some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

mardi 5 janvier 2016

The Big Short (2015)









Cho tới nay, hai sự kiện được coi là quan trọng nhất đối với xã hội nước Mỹ trong thế kỷ 21 là Vụ khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001 và Cuộc khủng hoảng tài chính giai đoạn 2007-2008. Nếu như Vụ khủng bố ngày 11 tháng 9 và hệ lụy trực tiếp của nó là Cuộc chiến chống khủng bố tại Afghanistan và Iraq đã trở thành đề tài quen thuộc của điện ảnh Hollywood những năm gần đây thì nguyên nhân và diễn biến cuộc khủng hoảng tài chính, cũng như những hậu quả của nó với đời sống kinh tế và xã hội Hoa Kỳ lại ít được giới làm phim Mỹ quan tâm đề cập. Ngoại trừ dòng phim tài liệu với các tác phẩm khai thác trực tiếp đề tài này như Capitalism: A Love Story (2009) của Michael Moore, Inside Job (2010) của Charles H. Ferguson, thì cho tới gần đây bộ phim điện ảnh gần như là duy nhất nói về những sự kiện giai đoạn 2007-2008 là Margin Call (2011) của đạo diễn J.C. Chandor. Có lẽ những số liệu và thuật ngữ tài chính khô khan, rắc rối, cùng hậu quả vô hình khó cảm nhận của cuộc khủng hoảng đã làm khó các nhà làm phim trong việc tạo ra các tác phẩm vừa mô tả được thực tế lại vừa lôi kéo được khán giả. Margin Call chính là bằng chứng cụ thể nhất cho những khó khăn này, khi mà dàn diễn viên nổi danh với những cái tên được yêu thích như Kevin Spacey, Paul Bettany, hay Stanley Tucci, cộng với một kịch bản rất chắc tay và tài năng không thể phủ nhận của đạo diễn Chandor vẫn không giúp bộ phim thực sự ăn khách hoặc tạo được tiếng vang về mặt nghệ thuật nếu so với những tác phẩm cùng năm có đề tài “mềm” hơn như Hugo của Martin Scorsese hay The Artist của Michel Hazanavicius. Nhưng với The Big Short của đạo diễn Adam McKay – một tác phẩm chuyển thể từ cuốn sách cùng tên của nhà báo tài chính Michael Lewis, có lẽ cuối cùng Hollywood đã tìm được một công thức thành công cho đề tài khó nhằn này.

Bối cảnh của The Big Short là nước Mỹ những năm đầu thiên niên kỷ mới khi nền kinh tế ổn định cùng chính sách nới lỏng tiền tệ đã giúp giới tín dụng phất lên nhanh chóng, đặc biệt là thông qua việc kinh doanh, môi giới địa ốc. Năm 2005, trong bối cảnh thị trường tài chính và bất động sản phủ đầy màu hồng ấy, Michael Burry (Christian Bale) – một bác sĩ chuyển nghề quản lý quỹ đầu tư lại làm tất cả khách hàng của anh ta sửng sốt khi đưa ra tiên đoán rằng bong bóng địa ốc sẽ vỡ tan chỉ trong vòng hai năm, bởi vậy quỹ đầu tư Scion của anh cần đi ngược lại chiều hướng của thị trường để đặt cược vào các hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng CDS (“Credit Default Swap”). Bằng một việc đơn giản nhưng không ai để mắt tới đó là đọc kỹ các hợp đồng mua bán địa ốc và tìm ra vô số rủi ro tài chính trong các hợp đồng này, Burry tin chắc rằng việc ký thỏa thuận CDS với các ngân hàng lớn là mối hời không thể bỏ qua khi các ngân hàng này sẽ phải trả số tiền rất lớn cho quỹ đầu tư của anh trong trường hợp thị trường địa ốc đổ vỡ. Bởi vậy, bất chấp sự phản đối kịch liệt của khách hàng, Burry tung hết tiền của quỹ đầu tư vào các hợp đồng CDS với tất cả những tên tuổi lớn nhất của thị trường tài chính Phố Wall trong sự ngạc nhiên và chào đón của các ông chủ ngân hàng tham lam vốn coi thị trường bất động sản là nền tảng không thể tan vỡ của định chế tài chính Hoa Kỳ. Thoáng nghe được câu chuyện đầu tư “điên rồ” của Burry, Jared Vennett (Ryan Gosling) – một chuyên viên tài chính của ngân hàng Deutsche Bank nhanh chóng nắm bắt được ý đồ của Burry và lập tức đi tìm nhà đầu tư để đổ vốn vào thị trường CDS. Người duy nhất chịu tin và hợp tác với Vennett là Mark Baum (Steve Carell), một chuyên gia giao dịch tài năng nhưng cũng mang nặng trong lòng nỗi tức giận với sự tham lam của giới tài chính Phố Wall. Cũng bắt nguồn từ ý tưởng của Vennett, hai giao dịch viên trẻ tuổi và vô danh Charlie Geller (John Magaro) và Jamie Shipley (Finn Wittrock) cũng bắt đầu tìm cách kiếm lời từ thị trường CDS đầy rủi ro với sự hỗ trợ của chuyên gia tài chính về hưu Ben Rickert (Brad Pitt). Lịch sử cuối cùng đã chứng minh rằng những người thuộc phe thiểu số như Burry, như Vennett, như Baum, đã đúng với những tiên đoán xuất thần của họ về thị trường, nhưng để đi tới thành công, họ đã phải trải qua rất nhiều áp lực từ bạn bè, đồng nghiệp, và cả diễn biến kì lạ của thị trường – những diễn biến mà đến chính những người đi ngược dòng như họ cũng không thể ngờ tới. 

