some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

mercredi 24 février 2016

Mustang (2015)




Một trong những tấm áp phích phim đẹp nhất của năm 2015 thuộc về bộ phim Mustang – tác phẩm đầu tay của nữ đạo diễn người Pháp gốc Thổ Nhĩ Kỳ Deniz Gamze Ergüven. Đơn giản là một bức hình chụp năm cô bé gái đang khoác vai, chụm đầu, đằng sau là nắng vàng và trời xanh, tấm áp phích vừa lưu giữ được nét thanh xuân trong sáng của năm em gái, vừa khiến người xem cảm thấy đượm buồn bởi họ chẳng thể tìm thấy một nụ cười nào trên năm đôi môi tươi hồng của các em. Các cô bé gái ấy là năm chị em gái mồ côi Sonay (İlayda Akdoğan), Selma (Tuğba Sunguroğlu), Ece (Elit İşcan), Nur (Doğa Zeynep Doğuşlu), và cô em út Lale (Güneş Nezihe Şensoy). Mustang là câu chuyện buồn của năm em, là bi kịch của những người phụ nữ hiện đại bị kìm kẹp bởi truyền thống gia trưởng, thủ cựu.


Mustang mở đầu như một bài hát vui với cảnh nô đùa bên bãi biển của năm cô bé gái với các bạn trai cùng trang lứa sau ngày cuối cùng của năm học. Mới chớm bước qua tuổi dậy thì, năm chị em thản nhiên ôm vai, bá cổ, thậm chí là cưỡi lên lưng các cậu bạn học mà không ngờ rằng những trò chơi tuổi mới lớn ấy đã lọt vào tầm ngắm của những cặp mắt thủ cựu trong làng. Ở ngôi làng nhỏ cách chốn đô hội Istanbul tới cả ngàn cây số ấy, cảnh chơi đùa của các cô bé đã lập tức bị những lời đồn thổi biến thành bằng chứng ô nhục về mầm mống “lăng loàn” của các chị em. Mồ côi cả cha lẫn mẹ từ tấm bé, năm chị em sống trong sự chăm sóc của người bà (Nihal Koldaş) và sự bảo trợ của ông bác nghiêm khắc Erol (Ayberk Pekcan). Để “bảo vệ” các em khỏi “cám dỗ” và cũng là để giữ thể diện, ông bác Erol lập tức cho cả năm chị em đi kiểm tra trinh tiết trước khi quyết định nhốt tất cả ở nhà để giáo dục các em trở thành những người phụ nữ đoan trang phù hợp với bổn phận làm vợ, làm mẹ sau này. Năm chị em trở thành tù nhân ngay trong chính căn nhà của mình chỉ bởi khao khát được sống tự do, được tận hưởng cuộc sống hiện đại với quần áo đẹp, với bạn bè cùng lứa tuổi, hay đơn giản chỉ là mong muốn được xem một trận bóng đá, được tắm biển. Thế chỗ cho những ước vọng hết sức giản dị của lứa tuổi mới lớn ấy là những bài học nội trợ, những bài giảng đạo đức tẻ nhạt trên truyền hình, và kinh khủng hơn cả, là những cuộc hôn nhân sắp đặt. Ngoại trừ cô út Lale còn quá nhỏ tuổi, Sonay, Selma, Ece, rồi Nur lần lượt bị ghép vào những đám cưới gượng ép. Các em phải chia lìa những người ruột thịt để làm con dâu trong các gia đình xa lạ ngập tràn những hủ tục của hàng trăm năm trước về chuyện trinh tiết, danh dự. Những người ở lại cũng chẳng được yên lành, khi các chị em luôn chịu cảnh chèn ép bởi ông bác gia trưởng, hà khắc, người coi trọng việc giữ thể diện hơn hạnh phúc của bà mẹ già và các cháu gái nhưng cũng lại che dấu trong mình những thú tính khó lòng tưởng tượng nổi. Cam chịu với gông cùm của hủ tục, của truyền thống gia trưởng chốn làng quê, hay vượt qua tất cả để tìm đến tự do nơi đô thị, liệu đâu sẽ là lựa chọn của năm chị em cho cuộc sống còn rất dài phía trước?


