng hàm chứa rất nhiều nỗi buồn như câu chuyện về người phụ nữ bán cá bị bắt phải đeo găng tay dài “theo đúng phép tắc Hồi giáo” bất chấp việc chẳng loại vải nào có thể tránh được cái mùi tanh tưởi của cá trong cái cảnh thiếu nước liên miên nơi sa mạc. Tuy có đôi chỗ mạch phim có cảm giác bị đứt đoạn bởi sự xen kẽ liên tiếp như vậy, nhưng cách kể chuyện, và dựng phim này của đạo diễn Sissako thực sự đã giúp người xem hiểu được sự bất nhẫn của chủ nghĩa cực đoan, sự tuyệt vọng của những nạn nhân vô tội, và đi cùng với đó là nỗi buồn dài mãi của mảnh đất Timbuktu từng một thời là niềm tự hào châu Phi, là huyền thoại khiến nhiều nhà thám hiểu châu Âu phải ngưỡng mộ.

Bối cảnh sa mạc trong buổi tao loạn của Timbuktu gợi nhớ tới một tác phẩm xuất sắc khác cũng nói về sự vô nghĩa của bạo lực, sự bí ẩn của sa mạc và những con người sống trong nó, đó là The English Patient – Bệnh nhân người Anh (1996) của đạo diễn Anthony Minghella. Tuy nhiên nếu như The English Patient vẫn khiến người xem cảm thấy ấm lòng vì cái cách những con người khác biệt về ngôn ngữ, về văn hóa, về tôn giáo xích lại gần nhau bởi có chung sự trân trọng dành cho tình người, thì ở Timbuktu người ta chỉ có thể thấy tình người bị tàn phá, không phải bởi bất đồng ngôn ngữ, không phải bởi bất đồng tôn giáo, mà bởi sự mù quáng đến không thể tưởng tượng nổi của một nhóm người nhân danh đức tin, nhân danh tôn giáo để thực thi những tham vọng, tính toán cá nhân bất chấp nỗi đau của đồng loại. Không phải giáo lý đạo Hồi, không phải lý tưởng “Thánh chiến”, chính những tham vọng riêng ấy của nhóm người cực đoan dám chà đạp lên bất cứ ai không tuân theo mệnh lệnh của chúng mới là cội nguồn tội ác, mới là nguồn gốc gây nên những nỗi đau không dứt ở xứ Timbuktu.

Năm 2014 trong cuộc đua giành Giải Oscar cho phim nói tiếng nước ngoài xuất sắc nhất, Timbuktu bị coi là một ứng cử viên yếu thế bởi câu chuyện giản dị về một đề tài không nhiều người quan tâm của bộ phim khó lòng so sánh được với những câu chuyện nặng ký như Leviathan của Nga hay Ida của Ba Lan. Quả thực Ida – một bộ phim nói về đề tài yêu thích của Hollywood là nạn diệt chủng người Do Thái trong Chiến tranh thế giới thứ hai đã trở thành tác phẩm thắng cuộc. Tuy nhiên, vào chính lúc này, qua những sự kiện đau buồn do chủ nghĩa cực đoan vừa gây ra trên khắp thế giới, có lẽ người xem mới lại cảm nhận được sâu sắc hơn cái thông điệp phổ quát mang tính thời đại của Timbuktu về hiểm họa của chủ nghĩa cực đoan đối với thế giới, đối với cuộc sống của mỗi người dân bình thường. Nếu không chung tay loại bỏ tận gốc mầm mống của sự cuồng tín, của trào lưu cực đoan trong bất cứ tôn giáo, tín ngưỡng, trào lưu chính trị nào, chẳng ai có thể chắc rằng những số phận buồn như của gia đình Kidane, như của những đứa trẻ-không thể chơi bóng xứ Timbuktu, sẽ không lặp lại ở một mảnh đất khác, những xứ sở khác, những xứ sở của chính chúng ta.   

jeudi 26 novembre 2015

Setsuko Hara (1920 - 2015)






Một trong những hy vọng trong đời của tôi là được một lần gặp Setsuko Hara và cảm ơn bà về những bộ phim đẹp. Rất tiếc hôm nay được biết bà đã mất tháng 9 vừa qua. Rất tiếc.

