some quotes....

I just want to tell you, I'm the one who was supposed to take care of everything. I'm the one who was supposed to make everything okay for everybody. It just didn't work out like that. And I left. I left you... And now, I'm an old broken down piece of meat... and I'm alone. And I deserve to be all alone. I just don't want you to hate me.

-Randy 'The Ram' Robinson, The Wrestler

mardi 15 décembre 2015

Listen to Me Marlon (2015)









Tôi sẽ đánh đổi mọi thứ để có thể trở thành Marlon Brando. Tôi thực sự thèm muốn tài năng của anh ấy.
- Woody Allen, đạo diễn, diễn viên, 4 giải Oscar

Tôi nghĩ rằng trong giới diễn viên chúng tôi có một cuộc ganh đua nhiều người biết tới – đó là làm thế nào để nói ra được điều tốt đẹp nhất về Marlon Brando.
- Jack Nicholson, diễn viên, 3 giải Oscar

Những ngôi sao sáng của giới điện ảnh Hollywood đã dành những lời có cánh như vậy để nói về Marlon Brando, người khổng lồ của điện ảnh Mỹ nói riêng và điện ảnh thế giới nói chung. Không chỉ được đồng nghiệp và người hâm mộ kính phục qua rất nhiều những vai diễn đáng nhớ, Brando còn giúp thay đổi vĩnh viễn cách thức tiếp cận các vai diễn của giới diễn viên Hollywood với phong cách diễn nhập vai (“method acting”) – người diễn viên phải hóa thân thực sự vào vai diễn, phải biến mình thành nhân vật trên phim thay vì đem phong thái riêng của chính mình áp đặt cho mọi nhân vật, mọi bộ phim. Bằng vẻ đẹp khỏe khoắn tràn đầy sức sống và kĩ năng diễn xuất sâu khấu thượng hạng nhờ những ngày tôi luyện trong lò đào tạo của người thầy huyền thoại Stella Adler, Brando đã chinh phục Hollywood ngay từ những bộ phim đầu tiên ông tham gia như A Streetcar Named Desire (1951), Julius Caesar (1953) và đặc biệt là On the Waterfront (1954) – bộ phim đem lại cho Brando giải Oscar đầu tiên ở cái tuổi 30 rất trẻ. Cho đến tận ngày nay, các vai diễn của Brando trong On the Waterfront, The Godfather, Last Tango in Paris (cùng 1972), và Apocalypse Now (1979) vẫn được coi là thước đo chuẩn mực chưa bao giờ lỗi thời của nghệ thuật diễn xuất.

“Một trong những rắc rối của Brando là ông ấy không thể đối thoại được với mọi người... Ông ấy sống ở một thế giới khác, ông ấy là con người hết sức lạ lùng.”
- Peter Bart, nhà sản xuất phim của Paramount

Nhưng ở Hollywood, người ta còn biết tới một Marlon Brando khác. Đó là một Brando khó tính, luôn gây rắc rối cho đạo diễn và quá trình làm phim với những yêu cầu kì quái. Đó là một Brando có đời sống riêng tư sóng gió với rất nhiều người tình, rất nhiều con cái. Đó là một Brando chịu nhiều bi kịch trải dài từ tuổi thơ thiếu tình thương tới buổi xế chiều rất nhiều mất mát. Cuối đời, cái tên Brando thường xuất hiện trên báo chí qua những rắc rối gia đình mà ông gặp phải chứ không phải qua những vai diễn đáng quên của ông trong suốt 25 năm cuối. 