Sinh ra ở Thổ Nhĩ Kỳ nhưng nữ đạo diễn Deniz Gamze Ergüven lại học tập và khởi nghiệp ở Pháp với tác phẩm đầu tay Mustang, bộ phim mang rất nhiều dấu ấn và tâm trạng cá nhân của cô. Theo Ergüven, bộ phim này của cô là một lời tâm huyết dành cho quyền lợi của những người phụ nữ trong xã hội hiện đại Thổ Nhĩ Kỳ trước sự đe dọa trở lại của những giáo lý và truyền thống đạo Hồi hà khắc, đặc biệt là ở những vùng thôn quê xa xôi, nơi kiến trúc nổi bật nhất giữa làng xóm lụp sụp vẫn là những tháp nhọn của các nhà thờ Hồi giáo. Qua Mustang, người xem có thể dễ dàng cảm nhận sự xung đột này giữa tinh thần tự do mang tính thời đại và chủ nghĩa gia trưởng bảo thủ đậm màu sắc tôn giáo thông qua hình ảnh của năm cô bé đáng yêu với cách ăn mặc và cư xử tự nhiên, tân thời bị giam cầm giữa những song sắt dựng nên bởi ông bác Erol hà khắc và người bà sống trọn đời trong cam chịu với số phận. Một bộ phim chú trọng vào những xung đột tâm lý như vậy rất cần dàn diễn viên hợp vai và ăn ý, một điều không hề dễ dàng đối với một tác phẩm điện ảnh có nhiều diễn viên nhí và đất diễn được chia đều cho các vai chính như Mustang. May mắn cho bộ phim là dàn diễn viên nhí thủ vai năm chị em, đúng như hình ảnh trên tấm áp phích phim, đã vai kề vai để thực sự trở thành chị em của nhau trên phim, thực sự thể hiện được tinh thần, khát vọng tự do mà Mustang muốn truyền tới khán giả. Diễn xuất hồn nhiên nhưng rất giàu tình cảm, và đặc biệt là nét trong trẻo, tinh khôi của năm chị em có lẽ là điểm nhấn đẹp nhất của bộ phim. Không cần những triết lý sâu sắc, không cần những câu thoại văn hoa phức tạp, chỉ cần một khung hình đẹp đẽ mà bi ai khi các em nằm gối đầu lên nhau dưới ánh nắng vàng rực rỡ giữa song sắt kìm hãm đã là quá đủ để bộ phim đưa được thông điệp về khát vọng tự do đến với người xem. 


Mustang là một bộ phim hết sức giản dị với cốt truyện trầm buồn nhưng mộc mạc, dễ xem, dễ cảm nhận. Phần bối cảnh và hình ảnh của phim, với rất nhiều nội cảnh và rất nhiều ánh sáng tự nhiên cũng là một yếu tố giúp khán giả xem phim có được cảm giác nhẹ nhõm nhất định. Tuy nhiên khi lớp vải nhung nhẹ nhàng đó được lật lên, người xem lập tức thấy rằng ẩn giấu bên trong Mustang là bi kịch tột cùng của con người khi tự do bị chà đạp, là bi kịch của những tâm hồn trinh nguyên khi rơi vào tay của những cái đầu mù quáng vì giáo lý, vì hủ tục, vì khát vọng thấp hèn của bản thân. Những bi kịch nối tiếp bi kịch ấy chắc chắn sẽ khiến nhiều khán giả sau khi xem xong bộ phim sẽ phải hít một hơi thở rất dài vì chợt nhận ra rằng trên thế giới, kể cả ở những quốc gia hiện đại, vẫn còn đó rất nhiều những hủ tục bất công đang kìm hãm tự do, khát vọng sống của con người. Đó cũng chính là lời nhắn gửi tâm huyết mà nữ đạo diễn Ergüven muốn dành cho quê hương, bởi liệu ai có thể ngồi yên khi tự do của những em gái với khuôn mặt ngời sáng như năm chị em Sonay – Selma – Ece – Nur – Lale vẫn còn phải đối diện với những song sắt của những nhà tù giáo lý, tư tưởng như vậy. 


Quay tại Thổ Nhĩ Kỳ, với dàn diễn viên người Thổ Nhĩ Kỳ và sử dụng kịch bản hoàn toàn bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng có lẽ nội dung sâu sắc mà chua cay của Mustang không thực sự hợp lòng giới chức nước này, bởi vậy mà bộ phim đã không được lựa chọn để đại diện cho Thổ Nhĩ Kỳ dự tranh giải Oscar cho phim ngoại ngữ xuất sắc nhất năm nay. Thế chỗ của MustangSivas, một tác phẩm cũng về đề tài tuổi thơ và trẻ em. Chỉ một tuần sau đó, Mustang đã vượt qua cả bộ phim đoạt giải Cành cọ vàng 2015 là Dheepan của đạo diễn Jacques Audiard để trở thành đại diện của Pháp tại giải Oscar năm nay. Theo hội đồng chọn phim của Pháp thì Mustang được lựa chọn vì bộ phim đã thể hiện được tinh thần tự do ngôn luận, tự do biểu đạt, vốn là những giá trị mà nước Pháp luôn theo đuổi. Có lẽ đây cũng là những giá trị mà chính giải Oscar cũng muốn hướng tới, bởi ngày 17 tháng 12 vừa qua Mustang, vượt qua 72 tác phẩm từ các quốc gia khác, đã được đưa vào danh sách đề cử rút gọn 9 đề cử cho giải Oscar 2015 cho phim nói tiếng nước ngoài. Sivas – đề cử của Thổ Nhĩ Kỳ không có mặt trong danh sách này.



