some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

mardi 22 décembre 2015

Brooklyn (2015)




Dựa trên tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Colm Toibin, Brooklyn của đạo diễn John Crowley là câu chuyện về Eilis Lacey (Saoirse Ronan), cô gái gốc Ireland cố gắng tìm cho mình một cuộc sống mới trên đất Mỹ. Sinh ra trong một gia đình neo người ở thị trấn nhỏ Enniscorthy xứ Ireland, Eilis được mẹ (Jane Brennan) và người chị gái Rose (Fiona Glascott) hết mực bao bọc thương yêu. Nhưng cô gái trẻ không thể ngồi yên trước cuộc sống tù đọng chẳng có tương lai ở cái thị trấn Công giáo toàn tòng này và cuối cùng quyết định vượt biển sang Mỹ để tìm cho mình một chân trời mới. Sau những ngày dài đằng đẵng trên con tàu vượt đại dương, cuối cùng Eilis cũng đặt chân lên thành phố hoa lệ New York và bắt đầu cuộc sống mới trong căn nhà trọ cổ kính quận Brooklyn của bà Kehoe (Julie Walters) dưới sự bảo trợ của linh mục Flood (Jim Broadbent). Cô đơn nơi đất mới, luôn quặn lòng vì nỗi nhớ mẹ, nhớ chị gái, nhưng Eilis rồi cũng dần quen với những con đường rợp bóng cây của Brooklyn, với cửa hàng bách hóa lộng lẫy nơi cô làm việc, với những giờ học kế toán buổi tối, và quan trọng hơn hết, với sự quan tâm của những người xung quanh, đặc biệt là anh chàng người Ý nhiệt thành Tony Fiorello (Emory Cohen). Liệu Brooklyn với tình người nồng ấm ấy có thể thay thế Enniscorthy để thực sự trở thành mái nhà mới của Eilis, khi mà mẹ, mà chị của cô gái trẻ vẫn ngóng chờ ở mảnh đất quê hương? Xem tới hết bộ phim, khán giả sẽ có câu trả lời cho câu hỏi này, từ chính Brooklyn, và từ chính cảm nhận của mỗi người.

Điểm sáng đầu tiên phải kể tới ở Brooklyn đó là diễn xuất tuyệt vời của Saoirse Ronan. Kể từ vai diễn đột phá trong Atonement (2007) – vai diễn đem lại cho cô đề cử Oscar đầu tiên khi mới 13 tuổi, Ronan đã được coi là một trong những nữ diễn viên xinh đẹp và có tiềm năng nhất của Hollywood. Sau Atonement, cô gái người Ireland vẫn tiếp tục hút hồn người xem với cặp mắt xanh sâu thẳm của mình, nhưng các vai diễn của cô thường không đủ sức nặng để giúp Ronan bật lên giữa các ngôi sao trẻ đồng lứa. Nhưng Brooklyn là một câu chuyện khác. Số phận thăng trầm, tính cách đa diện, và vẻ đẹp trẻ trung của nhân vật Eilis Lacey là những điều kiện không thể tốt hơn để Ronan tỏa sáng với tài năng của mình. Và thực sự Saoirse Ronan đã hết sức thành công trong việc dựng nên hình ảnh của cô gái nhập cư Eilis đa cảm, ngây thơ nhưng kiên cường trước mọi khó khăn, thử thách của cuộc sống mới nơi đất khách quê người. Vẻ đẹp ngời sáng của Ronan, nhất là với đôi mắt xanh nổi tiếng của cô, cũng giúp tăng hiệu quả cho hình ảnh tích cực, nhân văn của Eilis, khiến khán giả có thêm niềm tin vào cuộc sống, hoặc ít nhất là cũng có gần hai tiếng hết sức thanh thản, sảng khoái trong rạp chiếu. Hiệu quả tích cực này của bộ phim còn là bởi bên cạnh Eilis, các nhân vật khác trong Brooklyn cũng có phong thái sống hết sức lạc quan, giàu chất nhân văn khi họ luôn dành những tình cảm tốt đẹp nhất, những tình cảm không hề toan tính, cho những người xung quanh kể cả khi họ không phải người trong gia đình, thậm chí không phải là người có cùng quốc tịch, dân tộc.

