some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

mardi 4 mai 2021

93rd Academy Awards (2021)


Ngày 9 tháng 2 năm 2020, lễ trao Giải Oscar lần thứ 92 được tổ chức tại Los Angeles với nhiều bất ngờ như việc bộ phim Ký sinh trùng của đạo diễn người Hàn Quốc Bong Joon-ho trở thành bộ phim châu Á đầu tiên giành giải thưởng cao nhất hay việc The Irishman của huyền thoại Martin Scorsese dù được đề cử ở 10 hạng mục nhưng lại phải ra về tay trắng. Nhưng Hollywood nói riêng, và cả nền điện ảnh thế giới nói chung có lẽ không thể nghĩ được rằng bất ngờ lớn nhất sẽ đến với họ không phải trong ngày hội lớn của điện ảnh này, mà là những gì ập đến với họ trong những tháng ngày sau đó - COVID-19. 142 triệu người mắc bệnh, trên 3 triệu người thiệt mạng, COVID-19 khiến cuộc sống của người dân khắp thế giới phải ngừng trệ, biến những hoạt động giải trí tưởng chừng đơn giản nhất như đi du lịch, tham gia các lễ hội đông người trở thành điều xa xỉ ở rất nhiều quốc gia. Nằm ở đáy sâu nhất của vòng xoáy ấy chính là điện ảnh. Khi mà gần như toàn bộ hệ thống rạp phim trên toàn cầu phải đóng cửa để ngăn ngừa COVID-19 lây lan, khi mà các phim trường, các đoàn làm phim phải ngừng hoạt động vì lệnh phong toả, giãn cánh triền miên, thì điện ảnh truyền thống gần như rơi vào trạng thái tê liệt. Và như thế, suốt hơn một năm kể từ ngày đại dịch COVID bùng nổ, niềm vui của người yêu phim, của người làm nghề điện ảnh phải bó hẹp vào màn ảnh nhỏ thông qua các thương hiệu cung cấp phim trực tuyến như Netflix, như HBOMax, như DisneyNow.

COVID-19 biến cả năm 2020 và nửa đầu năm 2021 trở thành năm đại thảm hoạ ("Annus horribilis") của điện ảnh, và cũng khiến lễ trao Giải Oscar lần thứ 93 không thể diễn ra theo đúng dự định vào cuối tháng 2 năm 2021. Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Hoa Kỳ (AMPAS) đã quyết định lùi lễ trao giải lại đúng 2 tháng, và lần đầu tiên kể từ năm 1934 đến nay cho phép các bộ phim công chiếu trong 2 năm - 2020 và 2021 được phép tham gia tranh giải. Trong bối cảnh chật vật và nhiều biến cố này, buổi tối ngày 25 tháng 4 sắp tới (giờ Hoa Kỳ) có sẽ là một trong những lễ trao giải đáng nhớ nhất trong lịch sử gần 100 tuổi của giải thưởng danh giá này và là niềm hy vọng của cả Hollywood về một sự khởi đầu mới, một vận hội mới.

Tâm điểm của Giải Oscar lần thứ 93 - hạng mục Phim hay nhất hiện là cuộc cạnh tranh giữa 8 ứng cử viên là The Father, Judas and the Black Messiah, Mank, Minari, Nomadland, Promising Young Woman, Sound of Metal, và The Trial of the Chicago 7. Đây cũng chính là 8 tác phẩm có nhiều đề cử nhất tại Giải Oscar năm nay trong đó nhiều nhất là Mank của David Fincher với 10 đề cử, ít nhất là Promising Young Woman với 5 đề cử và 6 ứng viên còn lại đều có 6 đề cử ở nhiều hạng mục quan trọng. Không chỉ giống nhau về số lượng đề cử, các ứng viên của hạng mục Phim hay nhất năm nay còn đều là các tác phẩm thuộc dòng chính kịch, kinh phí thấp, lấy bối cảnh đương đại và phản ánh những suy tư, xung đột của xã hội hiện đại - trào lưu chủ đạo của điện ảnh Hollywood trong vài năm trở lại đây. Sự tương đồng về chủ đề và chất lượng ngang sức ngang tài của các bộ phim này đã khiến hạng mục Phim hay nhất năm nay trở nên có phần khó đoán. Tuy vậy, nếu để chọn lựa thì tác phẩm mô tả cuộc sống và suy nghĩ của những người vô gia cư Mỹ Nomadland có lẽ đang có ưu thế hơn cả sau khi đã chiến thắng ở hạng mục này ở cả Giải BAFTA của Viện Hàn lâm Nghệ thuật Điện ảnh và Truyền hình Anh Quốc, Giải Quả cầu vàng, và Giải của Hiệp hội nhà sản xuất điện ảnh và truyền hình Hoa Kỳ (PGA). Theo thống kê của Metacritic thì Nomadland hiện đã thu thập tới 124 điểm nhờ 34 chiến thắng, 3 lần về nhì, và 16 lần được đề cử ở hạng mục phim hay nhất trong mùa trao giải điện ảnh năm nay. Đây là số điểm bỏ xa các đối thủ tiếp theo là Minari và Promising Young Woman (cùng 55 điểm) và cho thấy ưu thế khá rõ của bộ phim thứ 3 trong sự nghiệp của Chloé Zhao. Hơn thế nữa, cũng cần nhìn nhận thẳng thắn rằng chính việc Nomadland được đạo diễn bởi một nữ đạo diễn gốc Hoa với tuổi đời còn khá trẻ (39 tuổi) cũng là một lợi thế khác của bộ phim này trong quá trình đong đếm của các thành viên AMPAS, bởi Hollywood của hiện tại với xu hướng nhập thế, góp tiếng nói vào các vấn đề xã hội - chính trị nóng bỏng của nước Mỹ hiện đại chắc chắn sẽ không thể bỏ qua việc nước Mỹ hiện đang nhức nhối với nạn phân biệt, kỳ thị người gốc châu Á và những dư âm của phong trào MeToo đòi bình quyền trên mọi phương diện cho nữ giới. 

Đối thủ nặng ký nhất của Nomadland tại hạng mục Phim hay nhất hiện đang là Minari - bộ phim với tựa đề là tên tiếng Hàn của cây cần nước, và khắc hoạ sự chặng đường hoà nhập đầy gian nan của những người nhập cư gốc Hàn Quốc tại Hoa Kỳ. Tuy xếp sau Nomadland tại phần lớn các giải thưởng lớn gần đây, và cũng chỉ mới giành một giải đáng kể là Phim nước ngoài hay nhất tại lễ trao Giải Quả cầu vàng lần thứ 78, nhưng Minari lại chính là bộ phim mang tính thời sự bậc nhất tại thời điểm này ở một Hollywood đang hướng sự chú ý tới thân phận của những người nhập cư gốc châu Á. Cộng thêm ảnh hưởng ngày càng lớn từ làn sóng văn hoá Hàn Quốc ở Hoa Kỳ mà đỉnh cao chính là chiến thắng của Ký sinh trùng tại Giải Oscar năm 2020, Minari hoàn toàn vẫn có thể tạo nên những bất ngờ vào phút cuối cùng vào ngày 25 tháng 4 sắp tới. Tuy bằng điểm với Minari trên bảng xếp hạng của Metacritic (55 điểm) cho các ứng viên hạng mục phim hay nhất nhưng có lẽ bộ phim về nạn lạm dụng tình dục phụ nữ Promising Young Woman dù có phong vị mới mẻ cũng khó lòng có khả năng cạnh tranh, và đương nhiên là xác suất giành tượng vàng Oscar của các tác phẩm có điểm thấp hơn như "he Trial of the Chicago (31), Sound of Metal (28) hay Mank (17) là còn nhỏ nhoi hơn nữa.

Tương tự như cuộc đua đến tượng vàng Oscar trong nhiều năm gần đây, Giải Oscar lần thứ 93 còn chứng kiến sự cạnh tranh giữa Nomadland và Minari ở hạng mục Đạo diễn xuất sắc nhất. Cùng là hai đạo diễn Mỹ với tuổi đời còn tương đối trẻ có gốc gác châu Á, nhưng một lần nữa nữ đạo diễn gốc Hoa của Nomadland là Chloé Zhao lại đang giành phần ưu thế trước Lee Isaac Chung - người đã viết nên kịch bản của Minari dựa trên chính những kỉ niệm thơ ấu trong một gia đình gốc Hàn định cư giữa mảnh đất Arkansas xa xôi của nam đạo diễn 42 tuổi này. Sự vượt trội của Chloé Zhao được thể hiện qua việc cô đã giành tới 47 giải đạo diễn xuất sắc nhất trong mùa giải thưởng điện ảnh năm nay, trong đó bao gồm tất cả các giải quan trọng nhất tại Giải Quả cầu vàng, Giải BAFTA, và giải của Hiệp hội đạo diễn điện ảnh và truyền hình Hoa Kỳ (DGA). Trong khi đó, các đối thủ của cô như Lee Isaac Chung hay nữ đạo diễn trẻ người Anh Emerald Fennell của tác phẩm đầu tay Promising Young Woman chỉ mới được xướng danh đúng một lần trong mùa trao giải năm nay. Hai ứng viên gạo cội hơn ở hạng mục này là Thomas Vinterberg (Another Round) và đặc biệt là tên tuổi David Fincher (Mank) thậm chí còn chưa giành được bất cứ chiến thắng nào. Một điểm đáng chú ý nữa của hạng mục này là việc nếu được xướng danh vào đêm trao giải ngày 25 tháng 4 sắp tới, Chloé Zhao sẽ trở thành nữ đạo diễn thứ hai chiến thắng ở hạng mục này sau Kathryn Bigelow - người giành Oscar năm 2009 cho The Hurt Locker.

Khó đoán hơn rất nhiều so với hai hạng mục nói trên, Giải Oscar cho nam chính xuất sắc nhất hiện vẫn có hai ứng viên ngang sức ngang tài là nghệ sĩ người Anh gốc Pakistan Riz Ahmed (Sound of Metal) và ngôi sao Báo Đen quá cố Chadwick Boseman (Ma Rainey's Black Bottom). Bằng diễn xuất ấn tượng trong vai một tay trống cả đời sống bằng âm nhạc nhưng bỗng nhiên mất hoàn toàn thính giác, Riz Ahmed đã giành tới 19 chiến thắng ở hạng mục nam chính xuất sắc nhất trong mùa giải thưởng năm nay với tổng số điểm theo thống kê điểm của Metacritic là 91 và chỉ thua duy nhất một vai diễn cũng về đề tài âm nhạc khác của Chadwick Boseman, người có 98 điểm nhờ 22 lần được xướng tên ở bục cao nhất tại các giải thưởng của mùa giải năm nay, trong đó có hai giải có giá trị dự báo quan trọng là Giải Quả cầu vàng lần thứ 78 và giải của Hiệp hội diễn viên Hoa Kỳ (SGA). Tuy Ma Rainey's Black Bottom không được đánh giá cao bằng Sound of Metal về nhiều phương diện, nhưng với việc giành được nhiều giải thưởng mang tính dự báo, và cái chết đột ngột ở tuổi 43 khiến cả Hollywood phải bàng hoàng, Chadwick Boseman nhiều khả năng sẽ vượt qua Riz Ahmed để trở thành nam diễn viên thứ hai giành tượng vàng Oscar cho nam chính xuất sắc nhất sau khi đã qua đời kể từ Peter Finch với vai diễn trong Network (1976). Nếu so với Chadwick Boseman và Riz Ahmed, thì cơ hội có lẽ không còn quá nhiều cho các ứng viên khác của hạng mục này là Anthony Hopkins (The Father), Steven Yeun (Minari) hay Gary Oldman (Mank) với tổng điểm giải thưởng giành được theo Metacritic lần lượt là 39, 27, và 12. Tuy vậy, hy vọng cũng không hẳn đã tắt cho ba nam diễn viên đã có diễn xuất hết sức đáng nhớ trong năm nay, bởi Anthony Hopkins đã bất ngờ chiến thắng ở giải BAFTA và ở tuổi 83 đang có cơ hội trở thành nam diễn viên già nhất từng được trao tượng vàng Oscar cho vai nam chính xuất sắc nhất, còn Steven Yeun nếu chiến thắng sẽ làm nên lịch sử khi là cái tên gốc Đông Á đầu tiên được xướng danh ở hạng mục này, và Oldman vốn luôn là nam diễn viên được Hollywood yêu thích với chiến thắng ở hạng mục này mới 4 năm trước nhờ vai diễn thủ tướng Anh Winston Churchill trong Darkest Hour (2017).

Cũng đang khiến giới dự đoán phải vò đầu bứt óc ở Giải Oscar năm nay là hạng mục nữ chính xuất sắc nhất khi mà Carey Mulligan (Promising Young Woman) và Frances McDormand (Nomadland) đều đã có 23 chiến thắng và 4 lần về nhì ở mùa giải năm nay với tổng điểm giải thưởng theo Metacritic lần lượt là 94 và 93 - do Mulligan nhỉnh hơn McDormand đúng một đề cử ở các giải thưởng cho vai nữ xuất sắc nhất. Quả thực, dù thể hiện hai vai diễn hết sức đối lập - với Carey Mulligan là cô gái mạnh mẽ Cassie với quyết tâm trả thù cho người bạn bị xâm hại tình dục, còn Frances McDormand là người phụ nữ trung niên Fern với tâm thế buông bỏ của một người vô gia cư rong ruổi trên khắp nẻo đường nước Mỹ, nhưng cả hai đều hết sức xuất sắc với nỗ lực nói lên những nỗi niềm chẳng mấy ai biết tới của người phụ nữ trong xã hội Mỹ hiện đại. Nếu phải lựa chọn, có lẽ chính McDormand mới là cái tên có phần nhỉnh hơn nhờ sự vượt trội của chính Nomadland trong mùa giải thưởng năm nay, và nhờ vào việc bà đã chiến thắng nữ diễn viên người Anh Carey Mulligan ngay trên chính "sân nhà" của cô tại Giải BAFTA. Nếu giành tượng vàng Oscar ở hạng mục này trong ngày 25 tháng 4 tới, McDormand sẽ có tới ba chiến thắng ở hạng mục danh giá nhà và sẽ chỉ còn xếp sau huyền thoại Katharine Hepburn về số lần giành giải. Tuy nhiên, người xem cũng không nên quên rằng hai ứng viên khác của hạng mục này là Viola Davis (Ma Rainey's Black Bottom) và Andra Day (The United States vs. Billie Holiday) cũng hoàn toàn có thể gây bất ngờ nhờ thủ vai hai huyền thoại của nền âm nhạc Mỹ là Ma Rainey và Billie Holiday, bởi Davis mới đây đã chiến thắng ở giải thưởng quan trọng mang tính dự báo SAG, còn Andra Day mới chính là người giành Giải Quả cầu vàng cho vai nữ chính xuất sắc nhất. Cái tên còn lại và cũng là trẻ nhất của hạng mục này - Vanessa Kirby (Pieces of a Woman) có lẽ cũng sẽ không quá buồn nếu không được giải, bởi cô mới ở những bước đầu chinh phục Hollywood và hoàn toàn có cơ hội vươn xa hơn, nếu không về mặt nghệ thuật thì cũng là mặt thương mại nhờ loạt phim Mission: Impossible.