==============



November 25, 2015 11:32 pm JST

Acting legend Setsuko Hara of Ozu film "Tokyo Story" dies at 95

Setsuko Hara in a film "Tamashii wo Nagero" (Throw the Soul) (Photo courtesy of Shinchosha Publishing) © Kyodo
TOKYO (Kyodo) -- Legendary actress Setsuko Hara, who starred in the Yasujiro Ozu movie "Tokyo Story," died of pneumonia on Sept. 5 at a hospital in Kanagawa Prefecture, her family said Wednesday. She was 95.
     She was the heroine in golden-age Japanese movies including the Ozu works "Tokyo Story" in 1953 and "Late Spring" in 1949, as well as in "The Green Mountains" directed by Tadashi Imai in 1949, "El Idiota" by Akira Kurosawa in 1951 and "Repast" by Naruse Mikio in 1951.
     The actress, whose real name was Masae Aida, was born in Yokohama and made her debut as a movie actress in 1935.
     She retired in 1962 at the age of 42 and lived in de facto seclusion for decades in Kamakura in Kanagawa near Tokyo.

mardi 17 novembre 2015

Macbeth (2015)









Được mệnh danh là một trong những vở kịch u buồn nhất của Shakespeare, và là vở bi kịch ngắn nhất của ông, Macbeth cũng là một trong những tác phẩm được chuyển thể thành phim điện ảnh nhiều nhất của tác gia người Anh. Liệu một tác phẩm đã có trên 400 năm tuổi, được đưa vào sách giáo khoa của nhiều quốc gia, được đưa lên màn ảnh lớn tới mười một lần, còn có thể đem lại sự mới mẻ, hứng thú cho khán giả? Có lẽ đó là câu hỏi chung của người yêu phim năm nay khi biết tin đạo diễn người Úc Justin Kurzel sẽ một lần nữa đem bi kịch của Macbeth lên phim, lần thứ mười hai.

Với những ai yêu thích các vở kịch của Shakespeare thì chắc chắn chuyển thể Macbeth này của Justin Kurzel sẽ làm họ hài lòng bởi bộ phim giữ gần như nguyên vẹn cốt truyện, những câu thoại và chi tiết đầy bi tráng của vở kịch gốc. Vẫn còn đó là câu truyện về sự sa ngã của Macbeth (Michael Fassbender) – vị chỉ huy dũng cảm trên chiến trường nhưng lại không thể thoát khỏi cám dỗ của lòng tham, của sự kiêu hãnh, của những lời khiêu khích của Phu nhân Macbeth (Marion Cotillard) để rồi rơi vào vòng xoáy không lối thoát của tội ác và sự trừng phạt. Vẫn còn đó là sự đối lập thiện-ác giữa một bên là toan tính, mưu mô, tội ác của vợ chồng Macbeth mù mắt bởi quyền lực, bởi những lời tiên tri đầy ma mị của Ba mụ phù thuỷ, với bên kia là sự chính trực, kiên cường không khoan nhượng trước cái ác của cha con Banquo (Paddy Cosidine), của gia đình Macduff (Sean Harris). Trung thành với chất sử thi của Shakespeare, chuyển thể điện ảnh mới nhất này của Macbeth thực sự đã làm toát lên được cái bi thương của câu truyện về Macbeth, cũng như chất hùng tráng của con người, tính cách Scotland. Xem xong phim, hẳn nhiều khán giả sẽ không thể quên những giờ phút cuối cùng trong mộng mị, ảo ảnh của Phu nhân Macbeth, hay ánh mắt buồn thăm thẳm của Macbeth khi cất lên những lời ai oán tuyệt vọng “Ngày-mai, và ngày-mai, và ngày-mai…”.