====
Bản đã được biên tập trên Zing.

Spotlight (2015)




Giải thưởng Pulitzer vì phụng sự công chúng được coi là giải thưởng báo chí quan trọng nhất của nước Mỹ. Giải thưởng hàng năm này được trao cho tờ báo nào được đánh giá là có đóng góp tích cực nhất cho lợi ích của công chúng và xã hội Hoa Kỳ. Năm 2003 nhật báo “The Boston Globe” của thành phố Boston được trao tặng giải thưởng này với lời khen tặng chính thức từ hội đồng xét giải là “vì hoạt động đưa tin toàn diện, dũng cảm về những vụ xâm hại tình dục của các giáo sĩ Công giáo – nỗ lực đã giúp phá vỡ bức màn bí mật, thúc đẩy phản ứng từ địa phương, quốc gia, và quốc tế, và tạo ra sự thay đổi từ chính bên trong Giáo hội Công giáo La Mã”. Hơn một thập kỉ sau khi Giải thưởng này được trao, và sau rất nhiều những thay đổi lớn lao trong nhận thức và hành động của xã hội Mỹ và Giáo hội Công giáo về tệ ấu dâm trong giới giáo sĩ, bộ phim Spotlight của đạo diễn Tom McCarthy đã lần đầu tiên đưa lên màn ảnh lớn hình ảnh của nhóm tác giả những bài báo có sức ảnh hưởng mạnh mẽ ấy.


Những vụ án liên quan tới nạn ấu dâm của giáo sĩ Công giáo tại Hoa Kỳ vốn không phải một đề tài quá mới với báo chí, nhưng chúng mới chỉ được nhìn nhận như những trường hợp cá biệt, hiếm hoi tại một thành phố có tới một phần ba dân số là giáo dân Công giáo như Boston. Mãi tới năm 2001 khi tờ nhật báo của thành phố “The Boston Globe” có tổng biên tập mới – Marty Baron (Liev Schreiber), một người gốc Do Thái, thì việc điều tra tệ nạn này mới được tiến hành một cách triệt để. Với con mắt tinh tường của một “người ngoài cuộc”, Baron nhanh chóng nhận ra rằng các bài báo nhỏ lẻ không thể giúp “The Boston Globe” tìm được gốc rễ của sự việc, bởi vậy thay vì tập trung vào từng kẻ thủ ác và những nạn nhân, tờ báo cần phải đối diện với cả Giáo hội Công giáo, với tòa án, với truyền thống sùng đạo của người dân Boston để lôi cả hệ thống đã bao che những tội ác này suốt bao nhiêu năm ra ánh sáng công luận. Trọng trách này được Baron giao phó cho nhóm nhà báo điều tra của mục “Spotlight” (“Tin điểm”) – đội ngũ tinh túy nhất của tờ “The Boston Globe” chuyên trách các phóng sự dài kì về những vấn đề xã hội nóng bỏng nhất. Chỉ có bốn cá nhân nhưng nhóm “Spotlight” là đại diện cho những phẩm chất cần thiết nhất của nghề báo – trưởng nhóm Walter “Robby” Robinson (Michael Keaton) điềm tĩnh, kinh nghiệm, Michael Rezendes (Mark Ruffalo) nhiệt huyết, xông xáo, Sacha Pfeiffer (Rachel McAdams) tinh tế, nhạy cảm, và Matt Carroll (Brian d’Arcy James) hiểu biết, tận tụy. Công việc điều tra của nhóm “Spotlight” không hề đơn giản khi họ vấp phải sự thờ ơ, bàng quan, thậm chí là xa lánh của đồng nghiệp và những người dân cùng thành phố - những người không tin, và không muốn tin rằng những vị giáo sĩ đáng kính lại có thể gây ra những tội ác ghê tởm như vậy. Hơn thế nữa, là những người sinh ra, lớn lên ở ngay giữa thành phố sùng đạo này, các nhà báo còn phải đối diện với sự khủng hoảng tinh thần bên trong chính họ khi mà niềm tin tâm linh của họ, của những người thân của họ bị phản bội một cách không thương tiếc bởi cả hệ thống Giáo hội thành phố. Nhưng “Spotlight” vẫn tiếp bước, vẫn kiên cường trên con đường tìm tới sự thật, bởi mỗi ngày trôi qua là nhóm phóng viên của Robinson lại được chứng kiến những nạn nhân và nỗi đau khôn nguôi của họ, cũng như hiểu ra rằng họ không hề đơn độc, bởi xã hội vẫn còn những người như luật sư Mitchell Garabedian (Stanley Tucci), như cựu giáo sĩ chuyển nghề tâm lý học trị liệu Richard Sipe (Richard Jenkins) – những người vẫn chiến đấu không ngừng nghỉ trong cuộc chiến tìm ra sự thật và phơi bày sự thật. Xét về mặt quyền lực và tiền bạc, đó có thể là cuộc chiến không cân sức cho những nhà báo tờ “The Boston Globe”. Nhưng xét về mặt niềm tin, và lòng dũng cảm, chẳng ai có thể sánh được với họ, kể cả Giáo hội Công giáo – nơi tự cho mình cái quyền nắm giữ đức tin của mọi người. 


