some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

mercredi 24 février 2016

The Revenant (2015)




Tháng Tám năm 1823, khi đang trên đường thám sát giữa vùng rừng sâu hoang vu bang Nam Dakota, tay thợ săn da thú Hugh Glass bất ngờ chạm chán một gia đình gấu mẹ và hai chú gấu con. Theo đúng bản năng bảo vệ con, con gấu xám lớn lao vào tấn công Glass và nhanh chóng hạ gục người thợ săn kinh nghiệm bằng những đòn chí mạng xé toạc thân thể nạn nhân của nó. Chỉ có sự xuất hiện kịp thời của những người bạn săn trong đoàn mà Hugh Glass mới thoát chết, nhưng nhưng cú cắn và táp của con gấu cũng đủ khiến Glass hấp hối trong tình trạng bại liệt toàn thân và trở thành gánh nặng cho cả đoàn thợ săn. Vừa phải đối chọi với thiên nhiên cực kì khắc nghiệt và sự truy đuổi của những người thổ dân giận dữ, vừa phải gánh gã thợ săn thập tử nhất sinh xuyên rừng xuyên núi với những bước chân vốn đã nặng chĩu vì các kiện da thú, đoàn thợ săn cuối cùng quyết định buộc phải bỏ Glass lại giữa hoang dã nước Mỹ. Không ai trong số bạn săn của Hugh Glass có thể ngờ rằng gã đàn ông trung niên ấy không những không chết giữa rừng thiêng nước độc, trái lại, với bản năng sinh tồn và chút sức tàn còn lại, Glass trong cảnh tàn phế đã bò qua trên 300 km rừng núi trong vòng sáu tuần để tìm về với văn minh, tìm về với sự sống, và trở thành huyền thoại.


Câu chuyện đầy kinh ngạc về bản năng sinh tồn của Hugh Glass từ lâu đã trở thành đề tài cho giới văn nghệ nước Mỹ mà gần đây nhất là tiểu thuyết năm 2002 The Revenant (Người trở về từ cõi chết) của nhà văn Michael Punke. Năm 2015, tiểu thuyết kể trên đã được chuyển thể lên màn ảnh lớn qua bộ phim cùng tên của đạo diễn Alejandro Inarritu, người vừa đoạt giải Oscar cho cả phim và đạo diễn xuất sắc nhất năm 2014 với bộ phim Birdman. Trong phim, Hugh Glass (Leonardo DiCaprio) không những phải đối chọi với thiên nhiên khắc nghiệt mà còn phải đương đầu với gã bạn săn hiểm ác John Fitzgerald (Tom Hardy), kẻ quyết loại bỏ Glass bằng mọi thủ đoạn, từ đánh lừa chỉ huy đoàn săn Andrew Henry (Domhnall Gleeson), buộc người thợ săn trẻ Jim Bridger (Will Poulter) phải trở thành tòng phạm bỏ mặc Glass với cái chết, và thậm chí là tìm cách ám hại Hawk (Forrest Goodluck) – đứa con trai mang dòng máu thổ dân của Glass. Xuyên suốt bộ phim, người xem sẽ được chứng kiến cuộc chiến một mất một còn giữa Glass và Fitzgerald, giữa con người với thiên nhiên lạnh lẽo khắc nghiệt, và giữa ý chí sinh tồn với bóng ma luôn hiện hữu của thần chết.