Gây dựng tên tuổi với các bộ phim hài thành công như loạt phim Anchorman, Adam McKay có lẽ là lựa chọn bất ngờ của Brad Pitt và hãng phim hãng phim Plan B Entertainment của anh – nhà sản xuất bộ phim này, cho đề tài tưởng chừng rất khô khan về tài chính và khủng hoảng kinh tế. Nhưng thực tế đã chứng minh là dưới bàn tay biên kịch và đạo diễn của McKay, chất hài châm biếm đã lại giúp The Big Short trở nên gần gũi, dễ hiểu, và lôi cuốn hơn rất nhiều với số đông khán giả vốn không hiểu, và cũng không quan tâm tới những đề tài xa lạ với họ như thị trường tài chính, bong bóng nhà đất. Để giải thích những thuật ngữ dài dòng và rắc rối của giới tài chính, Adam McKay đã cực kì sáng tạo khi viện tới những cái tên nổi tiếng nhưng hoàn toàn không phải chuyên gia tài chính như nữ diễn viên Margot Robbie, chuyên gia ẩm thực Anthony Bourdain, hay ca sĩ Selena Gomez giải thích trực tiếp cho khán giả thông quan những phân cảnh dạng phim tài liệu và những ví dụ đời thường rất dễ nắm bắt. Bên cạnh đó, chất hài trong phim cũng được gia giảm hết sức hợp lý theo nhịp phim với phần đầu đậm đặc chất hài châm biếm theo đúng phong cách thường thấy của McKay để giúp khán giả làm quen với bối cảnh của nền tài chính Hoa Kỳ trước khủng hoảng, cho tới phần cuối phim trầm lắng và tập trung vào những diễn biến và hậu quả của cuộc khủng hoảng với từng cá nhân và với cả xã hội Mỹ. Sự điều tiết tài tình này của Adam McKay đã khiến khán giả bắt được ngay nhịp của bộ phim và cuốn vào những chi tiết, nhân vật rất nhiều màu sắc của đời sống kinh tế nước Mỹ. Không chỉ giúp bộ phim bớt phần nặng nề, nét châm biếm chua cay của The Big Short còn góp phần làm nổi bật hơn sự tham lam đến mức mù quáng, coi thường luật lệ, coi thường số phận của người dân bình thường của giới tài chính Phố Wall. Từ những ngân hàng khổng lồ cho tới các quỹ đầu tư nhỏ lẻ, từ những ông chủ lớn nắm trong tay hàng trăm triệu, thậm chí là hàng tỷ đô la cho tới những chuyên viên giao dịch địa ốc ở mức thấp nhất, tất cả đều bị màu xanh của đồng đô la làm mờ mắt tới mức ngay cả khi số liệu đã chứng minh hiểm họa cận kề của cơn sốt bất động sản, vẫn không một ai tin vào những dự đoán rất có cơ sở của Burry, của Baum để rồi khi khủng hoảng xảy ra lại giẫm đạp lên nhau để tranh phần miếng bánh CDS. Sự phức tạp của thị trường tài chính với những cá nhân tham lam nhưng cũng hết sức mưu mô, tính toán này đã được The Big Short khắc họa hết sức thành công với truyện phim chắc chắn, hợp lý, tạo cho người xem cảm giác liền mạch bất chấp việc phim được dựng đa phần với các cảnh ngắn với phần thoại gọn gàng và nhịp độ dồn dập từ đầu tới cuối. Việc kịch bản và phần dựng phim được đề cử tại rất nhiều giải thưởng điện ảnh cuối năm của Hollywood chính là minh chứng rõ ràng nhất cho thành công của The Big Short.