Ở hạng mục Oscar cho nam phụ xuất sắc nhất, dù Paul Raci (Sound of Metal), Daniel Kaluuya (Judas and the Black Messiah), Leslie Odom Jr. (One Night in Miami), và Sacha Baron Cohen (The Trial of the Chicago 7) hiện vẫn đang bám sát nhau trên bảng thống kê điểm giải thưởng của Metacritic, thì ngôi sao của Get Out (2017) Daniel Kaluuya lại đang sở hữu ưu thế vượt trội nhờ chiến thắng ở các giải thưởng quan trọng nhất của hạng mục này ở Giải Quả cầu vàng, Giải BAFTA, và Giải SAG và sẽ nhiều khả năng tiếp nối làn sóng giành giải của các nam diễn viên người Mỹ gốc Phi ở Giải Oscar vài năm trở lại đây. Trào lưu này được thể hiện rất rõ ở chính hạng mục nam phụ của Oscar năm nay khi có tới 3/5 ứng viên là diễn viên người Mỹ gốc Phi - Daniel Kaluuya, Leslie Odom Jr., và Lakeith Stanfield (Judas and the Black Messiah). 

Tương tự như Kaluuya ở hạng mục nam phụ, nữ diễn viên 73 tuổi người Hàn Quốc Youn Yuh-jung với vai người bà ngoại lập dị trong Minari đang là ứng viên sáng giá nhất cho tượng vàng Oscar ở hạng mục nữ phụ, bởi bà đã giành tới 32 chiến thắng khác nhau của mùa giải thưởng năm nay, trong đó có hai giải rất quan trọng là BAFTA và SAG. Với tổng điểm giải thưởng theo thống kê của Metacritic lên đến 115, nữ diễn viên gạo cội với tuổi đời còn lớn hơn tuổi đời chính thức của đất nước Hàn Quốc của bà hiện đang vượt xa các đối thủ còn lại ở hạng mục này là Maria Bakalova (Borat Subsequent Movie, 76 điểm), Amanda Seyfriend (Mank, 44 điểm), Olivia Colman (The Father, 27), và Glenn Close (Hillbilly Elegy, 10). Nếu được xướng danh, Youn sẽ trở thành nữ diễn viên gốc châu Á thứ hai chiến thắng ở hạng mục này kể từ Miyoshi Umeki - nữ diễn viên người Mỹ gốc Nhật từng chiến thắng với Sayonara (1957).

Trong một năm Oscar chứng kiến sự lên ngôi của rất nhiều nghệ sĩ gốc thiểu số và nghệ sĩ nữ, hai hạng mục Kịch bản xuất sắc nhất cũng đang cho thấy ưu thế của hai nhà đạo diễn kiêm biên kịch nữ là Emerald Fennell (Promising Young Woman - hạng mục Kịch bản gốc) và Chloé Zhao (Nomadland - hạng mục Kịch bản chuyển thể). Lần lượt giành tới 22 và 18 chiến thắng ở hạng mục kịch bản trong mùa giải thưởng năm nay với hai kịch bản rất đẹp về hình tượng những người phụ nữ dù rất khác nhau nhưng đều đẹp và đáng nhớ, Fennell và Zhao đang bỏ xa các đối thủ khác ở hạng mục này trong đó có cả những nhà biên kịch hàng đầu từng giành giải Oscar như Aaron Sorkin (The Trial of the Chicago 7 - Kịch bản gốc) hay Christopher Hampton (The Father - Kịch bản chuyển thể). Không phải Sorkin hay Hampton, đối thủ lớn nhất của Fennell ở hạng mục Kịch bản gốc có lẽ lại là Lee Isaac Chung với Minari, còn chính ngôi sao phim hài Sacha Baron Cohen và các cộng sự - tác giả kịch bản Borat Subsequent Movie mới là thử thách lớn nhất của Chloé Zhao trong việc giành tượng vàng Oscar ở hạng mục Kịch bản chuyển thể xuất sắc nhất.

Nếu như năm 2020 Bong Joon-ho đã làm nên lịch sử ở giải Oscar với việc được đề cử và chiến thắng ở cả hạng mục Phim hay nhất (trong vai trò nhà sản xuất), Đạo diễn xuất sắc nhất, và Kịch bản gốc xuất sắc nhất, thì chỉ sau đó một năm Chloé Zhao đang có cơ hội vượt qua cả thành tích đó bởi nữ đạo diễn 39 tuổi quê gốc Bắc Kinh này không chỉ là nhà sản xuất, đạo diễn, biên kịch của Nomadland mà cô còn kiêm luôn vai trò dựng phim - một hạng mục Nomadland cũng được đề cử, và có nhiều cơ hội giành giải Oscar lần thứ 93. Từng được coi là một trong những chỉ dấu quan trọng nhất cho việc ứng viên nào sẽ giành tượng vàng cuối cùng cho phim hay nhất bởi cái tên nào được xướng danh ở hạng mục Biên tập phim xuất sắc nhất thường sau đó cũng sẽ chiến thắng luôn ở hạng mục Phim hay nhất, kể từ năm 2010 tới nay, hạng mục Biên tập đã không còn mang quá nhiều ý nghĩa và thường được trao cho các tác phẩm vượt trội về mặt kỹ thuật và dàn dựng nhưng lại thiếu điểm để đi đến cái đích cuối cùng như Gravity (2013), Mad Max: Fury Road (2015), hay Dunkirk (2017). Khi đối chiếu với tiêu chí này, rõ ràng Chloé Zhao không hẳn đã có nhiều cơ hội bởi Nomadland có cách kể truyện và dàn dựng tương đối dung dị nếu so với các ứng viên khác của hạng mục này như Promising Young Woman (dựng phim Frédéric Thoraval), The Trial of the Chicago 7 (Alan Baumgarten), Sound of Metal (Mikkel E.G. Nielsen), và The Father (Yorgos Lamprinos).

Ở hạng mục Quay phim xuất sắc nhất của Giải Oscar lần thứ 93, thành công vang dội của Nomadland ở mùa giải thưởng năm nay đã đem cơ hội vươn tới tượng vàng cho Joshua James Richards - nhà quay phim còn ít người biết đến tới mức chưa có bài viết trên Wikipedia tiếng Anh, bởi người cộng sự nhiều năm của Chloé Zhao đã 31 lần được bước lên bục chiến thắng ở hạng mục quay phim trong mùa trao giải năm nay, bỏ xa các ứng viên tên tuổi khác (và đều có bài trên Wikipedia tiếng Anh) như Erik Messerschmidt (Mank, 4 lần), Dariusz Wolski (News of the World), Sean Bobbitt (Judas and the Black Messiah), và Phedon Papamichael (The Trial of the Chicago 7) - đều chưa chiến thắng lần nào. 

Trong một năm của nhiều bất chắc, hãng Pixar - chủ nhân của ứng viên nặng ký nhất cho hạng mục Phim hoạt hình dài hay nhất (Soul - đạo diễn Pete Docter và Dana Murray) cũng chưa hẳn đã cầm chắc trong tay tượng vàng như một thông lệ nhiều năm ở Giải Oscar bởi năm nay Wolfwalkers cũng đã gây tiếng vang lớn về chất lượng nghệ thuật và được nhiều người coi là cơ hội để Viện Hàn lâm "sửa sai" sau khi đã bỏ qua Tomm Moore - đạo diễn của Wolfwalkers trong hai lần trước đây anh được đề cử với The Secret of Kells (2009) và Song of the Sea (2014). Có một điều thú vị là không phải ai khác ngoài Pete Docter đã lấy đi cơ hội giành tượng vàng của Moore năm 2009 với tuyệt phẩm Up

Ở hai hạng mục phim dài cuối cùng là Phim tài liệu dài xuất sắc nhất và Phim quốc tế hay nhất, Giải Oscar lần thứ 93 cũng đã có những ứng cử viên sáng giá, đó là Time (đạo diễn Garrett Bradley - hạng mục Phim tài liệu) và bộ phim Đan Mạch Another Round (đạo diễn Thomas Vinterberg - hạng mục Phim quốc tế). Nói về những bất công trong nền tư pháp Hoa Kỳ mà người Mỹ gốc Phi phải đối mặt suốt cả trăm năm qua, Time hiện đã có tới 69 điểm giải thưởng theo thống kê của Metacritic, vượt xa các đối thủ như Collective (45 điểm), Crip Camp (21 điểm) hay The Mole Agent (không có điểm). Đối thủ lớn nhất của Time ở hạng mục này là bộ phim lấy bối cảnh biển cả My Octopus Teacher của Pippa Ehrlich và James Reed - bộ phim đã chiến thắng bất ngờ ở Giải BAFTA. Tuy nhiên trong bối cảnh nước Mỹ đang vừa trải qua vụ xét xử mang tính thế kỉ liên quan tới cái chết của người Mỹ gốc Phi dưới tay một cảnh sát, thì Time có lẽ sẽ vẫn là cái tên được Hollywood ưu ái trong đêm trao giải ngày 25 tháng 4 tới đây. Về phần mình, do Minari đã được "đôn" thẳng lên hạng mục Phim hay nhất, bộ phim xuất sắc Another Round của ngôi sao Mads Mikkelsen và đạo diễn Thomas Vinterberg đã nghiễm nhiên trở thành ứng viên nặng kí nhất khi mà Vinterberg còn được đề cử ở hạng mục Đạo diễn xuất sắc nhất và từ lâu đã được coi là một trong những đạo diễn có tiếng nhất của Đan Mạch trong vai trò đồng sáng lập của phong trào làm phim tối giản Dogme 95 cùng với Lars von Trier. Từng vuột mất tượng vàng trong lần đề cử năm 2012 của tác phẩm xuất sắc The Hunt và không có nhiều hy vọng vượt qua Chloé Zhao ở hạng mục đạo diễn năm nay, có lẽ Thomas Vinterberg đang rất mong sẽ "phá dớp" Oscar ở hạng mục Phim quốc tế hay nhất, bởi các đối thủ khác như Collective của đạo diễn Rumani Alexander Nanau, The Man Who Sold His Skin của đạo diễn người Tunisia Kaouther Ben Hania, và Quo Vadis, Aida? của đạo diễn đến từ Bosnia và Herzegovina Jasmila Žbanić đều không gây nhiều tiếng vang trong mùa trao giải năm nay, trong khi Em của thời niên thiếu của đạo diễn Hồng Kông Tăng Quốc Tường với chất lượng vừa phải có lẽ đã đủ hài lòng với một đề cử bất ngờ ở hạng mục này. 

Hơn một năm qua điện ảnh thế giới nói chung và Hollywood nói riêng đang trải qua những thời khắc biến động và có lẽ là khó khăn bậc nhất kể từ khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc. Bởi vậy mà rất nhiều người làm nghề, cũng như các khán giả yêu điện ảnh đang hướng về lễ trao Giải Oscar lần thứ 93 vào đêm ngày 25 tháng 4 sắp tới với nhiều dự đoán và hy vọng. Dự đoán và hy vọng về việc Viện Hàn lâm sẽ trao tượng vàng cho các tác phẩm thực sự hay, thực sự phản ánh những mong mỏi, khắc khoải của xã hội hiện đại là một phần. Nhưng có lẽ một phần lớn hơn, đó là hy vọng vào việc lễ trao Giải Oscar năm nay sẽ là cột mốc đánh dấu sự kết thúc cho một Năm thảm hoạ của điện ảnh thế giới, và mở ra một giai đoạn mới với những bộ phim hay, những cơ hội quay trở lại rạp phim cho khán giả, thực hiện những bộ phim mới cho giới làm điện ảnh. Rất mong rằng dù Nomadland, Minari, hay bất cứ bộ phim nào khác sẽ được vinh danh ở thời khắc quan trọng nhất của lễ trao giải đêm ngày 25 tháng 4 sắp tới, thì điện ảnh cũng sẽ sớm quay trở lại trong thời gian gần nhất như chính ước vọng của những khán giả và người làm phim dõi theo Giải Oscar năm nay, bởi chính trong những lúc khó khăn thế này, chúng ta mới lại càng cần những bộ phim hay, những cảm hứng đến từ các rạp phim, những hy vọng và niềm tin đến từ các câu thoại phim, như cái cách Scarlett O’Hara đã nói với khán giả trong đoạn kết của "Cuốn theo chiều gió" năm nào: " Sau tất cả, ngày mai là một ngày mới". 

=====

Bản đã biên tập trên Zing.

My Octopus Teacher (2020)


Bạch tuộc là gì? Để trả lời câu hỏi này, có lẽ phần lớn công chúng sẽ nghĩ tới một loại hải sản ngon, rẻ, phổ biến, hoặc cùng lắm là nhớ tới tên chú bạch tuộc Paul từng làm thu hút sự chú ý của cả thế giới nhờ những "tiên đoán" chính xác về các trận cầu của World Cup 2010. Với những độc giả "nghiện" Wikipedia hoặc những học sinh giỏi môn Sinh học thì có thể câu trả lời sẽ có thêm phần về trí thông minh vượt trội của loại động vật thân mềm này nếu so sánh với các cư dân khác của vương quốc đại dương. Đây là những câu trả lời dễ hiểu, bởi chúng ta đương nhiên chỉ coi những con bạch tuộc "thông thường" (common octopus hay "octopus vulgaris") là một con vật, không hơn, không kém.

Nhưng với nhà làm phim người Nam Phi Craig Foster thì một cô bạch tuộc "thông thường" như vậy không phải là một con vật, lại càng không phải một món ăn ngon. Cô bạch tuộc đó là "cô giáo" của người đàn ông trung niên về thiên nhiên, về cuộc sống, và cũng là nhân vật chính của bộ phim tài liệu xuất sắc My Octopus Teacher (Cô giáo bạch tuộc của tôi).