Tuy nhiên với những người mới lần đầu được tiếp xúc với Macbeth, chưa từng đọc hoặc xem vở kịch gốc thì những câu thoại đẹp đầy chất sử thi, nhưng thường rất dài, văn hoa và có chút gì đó thậm xưng theo đúng chất kịch nói có lẽ sẽ khiến họ khó lòng có thể cảm nhận được hết số phận, suy nghĩ của các nhân vật mà Shakespeare đã dày công tạo dựng. Với những khán giả như vậy, đạo diễn Justin Kurzel và nhà quay phim Adam Arkapaw lại dành cho họ một món quà đáng giá và dễ dàng cảm thụ khác – phần hình ảnh tuyệt đẹp, vừa truyền cảm, vừa hùng tráng của Macbeth. Từng nổi danh với những tác phẩm điện ảnh, truyền hình có phần hình ảnh và tông màu hết sức khác biệt như Animal Kingdom (2010) hay True Detective Mùa 1 (2014), nhưng Macbeth đã đưa nhà quay phim Arkapaw lên một tầm cao mới. Chất kịch đậm đặc của Macbeth được thể hiện rất rõ qua các cảnh quay tĩnh, sử dụng ánh sáng tự nhiên, vốn chiếm phần lớn thời lượng của phim. Tuy nhiên, việc thay đổi khung hình nhịp nhàng từ những thước phim thoáng, rộng lấy bối cảnh thiên nhiên choáng ngợp, đẹp đẽ của Scotland sang những bối cảnh tăm tối, chỉ có những bóng hình mờ ảo được tạo nên bởi ánh lửa, ánh nến đã giúp khán giả theo được mạch cảm xúc của phim (vốn có phần thoại dễ gây cảm giác vụn, rời kiểu sân khấu). Và nếu như những câu thoại đầy chất kịch của Macbeth không khiến một vài khán giả cảm thấy hào hứng, chắc chắn họ vẫn sẽ bị lôi cuốn bởi cách sử dụng màu sắc và góc máy rất riêng của Macbeth. Có thể khẳng định mỗi một khung hình của Macbeth là một bức tranh tuyệt đẹp, với tông màu đơn sắc được đẩy lên tới mức bão hoà để làm nổi bật không khí của cảnh quay và những suy nghĩ, tâm thế của các nhân vật. Gam màu đen của những mưu mô, toan tính, gam màu đỏ của bạo lực, chết chóc, gam màu nâu lạnh của bi kịch, của tuyệt vọng, Macbeth thực sự là một bản giao hưởng tuyệt vời của những màu sắc-biết kể chuyện. Và nhắc tới Macbeth, người ta không thể không kể tới các cảnh chiến trận. Có lẽ từ bộ phim 300 của đạo diễn Zack Snyder năm 2007 đến giờ khán giả mới lại được xem những cảnh quay chiến trận xuất sắc đến như vậy trong Macbeth. Nhưng nếu 300 đôi khi bị chê vì chỉ chú trọng cách thể hiện các cảnh quay chiến trận thay vì nội dung, ý nghĩa của những hình ảnh bạo lực ấy, thì khó ai có thể chê Macbeth bằng những nhận xét như vậy. Bởi lẽ mỗi cú bấm máy của Macbeth đều mang nặng cảm xúc, tâm tư của những nhân vật với những bi kịch riêng. Và liệu có bi kịch nào lớn hơn bi kịch của những người phải cuốn chặt vũ khí vào tay để giành giật lấy mạng sống của nhau trong chiến trận - nơi tình người, lòng thương không tồn tại? Những người lính lấm lem bùn đất nhưng sáng loà trên chiến trường. Một Macbeth-thủ lĩnh-người sống sót đứng hiên ngang, nhưng cô độc giữa sa trường với đằng sau là những bóng ma của đồng đội. Tiếng nhạc lúc dồn dập theo nhịp tấn công, lúc trầm buồn khi lướt qua những cái xác không hồn của những đứa trẻ-người lính. Tất cả những yếu tố đó đã giúp phần hình ảnh đầy chất bi kịch, sử thi của Macbeth phần nào sánh ngang được với vẻ đẹp trường tồn của những câu thoại hơn 400 năm tuổi của Shakespeare.