Một tác phẩm với cốt truyện tương đối phức tạp và nhiều tuyến nhân vật xen kẽ như The Big Short chỉ có thể thành công với một dàn diễn viên nhập vai và diễn ăn ý. Và Adam McKay đã làm được điều đó với một dàn diễn viên tổng hòa của một loạt các ngôi sao hạng A của Hollywood như Christian Bale, Steve Carell, Ryan Gosling, Brad Pitt hay Marisa Tomei (vai Cynthia Baum, vợ của Mark Baum) với những gương mặt trẻ đầy triển vọng như John Magaro hay Finn Wittrock. Nổi bật nhất trong số này có lẽ là Steve Carell trong vai Mark Baum – giọng nói của lương tri và lý trí giữa Phố Wall điên loạn. Luôn muốn tìm hiểu bản chất của mọi sự việc, Baum nhanh chóng nắm bắt được dự báo của Burry và Vennett về sự đổ vỡ của thị trường địa ốc, nhưng rồi cũng chính ông là người đã nhận ra rằng những đổ vỡ mang tính hiện tượng ấy không thể giúp hàn gắn những khuyết điểm cố hữu của định chế tài chính vốn vận hành bởi mục tiêu duy nhất – tiền, thật nhiều tiền. Với thành công của vai diễn trong bộ phim này, hay trước đó là vai John Eleuthère du Pont trong Foxcatcher (2014), rõ ràng Steve Carell đã chứng tỏ rằng mình không chỉ là một ngôi sao phim hài, mà còn là một diễn viên thực lực hàng đầu của Hollywood. Đối nghịch với sự thâm trầm của Carell là sự lập dị của Bale trong vai bác sĩ Burry – kẻ tiên tri, và sự ngạo đời của Ryan Gosling trong vai Vennett – kẻ cơ hội. Mỗi người mỗi vẻ, bộ ba Carell-Bale-Gosling đã tạo nên một bức tranh đa diện, nhiều tính cách, màu sắc về Phố Wall – nơi nắm giữ vận mệnh tài chính của cả nước Mỹ. Không chịu thua kém, dàn diễn viên phụ của phim cũng tỏ ra hết sức ấn tượng với những điểm sáng như Jeremy Strong trong vai Vinny Daniel – phụ tá của Baum, hay diễn viên gạo gội Melissa Leo trong vai diễn nhỏ nhưng hết sức ấn tượng Georgia Hale – đại diện hãng xếp hạng tín dụng Standard & Poor's.

Thương trường là chiến trường. Đây là câu ví von thường được mọi người dùng khi nhắc tới nghề kinh doanh hay giới doanh nhân. Nếu sử dụng cách ví von này thì Phố Wall thực sự là một bãi chiến trường khổng lồ, nơi diễn ra cuộc chiến không ngừng nghỉ giữa những trí tuệ thượng hạng nhưng lại dễ dàng trở nên lú lẫn vì đồng tiền. Đáng sợ hơn thế, thương vong của cuộc chiến này lại là những người ngoài cuộc – những người dân thường chỉ mong có được một mái nhà yên ổn hay một khoản thu nhập ổn định đủ trang trải cuộc sống. Nhưng một khi lòng tham vẫn còn thống trị Phố Wall, khi đồng tiền vẫn còn là mục đích sống duy nhất của giới kinh doanh tài chính, thì những cuộc khủng hoảng như những năm 2007-2008 sẽ vẫn còn diễn ra, và những người hứng chịu tổn thất vẫn sẽ là những người dân bình thường. Có lẽ đó chính là thông điệp, là lời cảnh báo không bao giờ cũ gửi đến khán giả từ The Big Short, một trong những tác phẩm xuất sắc nhất năm 2015 của điện ảnh Hollywood.


=====
Bài đã được biên tập trên Zing.

samedi 26 décembre 2015

Steve Jobs (2015)









Steve Jobs có lẽ là một trong những nhân vật nổi tiếng nhất của làng công nghệ thông tin Thế giới, người đã biến Apple trở thành công ty quyền lực hàng đầu với những sản phẩm mang tính cách mạng như Macintosh, iPod, iPhone, hay iPad. Việc ông mất sớm ở tuổi 58 vì căn bệnh ung thư quái ác khi vẫn còn rất nhiều dự định và kế hoạch dang dở càng khiến cuộc đời ông trở thành mỏ vàng của các tác phẩm văn học và điện ảnh. Tuy không phải bộ phim tiểu sử đầu tiên về Steve Jobs, nhưng với những tên tuổi lớn như đạo diễn Danny Boyle hay các diễn viên Michael Fassbender và Kate Winslet, Steve Jobs của hãng Universal được trông đợi là tác phẩm đầu tiên của Hollywood thực sự khắc họa được hình ảnh huyền thoại của người sáng lập Apple. 

