some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

dimanche 1 novembre 2015

Black Mass (2015)




Trong suốt thập niên 2000, khi nhắc tới Danh sách 10 tội phạm bị truy nã gắt gao nhất của Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI), người ta thường nghĩ ngay tới Osama Bin Laden – kẻ chủ mưu vụ Khủng bố 11 tháng 9 nhằm vào nước Mỹ. Bin Laden được đưa vào danh sách này năm 1999 và bị xóa tên năm 2011 khi gã bị đặc nhiệm Mỹ tiêu diệt tại Pakistan sau một chiến dịch dài hơi thu hút sự chú ý của Thế giới. Cùng được đưa vào danh sách trên của FBI năm 1999 như Bin Laden trước khi bị xóa tên, lại một sự trùng hợp khác, vào năm 2011 khi bị FBI bắt ở tuổi 81 là Jimmy “Whitey” Bulger. Không gây ra những vụ khủng bố khiến hàng nghìn người thiệt mạng, nhưng tay trùm băng đảng Bulger cũng khiến cả nước Mỹ phải rùng mình với danh sách tội ác dài dằng dặc, từ chủ mưu giết hàng chục người, tới buôn ma tuý, trộm cướp, và thậm chí là cả cung cấp vũ khí cho phong trào đòi ly khai ở Bắc Ireland. Tính cách tàn bạo của Bulger và lý do tại sao FBI lại dung túng cho gã hoành hành ở Boston suốt hơn hai mươi năm chính là nội dung của bộ phim tiểu sử Black Mass, tác phẩm mới nhất của đạo diễn Scott Cooper.

“Black Mass” hay “Lễ đen” là một khái niệm dùng để chỉ các buổi lễ phản Thánh của những người thờ quỷ Satan. Và quả thực hình ảnh của Bulger (Johnny Depp) được khắc hoạ trong phim cũng có thể coi là hiện thân của một con quỷ dữ giữa đời thực. Tất nhiên vẫn có những khoảnh khắc hiếm hoi khán giả được thấy bộ mặt nhân tính của “Whitey” khi gã lặng ngắm đứa con trai yêu quý say ngủ, hay khi “Whitey” cố gượng cơn buồn ngủ để ngồi chơi bài với bà mẹ già. Nhưng phần lớn thời lượng của Black Mass được dành cho những nhát xẻng Bulger đào cho nấm mồ của chính gã, với những tội ác nối tiếp tội ác, án mạng nối tiếp án mạng. Lạnh lùng, tàn bạo, những cũng hết sức lọc lõi, quỷ quyệt, mọi hành động của Bulger đều xuất phát từ lòng tham không đáy đối với tiền bạc và quyền lực, và từ bản tính đa nghi của một gã “bố già” sẵn sàng xuống tay mọi lúc, mọi nơi để bịt mọi đầu mối có thể khiến gã phải đối diện với công lý. 

Ca tụng Satan trong những buổi “Lễ đen” là những người thờ phụng quỷ dữ, và trợ giúp Bulger xây nên đế chế tội ác ở Boston là đám đàn em mang trong mình dòng máu lạnh sát thủ. Rất nhiều trong số đó sinh ra, lớn lên cùng “Whitey” ở khu phố nghèo phía Nam Boston, bởi thế chúng đặt tình huynh đệ lên hàng đầu và sẵn sàng tuân lệnh “Whitey” một cách vô điều kiện, chúng sẵn sàng trừng phạt bất cứ ai khiến “Whitey” gai mắt, kể cả những người thân thiết. Hơn tất cả, chính cái nghĩa khí huynh đệ mù quáng này đã biến Boston trở thành vương quốc tội ác của riêng Bulger, khi mà người đứng đầu chính quyền Boston lại chính là Billy Bulger (Benedict Cumberbatch) – em ruột của “Whitey”, còn đặc vụ FBI phụ trách ngăn chặn các hoạt động tội ác ở đây là John Connolly (Joel Edgerton) – bạn thiếu thời của gã. Nếu như Billy – một tay chính trị gia lọc lõi, đủ khôn ngoan để nhắm mắt làm ngơ trước những hoạt động của anh trai nhưng không trực tiếp nhúng tay vào giúp gã, thì Connolly lại mù quáng tới mức trao cả Boston cho “Whitey”, sẵn sàng tiết lộ cho “người bạn thủa thơ ấu” tên tuổi những người chỉ điểm cho FBI về các hoạt động  tội ác của băng “Whitey” chỉ để đổi lấy niềm tin rằng “Whitey” sẽ giúp FBI diệt trừ nạn mafia gốc Ý ở đây. Bởi thế, khi xem Black Mass, khán giả có cảm giác “Whitey” là bóng đen phủ bóng cả bộ phim, còn chính những con chiên thờ quỷ như Connolly mới chính là những tiêu điểm của câu chuyện – những kẻ lữ hành trên con đường diệt vong để đối lấy niềm tin mù quáng vào con quỷ “Whitey” Bulger.