Nhắc tới Tom McCarthy – đạo diễn và biên kịch của Spotlight, khán giả thường sẽ nhớ tới The Visitor, tác phẩm gây tiếng vang về đề tài người nhập cư ở Hoa Kỳ, và Up, một trong những bộ phim hoạt hình cảm động và xuất sắc nhất những năm đầu thế kỷ 21 do McCarthy chấp bút. Tuy có đề tài và đối tượng khán giả hết sức khác nhau, The VisitorUp vẫn chia sẻ một điểm chung, đó là cách tiếp cận nhẹ nhàng, trầm lắng nhưng hết sức nhân văn về các đề tài khó nhằn như tuổi già, sự cô đơn. Với Spotlight, khán giả lại một lần nữa được thưởng thức lựa chọn nghệ thuật này của Tom McCarthy với một đề tài khó khăn không kém – nạn ấu dâm của giáo sĩ Công giáo. Nói là khó khăn bởi nạn nhân của những tội ác này chính là những giá trị phổ quát và thiêng liêng đối với bất cứ ai trong số chúng ta – tuổi thơ ấu, sự trong trắng, và lòng tin. Bởi vậy làm thế nào để để cập đến tội ác và sự trừng phạt một cách trung thực, không né tránh nhưng cũng lại không khiến khán giả cảm thấy khó chịu, e ngại là một nhiệm vụ không hề dễ dàng với các đạo diễn. Vì lý do này mà tuy đây là đề tài được báo giới và dư luận quan tâm suốt vài thập niên trở lại đây, chỉ có một số ít tác phẩm điện ảnh thực sự lột tả được diện mạo xấu xí đến tột cùng của những tội ác ấy cũng như nỗi đau không dứt của những đứa trẻ-nạn nhân như The Magdalene Sisters (2002) của đạo diễn Peter Mullan, Philomena (2013) của đạo diễn Stephen Frears, hay Calvary (2014) của đạo diễn John Michael McDonagh. Khác với những bộ phim này, Tom McCarthy, với phong cách tiếp cận nhẹ nhàng mà ông từng áp dụng cho The Visitor, không đề cập trực tiếp đến các tội ác và những kẻ thủ ác. Thay vào đó, ông tập trung toàn bộ thời lượng phim để mô tả quá trình đi tìm sự thật của nhóm phóng viên điều tra, và gián tiếp qua họ, là những hậu quả lâu dài, bi thương mà những nạn nhân của các vụ ấu dâm phải chịu đựng dù ở bất cứ lứa tuổi, địa vị, hoàn cảnh sống nào. Khởi đầu chậm rãi và chỉ dần tăng tốc ở nửa cuối phim, Spotlight chắc sẽ khiến nhiều khán giả cảm thấy nóng ruột khi không được chứng kiến những trường đoạn cao trào, kịch tính gắn với những tội ác của các giáo sĩ hay sự che đậy có hệ thống của Giáo hội Boston. Nhưng nếu kiên nhẫn hơn, những khán giả này sẽ nhận ra rằng không chỉ họ, mà chính các nhân vật chính trong phim – các phóng viên điều tra tinh tường và quả cảm của tờ “The Boston Globe” cũng đang phải ghìm nén cảm xúc khi phải đối diện với những giọt nước mắt, những lời tâm sự đến thắt lòng từ các nạn nhân của những kẻ thủ ác giấu mặt, để có thể đủ sáng suốt lần theo mối dây sự thật về tội ác có quy mô khó lòng tưởng tượng này. Cách kể truyện tinh tế này của “Spotlight” giúp bộ phim càng về sau càng lôi cuốn được khán giả, khiến họ cảm thấy mình đã thực sự trở thành một phần của cuộc điều tra và dần nhận ra được những chi tiết ẩn giấu bên dưới vẻ yên bình của thành phố Boston – thứ yên bình giả tạo bao phủ lên vô số những xung đột, tội ác, nỗi đau, và sự hèn nhát. Góp giọng cho kịch bản thâm trầm của Spotlight là tông màu ngả vàng nhẹ mắt và những thước phim đặc tả tuyệt vời của nhà quay phim người Nhật Masanobu Takayanagi, người đã thành công trong việc nêu bật muôn mặt cảm xúc ẩn dấu bên trong các nhân vật, từ sự bàng hoàng của các phóng viên khi tiếp xúc với sự thật, tới thái độ bàng quan vô cảm của những kẻ coi trọng “danh dự” hơn sự thật, tới khán giả mà không cần phải viện tới sự hỗ trợ của nước mắt hay tiếng cười. Cùng với phần nhạc phim lúc dồn dập, lúc khoan thai của nhà soạn nhạc danh tiếng Howard Shore, có thể nói Spotlight là một trong những bộ phim toàn diện nhất về mặt nội dung và kỹ thuật của điện ảnh Hollywood năm 2015. 