Tác giả kịch bản của Steve Jobs là Aaron Sorkin, nhà biên kịch hàng đầu của cả điện ảnh và sân khấu Mỹ với những tác phẩm nổi tiếng như A Few Good Men, Moneyball và A Social Network (bộ phim đã đem về cho Sorkin tượng vàng Oscar cho kịch bản chuyển thể xuất sắc nhất). Tạo dựng tên tuổi cho mình từ sân khấu kịch Broadway, kịch bản điện ảnh do Sorkin chấp bút mang nhiều chất kịch – đậm đặc thoại với những cảnh quay dài mô tả các nhân vật đi lại và đối thoại (“walk and talk”). Trung thành với phong cách của mình, Sorkin xây dựng kịch bản Steve Jobs với cấu trúc ba hồi tái hiện lại ba thời điểm quan trọng trong sự nghiệp của Steve Jobs, khi ông giới thiệu ra công chúng ba sản phẩm mang tính bước ngoặt của ngành công nghệ thông tin – Macintosh năm 1984, NeXT “Cube” năm 1988, và iMac năm 1998. Nhưng khác với bố cục “thiết lập-phát triển-hạ màn” thông thường của một vở kịch ba hồi, ba hồi của Steve Jobs thoạt nhìn có phong cách và nội dung không có nhiều điểm khác biệt – cùng là những cảnh quay dài mô tả Jobs đi lại, nói chuyện trong không khí dồn dập căng thẳng và bối cảnh ngổn ngang của những giờ phút cuối cùng trước khi công bố sản phẩm, cùng là những cuộc đối thoại đầy kịch tính và bất đồng giữa Jobs và những người hết mực yêu quý ông nhưng cũng không tài nào hiểu được khí chất bất khoan nhượng của Jobs. Nhưng nếu nghiền ngẫm từng câu thoại của Jobs, người xem sẽ cảm nhận được sự thay đổi của ông qua hai thập kỷ, từ một ngôi sao mới nổi, ngang tàng của làng công nghệ tới một vị thủ lĩnh thâm trầm nhưng chưa bao giờ hết nhiệt huyết. Chính bởi thế, tuy chỉ là ba lát cắt mỏng trong cuộc đời nhiều sóng gió của Steve Jobs, nhưng bộ phim đã đem lại cho khán giả một bức tranh hết sức sống động về cuộc đời và suy nghĩ của người đồng sáng lập Apple, điều mà bộ phim tiểu sử đầu tiên về ông – Jobs (2013) đã không làm được. 

Có lẽ công chúng đã rất quen thuộc với những buổi giới thiệu Macbook, iPhone, iPad của Steve Jobs hay bài nói chuyện “Stay Hungry, Stay Foolish” (Hãy mãi khát khao, hãy mãi dại khờ) của ông tại Đại học Stanford năm 2005 khi Jobs thôi miên người tham dự bằng ánh mắt sắc sảo, phong thái tự tin, và tầm nhìn vượt xa những đối thủ đương thời. Nhưng với Steve Jobs, khán giả lại được thấy một Jobs khác – một Steve Jobs bảo thủ với niềm tin vô hạn vào bản thân bất chấp mọi lời khuyên hợp lý của đồng nghiệp, một Steve Jobs khôn ngoan sẵn sàng dùng mọi mưu mẹo để lôi kéo công chúng đến với sản phẩm của mình, và quan trọng hơn cả, một Steve Jobs phải cúi đầu thất bại khi niềm tin của ông không được công chúng đáp lại, khi những câu nói đầy cay nghiệt của ông dành cho những người thân thiết gần gũi nhất khiến họ phải quay lưng lại với Jobs. Một trong những bê bối lớn nhất trong cuộc đời Steve Jobs đó là việc ông – một đứa trẻ lớn lên không biết mặt bố đẻ - chối bỏ trong nhiều năm người con gái ruột Lisa. Không những không né tránh chi tiết này, trái lại “Steve Jobs” lại dành rất nhiều thời gian cho những cuộc đối thoại giữa Jobs và Lisa – những thời khắc có lẽ là cảm động nhất của cả bộ phim. Đó là những cuộc đối thoại của hai nửa đối lập, một bên là Lisa ngây thơ nhưng cũng lại hết sức tinh tế, kín đáo trong cách thể hiện tình cảm của mình với người bố vô tâm, còn bên kia là Jobs lọc lõi, tính toán nhưng hoàn toàn “dại khờ” trong tư cách một người bố, hoàn toàn không hiểu rằng sự quan tâm về mặt vật chất, lý trí mà ông dành cho Lisa không thể thay thế được sự thiếu vắng tình cảm trong những năm cô bé phải sống không cha. Nhờ những cuộc đối thoại với Lisa mà người xem được thấy một Steve Jobs, dù xấu xí đi phần nào vì cái cách ông từ chối con gái, nhân văn hơn, “người” hơn hình ảnh của một Jobs-thần tượng khi đối xử với đồng nghiệp, bạn bè. Có lẽ lòng tin quá mức vào tầm nhìn vượt thời đại và sự ích kỷ dành cho giấc mơ lớn của sự nghiệp đã đẩy Jobs xa rời khỏi những cảm xúc bình thường của tình bạn, đã khiến ông trở nên xa lạ, tàn nhẫn ngay cả với những người bạn thân thiết như “Woz” Wozniak (đồng sáng lập Apple với Steve Jobs), Sculley (người được chính Jobs mời về làm tổng giám đốc Apple), hay Hertzfeld (người giúp Jobs phát triển thế hệ đầu tiên của Macintosh). 