Black Mass không phải là thử nghiệm đầu tiên của Hollywood trong việc đưa Bulger lên màn ảnh lớn. Khán giả có thể phần nào thấy được hình ảnh gã “Bố già Boston” điên khùng, tàn bạo với cái đầu hói qua vai diễn của Jack Nicholson trong bộ phim đoạt giải Oscar “The Departed” của đạo diễn Martin Scorsese –vai diễn được xây dựng một phần dựa trên cuộc đời tội phạm của “Whitey” Bulger. Tuy nhiên Black Mass là bộ phim dạng tiểu sử đầu tiên tập trung mô tả những sự kiện xoay quanh cuộc đời tội ác của Bulger khi mà sự kiện gã bị FBI bắt sau hàng chục năm chạy trốn vẫn còn nóng hổi. Bởi thế Johnny Depp, người được lựa chọn cho vai “Whitey” Bulger trước cả khi Scott Cooper ngồi vào ghế đạo diễn bộ phim, trở thành tâm điểm chú ý của dư luận, một phần vì độ nổi bật của cái tên Bulger, và một phần quan trọng vì đã lâu Depp chưa có vai diễn nào thực sự thành công. Từng là ngôi sao tài năng và hút khách bậc nhất Hollywood, suốt gần mười năm qua Depp bị đóng khung với các vai diễn lập dị hơi có chút điên khùng, đặc biệt là trong các bộ phim của đạo diễn “ruột” của anh là Tim Burton, vốn dần bị đánh giá là nhàm chán và thiếu sáng tạo. Ngay đối với những nhân vật mang màu sắc nghiêm túc hơn như trong Transcendence, vai diễn của Johnny Depp cũng không được đánh giá cao, thậm chí còn bị coi là “thuốc độc phòng vé”. Nhưng với Black Mass, Depp đã đập tan mọi nghi ngờ về khả năng diễn xuất chưa bao giờ mất của anh với một Bulger quỷ dữ cả về ngoại hình và hành động, mà chỉ sự xuất hiện của gã trên khung hình thôi cũng đủ khiến khán giả cảm thấy gai người. Tuy rằng kịch bản tương đối mỏng không cho phép Depp tạo nên một hình ảnh có chiều sâu về “Whitey”, diễn xuất nhập vai và tạo hình chân thực của anh (hình ảnh của Depp trong Black Mass gần như trùng khớp với những bức hình hiếm hoi về Bulger được giới thiệu ở cuối phim) ít nhất đã giúp khán giả hiểu được tại sao FBI lại xếp gã ngang hàng với Bin Laden trong danh sách truy nã. Kịch bản thiếu đất cho việc phát triển tính cách của nhân vật cũng khiến những người còn lại trong dàn diễn viên của Black Mass, với những cái tên nổi bật như Cumberbatch, Rory Cochrane (vai Stephen Flemmi, tay chân của “Whitey”), Dakota Johnson (vai Lindsey, vợ của ông trùm), hay Kevin Bacon (vai Charles McGuire, đặc vụ FBI), không có nhiều cơ hội tỏa sáng. Vai diễn đáng nhớ nhất trong phim, bên cạnh Bulger của Johnny Depp, có lẽ là nhân vật đặc vụ Connolly của Joel Edgerton. Sự mù quáng đến tột độ của Connolly trước những tội ác vô nhân tính của Bulger đã được Edgerton thể hiện hết sức thành công qua bề ngoài ngày một phù phiếm của viên đặc vụ, qua từng cử chỉ thân mật Connolly dành cho “Whitey”, và qua những lời bào chữa không tưởng của ông ta trước những tố cáo rõ ràng về hoạt động tội phạm của “người anh em” Bulger. 