Leonardo DiCaprio là một trong những ngôi sao lớn nhất của điện ảnh Hollywood hiện nay nhưng trong vòng 10 năm qua anh cũng trở thành nhân vật của một câu chuyện đùa không lấy gì làm thú vị cho DiCaprio – “Liệu đến bao giờ Leonardo DiCaprio mới giành tượng vàng Oscar?”. Từng làm việc với rất nhiều đạo diễn nổi tiếng, từ James Cameron, Steven Spielberg, cho tới Quentin Tarantino và đặc biệt là Martin Scorsese, kể từ năm 2002 cho tới nay hầu như tất cả các bộ phim mà Leonardo DiCaprio tham gia đều được đánh giá cao với rất nhiều lời khen ngợi dành cho các vai diễn của anh. Tuy nhiên dù đã bốn lần được đề cử giải Oscar nhưng lần nào Leonardo DiCaprio cũng phải ra về tay trắng và câu chuyện đùa kể trên lại được lặp lại trên các mặt báo và Internet. Liệu với The Revenant, Leonardo DiCaprio có thể hóa giải câu chuyện đùa ấy? Rất có thể, bởi đây là một trong những vai diễn khốc liệt và bi tráng nhất mà anh từng thể hiện trong sự nghiệp. Thổ dân truy diệt, thú dữ tấn công, chết cóng giữa cái lạnh khủng khiếp của miền Bắc nước Mỹ hoang dã, chết đói giữa bạt ngàn rừng hoang tuyệt nhiên không có thứ gì ăn được, nhân vật Hugh Glass của DiCaprio phải trải qua tất cả những thử thách ấy chỉ bằng bản năng sinh tồn và ý chí trả thù kẻ bạn săn nham hiểm đã đẩy ông tới chỗ đường cùng. Trong một vai diễn gần như không có thoại và thường xuyên phải bất động vì bại liệt toàn thân, cặp mắt xanh trở thành phương tiện duy nhất để Leonardo DiCaprio diễn tả mọi trạng thái cảm xúc của nhân vật, từ đau đớn, sợ hãi, tuyệt vọng, tới hừng hực khao khát tồn tại, khao khát trả thù. Có lẽ kể từ Blood Diamond (2006, bộ phim đem lại cho anh đề cử Oscar thứ ba) tới nay Leonardo DiCaprio mới lại có một vai diễn với đòi hỏi khắc nghiệt về mặt thể chất đến vậy với rất nhiều pha hành động trong bối cảnh trời Đông lạnh lẽo chỉ có cây khô, tuyết trắng, sông gầm, và núi dữ. Nhưng điều kiện quay phim của The Revenant còn là thử thách lớn hơn rất nhiều bối cảnh châu Phi của Blood Diamond, bởi với đòi hỏi rất cao về phần bối cảnh và hình ảnh của phim, đạo diễn Inarritu đã quyết định tuyệt đối không dùng kỹ xảo đồ họa vi tính để thay thế cho các cảnh quay khó, cũng như chỉ sử dụng ánh sáng tự nhiên cho việc quay phim thay vì sử dụng các bối cảnh thuận lợi hơn rất nhiều trong trường quay. Sự kỹ tính của đạo diễn Inarritu không chỉ khiến kinh phí quay của bộ phim bị đội lên gần gấp đôi, mà còn khiến một số nhân viên của đoàn phim phải từ bỏ The Revenant. Tất nhiên trong số đó không có Leonardo DiCaprio. Trái lại điều kiện quay khó khăn dường như lại càng tôi luyện cho hình ảnh sắt đá của Hugh Glass của DiCaprio qua từng thời khắc sinh tử. Bằng diễn xuất ngoại hạng của mình, thực sự Leonardo DiCaprio đã đưa ra được một cách giải thích hợp lý cho khán giả về huyền thoại sinh tồn của Hugh Glass, đưa cho họ câu trả lời vì sao Glass có thể vượt qua mọi gian nan, thử thách để tìm về với sự sống. Cũng phải nhấn mạnh rằng gian nan, thử thách ở đây không chỉ về mặt thể xác, mà còn nằm rất nhiều ở mặt tinh thần. Bởi Glass là một con người mất mát, dù cận kề cái chết hay chạm ngưỡng hồi sinh nhưng trong trái tim của ông luôn là người vợ và đứa con gốc thổ dân mà ông phải rời xa. Dù đã từng đóng những vai diễn với những mất mát tinh thần tương tự như trong Shutter Island (2010) hay Inception (2010), nhưng cái cách DiCaprio thể hiện nỗi đau ấy qua sâu thẳm đôi mắt vốn đã khô cạn nước mắt, qua cặp môi nứt toác run run đầy đau đớn quả thực đã tạo ra một hình ảnh hết sức khác biệt so với một DiCaprio-giận-dữ thường thấy. Dù không thể phủ nhận đóng góp hết sức quan trọng của các diễn viên khác trong The Revenant, đặc biệt là Tom Hardy trong vai John Fitzgerald – kẻ cừu thù của Hugh Glass hay Will Poulter trong vai anh chàng thợ săn non nớt Jim Bridger, nhưng có thể khẳng định rằng DiCaprio là động lực lớn nhất đưa tới thành công của bộ phim. 