Càng trên đỉnh cao, càng cô đơn, đạo diễn Danny Boyle và biên kịch Aaron Sorkin đã rất thành công trong việc làm nổi bật sự cô độc của “Mặt Trời” Jobs, người tự cho mình là John Lennon, là nhạc trưởng, với những “hành tinh” xoay quanh ông, những người ông cho là “Ringo Starr của John Lennon”, “nhạc công của dàn nhạc”. “Cầu nối” duy nhất giữa Steve Jobs với thực tại có lẽ là Joanna Hoffman, trợ lý tin cẩn của Jobs, người được đồng nghiệp ở Apple bình chọn là “người duy nhất đương đầu được với Steve Jobs” và cũng là người phụ nữ duy nhất đủ bình tĩnh và sáng suốt để kéo Jobs lại gần với Lisa. Chỉ có Hoffman mới có thể thốt lên được những câu thoại có lẽ là đẹp nhất, chính xác nhất về Steve Jobs như: “I love that you don't care how much money a person makes, you care what they make.” (“Tôi yêu quý anh bởi anh không quan tâm tới việc người ta kiếm được bao nhiêu tiền, mà là người ta làm được ra cái gì.”). Nhưng chính Hoffman cũng không thể hiểu những suy nghĩ trong đầu Steve Jobs, không thể lý giải được tại sao Jobs lại theo đuổi những ý tưởng điên rồ bị dự báo là sẽ chắc chắn thất bại. Và người xem sau khi chứng kiến cả ba hồi trong cuộc đời Jobs hẳn cũng sẽ phải thừa nhận rằng họ chẳng hiểu thêm gì nhiều về con người, về suy nghĩ Steve Jobs từ bộ phim. Theo cách đó, liệu một bộ phim tiểu sử như Steve Jobs đã thất bại khi không thực hiện được sứ mệnh của mình là giúp người xem hiểu thêm về nhân vật? Theo tôi là không, bởi cái cách Jobs có được tầm nhìn cách mạng sẽ mãi là huyền thoại, bởi tính cách và suy nghĩ thực sự của Jobs – vốn không ai nắm bắt được hoàn toàn kể cả khi ông còn sống sẽ mãi là một câu hỏi bỏ ngỏ, nhưng ít nhất Steve Jobs đã đưa đến cho khán giả một Jobs-của-hiện-thực với những cảm xúc, đam mê hết sức “con người”.    