Thiếu một kịch bản dày dặn có lẽ là điều đáng tiếc nhất của Black Mass, bởi một đạo diễn rất giỏi phim tiểu sử như Scott Cooper (người từng giúp diễn viên gạo cội Jeff Bridges có giải Oscar diễn xuất đầu tiên với Crazy Heart năm 2009) hoàn toàn đủ khả năng để biến những cuộc đời đầy ắp sự kiện của Bulger, của Connolly, trở thành một tác phẩm điện ảnh thực sự sống động. Black Mass gợi người xem nhớ tới những bộ phim tinh tuyền về các băng đảng tội phạm Mỹ của Martin Scorsese như Goodfellas hay Casino, với tình huynh đệ đi đôi với lừa lọc xảo trá, với rất nhiều bạo lực, với những nhân vật tự đào mồ chôn mình, và tất nhiên, với rất nhiều đối thoại và những phút “kể chuyện” của các nhân vật. Nhưng khác với những bộ phim của Scorsese, phần dựng phim của Black Mass khá rời rạc và thiếu cao trào. Do đó khán giả khó lòng tạo dựng được sự gắn bó với số phận của các nhân vật trên phim, có chăng chỉ là chút cảm xúc với những giây phút hiếm hoi của tình người trên phim. Tuy vậy, những cảm xúc đó quá ngắn ngủi để khán giả có thể lưu lại sau khi xem xong phim, bất kể sự trợ giúp của phần nhạc phim hết sức xuất sắc của Junkie XL.
Một bộ phim chưa thực sự “tới” về chân dung của gã tội phạm khét tiếng như Bulger, Black Mass dù sao cũng là một tác phẩm hấp dẫn của dòng phim tội ác, đặc biệt là với những khán giả chưa từng nghe tới cái tên “Whitey” Bulger. Ít nhất là với bộ phim này, những người yêu phim cũng đã có thể hy vọng rằng Johnny Depp vẫn còn nguyên khả năng và tình yêu diễn xuất. Depp, xin chào mừng anh trở lại.


jeudi 29 octobre 2015

Youth (2015)




“...Tôi muốn kể lại những khát khao của các ông, khát khao của tôi, những khát khao quá đỗi thuần khiết, những khát khao quá đỗi bất khả, những khát khao trái lẽ thông thường, nhưng có hề gì khi chính những khát khao ấy giúp chúng ta sống một cách thực sự.”

Ngôi sao điện ảnh trẻ tuổi Jimmy Tree (Paul Dano) đã phải thốt lên như vậy với vị đạo diễn già Mick Boyle (Harvey Keitel) sau chuỗi ngày đằng đẵng theo dõi cuộc sống như ngừng lại của những “người già” như Boyle, như nhà soạn nhạc lừng lẫy Fred Ballinger (Michael Caine) ở khu nghỉ dưỡng đẹp đẽ nhưng buồn bã giữa núi non trùng điệp và lạnh lẽo của Thụy Sĩ. Đó là bối cảnh của bộ phim Youth (“Tuổi thanh xuân”), tác phẩm tiếp theo của Paolo Sorrentino trong chuỗi phim về buổi hoàng hôn của đời người – loạt phim đã đem lại cho Sorrentino rất nhiều giải thưởng danh giá như Giải của Ban giám khảo tại Liên hoan phim Cannes (cho Il Divo năm 2008) và Giải Oscar phim nói tiếng nước ngoài hay nhất (cho The Great Beauty năm 2013). 