Tất nhiên một chuyển thể điện ảnh của Macbeth không thể hay nếu không có một Macbeth và một Phu nhân Macbeth xuất sắc. Ở đây, một lần nữa đạo diễn Kurzel lại cho thấy quyết định đúng đắn của ông khi giao hai vai cực kì quan trọng này cho Michael Fassbender và Marion Cotillard. Fassbender dường như sinh ra là để vào vai Macbeth. Vóc dáng cao lớn, cái thần trong ánh mắt, giọng nói, cử chỉ giúp anh dễ dàng thể hiện một Macbeth thủ lĩnh, một Macbeth quả cảm trên chiến trường. Nhưng ẩn sau cái mạnh mẽ ấy, Fassbender còn khiến người xem cảm nhận được một tâm hồn kiêu hãnh, một tâm hồn dễ bị tổn thương của Macbeth – điểm yếu đã đẩy Macbeth xuống vực thẳm số phận. Xuất sắc không kém Fassbender là Marion Cotillard đang ở độ chín của cả nhan sắc và sự nghiệp. Vẻ đẹp bí ẩn của Cotillard tỏ ra vô cùng thích hợp với Phu nhân Macbeth, người nhóm ngọn lửa tham lam trong lòng Macbeth bằng bó củi của sự quyến rũ và những lời thủ thỉ sắc nhọn. Nhưng thậm chí còn lấn át cả vẻ đẹp của chính Cotillard là tài năng diễn xuất của cô – tài năng đã giúp Cotillard thể hiện xuất sắc cái cách lòng tham đã huỷ hoại con người Phu nhân Macbeth, đẩy bà tới chỗ điên loạn. Diễn xuất đa diện của Cotillard trong bộ phim này có lẽ sẽ khiến khán giả nhớ tới vai nữ ca sĩ tài hoa bạc mệnh Edith Piaf – vai diễn đã đem lại cho cô giải Oscar nữ diễn viên xuất sắc nhất năm 2008 trong phim La Vie En Rose. Đồng điệu với Fassbender và Cotillard là dàn diễn viên phụ diễn tròn vai, tuy không nổi bật vì thiếu đất diễn, và một diễn viên không thoại – thiên nhiên Scotland. Nói không ngoa thì nếu như Lord of the Rings đã đem vẻ đẹp hùng vĩ của New Zealand đến với thế giới, thì Macbeth cũng đã thành công khi khiến khán giả phải kinh ngạc trước thiên nhiên bao la, bí ẩn trong cái lạnh tê người phương Bắc của đất nước Scotland xa xôi, khiến khán giả chợt nhận ra rằng Scotland không chỉ có những bi kịch như bi kịch của Macbeth, đất nước ấy còn có những cao nguyên rộng lớn, những rặng núi trùng điệp tuyết phủ, những mặt hồ trơ trọi giữa cái hùng vĩ của trời đất.