Một bộ phim tiểu sử muốn thành công nhất định phải có một dàn diễn viên xuất sắc, rất may mắn cho Steve Jobs là hầu như mọi diễn viên trong phim đều đã để lại dấu ấn riêng cho mình. Vốn bị hoài nghi vì có bề ngoài khác khá xa so với Steve Jobs, Michael Fassbender đã một lần nữa cho thấy rằng anh xứng đáng là một trong những diễn viên thực lực nhất hiện nay ở Hollywood. Tuy tạo hình nhân vật của Fassbender không thể khỏa lấp thực tế rằng anh không giống Steve Jobs (nhất là khi so sánh với Ashton Kutcher – người thủ vai Steve Jobs trong Jobs), nhưng ánh mắt lúc rực cháy, lúc lạnh lùng lucs tàn nhẫn, và phong thái tự tin như một thủ lĩnh bẩm sinh toát lên từ diễn xuất của anh chắc chắn sẽ giúp khán giả cảm nhận được rằng đó chính là Steve Jobs – người đã khiến cả thế giới phải ngả mũ vì những sản phẩm công nghệ mang tính cách mạng của mình. Chia sẻ phần lớn thời lượng phim với Fassbender là Kate Winslet trong vai Joanna Hoffman. Chỉ hơn Fassbender hai tuổi nhưng Winslet đã được xếp vào hàng diễn viên già dặn ở Hollywood với rất nhiều vai diễn đáng nhớ. Vai diễn lần này của cô trong Steve Jobs cũng không phải ngoại lệ, khi tài năng của Winslet đã giúp nhân vật của cô thực sự trở thành “nước” Joanna Hoffman của “lửa” Steve Jobs, người phụ nữ đủ mạnh mẽ để không bị áp chế bởi cái bóng lạnh lùng của Jobs, nhưng cũng đủ mềm mại để dành tình cảm cho Jobs, cho Lisa, và kéo hai người xích lại với nhau. Seth Rogen trong vai Steve “Woz” Wozniak cũng xứng đáng được khen ngợi khi anh đã thoát được khỏi phong cách hài “thô” thường thấy để khắc họa thành công hình ảnh của một “Woz” tài năng, tình cảm, coi trọng công bằng, tự do, một hình ảnh hoàn toàn trái ngược với Jobs của Fassbender. Để làm nổi bật kịch tính trong các cuộc đối thoại và hình ảnh của Jobs cũng như của các “vệ tinh” xoay quanh, đạo diễn Danny Boyle lựa chọn gần như toàn bộ bối cảnh của phim là nội cảnh với nhiều góc quay dài, hẹp. Có lẽ chính vì lý do này mà Boyle đã lựa chọn nhà quay phim Alwin Küchler cho Steve Jobs khi mà chính Kuchler đã giúp Danny Boyle thực hiện một bộ phim “nhân vật” thành công trước đây cũng với bối cảnh hẹp là Sunshine (2007). Việc mạch cảm xúc và không khí dồn dập của Steve Jobs được giữ trọn vẹn từ đầu tới cuối bất chấp cấu trúc ba hồi riêng biệt của phim đã cho thấy lựa chọn của Danny Boyle là hoàn toàn chính xác.

Có thể khán giả sẽ cảm thấy đôi chút hẫng hụt khi họ đến với Steve Jobs với hy vọng được hiểu rõ về tính cách, suy nghĩ của một huyền thoại trong làng công nghệ thông tin. Nhưng với bất cứ ai thần tượng Steve Jobs và những sản phẩm Apple, hoặc muốn tìm cảm hứng từ một huyền thoại của làng công nghệ, người đem lại một cuộc cách mạng thực sự cho các sản phẩm điện tử dân dụng, hoặc đơn giản là yêu thích điện ảnh và những bộ phim hay, thì chắc chắn Steve Jobs sẽ làm họ hài lòng, bởi bộ phim đã thành công trong việc biến hình ảnh của một Steve Jobs-thần tượng thành một Steve Jobs-con người với đủ mặt tốt, xấu, thành công, thất bại nhưng luôn tràn đầy đam mê, nhiệt huyết.  



=====

Bản đã được biên tập trên Zing.

jeudi 24 décembre 2015

Carol (2015)









Lấy bối cảnh Hoa Kỳ những năm 1950 khi xã hội nước Mỹ vẫn còn mang nặng định kiến với những người đồng tính, Carol kể lại mối tình giữa cô gái trẻ Therese Belivet (Rooney Mara) và người phụ nữ trung niên Carol Aird (Cate Blanchett). Đó là hai số phận hoàn toàn khác biệt – Therese trẻ trung, ngây thơ đến mức vô phương hướng, Carol già dặn, từng trải đến mức lạnh lùng, Therese nghèo khó nhưng yêu nhiếp ảnh, yêu sáng tạo, Carol thượng lưu nhưng buồn chán với cuộc sống thừa mứa tiền bạc nhưng thiếu thốn tình yêu. Ở một khía cạnh khác, đó cũng lại là hai trái tim đồng điệu trong nỗi cô đơn, cô đơn vì cuộc sống thiếu vắng tình yêu, cô đơn vì những xúc cảm rất tự nhiên nhưng lại không thể bộc lộ vì không được xã hội đầy thủ cựu thừa nhận. Có lẽ bởi thế mà hai trái tim ấy đã chung một nhịp đập ngay từ lần đầu Therese và Carol nhìn thấy nhau trong những ngày Giáng Sinh cận kề. Tình cảm nhẹ nhàng nhưng sâu đậm ấy đã giúp cả hai tìm thấy sức sống mới, tìm thấy ánh sáng của niềm vui trên con đường du hành giữa trời Đông ảm đạm. Nhưng liệu hạnh phúc mới ấy có đủ giúp họ vượt qua những ràng buộc xã hội đã ghìm chặt tự do của họ, những ràng buộc đến từ thành kiến của người đời - những kẻ coi đồng tính là một thứ “bệnh” cần được “bác sĩ” chữa trị.