Bộ đôi nhân vật chính của Youth – Boyle và Ballinger có rất nhiều điểm tương đồng. Đều có một sự nghiệp rất thành công, được người đời trọng vọng, kính nể, hai người bạn thân còn cùng ở vào cái tuổi xế chiều tràn ngập những suy tư, nuối tiếc về quá khứ. Nhưng thực tế thì hai người bạn vong niên Boyle và Ballinger lại là hai tính cách hết sức đối nghịch. Mang đúng cá tính nồng nhiệt của một đạo diễn Hollywood, Boyle luôn hào hứng tìm kiếm ý tưởng cho bộ phim mới của mình, luôn nhiệt thành và tin tưởng những người xung quanh (khi người bạn già Ballinger thắc mắc rằng tại sao ông lại luôn tin lời bạn bè đến thế, Boyle trả lời đơn giản rằng: “Nghề của tôi là sáng tạo ra cốt truyện cho phim, thế nên tôi phải tin tưởng vào mọi điều người ta nói, có thế tôi mới nghĩ ra thứ để kể được”). Ở thái cực ngược lại là một Ballinger “phớt Ăng lê” đúng nghĩa, người luôn nghi ngờ mọi thứ và sẵn sàng gạt phăng lời mời trình diễn của Nữ hoàng Anh vì đơn giản là ông ... không thích. Xung quanh họ, giữa khu nghỉ dưỡng hẻo lánh nơi thời gian tưởng như đã ngừng lại, còn là rất nhiều những nạn nhân khác của thời gian, của tuổi già, của gánh nặng tinh thần đến từ quá khứ. Khuôn mặt đáng nhớ nhất trong số ấy có lẽ là của ngôi sao bóng đá hết thời Roly Serrano (Roly Serrano). Thân hình béo tròn, những hơi thở gấp phải nhờ tới sự trợ giúp của máy thở, hình xăm Các Mác phủ kín lưng, và hơn cả là tình yêu chưa bao giờ tắt dành cho trái bóng và người hâm mộ, Serrano chính là hình bóng của Maradona, huyền thoại lớn và bi kịch lớn của bóng đá thế giới vì tài năng của ông, và vì những rắc rối ngoài đời của ông. Là một người con xứ Napoli (nơi Maradona mãi luôn ở trong tim người hâm mộ như một vị “Thánh bóng đá” – người đem lại cho mảnh đất này những giờ phút huy hoàng nhất), chắc chắn Paolo Sorrentino cũng coi Maradona là thần tượng, cũng cảm thấy đau lòng khi phải chứng kiến thần tượng của mình giờ chỉ còn là cái bóng của những hào quang quá khứ. Bi kịch của Serrano/Maradona cũng chính là bi kịch của Boyle, của Ballinger, của những người khách giữa đất nước Thụy Sĩ xa lạ. Đó là bi kịch của những con người vừa phải chiến đấu với bệnh tật, vừa phải chiến đấu với những ẩn ức trong tâm hồn chỉ trực bộc phát ở những thời điểm họ mềm yếu nhất. Youth chính là câu chuyện kể lại cuộc chiến của những “đấu sĩ” ấy, nơi có người vượt qua, có người phải nằm lại, nhưng tất cả đều chia sẻ khát vọng, sư trân trọng đối với tuổi trẻ - những năm tháng tuổi xuân đã qua của chính họ, và sức sống nồng cháy của những người trẻ xung quanh họ.


Là một đạo diễn rất yêu thích phong cách hiện thực huyền ảo và những cảnh quay đậm tính ẩn dụ, đề tài mang nhiều tính triết lý của Youth rõ ràng là mảnh đất màu mỡ để Paolo Sorrentino bung sức sáng tạo. Và quả thực mỗi khung hình của Youth đều có thể coi là một bức tranh tuyệt đẹp, theo những cách rất khác nhau. Một bức tranh phong cảnh rực rỡ theo chủ nghĩa tự nhiên về đất nước Thụy Sĩ hùng vĩ, một tác phẩm chỉ với hai gam màu đối nghịch của chủ nghĩa tối giản về không gian lắng đọng bên trong khu nghỉ dưỡng, một khung hình đầy chất biểu hiện về những cái bóng đang dần mờ đi theo tuổi tác của những vị khách trong khu nghỉ. Tất cả đã biến Youth thực sự trở thành một tác phẩm nghệ thuật khơi gợi cảm xúc, một tác phẩm chỉ bằng hình ảnh và âm nhạc đã khiến người xem xúc động vì họ được thấy những giá trị đẹp đẽ, nhân văn nhất của cuộc sống. Nhưng điểm khiến Youth thực sự thành công có lẽ là Sorrentino đã không quá sa đà vào việc làm một bộ phim “nghệ thuật” cho riêng ông. Giống như tác phẩm đầu tay và thành công nhất của Ballinger – một bản nhạc “đơn giản” nhưng dung dị, lôi cuốn, Youth có nhịp phim hết sức nhịp nhàng với những khoảng tĩnh lặng cần có xen giữa những giờ phút cao trào, với những câu chuyện đầy chất nhân văn được kết nối bằng những hình ảnh nhiều chất ẩn dụ. Theo tôi đây có lẽ là bộ phim dễ tiếp cận nhất của Paolo Sorrentino kể từ Il Divo năm 2008.