Là một bộ phim sáng với kịch bản tính cực, nhưng Brooklyn không hẳn là một bộ phim hoàn hảo. Kịch bản của phim có cấu trúc rất truyền thống, không chứa đựng nhiều chi tiết bất ngờ hoặc các thức xử lý mới, bởi vậy mà khán giả khi xem phim có thể dễ dàng đoán biết được chiều hướng diễn biến của các câu chuyện trong phim. Hơn thế nữa, ngoại trừ nhân vật chính Eilis Lacey, tuyến nhân vật phụ của bộ phim được xây dựng chưa hẳn dày dặn, họ xuất hiện trên phim nhiều phần với tư cách trợ giúp cho Eilis tỏa sáng, hoặc giúp đẩy truyện phim diễn tiến, chứ bản thân mỗi nhân vật không có được số phận riêng, tính cách riêng của họ. Chất lượng sản xuất của Brooklyn cũng không hẳn vượt trội với phần dựng phim không mấy ấn tượng, nhất là khi hai bối cảnh Brooklyn và Enniscorthy được sử dụng xen kẽ nhau khiến mạch phim bị ngắt quãng. Ngoại trừ một số cảnh quay đẹp, đặc biệt là trong những phút cuối phim, phần quay phim của Brooklyn với nhiều nội cảnh và cận cảnh cũng không làm nổi bật được nét đẹp riêng của quận Brooklyn khi so sánh với các phần khác của thành phố New York, hay với vùng đồng quê xứ Ireland ở Enniscorthy, để cho thấy tại sao Eilis lại nhanh chóng cảm thấy gần gũi, thân thương với mảnh đất mới này đến vậy. 

Trong lịch sử có lẽ hiếm có quốc gia nào được xây dựng nên hoàn toàn bằng mồ hôi công sức của những người dân di cư từ khắp thế giới như Hoa Kỳ. Bởi vậy mà số phận người nhập cư và cuộc đấu tranh sinh tồn của họ ở xứ cờ hoa từ lâu đã trở thành đề tài yêu thích của điện ảnh Hollywood với nhiều bộ phim xuất sắc như The Godfather Part II (1974), Once Upon a Time in America (1984), Gangs of New York (2002), hay The Immigrant (2013). Tất cả những bộ phim vừa nêu, và rất nhiều các bộ phim về người nhập cư khác của Hollywood, đều lấy bối cảnh chính là New York – điểm đến chính của những người Ý, người Ireland, hay người Đông Âu khi họ tìm đường sang nước Mỹ. Và cũng không ngạc nhiên khi hầu hết các tác phẩm này đều lấy đề tài tội ác, bởi mặt trái thường thấy của mọi cuộc đấu tranh sinh tồn chính là tội ác, và cũng chính những giờ phút đối diện với tội ác mới làm nổi bật lên những nét đẹp đẽ nhất, nhân văn nhất của những người dân nhập cư khốn khó nhưng chưa bao giờ mất đi cái chân giá trị bên trong con người họ. Bởi vậy mà cái chất lạc quan, tích cực của Brooklyn thực sự đã giúp bộ phim trở nên khác biệt so với dòng phim chính kịch mang nhiều chất bi thương này. Có lẽ trong bối cảnh hiện nay, khi mà tư tưởng tiêu cực phản đối người nhập cư đang lên cao ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là tại Hoa Kỳ, một tác phẩm tích cực như Brooklyn là thực sự cần thiết. Không chỉ cần thiết trong việc nhắc nhở những người Mỹ đang có cái nhìn không thiện cảm với người nhập cư nhớ tới nguồn gốc đa dân tộc, đa tính cách của chính nước Mỹ, Brooklyn còn là lời động viên cần thiết cho những người di cư kiên cường thực sự muốn tìm kiếm cho mình một quê hương, một cuộc đời mới. Xét về khía cạnh này, có lẽ hiếm có bộ phim nào trong thời gian gần đây có thể so sánh được với Brooklyn – một trong những tác phẩm điện ảnh tích cực nhất của năm 2015.