Tuy trượt giải thưởng Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất tại Liên hoan phim Cannes 2015 về tay chính người bạn diễn Rooney Mara, nhưng có thể khẳng định rằng Cate Blanchett là ngôi sao sáng nhất của Carol. Dường như vai Carol được viết ra là để dành riêng cho Blanchett, bởi nét đẹp cao sang, lạnh lùng và uy lực mạnh mẽ trên màn ảnh lớn kể cả trong những trường đoạn diễn tiết chế của cô chính là những phẩm chất cần có để phác họa một cách thành công nhân vật Carol đầy cảm xúc với nội tâm hết sức phức tạp. Thoạt nhìn bề ngoài lạnh lùng của Carol với những động tác đầy kiểu cách lặp đi lặp lại suốt bộ phim, chắc chắn người xem sẽ nghĩ tới một phụ nữ giàu có với phong cách sống cầu kì nhưng sở hữu một tâm hồn trống rỗng. Nhưng cái vẻ ngoài tượng sáp ấy thực tế lại chỉ là vỏ bọc để cô che giấu ngọn lửa cảm xúc trong lòng, ngọn lửa mà người ta chỉ có thể thấy qua ánh mắt long lanh của Carol hoặc qua những giờ phút hiếm hoi cô buộc lòng phải bùng cháy không để định kiến xã hội cướp đi niềm hạnh phúc nhỏ nhoi còn lại trong đời. Có thể ví diễn biến tâm trạng của Carol trong bộ phim này với một bản nhạc buồn rất nhiều nốt trầm nhưng cũng có những khúc ngân cao vút. Cate Blanchett – người ca sĩ được giao trọng trách thể hiện bài hát ấy đã hết sức thành công trong việc thể hiện xuất sắc trong từng nốt nhấn nhá, trong những trường đoạn bùng nổ, để rồi khiến khán giả phải nhớ mãi cái dư âm về bài hát buồn ấy, bài hát về một người phụ nữ chẳng mong muốn gì hơn ngoài hạnh phúc, hạnh phúc cho chính bản thân cô, hạnh phúc cho những người cô yêu quý. Dằn lòng để rồi bùng nổ, thương yêu chỉ để được yêu thương, Cate Blanchett trong vai Carol có lẽ một phần nào đó đã vượt qua cả vai diễn Jasmine French trong Blue Jasmine – vai diễn đem lại cho Blanchett Giải Oscar vai nữ chính đầu tiên để trở thành đỉnh cao diễn xuất mới của nữ diễn viên từng hai lần giành giải Oscar này. Con đường hướng tới kỷ lục 4 giải Oscar của huyền thoại Katherine Hepburn có lẽ còn rất xa, nhưng nếu giữ vững được phong độ như với Carol, đích đến của con đường ấy hẳn vẫn trong tầm với của Blanchett.

Tuy người xem luôn cảm nhận được hình bóng của Carol, và uy lực diễn xuất của Cate Blanchett, xuyên suốt bộ phim, nhưng không vì thế mà họ có thể quên đi Rooney Mara trong vai Therese Belivet, nhân vật trẻ trung với hình tượng đẹp đẽ không kém gì Carol. Nếu như ngay từ những giờ phút đầu bộ phim, nhân vật của Cate Blanchett đã được định hình là một người phụ nữ dày dặn với sóng gió cuộc đời, thì với Therese, khán giả lại được thấy sự biến đổi rõ rệt trong tính cách và suy nghĩ của một cô gái từ chỗ “chẳng biết mình muốn gì” ở đầu phim tới chỗ biết lựa chọn hạnh phúc cho bản thân và chiến đấu để giữ lấy hạnh phúc ấy. Cho tới trước Carol thì Rooney Mara được biết tới nhiều nhất qua vai diễn Lisbeth Salander trong bộ phim The Girl with the Dragon Tattoo (2011), một cô gái gai góc, mạnh mẽ, sẵn sàng làm mọi thứ để bảo vệ bản thân trước những bạo tàn lẩn khuất trong xã hội. Với Therese Belivet, Mara lại đem tới cho khán giả một hình ảnh gần như là trái ngược. Đó là một cô gái ngơ ngác giữa cuộc đời với tình yêu nghệ thuật, với tình cảm không chút tính toán dành cho Carol, với sự vô định của những bước chân ngập ngừng phải lựa chọn con đường đời cho chính mình. Nếu như bộ phim qua con mắt của Carol là một khúc bi ca về hạnh phúc mỏng manh giữa những bất công cuộc đời, thì với Therese, đó lại đơn giản là bài học vào đời,  bài học về tình yêu, về đam mê mà Carol truyền lại cho cô. Diễn xuất nhẹ nhàng, mỏng manh của Rooney Mara đã thực sự truyền tải được cái cách Therese học, và thấm thía, cái bài học vào đời ấy qua những thời khắc buồn vui xen kẽ suốt bộ phim. Bởi thế mà Mara không hề chìm nghỉm trong cái bóng của Cate Blanchett, trái lại cô còn đem tới cho Carol một tầng ý nghĩa khác – tầng ý nghĩa về cuộc sống giúp bộ phim không còn chỉ là một tác phẩm điện ảnh đơn thuần của dòng phim tình cảm lãng mạn. 