Thành công của Youth không thể không kể tới đóng góp của dàn diễn viên với Michael Caine, Harvey Keitel, Rachel Weisz, Paul Dano và nhiều tên tuổi khác. Rất nhiều lời khen đã được dành cho diễn xuất tinh tế, sâu sắc của Michael Caine, bậc thầy của làng diễn viên Anh trong vai “bậc thầy” (maestro) của âm nhạc Fred Ballinger. Ngay cả Jane Fonda trong một vai diễn rất nhỏ (Brenda Morel – “nàng thơ” của đạo diễn Mick Boyle) cũng để lại ấn tượng sâu sắc với những cung bậc cảm xúc đối nghịch, đau xót chỉ trong vài phút bà xuất hiện trên khung hình. Nhưng theo tôi Harvey Keitel mới là hiện thân thực sự của Youth. Đã rất lâu người xem mới lại được thấy Keitel có một vai diễn xứng đáng với tầm vóc và tài diễn xuất của ông. Và Keitel đã hết sức thành công trong việc truyền tải cả bề ngoài mạnh mẽ của một đạo diễn Hollywood, sự “ngây thơ” hết sức nghệ sĩ, và hơn hết là những góc khuất yếu mềm trong tâm hồn nhiều bi kịch của Mick Boyle. 


Khi còn trẻ người ta nhìn đời qua đầu này của ống nhòm. Mọi thứ tưởng như đều trong tầm với. Đó là tương lai.

Khi về già người ta nhìn đời qua đầu kia của ống nhòm. Mọi thứ đều có cảm giác vô cùng xa xôi. Đó quá khứ


Youth là một bộ phim đẹp về tuổi già, về những giá trị vững bền của quá khứ, của kí ức. Nhưng quan trọng hơn cả, bộ phim đem lại cho người xem một thông điệp đơn giản rằng chúng ta cần trân trọng tuổi trẻ, thứ chỉ đến một lần trong đời, thứ đem lại sức mạnh để ta có thể sáng tạo ra những sản phẩm để đời, hoặc đơn giản là để ta có thể yêu, có thể sống. 

samedi 29 août 2015

Boogie Nights (1997) ... or "Porn vs. Cinema"



Hôm nay đọc trên Reddit thấy có thảo luận "Could a porn movie ever crossover and be considered a piece of artwork an seen as a legit film?" làm tôi nghĩ ngay tới Boogie Nights, một trong những bộ phim hay và cảm động nhất tôi từng xem. Việc "phân tích" hay "phê bình" bộ phim này ở thời điểm hiện tại có lẽ là thừa, vì tôi chắc rằng những ai đã xem Boogie Nights thì đều có thể cảm nhận được nội dung nhân văn và vẻ đẹp điện ảnh của bộ phim (đây có lẽ là bộ phim dễ tiếp cận nhất của "wunderkind" Paul Thomas Anderson). Ở đây tôi chỉ muốn nhắc đến khía cạnh "porn vs. cinema" - liệu một bộ phim khiêu dâm (phim được làm với mục đích khơi gợi ham muốn - không phải phim có cảnh quan hệ tình dục "thật", vì rất nhiều tác phẩm điện ảnh "xịn" có những cảnh như vậy, đặc biệt là phim châu Âu vốn ít chịu ràng buộc tôn giáo hơn phim Hollywood) có thể xuất sắc tới mức được coi là một tác phẩm nghệ thuật điện ảnh thực sự? Theo tôi thì là không, lý do thì đã có Julianne Moore - người thủ vai nữ chính (một ngôi sao phim khiêu dâm) trong Boogie Nights chia sẻ với James Lipton trong chương trình Inside the Actors Studio


Moore: 
... I was at a Christmas Party, and a friend of mine said "I want you to meet this kid [PTA kém Moore chẵn 10 tuổi và Boogie Nights hoàn thành khi PTA mới 27 tuổi], he wrote this script and there's a part in here for you, he wrote this part with you in mind, he wants you to do it". So I go over and meet Paul. I said "Hey, how are you", and he's like "You know, I have this thing I want to talk with you", and I said "This is great, okay, I'm looking forward to it", and he's like "You gonna be in my movie, man!".

... and I read it, and I called him and said "Yeah, I am going to be in your movie, this is fantastic!". It was so moving, so exciting, and exhilarating, and I was like "This guy is a major talent".

Lipton:
... Burt Reynolds was here on that chair. He told us that he visited a porn set in preparation for the role. Did you ever consider doing it?
  