====



mardi 15 décembre 2015

Listen to Me Marlon (2015)









“Tôi sẽ đánh đổi mọi thứ để có thể trở thành Marlon Brando. Tôi thực sự thèm muốn tài năng của anh ấy.”
- Woody Allen, đạo diễn, diễn viên, 4 giải Oscar

“Tôi nghĩ rằng trong giới diễn viên chúng tôi có một cuộc ganh đua nhiều người biết tới – đó là làm thế nào để nói ra được điều tốt đẹp nhất về Marlon Brando.”
- Jack Nicholson, diễn viên, 3 giải Oscar

Những ngôi sao sáng của giới điện ảnh Hollywood đã dành những lời có cánh như vậy để nói về Marlon Brando, người khổng lồ của điện ảnh Mỹ nói riêng và điện ảnh thế giới nói chung. Không chỉ được đồng nghiệp và người hâm mộ kính phục qua rất nhiều những vai diễn đáng nhớ, Brando còn giúp thay đổi vĩnh viễn cách thức tiếp cận các vai diễn của giới diễn viên Hollywood với phong cách diễn nhập vai (“method acting”) – người diễn viên phải hóa thân thực sự vào vai diễn, phải biến mình thành nhân vật trên phim thay vì đem phong thái riêng của chính mình áp đặt cho mọi nhân vật, mọi bộ phim. Bằng vẻ đẹp khỏe khoắn tràn đầy sức sống và kĩ năng diễn xuất sâu khấu thượng hạng nhờ những ngày tôi luyện trong lò đào tạo của người thầy huyền thoại Stella Adler, Brando đã chinh phục Hollywood ngay từ những bộ phim đầu tiên ông tham gia như A Streetcar Named Desire (1951), Julius Caesar (1953) và đặc biệt là On the Waterfront (1954) – bộ phim đem lại cho Brando giải Oscar đầu tiên ở cái tuổi 30 rất trẻ. Cho đến tận ngày nay, các vai diễn của Brando trong On the Waterfront, The Godfather, Last Tango in Paris (cùng 1972), và Apocalypse Now (1979) vẫn được coi là thước đo chuẩn mực chưa bao giờ lỗi thời của nghệ thuật diễn xuất.

“Một trong những rắc rối của Brando là ông ấy không thể đối thoại được với mọi người... Ông ấy sống ở một thế giới khác, ông ấy là con người hết sức lạ lùng.”
- Peter Bart, nhà sản xuất phim của Paramount

Nhưng ở Hollywood, người ta còn biết tới một Marlon Brando khác. Đó là một Brando khó tính, luôn gây rắc rối cho đạo diễn và quá trình làm phim với những yêu cầu kì quái. Đó là một Brando có đời sống riêng tư sóng gió với rất nhiều người tình, rất nhiều con cái. Đó là một Brando chịu nhiều bi kịch trải dài từ tuổi thơ thiếu tình thương tới buổi xế chiều rất nhiều mất mát. Cuối đời, cái tên Brando thường xuất hiện trên báo chí qua những rắc rối gia đình mà ông gặp phải chứ không phải qua những vai diễn đáng quên của ông trong suốt 25 năm cuối. 