Được hai nhà làm phim Pippa Ehrlich và James Reed thực hiện cho hãng Netflix dựa trên những thước phim tư liệu về cuộc gặp gỡ kỳ lạ và đầy lý thú của Craig Foster với cô bạch tuộc của ông ở nơi tận cùng của lục địa đen giáp với Đại Tây Dương - Mũi Bão Tố ("Cape of Storms"), My Octopus Teacher đem tới cho người xem một tình bạn tưởng chừng không thể giữa một người đàn ông đã từng trải qua mọi cung bậc cảm xúc của cuộc đời với một cô bạch tuộc tưởng chừng vô tri vô giác. Craig Foster không phải là mẫu người mơ mộng với khả năng tìm thấy tâm hồn ở mọi tạo vật trên thế giới. Trái lại ông là một nhà làm phim mệt mỏi với những biến cố của cuộc đời, với cảm giác bất lực trong việc giao tiếp với cả những người thân yêu nhất như cậu con trai Tom, và vì thế quyết định từ bỏ máy quay để một mình quay về với biển cả quê hương ở Mũi Bão Tố, nơi ông có thể ngụp lặn thoả thích trong cô đơn giữa khu rừng tảo bẹ đẹp đẽ và đầy bí ẩn mà không phải tiếp xúc với con người, không phải suy nghĩ về cuộc đời nhiều bão tố. Chính ở tại khu rừng dưới nước này ông đã gặp cô bạch tuộc tuy không tên tuổi, chẳng tiếng nói, nhưng bộc lộ trí thông minh đáng kinh ngạc "ở một con vật" trong việc săn mồi hay nguỵ trang tránh lũ cá mập pijama luôn rình mò trong bóng tối đại dương. Từ chỗ tò mò, Foster bắt đầu thực sự chú tâm tìm hiểu, để rồi nhận ra rằng "con vật" ấy có nhiều điểm gần gũi hết mực với một người đàn ông cô đơn giữa làn nước lạnh giá phương Nam như ông, để rồi cố sức gây dựng một "tình bạn", một sợi dây cảm xúc tưởng chừng bất khả với cô bạch tuộc không tên và không tiếng nói ấy. Xuyên suốt My Octopus Teacher, người xem sẽ được chứng kiến nhiều thời khắc khác nhau của tình bạn ấy - từ hồi hộp, buồn bã, cho tới hạnh phúc, lo âu, được cảm nhận sự trưởng thành, cứng cáp của cái sợi dây cảm xúc giữa Craig Foster và cô bạch tuộc, và được nhận ra rằng tình bạn giữa con người và "một con vật" tưởng chừng nhỏ bé, tăm tối như bạch tuộc không hề là bất khả. 

Nếu phải gói gọn My Octopus Teacher trong một từ thì có lẽ đó là sự chân thành. Ở từng thước phim đặc tả thiên nhiên tuyệt vời của đất nước Nam Phi nói chung và khu rừng tảo bẹ nói riêng, hay trong từng lời tâm sự của Craig Foster dành cho cô bạch tuộc hay cho thế giới đại dương bao la, người xem đều có thể cảm nhận được tình cảm hết sức chân thành mà các nhà làm phim và các nhân vật trong phim như Foster, như cậu con trai Tom của ông dành cho cô bạch tuộc và cho cả thế giới tự nhiên. Tất nhiên sự trung thực và chân thành luôn là phẩm chất cần có của một bộ phim tài liệu hay, nhưng sự chăm chút, tỉ mỉ, kỹ lưỡng của Craig Foster và các đồng nghiệp để đặc tả một cách chính xác nhất, rõ ràng nhất, dễ nắm bắt nhất sự đa dạng và chiều sâu đến kinh ngạc của cuộc sống nơi đại dương đã giúp khán giả thực sự hiểu được rằng chúng ta chỉ là một phần của thế giới rộng lớn với sợi dây kết nối thực ra vẫn luôn tồn tại và chờ đợi được khai phá, như cái cách mà Foster đã khai phá, đã nhận ra tình cảm của ông dành cho "cô giáo bạch tuộc" của mình. 

Có lẽ với nhiều người xem, cái tên Cô giáo bạch tuộc của tôi sẽ đem lại nhiều nghi ngại bởi cái định kiến "bạch tuộc chỉ là một con vật" mà chắc chắn nhiều người đã thành hình do thiếu vắng sự tiếp xúc với thiên nhiên theo một cách tự nhiên, không gượng ép. Nhưng Craig Foster, và My Octopus Teacher sẽ nhanh chóng hoá giải nỗi hoài nghi ấy cho khán giả nhờ vào những cảnh quay xuất sắc về một thế giới xa lạ nơi tận cùng thế giới, dưới đáy đại dương, trong bóng tối của những cây tảo bẹ không lồ nhưng lại chan chứa cảm xúc và tình cảm mà ai trong chúng ta cũng đều có thể dễ dàng liên hệ. Nhìn cái cách cô bạch tuộc lấy chiếc xúc tu của mình chạm vào bàn tay chai sạn nhưng run run vì hạnh phúc của Foster, chắc hẳn nhiều ông bố, bà mẹ sẽ nhớ ngay đến những giờ phút được chứng kiến đứa con của mình ra đời, được cầm bàn tay bé nhỏ, mỏng manh của một sinh linh còn chưa biết nói nhưng đã có sẵn trong mình mầm mống của một sợi dây tình cảm mẫu-tử, phụ-tử không thể tách rời. Ánh mắt khắc khoải của Foster khi nói về những giờ phút hiểm nguy - vốn đầy rẫy trong cuộc đời ngắn ngủi của cô bạch tuộc nơi đại dương khốc liệt có lẽ cũng sẽ gợi nhắc nhiều người xem về sự lo âu, bồn chồn họ dành cho những người yêu quý trong những khúc quanh bão tố của cuộc đời. My Octopus Teacher có rất nhiều những giây phút như thế để khán giả có thể cảm nhận được tình bạn thật sự giữa Foster và cô giáo bạch tuộc, và hơn thế là tự gây dựng cho họ tình cảm, sự quan tâm dành cho cô giáo bạch tuộc, dành cho mọi tạo vật trong thiên nhiên mà họ - những khán giả ngồi xem My Octopus Teacher trên màn ảnh nhỏ trong các căn phòng ấm cúng không có nhiều cơ hội được trải nghiệm.

Trong bối cảnh xã hội hiện đại đang dần chiếm chỗ của thiên nhiên hoang dã, đang tàn phá nguồn sống tự nhiên với tốc độ chóng mặt để rồi phải đối mặt với hậu quả của chính chúng ta gây ra - biến đổi khí hậu, bệnh tật, sự tuyệt chủng của hàng loạt các loài cây cối, động vật, thì nhiều nhà làm phim đã và đang cố gắng kêu gọi lương tri của nhân loại trong việc bảo tồn thiên nhiên, trong việc lưu giữ các nguồn sống quý giá còn lại của Trái Đất. Thông thường, các nhà làm phim sẽ chọn cách nói chuyện trực diện, nêu thẳng hậu quả tàn khốc mà chúng ta sẽ phải hứng chịu như trong An Inconvenient Truth (2006) của David Guggenheim, hoặc đặc tả vẻ đẹp đa dạng đến ngột thở nhưng cũng hết sức mỏng manh, cần sự bảo vệ của Trái Đất như trong Our Planet - bộ phim tài liệu do nhà làm phim huyền thoại David Attenborough dẫn dắt. Cũng là một tác phẩm tuyệt đẹp về thiên nhiên, nhưng My Octopus Teacher chọn một cách khác. Thông qua cuộc tao ngộ tưởng chừng hiếm có giữa Craig Foster và cô giáo bạch tuộc của ông, My Octopus Teacher chỉ đơn giản nói lên rằng chúng ta-con người hiện đại cũng chỉ là những cư dân của một thế giới rộng lớn trên Trái Đất, nơi còn rất nhiều những cư dân khác với những số phận khác, những cách sống khác, những ứng xử khác như cô bạch tuộc, như kẻ thù của cô - những con cá mập pijama, hay thậm chí là như những ngọn tảo bẹ của khu rừng lạ lùng nơi Mũi Bão Tố. Chỉ có những nỗ lực bảo vệ môi trường, chỉ bằng mong muốn thực sự đến với tự nhiên, tìm về với thiên nhiên, chúng ta - con người mới có thể có cơ hội thực sự làm quen, thực sự được trải nghiệm những tình cảm quý giá như cách Foster đã được trải nghiệm trong gần một năm dõi theo cô giáo bạch tuộc của mình. Và biết đâu cứ sống đẹp như thế, cứ trải nghiệm như thế, chúng ta cũng sẽ có cơ hội để thấy cuộc sống bớt cô đơn hơn, để thấy đời đẹp hơn, đáng sống hơn như cách Craig Foster đã vun đắp lại tình cảm với con trai của mình - thông qua cảm hứng có được từ biển cả, từ cô giáo bạch tuộc.

======

Bản đã biên tập trên Zing.

Mank (2020)

 


Cứ mỗi năm đến mùa giải thưởng điện ảnh, giới phê bình và người hâm mộ lại tranh cãi kịch liệt về việc liệu bộ phim nào mới xứng đáng là tác phẩm điện ảnh xuất sắc nhất năm. Nhưng nếu để hỏi rằng liệu tác phẩm nào xứng đáng là một trong những bộ phim xuất sắc nhất trong lịch sử điện ảnh, thì chắc chắn rằng Công dân Kane (Citizen Kane, 1941) sẽ là cái tên thường xuyên được nhắc đến. Không chỉ là bộ phim mang tính cách mạng về kỹ thuật quay phim, dựng phim, đứa con đẻ của huyền thoại Orson Welles còn được đánh giá rất cao về truyện phim, cấu trúc kịch bản, và cách xây dựng nhân vật hoàn toàn khác biệt so với các tác phẩm Hollywood cùng thời. Dù 80 năm đã trôi qua kể từ ngày bộ phim lần đầu được ra mắt khán giả, nhưng giá trị nghệ thuật của Công dân Kane vẫn vững bền theo thời gian với minh chứng không chỉ là thứ hạng rất cao mà tác phẩm này thường xuyên giành được trong các cuộc bầu chọn "Phim hay nhất mọi thời đại", mà còn thông qua việc người yêu điện ảnh vẫn nhớ đến hình ảnh ông trùm báo chí Charles Foster Kane lụi tàn trong dinh thự Xanadu trống vắng, hay những nút thắt mở xoay quanh lời trăn trối cuối cùng của Kane "Rosebud".

Trớ trêu thay, dù có được vị trí đỉnh cao về mặt nghệ thuật trong lịch sử phát triển của Hollywood nhưng Công dân Kane chỉ giành được duy nhất một chiến thắng trong số 9 hạng mục mà tác phẩm này được đề cử tại lễ trao Giải Oscar lần thứ 14 vào tháng 2 năm 1942. Cùng chia sẻ tượng vàng Oscar danh giá này là huyền thoại Orson Welles - người kiêm luôn cả vai trò sản xuất, đạo diễn, và diễn viên chính của phim khi mới 26 tuổi, và nhà biên kịch gạo cội Herman J. "Mank" Mankiewicz. Còn tréo ngoe hơn thế là việc "Mank" Mankiewicz cùng nhiều người ủng hộ ông cho rằng công sức viết nên kịch bản sáng tạo về cấu trúc và dồi dào về cảm xúc của Công dân Kane phần lớn là nhờ vào "Mank" - người sẵn sàng đối đầu với rất nhiều thế lực ở Hollywood để đưa cuộc đời nhà tài phiện hàng đầu của báo chí Bắc Mỹ William Randolph Hearst lên màn ảnh lớn thông qua hình ảnh Charles Foster Kane. Còn Orson Welles lại một mực khẳng định rằng không có bàn tay can thiệp của mình thì những dòng kịch bản trúc trắc và gây tranh cãi do Mank chắp bút đầu tiên đã chẳng bao giờ được biến hoá thành những cảnh quay đầy tính biểu tượng của Công dân Kane, và cũng không thể có "cửa" vượt qua vô số rào cản của Hollywood - vốn khi đó vẫn phần nhiều đứng về phía William Randolph Hearst để đến với công chúng. 

Những suy tư, trăn trở của Herman Mankiewicz trong quá trình thai nghén nên kịch bản huyền thoại của Công dân Kane và những tranh cãi giữa nhà biên kịch tài năng có thừa nhưng tai tiếng cũng không thiếu này với Orson Welles, với William Randolph Hearst chính là chủ đề cho Mank tác phẩm mới nhất của đạo diễn David Fincher. Qua Mank, người xem có thể thấy được những ngày tháng gian khổ cả về mặt thể chất và tinh thần của Herman J. "Mank" Mankiewicz (Gary Oldman) để có thể đem lại cho người yêu điện ảnh một trong những kịch bản sáng tạo và đáng nhớ nhất trong lịch sử Hollywood, với một trong những nhân vật đặc sắc nhất của môn nghệ thuật thứ Bảy - Charles Foster Kane. Nhưng không chỉ dừng lại ở việc mô tả đơn thuần quá trình lao động nghệ thuật của Mankiewicz, Mank còn đem tới cho khán giả một bức tranh toàn cảnh của Hollywood thời kỳ hoàng kim những năm 1930, 1940 thông qua tương tác giữa nhà biên kịch đại tài nhưng cũng đầy tai tiếng với những tên tuổi khác của điện ảnh Hoa Kỳ như ông chủ hãng phim MGM Louis B. Mayer (Arliss Howard), nhà sản xuất phim huyền thoại Irving Thalberg (Ferdinand Kingsley), hay chính người em trai dường như kém tiếng nhưng không hề kém tài của "Mank" là Joseph L. Mankiewicz (Tom Pelphrey). Và tất nhiên, cha con Fincher cũng không quên đề cập tới một trong những khía cạnh đáng nhớ nhất của kịch bản Công dân Kane - đó là mối liên hệ và sự tương đồng đến lạ kỳ giữa những số phận được miêu tả trong kịch bản với những tên tuổi có thật ngoài đời, đó là ông trùm báo chí William Randolph Hearst (Charles Dance) - người từng nhiều năm đứng ra bảo trợ cho chính Mankiewicz để ông có thể lo chu toàn cho người vợ Sara "Đáng thương" (Tuppence Middleton) và gia đình bất chấp thói nghiện cờ bạc cá độ và vung tay quá trán, và ngôi sao điện ảnh hạng B kiêm người tình của Hearst là Marion Davies (Amanda Seyfried) - người luôn trân trọng tình bạn với Mankiewicz bất chấp cách nói chuyện và ứng xử bất cần đời của người nghệ sĩ kiêu ngạo.