Một trong những tác phẩm điện ảnh được trông đợi nhiều nhất, đặc biệt là với những người hâm mộ trò chơi điện tử, trong dịp Giáng Sinh 2016 là bộ phim Assassin’s Creed, vốn được xây dựng dựa trên loạt trò chơi điện tử cùng tên của hãng Ubisoft. Với trên 70 triệu bản đã được tiêu thụ từ năm 2007, Assassin’s Creed được coi là một trong những loạt trò chơi ăn khách nhất trong thế kỷ mới. Do vậy chuyển thể điện ảnh của loạt trò chơi này cũng thu hút sự quan tâm rất lớn từ công chúng, những người đã phải chờ đợi rất lâu một chuyển thể điện ảnh có chất lượng tương đương các trò chơi điện tử gốc. Rất có thể Assassin’s Creed sẽ không làm họ thất vọng, bởi đây chính là sự tái ngộ của đạo diễn Justin Kurzel, đội ngũ sản xuất của Macbeth với bộ đôi Fassbender-Cotillard. Sẽ là rất khó, nếu không nói là không thể, để kịch bản Assassin’s Creed có được chất sử thi như Macbeth. Nhưng chỉ cần bộ phim này giữ được cái không khí và phong cách riêng của Macbeth, chắc chắn khán giả sẽ được thưởng thức một bộ phim hấp dẫn về tội ác và sự trừng phạt. Tất nhiên, dù thích hay không Assassin’s Creed thì khán giả cũng luôn có thể tự tin rằng họ đã có Macbeth. Bởi những bộ phim đẹp, đẹp cả về nội dung và hình thức, như Macbeth không có nhiều, và những bộ phim ấy xứng đáng được xem nhiều hơn một lần để thưởng thức, để suy ngẫm.

dimanche 1 novembre 2015

Black Mass (2015)




Trong suốt thập niên 2000, khi nhắc tới Danh sách 10 tội phạm bị truy nã gắt gao nhất của Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI), người ta thường nghĩ ngay tới Osama Bin Laden – kẻ chủ mưu vụ Khủng bố 11 tháng 9 nhằm vào nước Mỹ. Bin Laden được đưa vào danh sách này năm 1999 và bị xóa tên năm 2011 khi gã bị đặc nhiệm Mỹ tiêu diệt tại Pakistan sau một chiến dịch dài hơi thu hút sự chú ý của Thế giới. Cùng được đưa vào danh sách trên của FBI năm 1999 như Bin Laden trước khi bị xóa tên, lại một sự trùng hợp khác, vào năm 2011 khi bị FBI bắt ở tuổi 81 là Jimmy “Whitey” Bulger. Không gây ra những vụ khủng bố khiến hàng nghìn người thiệt mạng, nhưng tay trùm băng đảng Bulger cũng khiến cả nước Mỹ phải rùng mình với danh sách tội ác dài dằng dặc, từ chủ mưu giết hàng chục người, tới buôn ma tuý, trộm cướp, và thậm chí là cả cung cấp vũ khí cho phong trào đòi ly khai ở Bắc Ireland. Tính cách tàn bạo của Bulger và lý do tại sao FBI lại dung túng cho gã hoành hành ở Boston suốt hơn hai mươi năm chính là nội dung của bộ phim tiểu sử Black Mass, tác phẩm mới nhất của đạo diễn Scott Cooper.

“Black Mass” hay “Lễ đen” là một khái niệm dùng để chỉ các buổi lễ phản Thánh của những người thờ quỷ Satan. Và quả thực hình ảnh của Bulger (Johnny Depp) được khắc hoạ trong phim cũng có thể coi là hiện thân của một con quỷ dữ giữa đời thực. Tất nhiên vẫn có những khoảnh khắc hiếm hoi khán giả được thấy bộ mặt nhân tính của “Whitey” khi gã lặng ngắm đứa con trai yêu quý say ngủ, hay khi “Whitey” cố gượng cơn buồn ngủ để ngồi chơi bài với bà mẹ già. Nhưng phần lớn thời lượng của Black Mass được dành cho những nhát xẻng Bulger đào cho nấm mồ của chính gã, với những tội ác nối tiếp tội ác, án mạng nối tiếp án mạng. Lạnh lùng, tàn bạo, những cũng hết sức lọc lõi, quỷ quyệt, mọi hành động của Bulger đều xuất phát từ lòng tham không đáy đối với tiền bạc và quyền lực, và từ bản tính đa nghi của một gã “bố già” sẵn sàng xuống tay mọi lúc, mọi nơi để bịt mọi đầu mối có thể khiến gã phải đối diện với công lý. 