Hai nửa đối lập ấy của cuộc đời Marlon Brando là chủ đề của bộ phim tài liệu Listen to Me Marlon, một trong những tác phẩm tài liệu được nhắc tới nhiều nhất trong năm 2015. Dựa trên những cuộn băng ghi âm do chính Brando thu lại như một dạng nhật ký cá nhân và chưa từng được đưa ra trước công chúng, đạo diễn Stevan Riley đã đưa đến khán giả một cái nhìn mới về cuộc đời Marlon Brando qua con mắt của chính huyền thoại điện ảnh. Hoàn toàn không sử dụng lời dẫn, câu chuyện cuộc đời trong Listen to Me Marlon được “kể” lại bằng chính giọng nói như vọng lại từ một thế giới khác của Marlon Brando và minh họa bằng những đoạn băng tư liệu về ông hay trích đoạn các bộ phim mà ông tham gia. Vốn không được giới nghệ sĩ sân khấu kinh viện đánh giá cao bởi đài từ không đẹp, rõ vì Brando rất hay dùng cách nói lầm bầm và gằn giọng, phong cách kể của huyền thoại điện ảnh lại trở nên hết sức phù hợp cho Listen to Me Marlon bởi chất giọng trầm ấm, giàu cảm xúc, suy tư của ông đã giúp truyền tả hết sức hiệu quả những nốt thăng, trầm trong cuộc đời Brando tới khán giả. Thực sự đối với người hâm mộ Marlon Brando, có lẽ chẳng gì có thể sánh được với việc được nghe chính thần tượng của mình kể lại câu chuyện cuộc đời. Trong câu chuyện ấy người xem có thể tìm thấy lửa nhiệt huyết của Brando với các vai diễn, đặc biệt là trong những bộ phim đầu tiên, những giờ phút ông trăn trở với nghề nghiệp, với bất công xã hội, với sự tồn tại của chính bản thân, và đặc biệt là tình yêu Brando dành cho cuộc sống và những con người tự do, khoáng đạt ở hòn đảo Tahiti xa xôi. 

“Bông hoa đáng thương trên những ngọn sóng lừng kia ơi,
Hãy cho tôi biết, nếu một ngày kia trở lại,
Tôi có còn được thấy hòn đảo quyến rũ này không,
Nơi thiên đường thực sự của bình yên, và tình yêu?”

Đó là những câu hát trong Tiếng hát về những hòn đảo (Chant des îles), bài hát yêu thích của Brando về hòn đảo Tahiti, mà đứa con gái bé bỏng Cheyenne của ông hát lên tặng bố trong cảnh phim có lẽ là đáng nhớ bậc nhất của Listen to Me Marlon. Qua Listen to Me Marlon người xem được nghe và chứng kiến cuộc chiến đấu không ngừng của Brando đi tìm hạnh phúc, đi tìm cái thiên đường của tâm hồn ấy. Xuyên suốt bộ phim, người xem được chứng kiến sự biến đổi trong suy nghĩ, trong cách nhìn đời của Brando sau từng vết thương trong cuộc chiến đấu lâu dài không có hồi kết ấy. Từ một chàng trai trẻ với ánh mắt và cách nói chuyện có thể quyến rũ bất cứ ai, dù cho đó chỉ là một cô phóng viên xinh đẹp ông mới gặp vài phút, Marlon Brando dần trở thành một cái bóng của vô vàn những dằn vặt, xung đột nội tâm và bi kịch gia đình. Có lẽ đó là cái giá tất yếu phải trả của một diễn viên “nhập vai” thượng hạng như Brando, người luôn vứt bỏ cái tôi sang một bên để có thể hóa thân hoàn toàn vào các nhân vật mà ông thể hiện. Tất cả những giờ phút đáng nhớ nhất trên màn ảnh lớn ấy của Marlon Brando đều được bộ phim đưa tới khán giả, giúp họ cảm nhận được một cách sâu sắc nhất giá trị của các vai diễn mà ông thể hiện, cũng như hy sinh về mặt tinh thần của Brando để phục vụ thứ nghệ thuật diễn xuất mà ông hết mực yêu quý. 