Mank là bộ phim đen trắng đầu tiên trong sự nghiệp của David Fincher. Đây là một trong những lý do khiến kịch bản của bộ phim dù được chính người cha của đạo diễn là nhà biên kịch Jack Fincher hoàn thành trước khi ông qua đời vào năm 2003 đã phải đợi tới gần hai thập niên để được David biến thành một tác phẩm điện ảnh thực sự. Không chỉ khác nhau về màu sắc, phong cách thực hiện của Mank cũng phần nào đó khác biệt với các tác phẩm trước đây của David Fincher vốn luôn được người xem yêu thích bởi nhịp độ dồn dập, kỹ thuật cắt dựng phim luôn đạt đến mức hoàn hảo, và truyện phim mạch lạc, dễ theo dõi nhưng vẫn chứa đựng vô số chi tiết, ẩn ý. Khác với Seven (1995), Fight Club (1999), The Social Network (2010), Gone Girl (2014), Mank được quay và dựng theo một phong cách gần gũi với các tác phẩm Hollywood thời kỳ hoàng kim những năm 1930, 1940 và cũng phần nào đó gần gũi với chính "Công dân Kane" với mạch phim được chia thành những phân đoạn xen kẽ giữa hiện tại của năm 1940 - những ngày tháng Mankiewicz sáng tác kịch bản Công dân Kane và quá khứ - những trải nghiệm của "Mank" với Hollywood nói riêng và xã hội Mỹ nói chung trong thập niên 1930 và là nguồn cảm hứng để ông tạo nên câu truyện đáng nhớ về bi kịch cuộc đời của Charles Foster Kane. Không chỉ gợi nhớ những bộ phim đen trắng của Hollywood những năm trước Thế chiến thứ hai qua cách kể truyện và dựng phim, Mank của David Fincher còn sử dụng rất nhiều góc quay và bối cảnh tương đối khô cứng và không tự nhiên vốn là một đặc điểm của điện ảnh khi phần lớn cảnh quay vẫn còn được thực hiện trong trường quay, và năng lực kỹ xảo và hậu kỳ còn chưa thực sự đáp ứng được mong muốn của các nhà làm phim. Bởi vậy mà nhìn tổng thể, Mank không hẳn là một tác phẩm mượt mà về mặt kỹ thuật như người xem thường trông đợi ở một tác phẩm của David Fincher, và cách kể chuyện của đạo diễn 58 tuổi trong bộ phim mới nhất này cũng không hẳn dễ theo dõi và cảm nhận. Xem xong Mank, có lẽ nhiều người sẽ đưa ra kết luận rằng nếu không phải là hãng Netflix với nguồn tài chính dồi dào và mong muốn thu hút được các nhà làm phim thượng thặng ghi tên mình lên kênh chiếu phim online của hãng, thì David Fincher sẽ vẫn khó lòng kiếm được một nhà đầu tư nào khác cho tác phẩm khá kén người xem này.

Việc Mank được quay và dựng theo phong cách Hollywood thời kỳ hoàng kim vốn phù hợp hơn với các diễn viên chủ yếu diễn cương và thậm xưng - trường phái diễn xuất chủ đạo của Hollywood cho đến trước thập niên 1960 cũng đã làm khó các diễn viên đầy thực lực của phim - những người có thừa tài năng nhưng luôn tuân thủ phong cách diễn nhập vai, hoá thân hoàn toàn vào nhân vật vốn được du nhập vào Hollywood trong giai đoạn chuyển giao giữa Hollywood thời cổ điển (cuối thập niên 1950, đầu thập niên 1960) và giai đoạn New Hollywood (từ nửa cuổi thập niên 1960). Có lẽ một phần vì lý do này mà cả Gary Oldman - ngôi sao vừa giành giải Oscar vai nam xuất sắc nhất năm 2018 và các bạn diễn của ông như Lily Collins (vai Rita Alexander - trợ lý kiêm thư ký của Herman Mankiewicz) hay Tom Burke (vai Orson Welles) không thực sự để lại nhiều ấn tượng trong lòng khán giả. Điểm sáng gần như là duy nhất trong mảng diễn xuất của Mank có lẽ chính là Amanda Seyfried - người thủ vai Marion Davies cô minh tinh xinh đẹp có vẻ ngờ nghệch nhưng chưa bao giờ hết quan tâm đến những người cô yêu quý. Cách tạo hình và vẻ đẹp có chiều sâu hết sức ăn hình của Amanda Seyfried thực sự đã giúp người xem hiểu được phần nào lý do một nhà tài phiện thừa sức thay đổi cục diện chính trị của Hoa Kỳ như William Randolph Hearst lại chịu làm mọi thứ để mua lấy niềm vui của cô bồ nhí Marion Davies. 

Nhưng đằng sao sự thô ráp một cách có chủ đích của Mank, người yêu điện ảnh, đặc biệt là những người đã có cơ hội được xem, được tìm hiểu về lịch sử Hollywood giai đoạn hoàng kim những năm 1930, 1940 chắc chắn cũng sẽ cảm nhận được một sự hoài niệm và ưu tư mà David Fincher dành cho Hollywood của quá khứ và hiện tại thông qua hình ảnh một Herman Mankiewicz phải lần theo từng sợi chỉ kí ức để lấy cảm hứng cho kịch bản Công dân Kane. Hollywood trong Mank là một thế giới điện ảnh đang ở thời điểm đỉnh cao với "nhiều ngôi sao điện ảnh hơn cả sao trên trời", với những nhà sản xuất một năm có thể thực hiện cả chục bộ phim kinh phí lớn, và tất nhiên là với những tác phẩm điện ảnh để đời như The Wizard of Oz (1939), Cuốn theo chiều gió (1939), Công dân Kane (1941), Casablanca (1942) - những tác phẩm là nguồn vui, là niềm hy vọng của người dân Hoa Kỳ trong những năm tháng Đại khủng hoảng và sau đó là chiến tranh thế giới. Nhưng trong con mắt lãng tử nhưng không kém phần cay nghiệt của Herman Mankiewicz, ánh hào quang của kỷ nguyên hoàng kim của Hollywood chẳng qua chỉ là một người khổng lồ với đôi chân bằng đất sét được dựng lên bởi túi tiền không đáy của những ông chủ muốn lợi dụng niềm tin của người xem vào phim ảnh để thu lời và tạo ảnh hưởng như William Randolph Hearst. Và đằng sau những tên tuổi đã đi vào huyền thoại của Hollywood năm đó là vô số những toan tính, những lời dối trá, những bi kịch chẳng thể nào hoá giải như chính cuộc đời tưởng chừng đầy danh vọng nhưng chẳng thiếu những giấc mơ lỡ dở cho đến tận giờ phút nhắm mắt xuôi tay như của Charles Foster Kane. Càng đọc nhiều về Hollywood và những gương mặt điện ảnh thời kỳ hoàng kim này, càng xem nhiều những tác phẩm kinh điển mà giới làm phim thập niên 1930, 1940 đã đem đến cho điện ảnh thế giới, người xem mới lại càng cảm nhận được rằng Mank không hề vụng về hay thô kệch, trái lại thông qua tác phẩm mới nhất David Fincher rõ ràng đã thể hiện sự trân trọng, trau chuốt đến tối đa với kịch bản của người cha quá cố, với một Hollywood của quá khứ đã qua và không bao giờ quay trở lại. 

Không khí đậm đặc về một Hollywood buổi giao thời của "Mank" có lẽ sẽ khiến khán giả liên tưởng tới một tác phẩm xuất sắc khác cũng về bi kịch của những diễn viên, những nhà làm điện ảnh kiểu cũ trong giai đoạn chuyển giao từ cái cũ sang cái mới của Hollywood - bộ phim Sunset Boulevard (1950) của Billy Wilder. Phần nào đó, David Fincher chưa đẩy nhịp phim và kịch tính của Mank lên được ngang bằng với những bí mật và nút thắt mở của Sunset Boulevard, nhưng bộ phim mới nhất của ông có lẽ lại nhỉnh hơn tuyệt phẩm của Billy Wilder ở sự gắn bó không rõ là vô tình hay cố ý giữa Mank và thực tại của Hollywood và thế giới tại thời điểm hiện tại. Hollywood của hiện tại đang bị kẹt giữa một bên là khẩu hiệu nghệ thuật vị nghệ thuật với một bên là đòi hỏi của những nhà hoạt động xã hội về việc Hollywood phải cùng tranh đấu chống tin giả trong bầu cử và chính trị, phải cùng cất lên tiếng nói đòi bình quyền cho người gia đen, phải đề cao bình đẳng giới. Và còn tệ hơn thế nữa, trong một năm Trái Đất ngừng quay vì đại dịch COVID, Hollywood chính là một trong những ngành bị thiệt hại nặng nề nhất với vô số những bộ phim phải ngừng quay hoặc thậm chí là huỷ bỏ sản xuất, và hàng loạt những chuỗi rạp phim vang bóng một thời phải tuyên bố đóng cửa, phá sản vì không được phép đón khán giả vào rạp, vì phải nhường miếng bánh trên thị trường phim ảnh cho các kênh chiếu phim trực tiếp tới khán giả thông qua Internet như HBO Go, như Netflix. Trong bối cảnh ấy, xem xong Mank hẳn nhiều người sẽ thấy trào lên trong mình một sự nuối tiếc với Hollywood thời kỳ tiền COVID, khi các ngôi sao xuất hiện liên tiếp trong năm trên màn ảnh lớn, khi người xem luôn khấp khởi ra rạp với niềm tin sẽ được thưởng thức một tác phẩm hay, khi mỗi mùa trao giải điện ảnh lại là những cuộc tranh cãi không dứt về việc tác phẩm nào sẽ giành tượng vàng Oscar cuối cùng. Cũng giống như niềm tin mãnh liệt của Herman Mankiewicz và Orson Welles trong Mank về thành công của Công dân Kane, chúng ta cũng chỉ có thể hy vọng được rằng sẽ rất sớm đây thôi, Trái Đất và Hollywood sẽ thoát khỏi được thảm hoạ COVID để chúng ta sẽ không còn phải ngồi dán mắt vào màn hình nhỏ để xem Netflix mà sẽ lại được ra rạp để chia sẻ những giờ phút thư giãn bên người thân với những bộ phim mới, có chiều sâu như Mank của David Fincher.

=======

Bài đã biên tập trên Zing.

mardi 12 janvier 2021

92nd Academy Awards

 


Ngày 9 tháng 2 sắp tới, giải thưởng điện ảnh quan trọng nhất của năm – giải Oscar sẽ được tổ chức tại Nhà hát Dolby ở Thành phố Los Angeles, Hoa Kỳ. Lần thứ hai liên tiếp, và cũng mới là lần thứ hai sau ba thập niên tổ chức giải Oscar sẽ tiếp tục không có người dẫn chương trình chính, thay vào đó Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Hoa Kỳ sẽ mời các ngôi sao điện ảnh và các nhân vật nổi tiếng khác xướng danh các đề cử và cũng như công bố giải thưởng của từng hạng mục. Tất nhiên, dù có người dẫn chương trình hay không thì cả thế giới sẽ hướng sự chú ý về lễ trao giải Oscar lần thứ 92 chủ yếu để biết được những cái tên nào sẽ được vinh danh ở từng hạng mục, và quan trọng nhất là việc bộ phim nào sẽ được tôn vinh là tác phẩm xuất sắc nhất của năm điện ảnh 2019. 

Sau vài năm xáo trộn vì xu hướng áp đảo của các tác phẩm mang thông điệp chính trị và xã hội của thời đại, đặc biệt là về các vấn đề nhức nhối của xã hội Mỹ như tệ phân biệt chủng tộc, nạn quấy rối tình dục phụ nữ, hay sự chia rẽ của chính trường Hoa Kỳ, thì dường như Hollywood của năm 2019 đã quay trở lại quỹ đạo vốn có với rất nhiều phim bom tấn, không ít phim độc lập, và không hiếm bất ngờ đến từ các nhà làm phim người nước ngoài hoặc các tên tuổi còn ít được biết tới trong các đề tài quen thuộc với người xem nhiều thập niên qua như chiến tranh, gia đình, tình yêu, và tội ác. Gương mặt 2019 này của Hollywood được phản ánh rất rõ qua những cái tên được đề cử ở hạng mục Giải Oscar cho phim hay nhất. Ở đó người xem có thể thấy một sự đa dạng hiếm thấy trong thời gian gần đây của giải thưởng này khi 9 bộ phim là đại diện cho 9 dòng phim hoặc thể loại phim tương đối khác nhau. Đó là một tác phẩm sử thi về cuộc Đại chiến lần thứ I – tác phẩm 1917 của Sam Mendes – đạo diễn từng chiến thắng ở chính hạng mục này với tác phẩm điện ảnh đầu tay American Beauty (1999). Cũng từng chiến thắng ở hạng mục Phim hay nhất và tiếp tục đua tranh ở hạng mục quan trọng nhất năm nay là huyền thoại Martin Scorsese với bộ phim dài nhất trong số các ứng viên The Irishman làm về giới xã hội đen của Hoa Kỳ những năm giữa thế kỷ trước. Năm vừa qua, Martin Scorsese đã khiến dư luận xôn xao và thậm chí đã bị không ít người chỉ trích vì cho rằng những bộ phim siêu anh hùng như của hãng Marvel không nên được coi là một trải nghiệm điện ảnh thực sự. Trớ trêu thay là trong lễ trao giải Oscar lần thứ 92 sắp tới, The Irishman sẽ phải cạnh tranh với một đối thủ nặng ký thuộc dòng phim siêu anh hùng – bộ phim Joker của đạo diễn chuyên trị phim hài Todd Phillips. Chính tác phẩm xuất sắc bậc nhất của dòng phim siêu anh hùng với trung tâm là nhân vật gã hề Joker mới lại là bộ phim nhận được nhiều đề cử nhất từ Viện Hàn lâm cho đêm trao giải sắp tới với 11 đề cử, vượt lên trên 1917, The Irishman, và tác phẩm “áp chót” trong sự nghiệp của Quentin Tarantino Once Upon a Time in Hollywood. Lấy bối cảnh là chính thủ phủ điện ảnh Hollywood trong những năm 1970, Once Upon a Time in Hollywood cũng là một ứng viên cho hạng mục Phim hay nhất. Sự đa dạng của hạng mục Phim hay nhất năm nay còn nhờ sự góp mặt của một tác phẩm lấy đề tài đua xe thể thao – bộ phim Ford v Ferrari của đạo diễn James Mangold, tác phẩm tâm lý nói về cuộc chia ly của một cặp đôi hiện đại Marriage Story của Noah Baumbach, bộ phim hài lấy bối cảnh Thế chiến thứ hai Jojo Rabbit của Taika Waititi, và lần chuyển thể thứ bảy lên màn ảnh lớn tác phẩm kinh điển Little Women – bộ phim duy nhất của một nữ đạo diễn ở hạng mục này là Greta Gerwig. 