Trên bảng phân vai của The Revenant, Leonardo DiCaprio được xếp đầu tiên với tư cách diễn viên chính của bộ phim. Tuy nhiên tác phẩm của Alejandro Inarritu còn một diễn viên chính khác quan trọng không kém, đó là thiên nhiên bao la của miền Bắc nước Mỹ. Trong bộ phim này thiên nhiên đóng cả hai vai chính diện và phản diện khi mà vẻ đẹp đến nghẹn thở của núi rừng, sông suối, của gió, của tuyết luôn đi kèm với sự khắc nghiệt chết người của cái lạnh, cái đói, và thú dữ rình rập ở mọi nơi mọi lúc. Để truyền tải hai mặt đối lập ấy của nước Mỹ hoang dã tới khán giả, đạo diễn Inarritu đã lựa chọn nhà quay phim Emmanuel “Chivo” Lubezki, đồng nghiệp thân thiết của ông và là người giành giải Oscar quay phim xuất sắc ở cả hai lễ trao giải Oscar gần đây nhất với Gravity (2013) và Birdman (2014). Không phụ sự tin tưởng của Inarritu, “Chivo” Lubezki đã khiến khán giả choáng ngợp với những cảnh quay góc rộng diễn tả thiên nhiên bao la ngút ngàn của rừng núi nước Mỹ đẹp đẽ nhưng cũng đậm hơi thở bí ẩn. Nếu như với Gravity, “Chivo” Lubezki trở nên nổi tiếng với khả năng kết hợp các cảnh quay không gian với kỹ xảo đồ họa tân tiến, Birdman thể hiện khả năng xử lý của Lubezki với những đúp quay rất dài trong không gian hẹp, thì The Revenant lại cho thấy một Lubezki với con mắt tài năng trong việc lựa chọn các góc máy lạ để truyền tải tối đa tính cách của thiên nhiên và tình cảm, suy nghĩ của những con người nhỏ bé phải sống, phải tồn tại giữa màu xám của trời, màu trắng của tuyết, và màu nâu của cỏ cây. Hỗ trợ cho những góc máy xuất sắc của Lubezki là phần nhạc phim đẹp đẽ, bi tráng không kém của nhạc sĩ Ryuichi Sakamoto – một trong những tên tuổi lớn nhất của âm nhạc đương đại Nhật và là tác giả cho phần nhạc phim của rất nhiều tác phẩm đáng nhớ như Merry Christmas Mr. Lawrence (1983), The Last Emperor (1987), hay The Sheltering Sky (1990). Phong cách tối giản của cả Lubezki và Sakamoto cho phần hình ảnh và âm nhạc của bộ phim là một lựa chọn hết sức phù hợp với thiên nhiên đơn sắc của “The Revenant” và góp phần đẩy cao xung đột giữa các nhân vật, giữa nhân vật với thiên nhiên, giữa lòng tham và sự tự trọng trong phim. 


Truyền tải một cách hoàn hảo cuộc chiến sinh tồn của Hugh Glass là một thành công lớn của The Revenant, nhưng sẽ là một thiếu sót lớn nếu coi bộ phim dài tới hơn hai tiếng rưỡi này của đạo diễn Alejandro Inarritu chỉ kể duy nhất một câu chuyện, chỉ có duy nhất một lớp ý nghĩa như vậy. Đây đó giữa mảnh đất rộng lớn phía Bắc nước Mỹ, người xem được thấy những khuôn mặt thổ dân khắc khổ và giận dữ, tro bụi và xác chết trong những bản làng bị hủy diệt của thổ dân châu Mỹ, sự nham hiểm của những kẻ định cư da trắng – những kẻ sẵn sàng giết thổ dân chỉ để treo lên cổ họ tấm biển “On est tous des sauvages” (“Tất cả lũ bọn chúng chỉ là đồ mọi rợ”). Cũng chính giữa cái hủy diệt, chết chóc ấy, người ta cũng thấy le lói ánh sáng của tình người, của sự cao thượng, bất kể họ là thổ dân hay người định cư da trắng, thứ ánh sáng tuy mờ nhạt giữa xám xịt hoang dại nhưng cũng đủ để người ta cảm nhận được sự tồn tại, dù là rất khó khăn, của nhân tính nơi đây. Lịch sử bi thương của những bộ lạc thổ dân châu Mỹ phải lùi dần tới chỗ diệt vong trước sự xuất hiện của người định cư da trắng là một đề tài không mới, nhưng hiếm khi được Hollywood khai thác một cách triệt để ngoại trừ một số ít các bộ phim xuất sắc như Dances with Wolves (Khiêu vũ giữa bầy sói, 1990) của đạo diễn Kevin Costner hay The Last of the Mohicans (1992) của đạo diễn Michael Mann. Bởi thế, cái cách The Revenant đưa tới cho khán giả một lát cắt mỏng nhưng hết sức tinh tế, hết sức thấm thía về câu chuyện đầy thương đau của những người da đỏ là điều đáng trân trọng. Có phải chăng với The Revenant, thổ dân châu Mỹ - những người chủ đầu tiên của mảnh đất này, cũng chính là hình ảnh thiên nhiên nơi đây – một thiên nhiên bị tàn phá, vơ vét đến cùng kiệt bởi những người định cư. Cũng như núi rừng huyền bí, những người thổ dân ấy sẽ sẵn sàng chiến đấu, trừng phạt đến cùng những kẻ tàn phá, nhưng cũng sẵn sàng tha thứ nếu như những người khách không mời ấy vẫn còn mang trong mình chút lương tri con người. 


Một kịch bản sâu sắc với nhiều lớp nghĩa nhân văn. Phần hình ảnh tuyệt vời về thiên nhiên trường tồn của núi rừng nước Mỹ. Diễn xuất trọn vẹn của Leonardo DiCaprio. Có lẽ chừng ấy đã là quá đủ để giúp The Revenant của đạo diễn Alejandro Inarritu trở thành một trong những bộ phim đáng nhớ nhất của năm 2015, và là một chuyển thể điện ảnh xứng đáng với huyền thoại sinh tồn của Hugh Glass.