Tuy toàn diện về mặt truyện phim nhưng nhịp phim trầm lắng của Spotlight lại là một bất lợi cho dàn diễn viên của phim bởi các nhân vật của họ sẽ không có nhiều những giờ phút bột phát về mặt tình cảm, tinh thần, vốn là những thời điểm cần thiết để họ phô diễn khả năng trên màn ảnh lớn. Nhưng xét cho cùng nhiệm vụ của người diễn viên là truyền tải được ý đồ của kịch bản và đạo diễn – khía cạnh đã được dàn diễn viên của Spotlight thể hiện thành công. Michael Keaton thâm trầm trong vai Walter Robinson, Rachel McAdams nhạy cảm trong vai Sacha Pfeiffer, Mark Ruffalo nhiệt huyết trong vai Michael Rezendes, cả ba đã làm nên một “đội hình mơ ước” của nhóm phóng viên điều tra Spotlight. Đó là những người phóng viên trung thực, nhạy bén, dũng cảm, và trên hết là quyết liệt chiến đấu đến cùng vì chất lượng bài báo, vì lợi ích chung của xã hội. Rất tiếc là thành viên thứ tư của nhóm – nhà báo Matt Carroll do Brian d’Arcy James thể hiện, hiện lên tương đối mờ nhạt nếu so sánh với ba cái tên còn lại của Spotlight. Tương tự với vai Matt Carroll, tuyến nhân vật phụ của phim không để lại nhiều ấn tượng ngoài hai điểm sáng là Liev Schreiber trong vai biên tập viên Marty Baron của tờ “The Boston Globe” và đặc biệt là Stanley Tucci trong vai luật sư Mitchell Garabedian. Dù không có nhiều đất diễn và rất ít khi biểu lộ cảm xúc, nhưng Stanley Tucci đã đem lại cho khán giả một đoạn kết cực kì xúc động và đáng nhớ. Đoạn kết của Spotlight với sự tương phản giữa năng lượng tích cực, lạc quan của Mark Ruffalo trong vai Rezendes và cảm giác bi quan ghìm chặt lấy cảm xúc của Stanley Tucci trong vai Garabedian có lẽ chính là lời giải thích tốt nhất cho sự đặc biệt và đáng nhớ của Spotlight


Nghề báo là một trong những nghề nghiệp được trân trọng bậc nhất tại Hoa Kỳ vì chính những nhà báo là đại diện cho tiếng nói của công chúng, và họ cũng là người rọi ánh sáng vào mọi góc tối để đưa sự thật đến với công chúng. Qua Spotlight, một lần nữa người xem lại có thể cảm nhận được những đóng góp lớn lao này của các nhà báo cho xã hội, bởi sự dũng cảm của họ trong việc điều tra đã giúp truyền lửa dũng cảm tới cả xã hội, tới từng nạn nhân của áp bức, tội ác để họ có thể cất lên tiếng nói của chính mình.


====
Bản đã được biên tập trên Zing.