Moore: 
I did. Paul and I went to one. This is a small scale video thing in a hotel room... So there we were, Paul and I sitting on the floor of a room smaller than this stage [sân khấu của Inside the Actors Studio rất nhỏ theo kiểu "bục giảng", vì Lipton thực sự dùng chương trình này để "dạy" học trò của ông về nghề diễn], you know. We sat out there on the floor and we watched this thing. But you know, it was interesting because it's so dangerous. It's so dangerous I think what they were doing because you can't have that kind of intimacy and have it be okay, you know. People talk a lot about actors with the experiences - is it real kissing, is it not, da da da. And there are things that you can do, and you know, you can figure that out...

Lipton:
The crucial scene, which you initiated the neophyte porn star Dirk [Mark Wahlberg trong vai diễn xuất sắc nhất trong sự nghiệp] is necessarily graphic, to say the least. I've seen other scenes that are like it, but this must be extremely difficult?

Moore:
No, it wasn't, because of Paul [Thomas Anderson], because of Mark [Wahlberg], you know. I mean, anything that you do where there's such a degree of... Yeah, I mean, there's enormous sensitivity when we were doing that kind of stuff, but the stuff that we were doing in the scene was supposed to be a kind of acting of porn was actually very disconnected and more or less positional and not emotional, as it supposed to be. 

Nói ngắn gọn thì Moore cho rằng những cảnh diễn tình dục "thật" khiến các diễn viên phim khiêu dâm buộc phải gần gũi thực sự về mặt xác thịt và cảm xúc, và vì thế không thể thực sự "diễn" theo kịch bản được. Bởi vậy phim khiêu dâm cũng không thể thực sự trở thành tác phẩm điện ảnh.

mardi 7 juillet 2015

A Brighter Summer Day (1991)






Vốn định không review phim này (vì ít lời thì không xứng với phim, mà nhiều lời thì không đủ thời gian), nhưng cuối cùng lại thấy không đành, phải lôi máy ra gõ vài dòng về tuyệt phẩm này.

Theo tôi cái tên tiếng Anh của bộ phim này thực sự rất xuất sắc, một cái tên rất đẹp, nên thơ, đúng như 3/4 chiều dài bộ phim, đúng như những nhân vật đang ở cái độ tuổi đẹp nhất trong cuộc đời mỗi người - tuổi mới lớn, mà lại "đánh lạc hướng" được khán giả và giữ cho cảm xúc của người xem lần đầu như tôi được nguyên vẹn cho đến những phút cực kì bất ngờ ở cuối phim. Tên gốc tiếng Trung của phim - Cổ Lĩnh Nhai thiếu niên sát nhân sự kiện ( 牯嶺街少年殺人事件, Vụ án thiếu niên giết người ở Cổ Lĩnh Nhai) làm lộ khá nhiều nội dung của phim, và hơn nữa nó lại làm phim mang hơi hướng của một bộ phim "hình sự - phá án". Quả thực bộ phim có "giết người", có "thủ phạm", có "nạn nhân", nhưng tôi chắc chắn một điều rằng Dương Đức Xương khi làm phim này không hề có ý định tìm cách giải thích cái vụ án có thật này, bởi vì có xem xong phim người xem như tôi cũng chỉ có thể thấy đau lòng và bàng hoàng như chính những nhân vật trong phim khi phải chứng kiến những "đứa trẻ mới lớn" đẹp đẽ đến nhường ấy tự hủy hoại bản thân mình, hủy hoại cuộc đời của những người chúng hết mực yêu quý. 