Ca tụng Satan trong những buổi “Lễ đen” là những người thờ phụng quỷ dữ, và trợ giúp Bulger xây nên đế chế tội ác ở Boston là đám đàn em mang trong mình dòng máu lạnh sát thủ. Rất nhiều trong số đó sinh ra, lớn lên cùng “Whitey” ở khu phố nghèo phía Nam Boston, bởi thế chúng đặt tình huynh đệ lên hàng đầu và sẵn sàng tuân lệnh “Whitey” một cách vô điều kiện, chúng sẵn sàng trừng phạt bất cứ ai khiến “Whitey” gai mắt, kể cả những người thân thiết. Hơn tất cả, chính cái nghĩa khí huynh đệ mù quáng này đã biến Boston trở thành vương quốc tội ác của riêng Bulger, khi mà người đứng đầu chính quyền Boston lại chính là Billy Bulger (Benedict Cumberbatch) – em ruột của “Whitey”, còn đặc vụ FBI phụ trách ngăn chặn các hoạt động tội ác ở đây là John Connolly (Joel Edgerton) – bạn thiếu thời của gã. Nếu như Billy – một tay chính trị gia lọc lõi, đủ khôn ngoan để nhắm mắt làm ngơ trước những hoạt động của anh trai nhưng không trực tiếp nhúng tay vào giúp gã, thì Connolly lại mù quáng tới mức trao cả Boston cho “Whitey”, sẵn sàng tiết lộ cho “người bạn thủa thơ ấu” tên tuổi những người chỉ điểm cho FBI về các hoạt động  tội ác của băng “Whitey” chỉ để đổi lấy niềm tin rằng “Whitey” sẽ giúp FBI diệt trừ nạn mafia gốc Ý ở đây. Bởi thế, khi xem Black Mass, khán giả có cảm giác “Whitey” là bóng đen phủ bóng cả bộ phim, còn chính những con chiên thờ quỷ như Connolly mới chính là những tiêu điểm của câu chuyện – những kẻ lữ hành trên con đường diệt vong để đối lấy niềm tin mù quáng vào con quỷ “Whitey” Bulger.