Thành công trong việc xây dựng nhân vật, và của dàn diễn viên trong Carol không chỉ giới hạn với Cate Blanchett và Rooney Mara, bởi Sarah Paulson (vai Abby Gerhard, bạn thân của Carol) và Kyle Chandler (vai Harge Aird, người chồng cố chấp của Carol) cũng đã tạo được chỗ đứng cho riêng mình với hai vai diễn tuy nhỏ nhưng vẫn hết sức ấn tượng và hiệu quả trong việc tạo nên một bức tranh tổng thể về cuộc đời nhiều mảng màu sáng tối của Carol. Điều này có được một phần là nhờ vào kịch bản hết sức dày dặn của bộ phim. Là chuyển thể điện ảnh đầu tiên của tiểu thuyết The Price of Salt, một tác phẩm mang tính đột phá với cái nhìn tích cực về người đồng tính nữ của nhà văn nữ Patricia High, kịch bản “Carol” của Phyllis Nagy đã phải trải qua trên mười năm chờ đợi và chỉnh sửa trước khi được trao vào tay đạo diễn người Anh Todd Haynes. Từng rất thành công trong việc xây dựng hình tượng các nhân vật nữ khát khao hạnh phúc để rồi qua đó nói lên khát vọng về bình đẳng xã hội, bình đẳng giới tính như trong Far from Heaven (2002) hay Mildred Pierce (2011), Haynes đã một lần nữa chứng tỏ sự mát tay của ông với tuyến nhân vật nữ. Dù đó là Carol, Therese hay Abby, các nhân vật nữ trong Carol đều được Todd Haynes, với sự trợ giúp của người cộng sự lâu năm – nhà quay phim Edward Lachman, chăm chút qua từng chi tiết, từng góc máy để họ có được cái nhìn gần gũi nhất, nhân văn nhất từ khán giả. Phần âm nhạc của phim cũng là một điểm nhấn khác của Carol, khi những nốt nhạc của Carter Burwell – nhạc sĩ lừng danh qua các bộ phim của anh em nhà Coen không chỉ giúp khán giả có thêm chất xúc tác để cảm nhận mọi khoảnh khắc cảm xúc của bộ phim, mà còn tạo được cho Carol một không khí hoài cổ của nước Mỹ những năm 1950 – thập niên đầu tiên sau chiến tranh với nhiều xáo động và hy vọng trong xã hội Hoa Kỳ nói chung, và giới nghệ thuật Mỹ nói riêng. 

Nếu bắt rễ tìm sâu, chắc chắn khán giả vẫn có thể tìm thấy thiếu sót ở Carol như phần khởi đầu chậm rãi hay một số chi tiết chưa được khai thác triệt để ở cuối phim. Tuy nhiên nếu xét riêng về mặt cảm xúc thì có thể nói Carol là một bộ phim trọn vẹn. Không chỉ là câu truyện kể về những số phận, những cuộc đời đi tìm kiếm hạnh phúc giữa những ràng buộc, định kiến của xã hội, Carol còn kết nối được dòng cảm xúc của Carol, của Therese đến với khán giả, giúp họ hiểu được những khao khát, những buồn vui của các nhân vật trong phim, bởi đó là những ước vọng, những cảm xúc mà đời người hẳn ai cũng từng trải nghiệm. Cách thức bộ phim tiếp cận một đề tài nóng trong thời điểm hiện nay như quyền bình đẳng giới cho những người đồng tính một cách hết sức nhẹ nhàng, nhân văn, không lên gân cốt, cũng là một điều đáng trân trọng, bởi đó là cách thức hiệu quả nhất để đưa thông điệp bình đẳng, thông điệp về sự cảm thông tới khán giả. 

Carol trong tiếng Anh có nghĩa là tiếng chim réo rắt hay bài hát mừng cho dịp lễ Giáng Sinh. Có lẽ khó lòng có thể coi Carol của đạo diễn Todd Haynes là một bài hát vui giống như cái định nghĩa này. Tuy nhiên, bộ phim hoàn toàn là một tác phẩm xứng đáng được thưởng thức trong dịp lễ Giáng Sinh, bởi tác phẩm này chính là một món quà cảm xúc mà ai cũng cần có để cảm thấy trân trọng hơn những hạnh phúc trong đời, và chú ý hơn tới việc đem lại hạnh phúc cho những người họ yêu quý. Đó chính là món quà Giáng Sinh Carol và Therese đem lại cho nhau trong những ngày cuối năm – hạnh phúc. 

====