====

  

lundi 1 février 2016

Anomalisa (2015)


Tại liên hoan phim Venice năm 2015, một trong những tác phẩm gây được tiếng vang lớn nhất sau khi giành được giải thưởng lớn đặc biệt đó là bộ phim hoạt hình Anomalisa của hai đạo diễn Charlie Kaufman và Duke Johnson. Trong một năm mà dòng phim hoạt hình thế giới tiếp tục chứng kiến thành công thương mại vượt trội của hãng Pixar với bộ phim dành cho mọi lứa tuổi Inside Out, thì Anomalisa vẫn thu hút được sự chú ý của người mộ điệu không chỉ bởi giải thưởng này của ban giám khảo liên hoan phim Venice, mà còn vì đây là đứa con nghệ thuật mới nhất của Charlie Kaufman, một trong những nhà biên kịch nổi bật nhất của điện ảnh Hoa Kỳ đương đại.

Nhân vật chính của Anomalisa là Michael Stone (David Thewlis) là một cây bút và diễn giả nổi tiếng về kỹ năng giao tiếp với khách hàng qua điện thoại. Đặt chân tới thành phố Cincinnati trong một ngày mưa tầm tã để chuẩn bị cho buổi diễn thuyết giới thiệu sách vào ngày hôm sau, Michael tới khách sạn trong tâm trạng buồn bã, cô đơn. Văng vẳng trong đầu tiếng nói trách móc của người bạn gái cũ Bella (Tom Noonan), Michael tìm cách gọi điện với những người thân thiết trong đời của ông, để rồi chỉ càng cảm thấy đơn độc và lạc lõng khi không tìm được tiếng nói chung với những người xung quanh, thậm chí là với chính gia đình nhỏ của ông. Cơ hội khoả lấp nỗi cô đơn đến với Michael khi ông tình cờ gặp Lisa (Jennifer Jason Leigh), cô nhân viên tiếp thị hâm mộ Michael và quyển sách dạy kỹ năng của ông. Có vẻ ngoài hết sức bình thường và cách nói chuyện còn có phần “quê mùa”, nhưng Lisa lại đem đến cho Michael một tâm hồn đồng điệu trong khác biệt. Anomalisa là câu chuyện một đêm của Michael và Lisa, là câu trả lời cho câu hỏi tại sao họ lại có thể tìm thấy nhau, và liệu họ có thể ở bên nhau để lấp đầy khoảng trống của hai số phận lạc lõng.  

Chính thức ra mắt Hollywood từ năm 1999 với Being John Malkovich, đến nay Charlie Kaufman đã có bảy kịch bản được chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh. Các bộ phim do ông chắp bút không hẳn là những tác phẩm thành công vang dội về mặt thương mại hay giải thưởng, nhưng tất cả đều là những sản phẩm điện ảnh được giới phê bình và người hâm mộ đánh giá rất cao về cấu trúc độc đáo, sự sáng tạo trong cách xây dựng nhân vật, và chất triết lý đậm đặc trong mỗi tác phẩm. Phong cách nghệ thuật riêng biệt và sức tưởng tượng tuyệt vời của Kaufman đã đem lại cho ông một giải thưởng Oscar cho kịch bản gốc hay nhất với kịch bản phim Eternal Sunshine of the Spotless Mind. Là một tác phẩm tình cảm hài xuất sắc và cảm động về tình yêu đôi lứa và sợi dây tình cảm giữa người với người, nhưng Eternal Sunshine of the Spotless Mind còn là câu chuyện về sự cô đơn, cũng như đem lại cho khán giả một cái nhìn rất riêng giàu chất triết học về cách thức chúng ta tạo ra và lưu giữ ký ức. Năm 2008 Kaufman cho ra mắt bộ phim đầu tiên do chính ông đạo diễn, Synecdoche, New York. Được nhà phê bình điện ảnh nổi tiếng Roger Ebert đánh giá là một trong những tác phẩm điện ảnh xuất sắc nhất trong thập niên đầu tiên của thế kỷ 21, Synecdoche, New York là một bộ phim hết sức phức tạp và lạ lùng với bối cảnh và truyện phim nhiều lớp như một cô búp bê Nga Matryoshka được xây dựng xung quanh câu hỏi hiện sinh về giá trị tồn tại của mỗi con người, về sự cô đơn, và về ý nghĩa thực sự của cuộc sống.