Black Mass không phải là thử nghiệm đầu tiên của Hollywood trong việc đưa Bulger lên màn ảnh lớn. Khán giả có thể phần nào thấy được hình ảnh gã “Bố già Boston” điên khùng, tàn bạo với cái đầu hói qua vai diễn của Jack Nicholson trong bộ phim đoạt giải Oscar “The Departed” của đạo diễn Martin Scorsese –vai diễn được xây dựng một phần dựa trên cuộc đời tội phạm của “Whitey” Bulger. Tuy nhiên Black Mass là bộ phim dạng tiểu sử đầu tiên tập trung mô tả những sự kiện xoay quanh cuộc đời tội ác của Bulger khi mà sự kiện gã bị FBI bắt sau hàng chục năm chạy trốn vẫn còn nóng hổi. Bởi thế Johnny Depp, người được lựa chọn cho vai “Whitey” Bulger trước cả khi Scott Cooper ngồi vào ghế đạo diễn bộ phim, trở thành tâm điểm chú ý của dư luận, một phần vì độ nổi bật của cái tên Bulger, và một phần quan trọng vì đã lâu Depp chưa có vai diễn nào thực sự thành công. Từng là ngôi sao tài năng và hút khách bậc nhất Hollywood, suốt gần mười năm qua Depp bị đóng khung với các vai diễn lập dị hơi có chút điên khùng, đặc biệt là trong các bộ phim của đạo diễn “ruột” của anh là Tim Burton, vốn dần bị đánh giá là nhàm chán và thiếu sáng tạo. Ngay đối với những nhân vật mang màu sắc nghiêm túc hơn như trong Transcendence, vai diễn của Johnny Depp cũng không được đánh giá cao, thậm chí còn bị coi là “thuốc độc phòng vé”. Nhưng với Black Mass, Depp đã đập tan mọi nghi ngờ về khả năng diễn xuất chưa bao giờ mất của anh với một Bulger quỷ dữ cả về ngoại hình và hành động, mà chỉ sự xuất hiện của gã trên khung hình thôi cũng đủ khiến khán giả cảm thấy gai người. Tuy rằng kịch bản tương đối mỏng không cho phép Depp tạo nên một hình ảnh có chiều sâu về “Whitey”, diễn xuất nhập vai và tạo hình chân thực của anh (hình ảnh của Depp trong Black Mass gần như trùng khớp với những bức hình hiếm hoi về Bulger được giới thiệu ở cuối phim) ít nhất đã giúp khán giả hiểu được tại sao FBI lại xếp gã ngang hàng với Bin Laden trong danh sách truy nã. Kịch bản thiếu đất cho việc phát triển tính cách của nhân vật cũng khiến những người còn lại trong dàn diễn viên của Black Mass, với những cái tên nổi bật như Cumberbatch, Rory Cochrane (vai Stephen Flemmi, tay chân của “Whitey”), Dakota Johnson (vai Lindsey, vợ của ông trùm), hay Kevin Bacon (vai Charles McGuire, đặc vụ FBI), không có nhiều cơ hội tỏa sáng. Vai diễn đáng nhớ nhất trong phim, bên cạnh Bulger của Johnny Depp, có lẽ là nhân vật đặc vụ Connolly của Joel Edgerton. Sự mù quáng đến tột độ của Connolly trước những tội ác vô nhân tính của Bulger đã được Edgerton thể hiện hết sức thành công qua bề ngoài ngày một phù phiếm của viên đặc vụ, qua từng cử chỉ thân mật Connolly dành cho “Whitey”, và qua những lời bào chữa không tưởng của ông ta trước những tố cáo rõ ràng về hoạt động tội phạm của “người anh em” Bulger. 

Thiếu một kịch bản dày dặn có lẽ là điều đáng tiếc nhất của Black Mass, bởi một đạo diễn rất giỏi phim tiểu sử như Scott Cooper (người từng giúp diễn viên gạo cội Jeff Bridges có giải Oscar diễn xuất đầu tiên với Crazy Heart năm 2009) hoàn toàn đủ khả năng để biến những cuộc đời đầy ắp sự kiện của Bulger, của Connolly, trở thành một tác phẩm điện ảnh thực sự sống động. Black Mass gợi người xem nhớ tới những bộ phim tinh tuyền về các băng đảng tội phạm Mỹ của Martin Scorsese như Goodfellas hay Casino, với tình huynh đệ đi đôi với lừa lọc xảo trá, với rất nhiều bạo lực, với những nhân vật tự đào mồ chôn mình, và tất nhiên, với rất nhiều đối thoại và những phút “kể chuyện” của các nhân vật. Nhưng khác với những bộ phim của Scorsese, phần dựng phim của Black Mass khá rời rạc và thiếu cao trào. Do đó khán giả khó lòng tạo dựng được sự gắn bó với số phận của các nhân vật trên phim, có chăng chỉ là chút cảm xúc với những giây phút hiếm hoi của tình người trên phim. Tuy vậy, những cảm xúc đó quá ngắn ngủi để khán giả có thể lưu lại sau khi xem xong phim, bất kể sự trợ giúp của phần nhạc phim hết sức xuất sắc của Junkie XL.
Một bộ phim chưa thực sự “tới” về chân dung của gã tội phạm khét tiếng như Bulger, Black Mass dù sao cũng là một tác phẩm hấp dẫn của dòng phim tội ác, đặc biệt là với những khán giả chưa từng nghe tới cái tên “Whitey” Bulger. Ít nhất là với bộ phim này, những người yêu phim cũng đã có thể hy vọng rằng Johnny Depp vẫn còn nguyên khả năng và tình yêu diễn xuất. Depp, xin chào mừng anh trở lại.