Một điều làm tôi hết sức bất ngờ đó là A Brighter Summer Day có vô số điểm chung với một bộ phim làm tôi "mê mệt" khác - Once Upon a Time in America của Sergio Leone. Cả hai bộ phim đều rất, rất dài - Once Upon a Time in America có hai bản dài 3 tiếng 49 phút và 4 tiếng 11 phút, A Brighter Summer Day dài 3 tiếng 57 phút. Dài, nhưng mỗi giây, mỗi phút của cả hai bộ phim đều đẹp, đều đáng được khán giả trân trọng. Cả hai đều nói về vẻ đẹp của tình bạn, tình yêu thuở đầu đời, khi mà con người ta còn chưa bị những toan tính, lo nghĩ về cuộc sống xóa nhòa những lý tưởng tốt đẹp họ dành cho những người thân yêu, dành cho cuộc sống phía trước. Cả hai đều đề cập tới chất mã thượng nửa mùa của giới băng đảng, vốn nhanh chóng chìm nghỉm trước những phù phiếm (A Brighter Summer Day), tham lam (Once Upon a Time in America) của chính những thành viên băng đảng từng coi nhau như anh em, ruột thịt. Đặc biệt hơn nữa, cả hai bộ phim đều "bắt đầu" bằng cách "kết thúc" với cảnh mở đầu phim chính là một lát cắt từ cảnh cuối phim, một phần để nói lên cái vòng tuần hoàn bất tận của cuộc đời nơi số phận của mỗi cá nhân riêng biệt trở nên nhỏ bé trước những quy luật muôn đời của cuộc sống, của tình bạn, của tình yêu, một phần để cho người xem thấy được rằng vẫn cùng một khung hình, một bối cảnh như vậy, nhưng ý nghĩa của chúng sẽ hoàn toàn khác nhau, thậm chí là đối lập nhau khi ta hiểu được số phận của mỗi con người trong khung hình ấy. Và dù cùng mang mác "phim hình sự", nhưng cả hai bộ phim đều đậm chất sử thi theo đúng cái nghĩa là những tác phẩm điện ảnh mang lại cho người xem cái không khí riêng, cái bối cảnh riêng của một giai đoạn lịch sử, một vùng đất (New York trong Once Upon a Time in America và Đài Loan, cụ thể hơn là Đài Bắc trong A Brighter Summer Day), một xã hội tao loạn với sự xung đột của những người "cũ" và những người "mới", của thế hệ "cũ" và thế hệ "mới" ("dân mới nhập cư" đối đầu "dân bản địa" New York trong Once Upon a Time in America, và dân "Quốc Dân Đảng" chạy loạn sang Đài Loan đối đầu dân bản địa Đài Loan trong A Brighter Summer Day), đủ để người xem nhận ra rằng khuôn mặt của những thành phố, vùng đất ấy đã thay đổi lớn lao tới nhường nào. Điều khác biệt duy nhất giữa hai bộ phim có lẽ là độ dài thời gian của truyện phim - Sergio Leone kể một câu chuyện kéo dài tới vài thập kỉ trong khi Dương Đức Xương chỉ tập trung vào một lát cắt rất mỏng của Đài Loan những năm 1960.