Điểm yếu lớn nhất của Listen to Me Marlon có lẽ là việc bộ phim tài liệu này không thực sự khám phá được những góc cạnh, thông tin mới về Marlon Brando, ngôi sao vốn có cuộc đời và sự nghiệp được báo giới và người hâm mộ đào xới tìm hiểu trong suốt nhiều thập niên. Marlon Brando của bộ phim này vẫn là Marlon Brando nhiều góc cạnh, nhiều trăn trở mà bất cứ ai từng yêu thích, từng tìm hiểu về Brando hẳn đều đã biết rõ. Cuộc sống và suy tư của Brando trong giai đoạn dài bị coi là “thuốc độc phòng vé”, tâm tư của ngôi sao hết thời trong những năm tháng cô độc cuối đời, biến đổi của ông sau những sự cố khủng khiếp trong đời tư, tất cả những khía cạnh ít người biết tới đó của Marlon Brando không thực sự được bộ phim khai thác triệt để. Nhưng có lẽ những thông tin hiếm có khó tìm như vậy không phải mục đích chính của đạo diễn Stevan Riley khi thực hiện bộ phim tài liệu này. Listen to Me Marlon đơn giản là một lời tự sự của Brando, từ thế giới bên kia – thế giới của chính ông, dành cho những người mộ điệu. Chính sự giản dị đã giúp tác phẩm tài liệu này gạt bỏ được mọi phù phiếm hay những lời tụng ca trống rỗng vốn thường xuất hiện trong các tác phẩm tiểu sử về những ngôi sao Hollywood để đưa tới người xem một bức chân dung chân thực, rõ ràng nhất về Marlon Brandon – ngôi sao với cuộc đời nhiều phần phủ màu huyền thoại. 

Bernardo Bertolucci, đạo diễn bộ phim xuất sắc Last Tango in Paris, đã kể lại rằng Marlon Brando tỏ rõ sự không hài lòng của ông với việc Bertolucci đã thành công trong việc “ăn cắp” được cảm xúc riêng tư trong con người thật của Brando để đưa lên màn ảnh. Trong phim, Brando thủ vai Paul, một người đàn ông với ngọn lửa yêu thương nồng cháy và cũng dễ dàng bị tổn thương bởi chính ngọn lửa nội tâm ấy. Nếu đúng như vậy, hẳn Brando sẽ không hài lòng với Listen to Me Brando, bởi bộ phim tài liệu này cũng đã thành công trong việc dựng lại một Brando của đời thực bên cạnh một Brando huyền thoại điện ảnh. Nhưng với khán giả, chắc chắn không ai có thể bỏ qua những giờ phút vô cùng xúc động và đáng nhớ được chứng kiến Marlon Brando diễn hết mình, và sống thực sự, như hình ảnh của ông trong Last Tango in Paris, và trong Listen to Me Brando.   

==========
Chant des îles

J’ai connu, des îles les rivages,
Les plages, les palmiers géants,
La forêt et ses aspects sauvages,
les volcans surplombants l’océan.
Adieu les soirs si calmes,
Où sanglotait dans l’ombre la guitare,
Le vent berçait les palmes,
Au loin portaient nos chants d’espoir.
Je revois dans un décor de rêve,
Le port les tout petits bateaux,
Les pêcheurs s’affairant sur la grève,
Un trois-mâts qui voguait sur les flots.
Adieu les soirs si calmes,
Où sanglotait dans l’ombre la guitare,
Le vent berçait les palmes,
Au loin portaient nos chants d’espoir.
Pauvre fleur sur les vagues jetée,
Dis-moi, si je reviens un jour,
Reverrai-je encore l’île enchantée,
Vrai séjour de la paix, de l’amour ?
Adieu les soirs si calmes,
Où sanglotait dans l’ombre la guitare,
Le vent berçait les palmes,
Au loin portaient nos chants d’espoir.

https://www.youtube.com/watch?v=QJDyq6sKQOg
 
 

==========