Cái tên cuối cùng trong số 9 ứng viên – ứng viên gây ngạc nhiên nhất của hạng mục Phim hay nhất trong lễ trao giải Oscar năm nay là bộ phim đến từ Hàn Quốc Ký sinh trùng. Trong suốt lịch sử gần 100 năm của Giải Oscar, đây mới là lần thứ 11 một bộ phim không sử dụng ngôn ngữ chính là tiếng Anh được đề cử ở hạng mục cao quý nhất này. Nhưng ngạc nhiên hơn nữa là việc bộ phim mới nhất của đạo diễn tài năng Bong Joon-ho lại đang có cơ hội rất lớn để trở thành bộ phim nói tiếng nước ngoài đầu tiên giành tượng vàng Oscar quan trọng nhất bởi theo thống kê của trang web điện ảnh Metacritic thì hiện Ký sinh trùng đang vượt lên trên trong cuộc đua tới giải Oscar cho phim hay nhất sau khi đã đạt tới 88 điểm ở hạng mục này tại các giải thưởng điện ảnh trước đó nhờ vào 24 lần đứng lên bục cao nhất, bỏ xa Once Upon a Time In Hollywood (57 điểm), The Irishman (52 điểm), Marriage Story (50 điểm), và 1917 (47 điểm). Tuy nhiên, người dân Hàn Quốc cũng chưa thể chắc chắn về cơ hội ăn mừng chiến thắng mang tính lịch sử cho Ký sinh trùng, bởi tuy chỉ có 47 điểm theo tổng hợp của Metacritic, nhưng tác phẩm chiến tranh của đạo diễn Sam Mendes 1917 mới lại là tác phẩm được vinh danh Phim hay nhất tại các giải thưởng quan trọng tiền Oscar như Giải Quả cầu vàng (hạng mục phim chính kịch), giải BAFTA của Viện Hàn lâm Nghệ thuật Điện ảnh và Truyền hình Anh Quốc, và giải thưởng quan trọng nhất của Hiệp hội Nhà sản xuất điện ảnh Hoa Kỳ (PGA) và Đạo diễn điện ảnh Hoa Kỳ (DGA). Lấy đề tài chiến tranh, sử thi, dường như 1917 cũng hợp gu với các thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật điện ảnh Hoa Kỳ hơn là một tác phẩm hết sức thông minh nhưng lại đậm chất Hàn Quốc như Ký sinh trùng. Tất nhiên, những người ủng hộ Ký sinh trùng cũng có thể chỉ ra thực tế rằng tuy hai bộ phim của đạo diễn Bong Joon-ho và Sam Mendes so kè ở hầu hết các hạng mục chính, 1917 lại không có đề cử ở hạng mục Biên tập phim xuất sắc nhất như Ký sinh trùng trong khi chiến thắng ở hạng mục này lại được coi là một trong những chỉ dấu quan trọng nhất cho Phim hay nhất tại bất cứ đêm trao giải Oscar nào. Bởi vậy khán giả vẫn sẽ phải chờ đến đêm trao giải ngày 9 tháng 2 sắp tới mới có thể biết được liệu truyền thống – 1917 sẽ chiến thắng hay sự mới mẻ - Ký sinh trùng mới là cái tên lên ngôi. 

Trong số những cái tên đạo diễn kể trên, Martin Scorsese (The Irishman), Todd Phillips (Joker), Sam Mendes (1917), Quentin Tarantino (Once Upon a Time in Hollywood), và Bong Joon-ho (Ký sinh trùng) cũng là năm cái tên xuất hiện ở hạng mục ứng viên Giải Oscar cho đạo diễn xuất sắc nhất. Và cũng như ở hạng mục Phim hay nhất, đây có lẽ cũng lại là cuộc đua song mã giữa Bong – người đã giành tới 24 giải tiền Oscar và đạt 90 điểm theo thống kê của Metacritic và Mendes – người mới có 48 điểm nhưng lại chiến thắng ở nhiều giải thưởng quan trọng tiền Oscar như Giải Quả cầu vàng, Giải BAFTA, giải của Hiệp hội Đạo diễn điện ảnh Hoa Kỳ DGA. Tuy nhiên thì dù có chiến thắng hay không ở hạng mục này và hạng mục Phim hay nhất, rõ ràng Bong Joon-ho đã làm nên lịch sử cho điện ảnh Hàn Quốc khi “bắt” được công chúng Hoa Kỳ dần làm quen với các bộ phim dí dỏm, thông minh, và đậm chất Á Đông như Ký sinh trùng và giúp họ hiểu rằng văn hoá, truyền thống của một đất nước có bề dày lịch sử như Hàn Quốc hoàn toàn không chỉ dừng lại ở những ca khúc bắt mắt bắt tay của các ban nhạc k-pop như BTS, Blackpink. 

Rõ ràng hơn một chút so với cuộc đua song mã ở hạng mục Phim hay nhất và Đạo diễn xuất sắc nhất, hai hạng mục Vai nam chính và Vai nữ chính xuất sắc nhất của giải Oscar năm nay chứng kiến sự nổi trội nhất định của Joaquin Phoenix – người thủ vai gã hề Joker trong bộ phim cùng tên, và Renée Zellweger – ngôi sao trong bộ phim tiểu sử về giai đoạn cuối đời của huyền thoại Judy Garland. Từng được đề cử 3 lần ở giải Oscar và giành được vô số giải thưởng diễn xuất khác nhưng Joaquin Phoenix lại chưa từng được xướng danh ở các đêm trao giải của Viện Hàn lâm. Bởi vậy mà với diễn xuất tuyệt đỉnh sánh ngang với vai Joker từng đem lại giải Oscar cho Heath Ledger năm 2009, nhiều người hy vọng rằng Phoenix có thể phá dớp trong lễ trao giải Oscar lần thứ 92 sắp tới, nhất là sau khi nam diễn viên này đã chiến thắng ở các hạng mục tương tự của Giải Quả cầu vàng, Giải BAFTA, và giải của Hiệp hội diễn viên điện ảnh Hoa Kỳ (SAG). Trong lễ trao giải luôn có kẻ vui người buồn, và nếu Phoenix chiến thắng thì có lẽ người buồn nhất sẽ là Adam Driver – nam diễn viên đang gặt hái vô số thành công trong mùa trao giải năm nay nhờ vai diễn anh chàng đạo diễn bị vợ bỏ trong Marriage Story và thậm chí còn đang đứng trên Joanquin Phoenix theo bảng xếp hạng điểm giải thưởng của Metacritic với 95 điểm. Lần lượt với 32 và 19 điểm, có lẽ hai diễn viên gạo cội Antonio Banderas (vai Salvador Mallo trong Pain and Glory) và Leonardo DiCaprio (vai Rick Dalton trong Once Upon a Time in Hollywood) cũng không hy vọng nhiều vào cơ hội giành giải của mình. Nam diễn viên 72 tuổi Jonathan Pryce – người thủ vai Giáo hoàng Francis trong The Two Popes là cái tên cuối cùng trong số các ứng viên của hạng mục Vai nam chính xuất sắc nhất và có lẽ cũng là người có ít cơ hội nhất trong số các ứng viên của hạng mục này năm nay khi mà ông chưa giành được bất cứ giải thưởng tiền Oscar nào. 

Về phía hạng mục Vai nữ chính xuất sắc nhất, Zellweger chính là cái tên được xướng danh cùng với Phoenix ở hầu hết các giải thưởng quan trọng tiền Oscar như Giải Quả cầu vàng, Giải BAFTA, hay giải SAG. Vì vậy sẽ không ngạc nhiên khi nữ diễn viên 50 tuổi người Mỹ sẽ vượt qua các đối thủ nặng ký như Cynthia Erivo (vai Harriet Tubman trong Harriet), Scarlett Johansson (vai Nicole Barber trong Marriage Story), Saoirse Ronan (vai Josephine "Jo" March trong Little Women), và Charlize Theron (vai Megyn Kelly trong Bombshell) để giành tượng vàng thứ hai trong sự nghiệp 17 năm sau lần đầu cô chiến thắng với vai diễn phụ trong Cold Mountain (2003). Nếu kịch bản này trở thành sự thật thì sẽ thật tiếc cho ngôi sao 25 tuổi Saoirse Ronan bởi không chỉ là người trẻ nhất trong số các ứng viên của hạng mục Vai nữ chính xuất sắc nhất, cô còn được coi là ngôi sao đang lên của Hollywood với 3 đề cử Oscar chỉ trong vòng 5 năm, nhưng với số điểm giải thưởng Metacritic hiện đang tổng hợp cho cô là 22 – thua xa Nyong'o (86), Zellweger (66), và Johansson (56), thì khó có khả năng Ronan có thể “quá tam ba bận” giành được giải Oscar trong lần đề cử thứ tư của cô, bấp chấp việc vai Jo của cô trong Little Women thực sự xứng đáng là một trong những vai diễn xuất sắc nhất năm. 

Tương tự thông lệ nhiều năm, hạng mục Vai nam phụ và Vai nữ phụ xuất sắc nhất của giải Oscar năm nay có thể coi là tương đối dễ đoán định. Ở phía nam, vai diễn tay đóng thế Cliff Booth trong Once Upon a Time in Hollywood nhiều khả năng sẽ đem lại cho Brad Pitt tượng vàng Oscar thứ hai trong sự nghiệp nhưng mới là chiến thắng đầu tiên của anh ở hạng mục diễn xuất bởi Pitt được xướng tên lần đầu tiên là trong vai trò nhà sản xuất bộ phim 12 Years a Slave (2013). Theo thống kê của Metacritic, cho đến nay nam diễn viên 56 tuổi người Mỹ đã giành được tới 104 điểm giải thưởng nhờ vào việc chiến thắng ở 29 giải tiền Oscar, trong đó có cả ba giải mang tính chỉ dấu cho giải Oscar là Giải Quả cầu vàng, Giải BAFTA, và Giải SAG. Điểm chú ý duy nhất ở hạng mục không còn nhiều tính cạnh tranh này là việc Viện Hàn lâm đã lựa chọn được một dàn ứng viên hoàn toàn có thể xếp vào dạng huyền thoại với những tên tuổi đều đã giành ít nhất một giải Oscar hạng mục diễn xuất như Tom Hanks (được đề cử cho vai Fred Rogers trong A Beautiful Day in the Neighborhood), Anthony Hopkins (vai Giáo hoàng Benedict XVI trong The Two Popes), và bộ đôi của The Irishman là Al Pacino và Joe Pesci. 

Về phía hạng mục nữ phụ, Laura Dern cũng đang chiếm ưu thế vượt trội nhờ vai nữ luật sư láu cá Nora Fanshaw trong Marriage Story. Nếu giành tượng vàng ở hạng mục này, Dern sẽ vượt qua người thủ vai con gái của bà trong Little Women là Florence Pugh, nữ diễn viên có tới hai đề cử ở hạng mục diễn xuất năm nay là Scarlett Johansson (phim Jojo Rabbit) – người có tới hai đề cử giải Oscar năm nay ở cả hạng mục vai nữ chính và vai nữ phụ, ngôi sao đang lên Margot Robbie (Bombshell), và tên tuổi kì cựu Kathy Bates (Richard Jewell). Đáng ngạc nhiên là nếu nhìn vào bảng xếp hạng điểm giải thưởng của Metacritic, thì trong top 4 nữ diễn viên có điểm cao nhất ngoài Dern (84 điểm) và Pugh (49 điểm) thì có tới 2 cái tên thậm chí còn không được đề cử ở giải Oscar năm nay là Jennifer Lopez (Hustlers – 55 điểm), và Triệu Thục Trân (Farewell – 32 điểm). 

Cuộc đua đến tượng vàng cũng đã tương đối rõ ràng ở một số hạng mục điển hình như Phim quốc tế hay nhất (mới được đổi tên từ “Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất”) khi Ký sinh trùng của Bong Joon-ho tỏ ra vượt trội trong cả các giải thưởng tiền Oscar và bên ngoài phòng vé khi mà niềm tự hào mới của văn hoá Hàn Quốc đã giành hầu hết các giải tiền Oscar và nhờ đó có được số điểm vượt trội theo xếp hạng của Metacritic (123 điểm) khi so sánh với các ứng viên còn lại của hạng mục này là Corpus Christi của Ba Lan, Honeyland của Bắc Macedonia, Les Misérables của Pháp, và Pain and Glory của Tây Ban Nha. 

Một hạng mục dễ đoán định khác là giải Oscar cho quay phim xuất sắc nhất bởi Roger Deakins với những cú bấm máy dài không cắt và cách đặc tả sự đẫm máu của chiến tranh cực kì ấn tượng trong 1917 khó có thể tuột mất tượng vàng thứ hai sau 15 lần đề cử vào tay những người đồng nghiệp vốn cũng nổi tiếng không kém như Rodrigo Prieto (The Irishman), Lawrence Sher (Joker), Jarin Blaschke (The Lighthouse), và Robert Richardson (Once Upon a Time in Hollywood). 