Tiếp tục mạch suy tưởng này của Synecdoche, New York, Anomalisa cũng là bộ phim về một số phận cô đơn lạc lõng đi tìm lại giá trị của cuộc sống, tìm lại những tâm hồn đồng điệu. Nhưng khác với phong cách đa tầng tới mức đôi khi khó hiểu trong bộ phim đầu tiên ông đảm nhận vai trò đạo diễn, Kaufman lựa chọn cho Anomalisa một không gian hết sức giản dị với bối cảnh nhỏ gọn, tuyến nhân vật tinh giản, và đặc biệt là việc kể chuyện bằng kỹ thuật hình ảnh động (stop-motion) của phim hoạt hình. Với những đại diện tiêu biểu như bộ phim dành giải Oscar cho phim hoạt hình năm 2005 Wallace & Gromit: The Curse of the Were-Rabbit hay các bộ phim hoạt hình của đạo diễn Tim Burton như Corpse Bride (2005) hay Frankenweenie (2012), các bộ phim hoạt hình sử dụng kỹ thuật stop-motion có ưu điểm là vừa tạo điều kiện cho các đạo diễn thoả sức sáng tạo về mặt hình ảnh, vừa giúp các bộ phim có được cảm giác gần gũi nhất định với thực tế “phi hoạt hình”. Ưu thế này đã được Charlie Kaufman và Duke Johnson tận dụng tối đa cho Anomalisa với phần bối cảnh và tạo hình nhân vật được chăm chút hết sức kỹ lưỡng, tạo cho người xem cảm giác họ đang xem một bộ phim do các diễn viên thực thụ đóng. Điểm thú vị là Anomalisa thành công trên khía cạnh này tới mức bộ phim đã vượt qua tất cả các tác phẩm với diễn viên thật khác để dành giải Mô tả cảnh tình cảm người lớn xuất sắc nhất năm 2015 của Liên đoàn nhà báo điện ảnh nữ Hoa Kỳ (Alliance of Women Film Journalists). Thêm vào đó, kỹ thuật stop-motion cũng tạo điều kiện cho Charlie Kaufman truyền tải hình ảnh nửa phần thực, nửa phần hư ảo của các nhân vật qua từng khớp nối trên những khuôn mặt quá khổ của Michael hay Lisa. Những đôi mắt với biểu cảm rất chân thật nằm trên khuôn mặt hằn khớp nối của một người máy chắc chắn sẽ khiến nhiều khán giả cảm thấy ám ảnh suốt bộ phim và qua đó giúp họ dễ dàng cảm nhận hơn cuộc hành trình trong tâm tưởng của Michael Stone đi tìm những giá trị còn sót lại trong cuộc đời lạc lõng của ông. Cách tiếp cận khán giả này của Kaufman đã giúp Anomalisa có được sự gần gũi nhất định đồng thời cũng giữ nguyên những giá trị hiện sinh mà Kaufman luôn đau đáu kể từ những tác phẩm đầu tiên.

Cá tính và chất sáng tạo của Charlie Kaufman trong Anomalisa còn được thể hiện qua việc ông chỉ sử dụng vỏn vẹn ba diễn viên để lồng tiếng cho toàn bộ các nhân vật trong phim. Được biết tới nhiều nhất qua vai diễn Remus Lupin trong loạt phim Harry Potter, David Thewlis là lựa chọn hết sức phù hợp cho vai Michael Stone khi chất giọng ấm vừa truyền cảm vừa pha chút rụt rè của Thewlis đã thực sự tạo dựng cho nhân vật của ông một linh hồn, một số phận thực sự vượt khỏi khuôn khổ của một nhân vật hoạt hình thông thường. Lồng tiếng cho mảnh ghép tâm hồn của Michael – Lisa là Jennifer Jason Leigh, nữ diễn viên đã có một năm hết sức thành công với vai Daisy Domergue trong The Hateful Eight của Quentin Tarantino. Trái ngược hoàn toàn với vai diễn đậm chất điên dại trong The Hateful Eight, Lisa qua giọng nói của Jennifer Jason Leigh hiện lên như một bản sao nữ của Michael Stone với sự lưỡng lự, ngập ngừng của một mảnh đời cô độc. Sự tương đồng đến kỳ lạ về tính cách, về suy nghĩ giữa Michael và Lisa bất chấp xuất thân và địa vị xã hội hết sức khác biệt của cả hai đã lại càng làm nhoà đi ranh giới giữa thực tại và mộng tưởng trong Anomalisa khi người xem phải phân vân liệu Lisa có thật sự giống như hình ảnh của cô qua con mắt của Michael. Màn sương mờ ảo này của Anomalisa thực sự trở nên đậm đặc với lựa chọn độc đáo của Charlie Kaufman trong việc để nam diễn viên Tom Noonan sử dụng một giọng lồng tiếng duy nhất cho toàn bộ tuyến nhân vật phụ của phim – những nhân vật vốn đã có phần tạo hình gương mặt tương đối giống nhau. Từ chỗ ngạc nhiên khi thấy những nhân vật nữ trong phim được lồng tiếng bởi một chất giọng hết sức đàn ông, khán giả có lẽ sẽ dần trở nên đồng cảm với sự cô đơn của Michael và Lisa, khi mà với họ, gương mặt của tất cả người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã dần biến thành khối đồng nhất nhạt nhoà, xa lạ đến đáng sợ. Những lựa chọn nghệ thuật hết sức mạo hiểm này của Charlie Kaufman đã khiến Anomalisa tạo dựng được chỗ đứng riêng giữa các bộ phim lấy chủ đề về sự cô đơn nhờ câu chuyện và những nhân vật tưởng chừng đơn giản nhưng lại ẩn giấu rất nhiều tầng ý nghĩa.