The Revenant (2015)




Tháng Tám năm 1823, khi đang trên đường thám sát giữa vùng rừng sâu hoang vu bang Nam Dakota, tay thợ săn da thú Hugh Glass bất ngờ chạm chán một gia đình gấu mẹ và hai chú gấu con. Theo đúng bản năng bảo vệ con, con gấu xám lớn lao vào tấn công Glass và nhanh chóng hạ gục người thợ săn kinh nghiệm bằng những đòn chí mạng xé toạc thân thể nạn nhân của nó. Chỉ có sự xuất hiện kịp thời của những người bạn săn trong đoàn mà Hugh Glass mới thoát chết, nhưng nhưng cú cắn và táp của con gấu cũng đủ khiến Glass hấp hối trong tình trạng bại liệt toàn thân và trở thành gánh nặng cho cả đoàn thợ săn. Vừa phải đối chọi với thiên nhiên cực kì khắc nghiệt và sự truy đuổi của những người thổ dân giận dữ, vừa phải gánh gã thợ săn thập tử nhất sinh xuyên rừng xuyên núi với những bước chân vốn đã nặng chĩu vì các kiện da thú, đoàn thợ săn cuối cùng quyết định buộc phải bỏ Glass lại giữa hoang dã nước Mỹ. Không ai trong số bạn săn của Hugh Glass có thể ngờ rằng gã đàn ông trung niên ấy không những không chết giữa rừng thiêng nước độc, trái lại, với bản năng sinh tồn và chút sức tàn còn lại, Glass trong cảnh tàn phế đã bò qua trên 300 km rừng núi trong vòng sáu tuần để tìm về với văn minh, tìm về với sự sống, và trở thành huyền thoại.


Câu chuyện đầy kinh ngạc về bản năng sinh tồn của Hugh Glass từ lâu đã trở thành đề tài cho giới văn nghệ nước Mỹ mà gần đây nhất là tiểu thuyết năm 2002 The Revenant (Người trở về từ cõi chết) của nhà văn Michael Punke. Năm 2015, tiểu thuyết kể trên đã được chuyển thể lên màn ảnh lớn qua bộ phim cùng tên của đạo diễn Alejandro Inarritu, người vừa đoạt giải Oscar cho cả phim và đạo diễn xuất sắc nhất năm 2014 với bộ phim Birdman. Trong phim, Hugh Glass (Leonardo DiCaprio) không những phải đối chọi với thiên nhiên khắc nghiệt mà còn phải đương đầu với gã bạn săn hiểm ác John Fitzgerald (Tom Hardy), kẻ quyết loại bỏ Glass bằng mọi thủ đoạn, từ đánh lừa chỉ huy đoàn săn Andrew Henry (Domhnall Gleeson), buộc người thợ săn trẻ Jim Bridger (Will Poulter) phải trở thành tòng phạm bỏ mặc Glass với cái chết, và thậm chí là tìm cách ám hại Hawk (Forrest Goodluck) – đứa con trai mang dòng máu thổ dân của Glass. Xuyên suốt bộ phim, người xem sẽ được chứng kiến cuộc chiến một mất một còn giữa Glass và Fitzgerald, giữa con người với thiên nhiên lạnh lẽo khắc nghiệt, và giữa ý chí sinh tồn với bóng ma luôn hiện hữu của thần chết.