Hai nửa đối lập ấy của cuộc đời Marlon Brando là chủ đề của bộ phim tài liệu Listen to Me Marlon, một trong những tác phẩm tài liệu được nhắc tới nhiều nhất trong năm 2015. Dựa trên những cuộn băng ghi âm do chính Brando thu lại như một dạng nhật ký cá nhân và chưa từng được đưa ra trước công chúng, đạo diễn Stevan Riley đã đưa đến khán giả một cái nhìn mới về cuộc đời Marlon Brando qua con mắt của chính huyền thoại điện ảnh. Hoàn toàn không sử dụng lời dẫn, câu chuyện cuộc đời trong Listen to Me Marlon được “kể” lại bằng chính giọng nói như vọng lại từ một thế giới khác của Marlon Brando và minh họa bằng những đoạn băng tư liệu về ông hay trích đoạn các bộ phim mà ông tham gia. Vốn không được giới nghệ sĩ sân khấu kinh viện đánh giá cao bởi đài từ không đẹp, rõ vì Brando rất hay dùng cách nói lầm bầm và gằn giọng, phong cách kể của huyền thoại điện ảnh lại trở nên hết sức phù hợp cho Listen to Me Marlon bởi chất giọng trầm ấm, giàu cảm xúc, suy tư của ông đã giúp truyền tả hết sức hiệu quả những nốt thăng, trầm trong cuộc đời Brando tới khán giả. Thực sự đối với người hâm mộ Marlon Brando, có lẽ chẳng gì có thể sánh được với việc được nghe chính thần tượng của mình kể lại câu chuyện cuộc đời. Trong câu chuyện ấy người xem có thể tìm thấy lửa nhiệt huyết của Brando với các vai diễn, đặc biệt là trong những bộ phim đầu tiên, những giờ phút ông trăn trở với nghề nghiệp, với bất công xã hội, với sự tồn tại của chính bản thân, và đặc biệt là tình yêu Brando dành cho cuộc sống và những con người tự do, khoáng đạt ở hòn đảo Tahiti xa xôi. 

Bông hoa đáng thương trên những ngọn sóng lừng kia ơi,
Hãy cho tôi biết, nếu một ngày kia trở lại,
Tôi có còn được thấy hòn đảo quyến rũ này không,
Nơi thiên đường thực sự của bình yên, và tình yêu?

Đó là những câu hát trong Tiếng hát về những hòn đảo (Chant des îles), bài hát yêu thích của Brando về hòn đảo Tahiti, mà đứa con gái bé bỏng Cheyenne của ông hát lên tặng bố trong cảnh phim có lẽ là đáng nhớ bậc nhất của Listen to Me Marlon. Qua Listen to Me Marlon người xem được nghe và chứng kiến cuộc chiến đấu không ngừng của Brando đi tìm hạnh phúc, đi tìm cái thiên đường của tâm hồn ấy. Xuyên suốt bộ phim, người xem được chứng kiến sự biến đổi trong suy nghĩ, trong cách nhìn đời của Brando sau từng vết thương trong cuộc chiến đấu lâu dài không có hồi kết ấy. Từ một chàng trai trẻ với ánh mắt và cách nói chuyện có thể quyến rũ bất cứ ai, dù cho đó chỉ là một cô phóng viên xinh đẹp ông mới gặp vài phút, Marlon Brando dần trở thành một cái bóng của vô vàn những dằn vặt, xung đột nội tâm và bi kịch gia đình. Có lẽ đó là cái giá tất yếu phải trả của một diễn viên “nhập vai” thượng hạng như Brando, người luôn vứt bỏ cái tôi sang một bên để có thể hóa thân hoàn toàn vào các nhân vật mà ông thể hiện. Tất cả những giờ phút đáng nhớ nhất trên màn ảnh lớn ấy của Marlon Brando đều được bộ phim đưa tới khán giả, giúp họ cảm nhận được một cách sâu sắc nhất giá trị của các vai diễn mà ông thể hiện, cũng như hy sinh về mặt tinh thần của Brando để phục vụ thứ nghệ thuật diễn xuất mà ông hết mực yêu quý. 

Điểm yếu lớn nhất của Listen to Me Marlon có lẽ là việc bộ phim tài liệu này không thực sự khám phá được những góc cạnh, thông tin mới về Marlon Brando, ngôi sao vốn có cuộc đời và sự nghiệp được báo giới và người hâm mộ đào xới tìm hiểu trong suốt nhiều thập niên. Marlon Brando của bộ phim này vẫn là Marlon Brando nhiều góc cạnh, nhiều trăn trở mà bất cứ ai từng yêu thích, từng tìm hiểu về Brando hẳn đều đã biết rõ. Cuộc sống và suy tư của Brando trong giai đoạn dài bị coi là “thuốc độc phòng vé”, tâm tư của ngôi sao hết thời trong những năm tháng cô độc cuối đời, biến đổi của ông sau những sự cố khủng khiếp trong đời tư, tất cả những khía cạnh ít người biết tới đó của Marlon Brando không thực sự được bộ phim khai thác triệt để. Nhưng có lẽ những thông tin hiếm có khó tìm như vậy không phải mục đích chính của đạo diễn Stevan Riley khi thực hiện bộ phim tài liệu này. Listen to Me Marlon đơn giản là một lời tự sự của Brando, từ thế giới bên kia – thế giới của chính ông, dành cho những người mộ điệu. Chính sự giản dị đã giúp tác phẩm tài liệu này gạt bỏ được mọi phù phiếm hay những lời tụng ca trống rỗng vốn thường xuất hiện trong các tác phẩm tiểu sử về những ngôi sao Hollywood để đưa tới người xem một bức chân dung chân thực, rõ ràng nhất về Marlon Brandon – ngôi sao với cuộc đời nhiều phần phủ màu huyền thoại. 