Khi xem các bộ phim do Charlie Kaufman chấp bút, hẳn nhiều người hâm mộ điện ảnh sẽ có cảm giác họ đang tham gia một trò chơi ghép hình, trong đó mỗi mảnh ghép là một câu chuyện, là một lớp nghĩa khác nhau mà Kaufman đã đem tất cả sức sáng tạo của ông để đem đến cho khán giả. Xét về khía cạnh này, có thể coi Anomalisa là một bức tranh ghép tương đối hoàn chỉnh về chủ đề quen thuộc trong các bộ phim của Kaufman – nỗi cô đơn. Đó là một bức tranh giản dị và dễ tạo sự đồng cảm cho người xem bởi những cảm xúc chân thực, gần gũi mà hẳn nhiều người cũng đã từng trải qua trong đời. Nhưng nếu nhìn kỹ hơn vào các góc cạnh của bức tranh, khán giả sẽ lại nhận ra rằng vẫn còn đó rất nhiều sắc thái ẩn giấu dưới mỗi mảnh ghép chờ họ khám phá. Đó chính là vẻ đẹp của Anomalisa, một bộ phim tưởng chừng giản đơn nhưng hết sức sâu sắc.

=====





mardi 5 janvier 2016

The Big Short (2015)









Cho tới nay, hai sự kiện được coi là quan trọng nhất đối với xã hội nước Mỹ trong thế kỷ 21 là Vụ khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001 và Cuộc khủng hoảng tài chính giai đoạn 2007-2008. Nếu như Vụ khủng bố ngày 11 tháng 9 và hệ lụy trực tiếp của nó là Cuộc chiến chống khủng bố tại Afghanistan và Iraq đã trở thành đề tài quen thuộc của điện ảnh Hollywood những năm gần đây thì nguyên nhân và diễn biến cuộc khủng hoảng tài chính, cũng như những hậu quả của nó với đời sống kinh tế và xã hội Hoa Kỳ lại ít được giới làm phim Mỹ quan tâm đề cập. Ngoại trừ dòng phim tài liệu với các tác phẩm khai thác trực tiếp đề tài này như Capitalism: A Love Story (2009) của Michael Moore, Inside Job (2010) của Charles H. Ferguson, thì cho tới gần đây bộ phim điện ảnh gần như là duy nhất nói về những sự kiện giai đoạn 2007-2008 là Margin Call (2011) của đạo diễn J.C. Chandor. Có lẽ những số liệu và thuật ngữ tài chính khô khan, rắc rối, cùng hậu quả vô hình khó cảm nhận của cuộc khủng hoảng đã làm khó các nhà làm phim trong việc tạo ra các tác phẩm vừa mô tả được thực tế lại vừa lôi kéo được khán giả. Margin Call chính là bằng chứng cụ thể nhất cho những khó khăn này, khi mà dàn diễn viên nổi danh với những cái tên được yêu thích như Kevin Spacey, Paul Bettany, hay Stanley Tucci, cộng với một kịch bản rất chắc tay và tài năng không thể phủ nhận của đạo diễn Chandor vẫn không giúp bộ phim thực sự ăn khách hoặc tạo được tiếng vang về mặt nghệ thuật nếu so với những tác phẩm cùng năm có đề tài “mềm” hơn như Hugo của Martin Scorsese hay The Artist của Michel Hazanavicius. Nhưng với The Big Short của đạo diễn Adam McKay – một tác phẩm chuyển thể từ cuốn sách cùng tên của nhà báo tài chính Michael Lewis, có lẽ cuối cùng Hollywood đã tìm được một công thức thành công cho đề tài khó nhằn này.