Nhưng ngoài các hạng mục như vậy, người xem vẫn sẽ phải chờ qua ngày 9 tháng 2 sắp tới để có thể biết được Klaus hay Câu truyện đồ chơi 4 sẽ chiến thắng ở hạng mục Phim hoạt hình dài hay nhất, hay liệu huyền thoại của giới biên tập phim Thelma Schoonmaker liệu có thể một lần nữa giành giải Oscar với The Irishman ở hạng mục quen thuộc của bà – Biên tập phim xuất sắc nhất. Bên cạnh những bài diễn văn cảm động của những người lên nhận giải, thì chính những bất ngờ như vậy mới làm nên sự hấp dẫn của Giải Oscar, và trong bối cảnh bão hoà giải thưởng cũng như việc khán giả dần quay lưng với những hình thức giải trí truyền thống, thì giải thưởng lớn cuối năm này của Viện Hàn lâm thực sự cần những bất ngờ - những bất ngờ dễ chịu cho khán giả và giới thiệu cho họ những khám phá thực sự mới của Hollywood nói riêng và giới nghệ thuật điện ảnh nói chung. Sau một năm thế giới và bản thân nước Mỹ - nơi tổ chức giải Oscar đã phải chứng kiến quá nhiều tranh cãi, quá nhiều chia rẽ, quá nhiều bi kịch, quá nhiều nỗi lo, thì những tác phẩm vị nghệ thuật, vị nhân sinh mà giải Oscar giới thiệu đến với tác giả, những bất ngờ thú vị mà Viện Hàn lâm tạo ra cho người xem truyền hình, đó là những gì khán giả chúng ta nên mong đợi từ lễ trao giải Oscar lần thứ 92 diễn ra vào tối ngày 9 tháng 2 sắp tới.

========

Bài đã biên tập trên Zing.

mercredi 30 décembre 2020

91st Academy Awards

 

Có thể nói rằng hai năm vừa qua là khoảng thời gian hết sức sóng gió đối với điện ảnh Hollywood. Một mặt, sự bùng nổ của phong trào #metoo từ tháng 10 năm 2017 đã kéo theo sự sụp đổ của một loạt tên tuổi lớn của điện ảnh Mỹ như Harvey Weinstein, Kevin Spacey, và gần đây nhất là Bryan Singer. Cùng lúc đó, việc Donald Trump đắc cử tổng thống Hoa Kỳ đã khiến người dân Mỹ, trong đó có cả giới văn nghệ sĩ ở Hollywood ngày một chia rẽ về mặt chính trị và biến các buổi lễ trao giải điện ảnh cuối năm 2017, đầu năm 2018 trở nên ngột ngạt với những tuyên môn vị nhân sinh vượt xa khỏi tôn chỉ vị nghệ thuật của điện ảnh. Nhưng dù có căng thẳng hay chia rẽ đến mấy, thì người làm phim và công chúng yêu phim vẫn sẽ chờ đợi đến ngày 24 tháng 2 sắp tới để được chứng kiến lễ trao giải thưởng điện ảnh quan trọng nhất của năm – lễ trao giải Oscar lần thứ 91 tại Nhà hát Dolby, Hollywood. 

Trong một năm không thực sự có một tác phẩm vượt trội về số lượng đề cử, giải thưởng của Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Hoa Kỳ năm nay chứng kiến cuộc đua chật chội của nhiều ứng cử viên có chất lượng ngang ngửa khi có tới 8 phim có ít nhất 5 đề cử là The Favourite và Roma (cùng có 10 đề cử), A Star Is Born và Vice (8 đề cử), Black Panther (7 đề cử), BlacKkKlansman (6 đề cử), và Bohemian Rhapsody và Green Book (cùng 5 đề cử). Không hề ngạc nhiên khi đây cũng chính là 8 cái tên đang đua tranh giành lấy tượng vàng quan trọng nhất – giải Oscar cho phim hay nhất và gợi người yêu điện ảnh nhớ tới cuộc đua khốc liệt tại giải Oscar lần thứ 88 năm 2016 khi không một ứng viên nào chiếm ưu thế thực sự ở hạng mục phim hay nhất cho tới tận thời điểm diễn viên gạo cội Morgan Freeman mở phong bì để xướng danh Spotlight cho tượng vàng Oscar cuối cùng. Một trong những lý do khiến cuộc đua năm 2015 trở nên quyết liệt là việc các giải phim hay nhất quan trọng như giải Quả cầu vàng cho phim hay nhất, giải phim hay nhất của Viện Hàn lâm Nghệ thuật Điện ảnh và Truyền hình Anh Quốc (BAFTA), hay giải của các hiệp hội đạo diễn (DGA), nhà sản xuất (PGA), biên kịch (WGA), và diễn viên điện ảnh Hoa Kỳ (SAG) lần lượt được chia đều cho các ứng viên nặng ký năm đó là Spotlight của đạo diễn Tom McCarthy, The Big Short của Adam McKay, và The Revenant của Alejandro G. Iñárritu. Một thành viên khác của bộ “ba người bạn Mexico” (cùng với Iñárritu và Guillermo del Toro – đạo diễn của bộ phim giành giải Oscar phim hay nhất năm ngoái The Shape of Water) là Alfonso Cuarón chính là tác giả của bộ phim đang chiếm ưu thế nhất trong cuộc chiến tiếp nối “ngôi báu” của The Shape of Water năm nay là Roma. Tác phẩm đen trắng lấy bối cảnh Mexico do hãng Netflix phát hành này đã giành tới 22 giải “phim hay nhất” trong mùa giải thưởng điện ảnh 2018-2019, trong đó có giải BAFTA cho phim hay nhất và cũng là bộ phim có điểm trung bình cao nhất (9.6) trong số các ứng viên năm nay trên trang thống kê phê bình điện ảnh Metacritic. Tuy nhiên, Alfonso Cuarón lại phải chứng kiến Bohemian Rhapsody của đạo diễn nhiều tai tiếng Bryan Singer và Green Book của chuyên gia phim hài Peter Farrelly chiến thắng tại hạng mục phim hay nhất của giải Quả cầu vàng năm nay khi mà Roma của ông chỉ được đề cử ở hạng mục phim nói tiếng nước ngoài hay nhất. Tác phẩm về nạn phân biệt chủng tộc ở Hoa Kỳ những năm giữa thế kỷ 20 Green Book cũng chính là tác phẩm giành giải thưởng quan trọng khác được coi là chỉ dấu cho tiềm năng đoạt giải Oscar phim hay nhất là giải PGA nhà sản xuất phim xuất sắc nhất năm. Điều khiến giới dự đoán phải vò đầu bứt tai hơn thế là việc Green Book lại không nằm trong top 3 các bộ phim giành nhiều danh hiệu “phim hay nhất” trong mùa giải thưởng năm nay bởi xếp ngay sau Roma là The Favourite – tác phẩm về cuộc chiến chốn thâm cung trong triều đình Anh quốc của đạo diễn người Hy Lạp Yorgos Lanthimos và If Beale Street Could Talk – bộ phim mới nhất của đạo diễn từng đứng lên bục vinh quang hai năm trước đây với Moonlight là đạo diễn da màu Barry Jenkins. Trớ trêu thay là trong khi The Favourite chủ yếu được đánh giá cao trong các hạng mục diễn xuất, thì If Beale Street Could Talk thậm chí còn không nằm trong danh sách đề cử rút gọn của giải Oscar cho phim hay nhất. Thế chỗ cho If Beale Street Could Talk là hai bộ phim lấy chủ đề âm nhạc Bohemian Rhapsody và A Star Is Born, và một loạt tác phẩm mang hơi thở thời đại khác như bộ phim về nền chính trị Hoa Kỳ Vice của đạo diễn The Big Short Adam McKay, và hai bộ phim nêu bật hình tượng người Mỹ gốc Phi là BlacKkKlansman và Black Panther. Trong bối cảnh yếu tố chính trị, sắc tộc đang chiếm sự quan tâm của cả công chúng và giới làm phim Hoa Kỳ, chẳng ai có thể chắc rằng một tác phẩm tương đối phi chính trị, lại do Netflix – thương hiệu không được lòng giới làm phim truyền thống phát hành như Roma sẽ vượt qua được Green Book, BlacKkKlansman, hay Vice để giành lấy tượng vàng cuối cùng của lễ trao giải Oscar lần thứ 91. Và ngược lại, thì nhiều người yêu phim cũng không thể hài lòng để các tác phẩm có phần yếu hơn Roma về chất lượng làm phim như Green Book hay Bohemian Rhapsody trở thành “người chiến thắng”. Chúng ta sẽ chỉ có câu trả lời cho bài toán khó giải này vào đêm trao giải ngày 24 tháng 2 sắp tới. 

Chưa chắc ăn giải phim hay nhất nhưng phải tới 90% Roma sẽ mang về cho Alfonso Cuarón tượng vàng Oscar thứ hai ở hạng mục Đạo diễn xuất sắc nhất sau chiến thắng năm 2013 nhờ tác phẩm khoa học giả tưởng Gravity. Có thể khẳng định điều này là vì đạo diễn người Mexico đã giành tới 32 giải “đạo diễn xuất sắc nhất” trong mùa trao giải năm nay, vượt xa các đối thủ cạnh tranh như đạo diễn BlacKkKlansman Spike Lee (3 lần chiến thắng), ngôi sao điện ảnh Bradley Cooper với tác phẩm đạo diễn đầu tay A Star Is Born (1 chiến thắng), hay nhà làm phim gạo cội Paul Schrader của “First Reformed” (1 chiến thắng). Cooper và Schrader thậm chí còn không có mặt trong số 5 cái tên được đề cử ở hạng mục này của giải Oscar năm nay, thay vào đó là đạo diễn người Ba Lan Paweł Pawlikowski – người từng giành tượng vàng cho phim nói tiếng nước ngoài hay nhất năm 2015 với Ida và năm nay lại quay trở lại với một ứng viên nặng kí khác cho hạng mục này là Cold War, Adam McKay với Vice, và đạo diễn đang ở độ chín sự nghiệp người Hy Lạp Yorgos Lanthimos của The Favourite

Roma, Vice, và The Favourite còn cùng chạm trán ở một hạng mục khác đó là kịch bản gốc xuất sắc nhất. Không chịu kém thế so với Roma như ở hạng mục phim hay nhất hay đạo diễn xuất sắc nhất, The Favourite mới là “favourite” (ứng viên được yêu thích) của hạng mục này khi kịch bản của bộ đôi Deborah Davis và Tony McNamara đã giành tới 12 chiến thắng cho “kịch bản hay nhất” trong mùa trao giải điện ảnh 2018-2019. Đối thủ lớn nhất của Davis và McNamara sẽ là nhà làm phim Paul Schrader – tác giả của kịch bản kinh điển Taxi Driver (1976) nhưng phải chờ đến năm nay mới có đề cử giải Oscar kịch bản gốc xuất sắc nhất cho First Reformed. Từng được coi là tác phẩm nặng ký cho mùa giải thưởng năm nay, nhưng bộ phim công chiếu từ tháng 5 năm 2018 First Reformed cuối cùng lại chỉ có duy nhất một đề cử Oscar cho Schrader. Bởi vậy nhiều người đang hy vọng rằng kịch bản đậm chất hiện sinh và tâm linh First Reformed sẽ mang lại cho Schrader tượng vàng đầu tiên trong sự nghiệp nhiều dấu ấn của ông – một hy vọng hoàn toàn có cơ sở khi chính First Reformed chứ không phải The Favourite mới là cái tên được xướng lên nhiều nhất trong mùa trao giải 2018-2019 ở hạng mục kịch bản xuất sắc nhất với 14 lần, và ứng viên còn lại ở hạng mục này là Green Book không thực sự được đánh giá cao về mặt cốt truyện và còn đang vấp phải phản đối từ chính người thân của một trong hai nhân vật chính của phim về mức độ chính xác của kịch bản phim đối với đời thực nhân vật. 

Có mức độ cạnh tranh khốc liệt hơn nhiều là hạng mục kịch bản chuyển thể xuất sắc nhất khi cả năm cái tên được đề cử là The Ballad of Buster Scruggs, BlacKkKlansman, Can You Ever Forgive Me?, If Beale Street Could Talk, và A Star Is Born được đánh giá là khá ngang sức ngang tài. Theo bảng quy đổi điểm giành được trong mùa giải thưởng năm nay của trang Metacritic thì Can You Ever Forgive Me?, BlacKkKlansman, và If Beale Street Could Talk với số điểm 43, 42, 41 chính là ba tác phẩm xếp ngay sau The Favourite (65 điểm) và First Reformed (56 điểm) ở hạng mục kịch bản. Nếu so với ba bộ phim này thì A Star Is Born dù được khán giả đánh giá cao về nội dung nhiều cảm xúc nhưng tụt lại khá xa với chỉ 13 điểm quy đổi, còn The Ballad of Buster Scruggs thì hoàn toàn biến mất trên bảng xếp hạng do tác phẩm cực kì xuất sắc của anh em nhà Coen này lại chủ yếu được công chúng biết tới qua màn ảnh nhỏ do đây là một tác phẩm do hãng Netflix phát hành. 

Thực ra hy vọng lớn nhất của A Star Is Born, ngoài hạng mục thế mạnh là nhạc phim, lại nằm ở hai hạng mục diễn xuất là vai nam chính xuất sắc nhất cho ngôi sao mới chuyển nghề đạo diễn Bradley Cooper và nữ diễn viên xuất sắc nhất cho ca sĩ đa tài Lady Gaga. Nhưng nhiều khả năng fan hâm mộ của nữ ca sĩ cực kì cá tính này sẽ phải buồn lòng trong lễ trao giải Oscar sắp tới vì cô phải đụng độ với một ứng cử viên cực kì nặng kí - Glenn Close. Dù bộ phim The Wife của bà không thực sự gây tiếng vang về doanh thu hay chất lượng nghệ thuật, nhưng ngôi sao từng khiến nhiều người hâm mộ điện ảnh Việt Nam hâm mộ và … e sợ qua vai diễn “đánh ghen” nổi tiếng trong Fatal Attraction (1987) đã kịp giành chiến thắng ở hai giải thưởng tiền Oscar cực kì quan trọng là giải Quả cầu vàng và giải SAG. Là một hạng mục nhiều năm nay bị coi là trao theo phong cách “giải thành tựu sự nghiệp”, giải Oscar cho vai nữ chính xuất sắc nhất vì vậy nhiều khả năng sẽ nghiêng về nữ diễn viên 71 tuổi Glenn Close nhiều hơn là ngôi sao của The Favourite Olivia Colman – người thực tế đang bỏ xa các đối thủ khác trên bảng điểm quy đổi cho hạng mục vai nữ chính của Metacritic với 76 điểm (so với vỏn vẹn 27 điểm của Close) với vai diễn đặc sắc và có chiều sâu Nữ hoàng Anne của nước Anh. Yalitza Aparicio – nữ diễn viên còn vô danh ở Hollywood của Roma và Melissa McCarthy – ngôi sao phim hài hàng đầu Hollywood nhưng năm nay lại chinh phục khán giả bằng một vai diễn nhiều chất bị trong Can You Ever Forgive Me? đã gây bất ngờ lớn cho người hâm mộ bằng việc xuất hiện trong danh sách đề cử cho giải Oscar vai nữ chính năm nay, nhưng cũng như Lady Gaga, có lẽ khó lòng hai nữ diễn viên này có thể gây bất ngờ trước Olivia Colman và đặc biệt là Glenn Close.