Leonardo DiCaprio là một trong những ngôi sao lớn nhất của điện ảnh Hollywood hiện nay nhưng trong vòng 10 năm qua anh cũng trở thành nhân vật của một câu chuyện đùa không lấy gì làm thú vị cho DiCaprio – “Liệu đến bao giờ Leonardo DiCaprio mới giành tượng vàng Oscar?”. Từng làm việc với rất nhiều đạo diễn nổi tiếng, từ James Cameron, Steven Spielberg, cho tới Quentin Tarantino và đặc biệt là Martin Scorsese, kể từ năm 2002 cho tới nay hầu như tất cả các bộ phim mà Leonardo DiCaprio tham gia đều được đánh giá cao với rất nhiều lời khen ngợi dành cho các vai diễn của anh. Tuy nhiên dù đã bốn lần được đề cử giải Oscar nhưng lần nào Leonardo DiCaprio cũng phải ra về tay trắng và câu chuyện đùa kể trên lại được lặp lại trên các mặt báo và Internet. Liệu với The Revenant, Leonardo DiCaprio có thể hóa giải câu chuyện đùa ấy? Rất có thể, bởi đây là một trong những vai diễn khốc liệt và bi tráng nhất mà anh từng thể hiện trong sự nghiệp. Thổ dân truy diệt, thú dữ tấn công, chết cóng giữa cái lạnh khủng khiếp của miền Bắc nước Mỹ hoang dã, chết đói giữa bạt ngàn rừng hoang tuyệt nhiên không có thứ gì ăn được, nhân vật Hugh Glass của DiCaprio phải trải qua tất cả những thử thách ấy chỉ bằng bản năng sinh tồn và ý chí trả thù kẻ bạn săn nham hiểm đã đẩy ông tới chỗ đường cùng. Trong một vai diễn gần như không có thoại và thường xuyên phải bất động vì bại liệt toàn thân, cặp mắt xanh trở thành phương tiện duy nhất để Leonardo DiCaprio diễn tả mọi trạng thái cảm xúc của nhân vật, từ đau đớn, sợ hãi, tuyệt vọng, tới hừng hực khao khát tồn tại, khao khát trả thù. Có lẽ kể từ Blood Diamond (2006, bộ phim đem lại cho anh đề cử Oscar thứ ba) tới nay Leonardo DiCaprio mới lại có một vai diễn với đòi hỏi khắc nghiệt về mặt thể chất đến vậy với rất nhiều pha hành động trong bối cảnh trời Đông lạnh lẽo chỉ có cây khô, tuyết trắng, sông gầm, và núi dữ. Nhưng điều kiện quay phim của The Revenant còn là thử thách lớn hơn rất nhiều bối cảnh châu Phi của Blood Diamond, bởi với đòi hỏi rất cao về phần bối cảnh và hình ảnh của phim, đạo diễn Inarritu đã quyết định tuyệt đối không dùng kỹ xảo đồ họa vi tính để thay thế cho các cảnh quay khó, cũng như chỉ sử dụng ánh sáng tự nhiên cho việc quay phim thay vì sử dụng các bối cảnh thuận lợi hơn rất nhiều trong trường quay. Sự kỹ tính của đạo diễn Inarritu không chỉ khiến kinh phí quay của bộ phim bị đội lên gần gấp đôi, mà còn khiến một số nhân viên của đoàn phim phải từ bỏ The Revenant. Tất nhiên trong số đó không có Leonardo DiCaprio. Trái lại điều kiện quay khó khăn dường như lại càng tôi luyện cho hình ảnh sắt đá của Hugh Glass của DiCaprio qua từng thời khắc sinh tử. Bằng diễn xuất ngoại hạng của mình, thực sự Leonardo DiCaprio đã đưa ra được một cách giải thích hợp lý cho khán giả về huyền thoại sinh tồn của Hugh Glass, đưa cho họ câu trả lời vì sao Glass có thể vượt qua mọi gian nan, thử thách để tìm về với sự sống. Cũng phải nhấn mạnh rằng gian nan, thử thách ở đây không chỉ về mặt thể xác, mà còn nằm rất nhiều ở mặt tinh thần. Bởi Glass là một con người mất mát, dù cận kề cái chết hay chạm ngưỡng hồi sinh nhưng trong trái tim của ông luôn là người vợ và đứa con gốc thổ dân mà ông phải rời xa. Dù đã từng đóng những vai diễn với những mất mát tinh thần tương tự như trong Shutter Island (2010) hay Inception (2010), nhưng cái cách DiCaprio thể hiện nỗi đau ấy qua sâu thẳm đôi mắt vốn đã khô cạn nước mắt, qua cặp môi nứt toác run run đầy đau đớn quả thực đã tạo ra một hình ảnh hết sức khác biệt so với một DiCaprio-giận-dữ thường thấy. Dù không thể phủ nhận đóng góp hết sức quan trọng của các diễn viên khác trong The Revenant, đặc biệt là Tom Hardy trong vai John Fitzgerald – kẻ cừu thù của Hugh Glass hay Will Poulter trong vai anh chàng thợ săn non nớt Jim Bridger, nhưng có thể khẳng định rằng DiCaprio là động lực lớn nhất đưa tới thành công của bộ phim. 