Một cách ngắn gọn thì A Brighter Summer Day là câu chuyện về những biến động tuổi mới lớn của Tiểu Tứ (Trương Chấn trong vai diễn đầu tiên trong sự nghiệp ở tuổi 15 (!) đã lập tức chứng tỏ anh sẽ là một ngôi sao lớn của điện ảnh tiếng Trung, cả về tài năng diễn xuất và vẻ đẹp hết sức điện ảnh, đặc biệt là đôi mắt sáng và thông minh, của anh), cậu học trò được nuôi nấng trong một gia đình hết sức gia giáo với một ông bố luôn sống bằng lý tưởng bất kể bối cảnh xã hội tao loạn của Đài Loan thời thập niên 1960. Xung quanh Tiểu Tứ là gia đình, là những người "anh em" thân thiết trong lớp, là người bạn gái Tiểu Minh (thật đáng tiếc vai diễn hết sức xuất sắc này lại cũng là vai diễn duy nhất (!) của Dương Tĩnh Di), là "kẻ thù" của băng đảng đối nghịch, là những "ông già" giám thị hay chủ tiệm tạp hóa khó tính, là một tay "anh chị" mã thượng nhưng hết thời phải chịu cảnh sống chui lủi. Với thời lượng xấp xỉ 4 tiếng của bộ phim, TẤT CẢ các nhân vật này đều được đạo diễn Dương Đức Xương chăm chút với đất diễn vừa đủ, với câu chuyện vừa đủ, với những nét đặc tả vừa đủ để hình ảnh, số phận của họ "in dấu" trong tâm trí khán giả. Không chỉ có vậy, tài năng của đạo diễn họ Dương thể hiện ở chỗ những nhân vật của ông làm khán giả "nhớ", khán giả "yêu quý" không phải vì số phận bi thương "mua nước mắt" của họ (tất nhiên một vài trong số đó có kết cục hết sức bi thương, nhưng vì "số phận điện ảnh" của những nhân vật này đặt họ vào vị trí đó chứ không phải họ được đặt vào đó để "bắt" khán giả phải nhớ tới), đó là một Trương Hàn ham chơi bi-a tới mức mang chiếc đồng hồ quý của nhà đi cầm đồ nhưng vẫn hết mực bảo vệ người em Tiểu Tứ lúc Tiểu Tứ cần đến anh trai, đó là một Tiểu Mã nhà giàu nhưng trọng nghĩa, luôn đặt tình anh em cao hơn hết thảy "lũ con gái", và tất nhiên chẳng ai có thể quên giọng hát của Tiểu Miêu Vương hay hành động phá ghế lấy chân ghế đi "xử lý" đối phương cứu Tiểu Tứ của cậu bé này. Ở đây Dương Đức Xương làm tôi nhớ tới đạo diễn yêu thích của tôi - Yasujiro Ozu, người vốn cũng rất giỏi gợi lên số phận, bi kịch của cuộc đời từ những hình ảnh tưởng chừng hết sức thanh thản của những nhân vật hết mực bình dị của ông. Có lẽ chịu ảnh hưởng từ Ozu, Dương Đức Xương cũng sử dụng rất nhiều cảnh quay với khung hình tĩnh, sử dụng tối đa ánh sáng tự nhiên, những khung hình ấy có thể "bắt" được toàn bộ hình ảnh nhân vật trong khung hình, nhưng cũng đôi khi chỉ bắt được cái bóng của họ, những chi tiết quan trọng của truyện phim vì thế đôi khi cũng không nằm trong "tầm mắt" của khán giả mà họ chỉ có thể "nghe" từ một mẩu đối thoại vọng lại từ đâu đó hoặc từ "đoán" từ một chi tiết nào đó còn sót lại trong khung hình (phong cách đậm "chất Ozu" này được Dương Đức Xương thể hiện rất rõ trong tuyệt phẩm cuối đời của ông Yi Yi). Tôi cũng cảm thấy rất dễ chịu trước cách sử dụng những hình ảnh mang tính biểu tượng xuyên suốt bộ phim của Dương Đức Xương, rất tự nhiên, dễ nhận, dễ cảm, không làm người xem có cảm giác bị "giáo huấn", bị "ép phải hiểu". Một ví dụ điển hình là chiếc đèn pin của Tiểu Tứ, nó luôn ở bên cậu bé suốt gần hết bộ phim, là công cụ soi đường, đọc sách của cậu, nhưng cũng là thứ giúp Tiểu Tứ nhận ra sự thật bạo liệt, chết chóc xung quanh cậu. Bởi thế mà khi Tiểu Tứ từ bỏ chiếc đèn pin, người xem hẳn sẽ phải nín thở chờ đợi một sự thay đổi nội tại lớn lao nào đó của Tiểu Tứ, một sự thay đổi về hướng nơi đó không còn ánh sáng soi đường của chiếc đèn pin ấy.

Cái kết của A Brighter Summer Day làm tôi thực sự kinh ngạc, thậm chí là cảm thấy sốc vì sự bất ngờ và bạo liệt của nó (thật may là trước khi xem phim tôi không hề đọc thông tin liên quan tới bộ phim trên Wikipedia, cũng như không biết tên gốc của bộ phim, bởi thế cảm xúc xem là hoàn toàn nguyên vẹn). Tôi cảm thấy buồn, bởi số phận những nhân vật mình hết sức yêu quý lại rẽ sang một khúc quanh đau đớn đến như vậy, bởi "lịch sử lại lặp lại" khi mà những người làm ta đau đớn nhất lại luôn là những người ta yêu quý nhất. Nhưng tuổi mới lớn là như vậy, có ai có thể hiểu được họ, những người trẻ ấy, khi mà chính chúng ta chắc chắn cũng chưa bao giờ hiểu được chính chúng ta ở vào cái tuổi ấy. Có chăng chỉ là một sự trân trọng cho cái cách Dương Đức Xương đã vẽ lại chân dung của những người trẻ ấy, hết sức đẹp đẽ, hết sức hồn nhiên, nhưng cũng không thiếu cái chất điên khùng của tuổi trẻ. Bởi thế, có thể A Brighter Summer Day không hẳn là một "ngày đẹp trời" nhưng chắc chắn sẽ luôn mà một ngày đáng nhớ đối với người yêu điện ảnh, bởi nó chính là hình ảnh phản chiếu của tuổi trẻ mỗi người.