Nếu so với bạn diễn của mình thì có lẽ Bradley Cooper có “cửa thắng” cao hơn một chút ở hạng mục vai nam chính xuất sắc nhất của giải Oscar năm nay khi mà Ethan Hawke – ngôi sao chính của First Reformed với một vai diễn được nhiều người đánh giá là xuất sắc nhất năm nay của Hollywood lại bất ngờ vắng bóng trong danh sách đề cử. Tuy vậy thì cơ hội giành lấy tượng vàng của Cooper cũng không thực sự lớn khi vai diễn một nhân vật không có thực của anh phải đối mặt với bốn vai diễn những nhân vật có thực phần nào gây được nhiều ấn tượng hơn. Đó là Christian Bale với vai Phó Tổng thống Dick Cheney trong Vice, là Willem Dafoe với vai danh hoạ Vincent van Gogh trong At Eternity's Gate, Rami Malek với vai thủ lĩnh ban nhạc rock Queen Freddie Mercury trong Bohemian Rhapsody, và Viggo Mortensen trong vai anh chàng bảo kê phải đối mặt với nạn phân biệt chủng tộc Frank "Tony Lip" Vallelonga trong Green Book. Kém xa Ethan Hawke (95 điểm) trên bảng quy đổi điểm giải thưởng của Metacritic, nhưng Bale (44 điểm) đang có chút ưu thế so với Malek (35 điểm), Cooper (29 điểm), Mortensen (24 điểm), và Dafoe (14 điểm). Dù vậy, điểm số không nói lên tất cả vì bất chấp kịch bản phim khá “lành”, vai diễn Freddie Mercury của Rami Malek đã chinh phục ban giám khảo của phần lớn các giải thưởng tiền Oscar quan trọng như giải Quả cầu vàng, BAFTA, và SAG. Do đó, nhiều khả năng Malek sẽ là người được xướng danh ở giải Oscar năm nay và Bale sẽ phải chờ cơ hội giành lấy tượng vàng thứ hai cho riêng mình trong tương lai. 

Trái ngược với hạng mục vai chính, kết quả ở hạng mục vai phụ lại gần như đã ngã ngũ ở bên nam trong khi các diễn viên nữ vẫn còn đang cạnh tranh nhau đến phút cuối cùng. Đó là vì nam diễn viên từng giành giải Oscar ở hạng mục này cho vai diễn trong Moonlight là Mahershala Ali lại đang một lần nữa càn quét mùa giải thưởng năm nay nhờ vai diễn thiên tài dương cầm Don Shirley trong Green Book. Ali đã lần lượt vượt qua các đối thủ nặng ký khác như Richard E. Grant (Can You Ever Forgive Me?), Sam Rockwell (Vice), Sam Elliott (A Star Is Born), và Adam Driver (BlacKkKlansman) để càn quyét hạng mục vai nam phụ tại lễ trao giải thưởng Quả cầu vàng, SAG, và BAFTA. Trong khi đó thì ở bên hạng mục giải Oscar cho vai nữ phụ xuất sắc nhất, bộ đôi ở hai đầu “chiến tuyến” trong The Favourite là Emma Stone và Rachel Weisz tưởng như đang có lợi thế với hai vai diễn bổ trợ lẫn nhau một cách tuyệt vời trong một tác phẩm xuất sắc lại đang ở thế chia phiếu của nhau và có nguy cơ bị tụt lại nhất là khi so sánh với vai diễn gây nhiều bất ngờ Lynne Cheney của Amy Adams trong Vice, cái tên mới gây chú ý Marina de Tavira của Roma, và đặc biệt là ngôi sao nữ Regina King của If Beale Street Could Talk – người chiến thắng hạng mục này ở giải thưởng Quả cầu vàng và có một vai diễn phù hợp với xu hướng tập trung vào đề tài sắc tộc, chính trị đang thịnh hành ở Hollywood hơn là hình ảnh cung phi trong triều đình Anh mà Stone và Weisz (người giành giải BAFTA cho vai nữ phụ xuất sắc) thủ vai.

Trong các hạng mục đáng chú ý còn lại, trong một năm hiếm hoi hạng mục phim hoạt hình hay nhất còn giữ được sự cạnh tranh đến phút cuối cùng, hẳn người yêu điện ảnh sẽ hài lòng với bất cứ lựa chọn nào của Viện Hàn lâm cho dù đó là siêu phẩm mới nhất của ông lớn Pixar Incredibles 2, tác phẩm mới đầy cá tính của Wes Anderson Isle of Dogs, hay bộ phim được đánh giá là tác phẩm hàng đầu trong thể loại siêu anh hùng Spider-Man: Into the Spider-Verse do bộ đôi “gà đẻ trứng vàng” của hãng Sony là Phil Lord và Christopher Miller sản xuất. Nhìn vào danh sách các ứng viên của hạng mục này năm nay, chúng ta có thể dễ dàng thấy rằng 2018 là một năm bội thu của dòng phim hoạt hình, khi mà ngay cả những bộ phim “yếu thế” hơn trong cuộc đua giải thưởng nếu so với Spider-Man: Into the Spider-Verse (97 điểm quy đổi), Isle of Dogs (61 điểm), và Incredibles 2 (39 điểm) như Mirai của đạo diễn Nhật Bản Mamoru Hosoda (15 điểm) hay tác phẩm bom tấm hoạt hình của Disney Ralph Breaks the Internet (24 điểm) cũng đều là những tác phẩm hấp dẫn cho cả người lớn và trẻ nhỏ. 

Tương tự như hạng mục phim hoạt hình, hạng mục phim nói tiếng nước ngoài cũng vẫn là một câu hỏi ngỏ khi mà chưa chắc Roma đã có thể làm nên lịch sử là vừa giành được giải Oscar cho phim nói tiếng nước ngoài hay nhất, vừa được đề cử (hoặc thậm chí là giành) tượng vàng Oscar cho phim hay nhất. Đó là vì đối đầu với Roma còn là những ứng viên nặng ký khác như bộ phim giành giải Cành cọ vàng tại Liên hoan phim Cannes Shoplifters của đạo diễn chuyên trị phim tác giả của Nhật Hirokazu Kore-eda, bộ phim Cold War của đạo diễn người Ba Lan từng chiến thắng ở hạng mục này Paweł Pawlikowski, và hai ẩn số Capernaum của Li-băng và Never Look Away của Đức – tác phẩm được đánh giá rất cao về kỹ thuật quay phim và là đề cử hiếm hoi của điện ảnh Đức ở hạng mục quay phim xuất sắc nhất tại lễ trao giải Oscar.

Tuy được đề cử ở hạng mục quay phim nhưng khó có khả năng nhà quay phim Caleb Deschanel của Never Look Away có thể vượt qua Alfonso Cuarón – người đảm nhận luôn cả vai trò quay phim cho Roma và nhờ đó đã giành chiến thắng ở hạng mục này trong giải thưởng quan trọng BAFTA vừa qua đồng thời bỏ xa các đối thủ khác trên bảng quy đổi điểm của Metacritic ở hạng mục quay phim với 90 điểm. Đề cử ở hạng mục quay phim chỉ là một trong số 10 đề cử ở giải Oscar năm nay của Roma – một trong hai tác phẩm dẫn đầu về số đề cử cùng với The Favourite. Điều ngạc nhiên là Roma lại vắng bóng ở hạng mục quan trọng biên tập phim xuất sắc nhất – hạng mục từng nhiều năm được coi là chỉ dấu cho tác phẩm sẽ giành tượng vàng Oscar cuối cùng của lễ trao giải cho phim hay nhất. Đang chiếm ưu thế chút ít ở hạng mục này là The Favourite nếu so với các ứng viên khác là BlacKkKlansman, Vice, Bohemian Rhapsody và Green Book

Tuy có hạng mục đã gần như chắc chắn người nhận giải, và nhiều hạng mục vẫn còn đang là những câu hỏi mở cho giới dự đoán và người hâm mộ, có một điều chắc chắn là đêm trao giải Oscar lần thứ 91 sắp tới vẫn sẽ thu hút sự chú ý của người xem, vốn một phần tò mò xem một bộ phim lấy bối cảnh Mexico về những con người Mexico như Roma có thể chiến thắng hay không trong bối cảnh tổng thống Donald Trump đang quyết liệt đòi xây tường ngăn cách Hoa Kỳ và Mexico để chống người nhập cư bất hợp pháp. Nhưng một phần khác, người xem cũng rất đang tò mò về khả năng tổ chức thành công một đêm trao giải hoành tráng của Viện Hàn lâm khoa học và nghệ thuật điện ảnh Hoa Kỳ khi mà tỷ lệ người xem trực tiếp chương trình này đang ngày càng giảm sút, và những rắc rối liên quan tới người dẫn chương trình “hụt” của năm nay là Kevin Hart đã khiến Viện Hàn lâm phải bất đắc dĩ đưa ra tuyên bố đây sẽ là lễ trao giải Oscar đầu tiên sau nhiều thập niên không sử dụng người dẫn chương trình mà chỉ có các ngôi sao trực tiếp lên đọc và trao giải. Dù vậy thì nói gì thì nói, giải Oscar vẫn là nơi tôn vinh những bộ phim hay, những ý tưởng đẹp, và chúng ta hãy hy vọng rằng những cái tên được xướng lên trong lễ trao giải năm nay cũng sẽ là những đại diện xứng đáng nhất cho mục tiêu này của Viện Hàn lâm khoa học và nghệ thuật điện ảnh Hoa Kỳ.

=====

Bản đã biên tập trên Zing.

Kim Ki-duk (1960 - 2020)


Một người đàn ông phải bỏ quê hương ra đi ở cái tuổi gần lục tuần vì vô số bê bối và ghét bỏ, phải lang thang tìm lấy một chỗ trú chân nơi đất khách quê người, để rồi phải trút hơi thở cuối cùng vì thứ bệnh dịch chẳng ai ngờ tới, tại một bệnh viện xa lạ, ở một đất nước xa lạ, trong cảnh đơn độc không người thân bên cạnh. Với những người yêu phim của Kim Ki-duk - một trong những gương mặt nổi bật nhất của điện ảnh Hàn Quốc từ thập niên 1990 trở lại đây thì câu truyện nói trên hoàn toàn có khả năng trở thành cái tứ cho một nhân vật nam chính trong một tác phẩm bạo liệt và giàu tính biểu tượng của đạo diễn này. Nhưng có lẽ chẳng ai có thể ngờ rằng đó lại chính là cái kết cho cuộc đời của chính Kim Ki-duk - nhà làm phim của những sự mâu thuẫn. 

Là những người "già" nhất trong số các nhà làm làm phim thế hệ 6x đã làm rạng danh cho điện ảnh Hàn Quốc như Bong Joon-ho, Park Chan-wook, hay Kim Jee-woon, Kim Ki-duk và Hong Sang-soo cũng là hai trong số đạo diễn hiếm hoi của thế hệ này được đào tạo ở nước ngoài để rồi mang về nước một tâm thế và phong vị làm phim hết sức khác biệt. Nhưng khác với sự mộc mạc và mềm mại của Hong Sangs-soo, xuyên suốt cả sự nghiệp, từ những tác phẩm đầu tay như Crocodile (1996), Bad Guy (2001), cho đến khiến người yêu phim thế giới phải chú ý với Spring, Summer, Fall, Winter... and Spring (2003), The Bow (2005), và cả khi đứng trên đỉnh cao danh vọng với Pietà (2012), Kim Ki-duk luôn trung thành với dòng phim độc lập kinh phí thấp với truyện phim bạo liệt về những góc tăm tối nhất của con người và xã hội Hàn Quốc, nhưng chưa bao giờ thiếu vắng những hình ảnh ẩn dụ mang đầy tính biểu tượng về nhân tính. Theo dõi các nhân vật trong phim của Kim Ki-duk, đặc biệt là các nhân vật nam xuất thân nghèo khó, gai góc, bị xã hội hiện đại Hàn Quốc đẩy ra ngoài lề, khán giả dường như cũng thấy được một phần cuộc đời của chính người đạo diễn đi lên từ những công việc chân tay trước khi quyết tâm sang Paris bán tranh dạo, học điện ảnh, rồi quay về với một góc nhìn điện ảnh đậm chất Tây Phương tới mức luôn bị coi là người đứng ngoài những trào lưu chủ đạo của điện ảnh Hàn Quốc. Với khẩu vị công chúng Hàn Quốc vốn thường rất hoạt ngôn và yêu thích những khung hình trau chuốt, đẹp đẽ trên màn ảnh rộng, những nhân vật vô cùng kiệm lời nhưng lại thừa thãi bạo lực của Kim Ki-duk như trong Bad Guy hay 3-Iron (2004) có lẽ không thực sự phù hợp. Việc đa phần các nhân vật nữ trong các tác phẩm như The Isle (2000) của đạo diễn sinh năm 1960 đều ở "chiếu dưới", là cái bia hứng chịu sự thịnh nộ, vô tình từ phía các nhân vật nam chính lại càng khiến Kim Ki-duk trở thành một cái gai trong mắt giới phê bình, người xem, và đặc biệt là các nhà hoạt động xã hội, hoạt động vì nữ quyền ở Hàn Quốc. Vì vậy chẳng ngạc nhiên khi các tác phẩm "khó hiểu", "khó xem" của Kim Ki-duk hầu như đều thất bại nặng nề về mặt doanh thu ở thị trường Hàn Quốc tới mức đạo diễn từng thề sẽ không bao giờ phát hành phim của mình trong nước nếu Time (2006) không bán nổi 300.000 vé để rồi phải chứng kiến con đẻ của mình thu về vỏn vẹn 28.000 vé trong khi The Host của đạo diễn đồng lứa Bong Joon-ho thu về tới gần 11 triệu vé cũng trong năm 2006. 