Trên bảng phân vai của The Revenant, Leonardo DiCaprio được xếp đầu tiên với tư cách diễn viên chính của bộ phim. Tuy nhiên tác phẩm của Alejandro Inarritu còn một diễn viên chính khác quan trọng không kém, đó là thiên nhiên bao la của miền Bắc nước Mỹ. Trong bộ phim này thiên nhiên đóng cả hai vai chính diện và phản diện khi mà vẻ đẹp đến nghẹn thở của núi rừng, sông suối, của gió, của tuyết luôn đi kèm với sự khắc nghiệt chết người của cái lạnh, cái đói, và thú dữ rình rập ở mọi nơi mọi lúc. Để truyền tải hai mặt đối lập ấy của nước Mỹ hoang dã tới khán giả, đạo diễn Inarritu đã lựa chọn nhà quay phim Emmanuel “Chivo” Lubezki, đồng nghiệp thân thiết của ông và là người giành giải Oscar quay phim xuất sắc ở cả hai lễ trao giải Oscar gần đây nhất với Gravity (2013) và Birdman (2014). Không phụ sự tin tưởng của Inarritu, “Chivo” Lubezki đã khiến khán giả choáng ngợp với những cảnh quay góc rộng diễn tả thiên nhiên bao la ngút ngàn của rừng núi nước Mỹ đẹp đẽ nhưng cũng đậm hơi thở bí ẩn. Nếu như với Gravity, “Chivo” Lubezki trở nên nổi tiếng với khả năng kết hợp các cảnh quay không gian với kỹ xảo đồ họa tân tiến, Birdman thể hiện khả năng xử lý của Lubezki với những đúp quay rất dài trong không gian hẹp, thì The Revenant lại cho thấy một Lubezki với con mắt tài năng trong việc lựa chọn các góc máy lạ để truyền tải tối đa tính cách của thiên nhiên và tình cảm, suy nghĩ của những con người nhỏ bé phải sống, phải tồn tại giữa màu xám của trời, màu trắng của tuyết, và màu nâu của cỏ cây. Hỗ trợ cho những góc máy xuất sắc của Lubezki là phần nhạc phim đẹp đẽ, bi tráng không kém của nhạc sĩ Ryuichi Sakamoto – một trong những tên tuổi lớn nhất của âm nhạc đương đại Nhật và là tác giả cho phần nhạc phim của rất nhiều tác phẩm đáng nhớ như Merry Christmas Mr. Lawrence (1983), The Last Emperor (1987), hay The Sheltering Sky (1990). Phong cách tối giản của cả Lubezki và Sakamoto cho phần hình ảnh và âm nhạc của bộ phim là một lựa chọn hết sức phù hợp với thiên nhiên đơn sắc của “The Revenant” và góp phần đẩy cao xung đột giữa các nhân vật, giữa nhân vật với thiên nhiên, giữa lòng tham và sự tự trọng trong phim. 


Truyền tải một cách hoàn hảo cuộc chiến sinh tồn của Hugh Glass là một thành công lớn của The Revenant, nhưng sẽ là một thiếu sót lớn nếu coi bộ phim dài tới hơn hai tiếng rưỡi này của đạo diễn Alejandro Inarritu chỉ kể duy nhất một câu chuyện, chỉ có duy nhất một lớp ý nghĩa như vậy. Đây đó giữa mảnh đất rộng lớn phía Bắc nước Mỹ, người xem được thấy những khuôn mặt thổ dân khắc khổ và giận dữ, tro bụi và xác chết trong những bản làng bị hủy diệt của thổ dân châu Mỹ, sự nham hiểm của những kẻ định cư da trắng – những kẻ sẵn sàng giết thổ dân chỉ để treo lên cổ họ tấm biển “On est tous des sauvages” (“Tất cả lũ bọn chúng chỉ là đồ mọi rợ”). Cũng chính giữa cái hủy diệt, chết chóc ấy, người ta cũng thấy le lói ánh sáng của tình người, của sự cao thượng, bất kể họ là thổ dân hay người định cư da trắng, thứ ánh sáng tuy mờ nhạt giữa xám xịt hoang dại nhưng cũng đủ để người ta cảm nhận được sự tồn tại, dù là rất khó khăn, của nhân tính nơi đây. Lịch sử bi thương của những bộ lạc thổ dân châu Mỹ phải lùi dần tới chỗ diệt vong trước sự xuất hiện của người định cư da trắng là một đề tài không mới, nhưng hiếm khi được Hollywood khai thác một cách triệt để ngoại trừ một số ít các bộ phim xuất sắc như Dances with Wolves (Khiêu vũ giữa bầy sói, 1990) của đạo diễn Kevin Costner hay The Last of the Mohicans (1992) của đạo diễn Michael Mann. Bởi thế, cái cách The Revenant đưa tới cho khán giả một lát cắt mỏng nhưng hết sức tinh tế, hết sức thấm thía về câu chuyện đầy thương đau của những người da đỏ là điều đáng trân trọng. Có phải chăng với The Revenant, thổ dân châu Mỹ - những người chủ đầu tiên của mảnh đất này, cũng chính là hình ảnh thiên nhiên nơi đây – một thiên nhiên bị tàn phá, vơ vét đến cùng kiệt bởi những người định cư. Cũng như núi rừng huyền bí, những người thổ dân ấy sẽ sẵn sàng chiến đấu, trừng phạt đến cùng những kẻ tàn phá, nhưng cũng sẵn sàng tha thứ nếu như những người khách không mời ấy vẫn còn mang trong mình chút lương tri con người. 


Một kịch bản sâu sắc với nhiều lớp nghĩa nhân văn. Phần hình ảnh tuyệt vời về thiên nhiên trường tồn của núi rừng nước Mỹ. Diễn xuất trọn vẹn của Leonardo DiCaprio. Có lẽ chừng ấy đã là quá đủ để giúp The Revenant của đạo diễn Alejandro Inarritu trở thành một trong những bộ phim đáng nhớ nhất của năm 2015, và là một chuyển thể điện ảnh xứng đáng với huyền thoại sinh tồn của Hugh Glass.

====