Bối cảnh của The Big Short là nước Mỹ những năm đầu thiên niên kỷ mới khi nền kinh tế ổn định cùng chính sách nới lỏng tiền tệ đã giúp giới tín dụng phất lên nhanh chóng, đặc biệt là thông qua việc kinh doanh, môi giới địa ốc. Năm 2005, trong bối cảnh thị trường tài chính và bất động sản phủ đầy màu hồng ấy, Michael Burry (Christian Bale) – một bác sĩ chuyển nghề quản lý quỹ đầu tư lại làm tất cả khách hàng của anh ta sửng sốt khi đưa ra tiên đoán rằng bong bóng địa ốc sẽ vỡ tan chỉ trong vòng hai năm, bởi vậy quỹ đầu tư Scion của anh cần đi ngược lại chiều hướng của thị trường để đặt cược vào các hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng CDS (“Credit Default Swap”). Bằng một việc đơn giản nhưng không ai để mắt tới đó là đọc kỹ các hợp đồng mua bán địa ốc và tìm ra vô số rủi ro tài chính trong các hợp đồng này, Burry tin chắc rằng việc ký thỏa thuận CDS với các ngân hàng lớn là mối hời không thể bỏ qua khi các ngân hàng này sẽ phải trả số tiền rất lớn cho quỹ đầu tư của anh trong trường hợp thị trường địa ốc đổ vỡ. Bởi vậy, bất chấp sự phản đối kịch liệt của khách hàng, Burry tung hết tiền của quỹ đầu tư vào các hợp đồng CDS với tất cả những tên tuổi lớn nhất của thị trường tài chính Phố Wall trong sự ngạc nhiên và chào đón của các ông chủ ngân hàng tham lam vốn coi thị trường bất động sản là nền tảng không thể tan vỡ của định chế tài chính Hoa Kỳ. Thoáng nghe được câu chuyện đầu tư “điên rồ” của Burry, Jared Vennett (Ryan Gosling) – một chuyên viên tài chính của ngân hàng Deutsche Bank nhanh chóng nắm bắt được ý đồ của Burry và lập tức đi tìm nhà đầu tư để đổ vốn vào thị trường CDS. Người duy nhất chịu tin và hợp tác với Vennett là Mark Baum (Steve Carell), một chuyên gia giao dịch tài năng nhưng cũng mang nặng trong lòng nỗi tức giận với sự tham lam của giới tài chính Phố Wall. Cũng bắt nguồn từ ý tưởng của Vennett, hai giao dịch viên trẻ tuổi và vô danh Charlie Geller (John Magaro) và Jamie Shipley (Finn Wittrock) cũng bắt đầu tìm cách kiếm lời từ thị trường CDS đầy rủi ro với sự hỗ trợ của chuyên gia tài chính về hưu Ben Rickert (Brad Pitt). Lịch sử cuối cùng đã chứng minh rằng những người thuộc phe thiểu số như Burry, như Vennett, như Baum, đã đúng với những tiên đoán xuất thần của họ về thị trường, nhưng để đi tới thành công, họ đã phải trải qua rất nhiều áp lực từ bạn bè, đồng nghiệp, và cả diễn biến kì lạ của thị trường – những diễn biến mà đến chính những người đi ngược dòng như họ cũng không thể ngờ tới. 

Gây dựng tên tuổi với các bộ phim hài thành công như loạt phim Anchorman, Adam McKay có lẽ là lựa chọn bất ngờ của Brad Pitt và hãng phim hãng phim Plan B Entertainment của anh – nhà sản xuất bộ phim này, cho đề tài tưởng chừng rất khô khan về tài chính và khủng hoảng kinh tế. Nhưng thực tế đã chứng minh là dưới bàn tay biên kịch và đạo diễn của McKay, chất hài châm biếm đã lại giúp The Big Short trở nên gần gũi, dễ hiểu, và lôi cuốn hơn rất nhiều với số đông khán giả vốn không hiểu, và cũng không quan tâm tới những đề tài xa lạ với họ như thị trường tài chính, bong bóng nhà đất. Để giải thích những thuật ngữ dài dòng và rắc rối của giới tài chính, Adam McKay đã cực kì sáng tạo khi viện tới những cái tên nổi tiếng nhưng hoàn toàn không phải chuyên gia tài chính như nữ diễn viên Margot Robbie, chuyên gia ẩm thực Anthony Bourdain, hay ca sĩ Selena Gomez giải thích trực tiếp cho khán giả thông quan những phân cảnh dạng phim tài liệu và những ví dụ đời thường rất dễ nắm bắt. Bên cạnh đó, chất hài trong phim cũng được gia giảm hết sức hợp lý theo nhịp phim với phần đầu đậm đặc chất hài châm biếm theo đúng phong cách thường thấy của McKay để giúp khán giả làm quen với bối cảnh của nền tài chính Hoa Kỳ trước khủng hoảng, cho tới phần cuối phim trầm lắng và tập trung vào những diễn biến và hậu quả của cuộc khủng hoảng với từng cá nhân và với cả xã hội Mỹ. Sự điều tiết tài tình này của Adam McKay đã khiến khán giả bắt được ngay nhịp của bộ phim và cuốn vào những chi tiết, nhân vật rất nhiều màu sắc của đời sống kinh tế nước Mỹ. Không chỉ giúp bộ phim bớt phần nặng nề, nét châm biếm chua cay của The Big Short còn góp phần làm nổi bật hơn sự tham lam đến mức mù quáng, coi thường luật lệ, coi thường số phận của người dân bình thường của giới tài chính Phố Wall. Từ những ngân hàng khổng lồ cho tới các quỹ đầu tư nhỏ lẻ, từ những ông chủ lớn nắm trong tay hàng trăm triệu, thậm chí là hàng tỷ đô la cho tới những chuyên viên giao dịch địa ốc ở mức thấp nhất, tất cả đều bị màu xanh của đồng đô la làm mờ mắt tới mức ngay cả khi số liệu đã chứng minh hiểm họa cận kề của cơn sốt bất động sản, vẫn không một ai tin vào những dự đoán rất có cơ sở của Burry, của Baum để rồi khi khủng hoảng xảy ra lại giẫm đạp lên nhau để tranh phần miếng bánh CDS. Sự phức tạp của thị trường tài chính với những cá nhân tham lam nhưng cũng hết sức mưu mô, tính toán này đã được The Big Short khắc họa hết sức thành công với truyện phim chắc chắn, hợp lý, tạo cho người xem cảm giác liền mạch bất chấp việc phim được dựng đa phần với các cảnh ngắn với phần thoại gọn gàng và nhịp độ dồn dập từ đầu tới cuối. Việc kịch bản và phần dựng phim được đề cử tại rất nhiều giải thưởng điện ảnh cuối năm của Hollywood chính là minh chứng rõ ràng nhất cho thành công của The Big Short.