Thất bại trong nước, nhưng ngôn ngữ điện ảnh giàu tính biểu tượng, lại mang tính cá nhân hoá cao độ và có hơi hướm của văn hoá - xã hội Hàn Quốc vốn chưa thực sự được phương Tây biết tới và quan tâm trong những năm đầu thiên niên kỷ mới đã lại giúp Kim Ki-duk trở thành con cưng của các liên hoan phim quốc tế. Chỉ riêng năm 2004, đạo diễn họ Kim đã giành cả hai giải đạo diễn xuất sắc nhất tại hai liên hoan phim uy tín Berlin và Venice cho Samaritan Girl và 3-Iron - hai tác phẩm được quay trong thời gian vỏn vẹn hai tuần dựa từ nguồn tài chính ít ỏi nhờ bán quyền phân phối ở thị trường quốc tế. Trớ trêu thay, vinh quang trên trường quốc tế lại chính là điều giới làm phim Hàn Quốc nói riêng, và người dân Hàn Quốc nói chung thèm muốn, bởi họ muốn thế giới phải nhận ra rằng Hàn Quốc có một nền điện ảnh không hề thua kém bất cứ quốc gia có bề dày văn hoá nào khác. Bởi vậy mà khi Kim Ki-duk làm nên lịch sử cho điện ảnh Hàn khi Pietà trở thành tác phẩm đầu tiên của Hàn Quốc đứng trên bục cao nhất của một trong bộ ba liên hoan phim hàng đầu Cannes-Berlin-Venice với tượng Sư tử vàng tại Venice, cả báo giới và người hâm mộ điện ảnh Hàn Quốc đã rơi vào thế hết sức khó xử bởi người đem Hàn Quốc đến với thế giới lại là một cái tên không được người Hàn yêu thích, thông qua một tác phẩm chẳng mang chút dấu ấn Hàn Quốc nào theo những tiêu chuẩn thông thường của công nghiệp điện ảnh nước này. 

Sau Pietà Kim Ki-duk vẫn không ngơi nghỉ với việc làm phim, khi gần như mỗi năm ông lại cho ra đời một, hai, thậm chí là ba tác phẩm. Nhưng đa phần các tác phẩm này không để lại nhiều dấu ấn, ngược lại một trong số đó - bộ phim Moebius (2013) lại chính là điểm khởi đầu cho sự sụp đổ của sự nghiệp Kim Ki-duk tại thị trường trong nước khi một trong số các diễn viên nữ của phim vào năm 2017 đã tố cáo đạo diễn họ Kim đã tấn công và chèn ép cô trong quá trình làm phim. Vốn chưa từng yêu thích vị đạo diễn lập dị, lại liên tiếp được đọc những sự việc như vậy về Kim Ki-duk trong bối cảnh trào lưu nữ quyền #MeToo nở rộ tại Hàn Quốc, công chúng Hàn Quốc đã quay lưng hoàn toàn với Kim Ki-duk tới mức ông phải chuyển hướng sang hoạt động ở các nước phương Bắc, để rồi phải đột ngột bỏ mình như hàng triệu người khác trên khắp thế giới vì COVID-19, khi đang tìm kiếm cho mình một nơi ở mới tại quốc gia lạnh lẽo Latvia. 

Chắc chắn không hề là chủ định, nhưng Kim Ki-duk đã chọn cho mình một cái kết có phần gợi nhớ đến số phận của rất nhiều các nhân vật trong phim của ông - độc hành ở cuối đường đời bị cắt ngắn đột ngột, khi đang tìm kiếm một hy vọng mới, một hạnh phúc mới. Với người dân và báo giới Hàn Quốc, có lẽ cái chết đột ngột của Kim Ki-duk không mang lại nhiều cảm xúc. Từ lâu đã là con cừu đen lạc loài trong nền điện ảnh Hàn Quốc, Kim Ki-duk từ vài năm trở lại đây đã bị ghi vào sổ đen vì những tố cáo tấn công tình dục và các tác phẩm bị liệt vào dạng lạc hậu, thụt lùi vì cách khắc hoạ các nhân vật nữ đi ngược lại với những nguyên tắc của chủ nghĩa nữ quyền thời kỳ hậu #MeToo. Người Hàn cũng chẳng còn cần một Kim Ki-duk người-hùng-của-điện-ảnh-Hàn-Quốc bởi giờ đây họ đã có Bong Joon-ho - một đạo diễn 6x khác với những bộ phim hết sức Hàn Quốc, cực kì ăn khách, và đặc biệt là đã đem về cho Hàn Quốc một loạt tượng vàng Oscar - những điều Kim Ki-duk chưa bao giờ, và sẽ chẳng bao giờ với tới được. Ngay cả với người yêu điện ảnh nói chung, Kim Ki-duk cũng là một cái tên gây tranh cãi bởi một phía cho rằng các tác phẩm của ông giàu chất triết lý với những câu truyện và nhân vật cực kì đặc sắc, đáng nhớ, còn phía kia lại cho rằng đó là thứ triết lý nông cạn, với tính biểu tượng nửa vời, và các nhân vật bị gò ép quá mức. Nhưng dù yêu, hay ghét Kim Ki-duk, có lẽ chẳng ai có thể phủ nhận được rằng các bộ phim của ông, dù cực kì bạo liệt như The Isle, hay nhẹ nhàng, mềm mại đến bất ngờ như Spring, Summer, Fall, Winter... and Spring đã để lại trong lòng mỗi người xem một chút gì đó để nhớ, để suy ngẫm về thân phận con người, về cách thức người với người nên đối xử với nhau để dù trong hoàn cảnh tăm tối nhất chúng ta vẫn không cảm thấy cô độc. Xin tạm biệt ông, Kim Ki-duk. 

======

Bản đã biên tập trên Zing.

mardi 29 décembre 2020

Diego Maradona (2019)

 


Với người hâm mộ bóng đá nói chung, Diego Maradona luôn được coi là một huyền thoại với cái chân trái huyền ảo và vô số những thành tích, kỷ lục trong lịch sử bóng đá thế giới. Nhưng với người dân Napoli - thành phố biển miền Nam nước Ý, Diego Maradona còn vĩ đại hơn thế - ông là vị Thánh cứu thế đã đưa đội bóng yêu quý của thành phố lên đỉnh cao của nước Ý và thế giới. Là lẽ sống của cả thành phố, là nguồn cảm hứng, là niềm vui cho từng trái tim Napoli trong suốt những năm đeo băng đội trưởng S.S.C. Napoli, để rồi phải cúi đầu ra đi trong sự tủi hận, câu truyện của Diego Maradona với Napoli là một trong những câu truyện giàu cảm xúc và đáng nhớ nhất trong lịch sử bóng đá thế giới, nhưng với người yêu bóng đá nói chung, và đặc biệt là những người trẻ của thiên niên kỷ mới vốn lớn lên với một vầng hào quang mới của bóng đá Argentina - Lionel Messi, thì những cung bậc cảm xúc khó tả của bóng đá Argentina, bóng đá Ý, và bóng đá Napoli thập niên 1980, nguồn cội của sự chia ly giữa Maradona và Napoli, và điểm bắt đầu cho sự sụp đổ của một tượng đài bóng đá như Diego vẫn là một thứ gì đó thực sự mới mẻ. 

Diego Maradona - bộ phim tài liệu mới nhất của đạo diễn người Anh Asif Kapadia chính là lời đáp cho những câu hỏi đó của người hâm mộ bóng đá. Lấy tư liệu từ trên 500 giờ phim chưa từng được công chiếu, Diego Maradona đã đem tới cho người xem một cái nhìn toàn diện về Diego Maradona, từ một cậu nhóc với tài chơi bóng bẩm sinh trên những đường phố của vùng ngoại ô Buenos Aires với ước mơ dùng đôi chân kiếm tiền cải thiện cho cuộc sống khó khăn của gia đình, cho tới một thiên tài trẻ tuổi với khả năng chơi bóng, kiểm soát bóng, và điều khiển trận đấu khiến bất cứ đội bóng nào cũng phải thèm khát, và tất nhiên là cả hình ảnh Diego trong những năm tháng đỉnh cao với màu áo của đội tuyển Argentina và S.S.C. Napoli khi ông sống trong vinh quang sân cỏ, xa hoa phú quý của tiền bạc và ma tuý, và sự soi mói của giới truyền thông cũng như người hâm mộ. 

Asif Kapadia là một cái tên không hề xa lạ với cả giới điện ảnh và người yêu thể thao bởi ông từng giành rất nhiều giải thưởng lớn với bộ phim tài liệu xuất sắc Senna (2010) về huyền thoại của đường đua công thức 1 Ayrton Senna. Ngay sau Senna, Asif Kapadia còn thực hiện một bộ phim tài liệu tiểu sử hết sức thành công khác - Amy (2015) về cuộc đời cô ca sĩ tài hoa nhưng yểu mệnh Amy Winehouse. Chiến thắng giải BAFTA cho phim tài liệu xuất sắc nhất với Senna, và giải Oscar ở cùng hạng mục cho Amy, Kapadia đã chứng minh được rằng bản thân cuộc đời, bản thân góc khuất của những thiên tài yểu mệnh đã là quá đủ để làm nên một câu truyện điện ảnh xuất sắc, những người như Ayrton Senna, hay Amy Winehouse chẳng cần thêm bất cứ thủ pháp kịch tính hoá hay tô hồng nào thêm để người xem nhớ đến họ, cảm nhận được một phần ước mơ, suy tư của họ. Kapadia tiếp cận Diego Maradona theo một cách tương tự. Dù không ra đi ở cái tuổi rất trẻ khi đang ở trên đỉnh cao sự nghiệp như Senna hay Amy, nhưng Diego Maradona có một câu truyện cũng giàu cảm xúc không kém bởi ông có một cuộc đời áo số đầy thăng trầm, trong đó đặc biệt phải kể tới những năm tháng bão tố khi Diego vừa muốn cống hiến cho thành phố yêu quý Napoli nhưng cũng phải sẵn sàng quay lưng với nước Ý để chiến đấu cho tổ quốc Argentina trên đấu trường World Cup. Chẳng cần nhiều dẫn dắt trong vai trò một người kể chuyện, Asif Kapadia đã để chính những hình ảnh tư liệu, những lời bộc bạch của Maradona vẽ lại từng bước đường đời của người danh thủ và thuật lại cho khán giả vô số những mâu thuẫn trong cuộc đời của Diego. Dành tình yêu vô tận cho gia đình từ thủa bé nhưng sẵn sàng từ chối nhận cậu con trai ngoài giá thú, có tài năng thiên bẩm với bóng đá đẹp nhưng cũng chẳng ngần ngại kết thân với giới mafia, trân quý tình cảm của người hâm mộ bóng đá Napoli nhưng căm ghét đến tận xương tuỷ sự soi mói của công chúng, Diego Maradona là một con người của những mâu thuẫn - những mâu thuẫn được Asif Kapadia lặp đi lặp lại xuyên suốt chiều dài 130 phút của bộ phim tài liệu mới nhất của ông. Đi sâu vào đời tư và các góc khuất của Maradona qua rất nhiều thước phim từ chính chiếc máy cầm tay của Diego và người vợ cũ Claudia, nhưng Kapadia cũng không quên nhắc nhớ người xem về bối cảnh lịch sử và xã hội chung đã tạo nên một huyền thoại mang tên Maradona. Có thể kể tới việc Kapadia lồng thất bại của Argentina trong cuộc chiến giành lại hòn đảo Falklands từ tay người Anh bên cạnh những thước phim về hai bàn thắng đã đi vào lịch sử của Maradona, đặc biệt là bàn thắng "Bàn tay của Chúa", trong chiến thắng của tuyển Argentina trước tuyển Anh tại World Cup 1986 để nhấn mạnh với khán giả rằng đây không chỉ là một chiến thắng mở đường cho Argentina của đội trưởng Maradona tới Cúp Vàng, mà còn là sự động viên tinh thần lớn lao, là niềm tự hào cho cả đất nước Argentina - một sự động viên chỉ Maradona mới có thể đem lại. Cũng chính nhờ cách tiếp cận tương tự, Kapadia đã giúp người xem hiểu được rằng tại sao Maradona - từ vị thế của một Thánh bóng đá ở xứ Napoli, lại bị người dân Napoli quay mặt sau World Cup 1990 bởi họ có thể tha thứ cho các bê bối đời tư của Diego nhưng không bao giờ có thể tha thứ một cầu thủ đã "dám" đánh bại nước Ý trên chính sân nhà, trong giải đấu quan trọng nhất của đất nước vốn ham mê bóng đá chẳng kém gì Argentina này. 

Nếu so với một bộ phim tài liệu tiểu sử xuất sắc khác về cuộc đời Maradona là Maradona by Kusturica (2008) của đạo diễn người Serbia Emir Kusturica thì Diego Maradona của Asif Kapadia có lẽ chưa vẽ được một bức tranh thực sự tổng thể về cuộc đời Diego bởi tác phẩm mới của đạo diễn người Anh không đề cập tới những năm tháng hậu sân cỏ của Diego, hay có những chia sẻ, suy nghĩ của chính Diego và những cái tên đã gắn liền với cuộc đời anh như người vợ cũ Claudia. Nhưng với bất cứ người mộ điệu điện ảnh hay thể thao nào, Diego Maradona vẫn thực sự là một bộ phim tài liệu hay, và chân thực về cuộc đời của một cầu thủ vĩ đại. Bởi qua Diego Maradona, người xem lại càng hiểu được tại sao sau vô số những bê bối đời tư hay rắc rối với luật pháp, Maradona lại vẫn là một huyền thoại. Đơn giản là vì trong suốt cuộc đời mình, Maradona chưa bao giờ mất đi tình yêu chân thành, thậm chí là có đôi chút ngây thơ với trái bóng, và đã luôn cố gắng hết sức để có được những pha bóng đẹp, có được những vinh quang trên sân cỏ, có được những câu truyện đầy cảm hứng về nỗ lực không ngừng nghỉ để vươn tới đỉnh cao bất chấp khó khăn từ mọi phía. Với Maradona, bóng đá là cuộc đời, nhưng cũng bởi thế cuộc đời ông có quá nhiều khúc quanh chẳng thể ngờ tới. Với người hâm mộ, Maradona là hiện thân cho tình yêu bóng đá, và cũng là bài học cảnh giác về cách bất cứ mộ thiên tài nào cũng có thể rơi từ đỉnh cao xuống vực sâu bởi cám dỗ, bởi sự trớ trêu của số phận. Xin cảm ơn Asif Kapadia vì một tác phẩm hay về Maradona, và xin cảm ơn Maradona, vì tất cả.

=====

Bài đã biên tập trên Zing.