Bernardo Bertolucci, đạo diễn bộ phim xuất sắc Last Tango in Paris, đã kể lại rằng Marlon Brando tỏ rõ sự không hài lòng của ông với việc Bertolucci đã thành công trong việc “ăn cắp” được cảm xúc riêng tư trong con người thật của Brando để đưa lên màn ảnh. Trong phim, Brando thủ vai Paul, một người đàn ông với ngọn lửa yêu thương nồng cháy và cũng dễ dàng bị tổn thương bởi chính ngọn lửa nội tâm ấy. Nếu đúng như vậy, hẳn Brando sẽ không hài lòng với Listen to Me Brando, bởi bộ phim tài liệu này cũng đã thành công trong việc dựng lại một Brando của đời thực bên cạnh một Brando huyền thoại điện ảnh. Nhưng với khán giả, chắc chắn không ai có thể bỏ qua những giờ phút vô cùng xúc động và đáng nhớ được chứng kiến Marlon Brando diễn hết mình, và sống thực sự, như hình ảnh của ông trong Last Tango in Paris, và trong Listen to Me Brando.   

==========
Chant des îles

J’ai connu, des îles les rivages,
Les plages, les palmiers géants,
La forêt et ses aspects sauvages,
les volcans surplombants l’océan.
Adieu les soirs si calmes,
Où sanglotait dans l’ombre la guitare,
Le vent berçait les palmes,
Au loin portaient nos chants d’espoir.
Je revois dans un décor de rêve,
Le port les tout petits bateaux,
Les pêcheurs s’affairant sur la grève,
Un trois-mâts qui voguait sur les flots.
Adieu les soirs si calmes,
Où sanglotait dans l’ombre la guitare,
Le vent berçait les palmes,
Au loin portaient nos chants d’espoir.
Pauvre fleur sur les vagues jetée,
Dis-moi, si je reviens un jour,
Reverrai-je encore l’île enchantée,
Vrai séjour de la paix, de l’amour ?
Adieu les soirs si calmes,
Où sanglotait dans l’ombre la guitare,
Le vent berçait les palmes,
Au loin portaient nos chants d’espoir.

https://www.youtube.com/watch?v=QJDyq6sKQOg
 
 

==========
     

lundi 7 décembre 2015

Mr. Holmes (2015)




Trong lịch sử điện ảnh và truyền hình có lẽ hiếm cái tên nào để lại dấu ấn đậm nét như nhân vật Thám tử Sherlock Holmes của nhà văn Conan Doyle – nhân vật được sách kỷ lục Guinness mệnh danh là “nhân vật được khắc họa nhiều nhất trên màn ảnh lớn”. Từ John Barrymore trong những năm 1920 cho tới Vasily Livanov trong thập niên 1970, hay gần đây là Robert Downey, Jr. và Benedict Cumberbatch, rất nhiều diễn viên đã tạo dựng tên tuổi bằng việc tái hiện lại hình ảnh Sherlock Holmes theo nhiều cách khác nhau. Đó là một Holmes hoàn toàn trung thành với nguyên tác - sắc sảo, lạnh lùng “phớt Ăng-lê” do Livanov thủ diễn, tới một Holmes tinh quái, của Robert Downey, Jr., hay một Holmes được “hiện đại hóa” trong bối cảnh London thế kỷ 21 qua thể hiện của Cumberbatch. Tuy nhiên, cũng như bộ truyện gốc của Conan Doyle, hầu như tất cả các tác phẩm điện ảnh về Sherlock Holmes đều tập trung vào tài quan sát và khả năng lập luận siêu phàm của người thám tử lừng danh, những phẩm chất đã giúp ông tìm ra lời giải cho mọi vụ án dù là hóc búa nhất. Bản thân Holmes là con người thế nào? Có bao giờ ông cảm thấy cô độc trong những năm dài vinh quang nhưng bên cạnh không nhiều người thân thiết? Và trong những năm cuối đời ở vùng đồng quê Sussex, Holmes sống ra sao khi cả những người đồng hành ít ỏi ấy như Bác sĩ Watson, như bà chủ nhà phúc hậu Hudson cũng không còn bên ông? Đó là những câu hỏi mà các bộ phim về Sherlock Holmes ít khi chạm tới, và đó cũng chính là những câu hỏi mà bộ phim “Mr. Holmes” của đạo diễn Bill Condon, chuyển thể từ tiểu thuyết A Slight Trick of the Mind của Mitch Cullin, muốn đưa ra câu trả lời cho khán giả.