Một tác phẩm với cốt truyện tương đối phức tạp và nhiều tuyến nhân vật xen kẽ như The Big Short chỉ có thể thành công với một dàn diễn viên nhập vai và diễn ăn ý. Và Adam McKay đã làm được điều đó với một dàn diễn viên tổng hòa của một loạt các ngôi sao hạng A của Hollywood như Christian Bale, Steve Carell, Ryan Gosling, Brad Pitt hay Marisa Tomei (vai Cynthia Baum, vợ của Mark Baum) với những gương mặt trẻ đầy triển vọng như John Magaro hay Finn Wittrock. Nổi bật nhất trong số này có lẽ là Steve Carell trong vai Mark Baum – giọng nói của lương tri và lý trí giữa Phố Wall điên loạn. Luôn muốn tìm hiểu bản chất của mọi sự việc, Baum nhanh chóng nắm bắt được dự báo của Burry và Vennett về sự đổ vỡ của thị trường địa ốc, nhưng rồi cũng chính ông là người đã nhận ra rằng những đổ vỡ mang tính hiện tượng ấy không thể giúp hàn gắn những khuyết điểm cố hữu của định chế tài chính vốn vận hành bởi mục tiêu duy nhất – tiền, thật nhiều tiền. Với thành công của vai diễn trong bộ phim này, hay trước đó là vai John Eleuthère du Pont trong Foxcatcher (2014), rõ ràng Steve Carell đã chứng tỏ rằng mình không chỉ là một ngôi sao phim hài, mà còn là một diễn viên thực lực hàng đầu của Hollywood. Đối nghịch với sự thâm trầm của Carell là sự lập dị của Bale trong vai bác sĩ Burry – kẻ tiên tri, và sự ngạo đời của Ryan Gosling trong vai Vennett – kẻ cơ hội. Mỗi người mỗi vẻ, bộ ba Carell-Bale-Gosling đã tạo nên một bức tranh đa diện, nhiều tính cách, màu sắc về Phố Wall – nơi nắm giữ vận mệnh tài chính của cả nước Mỹ. Không chịu thua kém, dàn diễn viên phụ của phim cũng tỏ ra hết sức ấn tượng với những điểm sáng như Jeremy Strong trong vai Vinny Daniel – phụ tá của Baum, hay diễn viên gạo gội Melissa Leo trong vai diễn nhỏ nhưng hết sức ấn tượng Georgia Hale – đại diện hãng xếp hạng tín dụng Standard & Poor's.

Thương trường là chiến trường. Đây là câu ví von thường được mọi người dùng khi nhắc tới nghề kinh doanh hay giới doanh nhân. Nếu sử dụng cách ví von này thì Phố Wall thực sự là một bãi chiến trường khổng lồ, nơi diễn ra cuộc chiến không ngừng nghỉ giữa những trí tuệ thượng hạng nhưng lại dễ dàng trở nên lú lẫn vì đồng tiền. Đáng sợ hơn thế, thương vong của cuộc chiến này lại là những người ngoài cuộc – những người dân thường chỉ mong có được một mái nhà yên ổn hay một khoản thu nhập ổn định đủ trang trải cuộc sống. Nhưng một khi lòng tham vẫn còn thống trị Phố Wall, khi đồng tiền vẫn còn là mục đích sống duy nhất của giới kinh doanh tài chính, thì những cuộc khủng hoảng như những năm 2007-2008 sẽ vẫn còn diễn ra, và những người hứng chịu tổn thất vẫn sẽ là những người dân bình thường. Có lẽ đó chính là thông điệp, là lời cảnh báo không bao giờ cũ gửi đến khán giả từ The Big Short, một trong những tác phẩm xuất sắc nhất năm 2015 của điện ảnh Hollywood.


=====
Bài đã được biên tập trên Zing.