Khác hoàn toàn với hình ảnh Sherlock Holmes mạnh mẽ, nhiệt huyết phá án vốn đã rất quen thuộc trên điện ảnh và truyền hình, Mr. Holmes đem tới một hình ảnh Holmes khác hẳn, một Sherlock Holmes ở tuổi 93. Không còn London náo nhiệt, không còn những vụ án ly kỳ, ông lão Sherlock Holmes (Ian McKellen) lui về ở ẩn tại một nông trang hẻo lánh xứ Sussex. Ngoại trừ bà Munro (Laura Linney), người phụ nữ góa chồng giúp việc cho Holmes, đứa con trai Roger (Milo Parker) của bà, và thú nuôi ong giản dị, vị thám tử về hưu sống hoàn toàn cô độc với những kí ức và hào quang về những câu chuyện phá án cũ. Ngay cả những kí ức ấy cũng dần rời bỏ Holmes khi chứng mất trí nhớ khiến ông quên dần những gì đã “thực sự” diễn ra trong quá khứ (thay vì những chi tiết được bác sĩ Watson “kịch tính hóa” trong các câu chuyện phá án về Holmes mà ông đã ghi lại). Tất nhiên, bản năng quan sát thiên bẩm của Holmes vẫn còn chảy trong máu vị thám tử, nhưng ông không còn đủ sức khỏe, và nhiệt tâm, để giải mã các vụ án, bất chấp cả những lời đề nghị chân thành của Umezaki (Hiroyuki Sanada) – một người hâm mộ ông ở nước Nhật xa xôi. Thậm chí Sherlock Holmes còn không thể nhớ nổi tại sao ông lại quyết định về hưu, quyết định từ bỏ nghiệp thám tử sau vụ án cuối cùng ông điều tra – vụ án về người phụ nữ bí ẩn Ann Kelmot (Hattie Morahan). Bởi thế, để có thể sống tiếp trong những ngày tháng cuối đời, Sherlock Holmes phải “phá” được cả ba “vụ án” – giữ lại những người thân thiết cuối cùng bên ông là bà Munro và cậu bé Roger, đưa ra một câu trả lời thỏa đáng cho Umezaki về câu hỏi đau đáu của gia đình người Nhật, và lục lại trong ký ức cái kết thực sự của câu chuyện về Ann Kelmot – cái kết của câu chuyện về một Sherlock Holmes – thám tử.

Là câu chuyện về Holmes của buổi xế chiều, Mr. Holmes không chứa đựng một cốt truyện ly kỳ với những cảnh hành động đuổi bắt giữa đô thành London, hay những đoạn thoại dài của Sherlock Holmes về các suy đoán tinh tế của ông. Tuy nhiên, bộ phim vẫn lôi cuốn khán giả bởi một cuộc đuổi bắt khác – cuộc đuổi bắt của Sherlock Holmes với kí ức phai tàn. Có thể cuộc đuổi bắt ấy không đem lại cho khán giả những thời khắc giật gân, ngạc nhiên tới nghẹt thở, nhưng nó lại đem lại cho người xem một cái nhìn rất mới về vị thám tử lừng danh. Đó là cái nhìn khiến Holmes-huyền thoại trở nên gần gũi hơn với đời thực, với đủ những cung bậc tình cảm từ hạnh phúc, hy vọng, tới buồn bã, tuyệt vọng. Hiếm khi nào trên màn ảnh lớn Sherlock Holmes được khắc họa với rất nhiều giờ phút yếu lòng vì thất bại, vì cô độc như trong Mr. Holmes. Nhưng với cái tài của đạo diễn Condon và biên kịch của phim, những trường đoạn đượm màu bi kịch ấy không hề làm xấu đi hình ảnh Holmes trong mắt người xem, trái lại họ-những khán giả, những người hâm mộ vị thám tử lừng danh, sẽ lại càng cảm nhận được sâu sắc hơn cái bi kịch rất con người của một huyền thoại đã vì nghề nghiệp, vì niềm say mê khám phá các vụ án mà dần mất đi mối dây cảm xúc với thực tại, với những con người bình thường xung quanh ông. Xuất sắc hơn nữa, thông qua câu chuyện về những ngày tháng cuối đời của Holmes, Mr. Holmes còn gián tiếp nói lên được vai trò hết sức ý nghĩa của Bác sĩ Watson trong việc “kịch tính hóa” các câu chuyện phá án của người bạn thám tử, trong việc giúp đưa những câu chuyện ấy tới độc giả một cách trọn vẹn, thỏa đáng và qua đó đem lại cho chính Sherlock Holmes và độc giả những giờ phút bình yên trong tâm hồn.

Tất nhiên Mr. Holmes cũng không hẳn là một bộ phim hoàn hảo, việc xây dựng xen kẽ ba câu chuyện với ba bối cảnh và thời điểm khác nhau khiến kịch bản phim đôi lúc có cảm giác bị rối và đứt quãng. Nhịp phim trầm buồn thiếu cao trào, và phần bối cảnh không mấy ấn tượng chắc chắn cũng sẽ khiến nhiều khán giả phải nhìn đồng hồ trong hai hồi đầu của bộ phim trước hồi cuối hết sức xuất sắc. Nhưng dù có thiếu kiên nhẫn hay không thì hẳn bất cứ ai xem Mr. Holmes cũng sẽ phải ngả mũ thán phục trước tài nghệ diễn xuất của Ian McKellen. Được công chúng biết tới nhiều hơn qua những vai diễn trong các bộ phim ăn khách như Gandalf (trong The Lord of the RingsThe Hobbit) hay Magneto (trong loạt phim X-Men), nhiều khán giả có lẽ không biết rằng Ian McKellen được coi là một huyền thoại của làng kịch nước Anh hay nghĩ rằng năm nay ông đã ... già (McKellen đã 76 tuổi). Có lẽ hiếm có bộ phim nào thích hợp hơn vào thời điểm này để McKellen thể hiện tài năng sân khấu, trong một vai diễn phù hợp với tuổi đời thực của ông, như Mr. Holmes. Với rất nhiều trường đoạn cận cảnh mô tả một Holmes yếu đuối cả về mặt thể chất và tinh thần, uy lực diễn xuất của Ian McKellen đã giúp ông đem được từng góc cạnh con người nhất của vị thám tử huyền thoại tới khán giả, giúp họ hiểu được những bi kịch hiếm được nhắc tới trong cuộc đời Sherlock Holmes nhưng lại là những bi kịch khó lòng tránh khỏi ở chặng cuối đường đời mỗi người. Bổ sung cho sự già dặn và uy lực sân khấu mạnh mẽ của McKellen, cậu bé Milo Parker trong vai Roger Munro lại đem tới sự tươi mới và sức sống hết sức cần thiết cho Mr. Holmes với diễn xuất tự tin, chân thành. Có lẽ do kịch bản tập trung mọi giờ phút đẹp nhất cho Sherlock Holmes, ngoại trừ Hattie Morahan với một cảnh quay ngắn ngủi nhưng đậm chất bi thương và đáng nhớ, các diễn viên còn lại trong phim xuất hiện tương đối nhạt nhòa với không nhiều đất diễn, kể cả Laura Linney – một trong những nữ diễn viên thực lực nhất của Hollywood hiện nay.    

I've decided to write the story down; as it was, not as John made it. Get it right, before I die.” (“Tôi đã quyết định viết lại câu chuyện này; đúng như những gì đã xảy ra, chứ không phải những gì John [Watson] đã nghĩ ra. Viết lại đúng sự thực, trước khi tôi chết.”). Ông già Sherlock Holmes đã nói như vậy trong Mr. Holmes. Với trí nhớ ngày càng nhạt nhòa của Holmes, có lẽ chẳng ai dám chắc những gì ông lão 93 tuổi đang viết ra ấy có đúng là “sự thực”. Nhưng những câu chuyện như thế trong Mr. Holmes về vị thám tử lừng danh chắc chắn sẽ giúp chính huyền thoại Holmes trở nên gần với “đời thực” hơn, trở nên “con người” hơn. Chừng đó thôi cũng đã đủ giúp Mr. Holmes trở thành một bộ phim đáng xem, đáng nhớ đối với những người hâm mộ hình tượng nhân vật Sherlock Holmes.